Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Sunday, August 26, 2018

Sao Thái Âm tổng luận





Thái Âm là tinh đẩu thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khi hoàn chỉnh. Trường hợp khi Thái Âm giao hội với nhóm Cự Nhật hình thành cách Âm Dương Lương. Sao Thái Âm và Thái Dương là hai sao tượng âm dương trong tử vi. Thái Âm luôn tam hợp với Thiên Lương. Khi luận cách cục giao hội luôn phối hợp bởi cách Âm Lương với các Chính Tinh. Luận tính chất Thái Âm thủ mệnh khi xét chung là luận tổ hợp Âm Lương. Thái Âm luôn nằm trong nhóm Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo tính chất riêng biệt cơ bản của hai bố cục. Đây là hai nhóm sao hiền hòa, ổn định, không hàm chứa Sát cách nên mệnh tạo Thái Âm hoặc Thiên Lương có bản tính đa phần âm nhu, hiền lương. Nữ mệnh cách nhập mệnh hai chính tinh này hợp cách. Thái Âm có âm tính. Trong vạn vật đều chứa âm dương. Mệnh cách có Thái Âm thủ mệnh tính âm nhu vượng, tuy nhiên không phải mệnh cách hoàn toàn không có dương tính. Chính tinh nhập mệnh chủ tính cách thường trực, qua vận hay tác động của hoàn cảnh biến đổi. Khi giao hội với bàng tinh, tính chất cơ bản chủ âm không thay đổi, tuy nhiên phối hợp định cách biến hóa phức tạp. Thái Âm nhập mệnh phân hai trường hợp độc tọa hay đồng độ với Chính Tinh khác. Trường hợp độc tọa tại cung Tị Hợi Thìn Tuất Mão Dậu. Giao hội với Thiên Cơ tại Dần Thân, với Thiên Đồng tại Tí Ngọ và Thái Dương tại Sửu Mùi hình thành tổ hợp Chính Tinh luận phối hợp tính chất cơ bản của tinh đẩu khác biệt với trường hợp độc tọa. Thái Âm có tính chất âm khi dụng thể chủ che dấu, âm ám, mưu tính, quyền ngầm. Trường hợp tăng tính chất suy nghĩ, tính toán khi giao hội với Thiên Cơ tại cách Cơ Âm. Với cách cục Cơ Âm cũng tăng mạnh tình ôn nhu, hiền lương tại tâm tính và tướng mạo của mệnh tạo.





 Trường hợp Thái Âm đồng độ Thiên Đồng hình thành cách Đồng Âm chủ ưa đóng góp lợi ích tập thể hơn bản thân, Đồng Âm cách có tính cách nhi đồng, chủ do phối hợp tính chất từ Thiên Đồng. Xét về cách cục Cơ Âm có phần sắc sảo, tính toán hơn với mệnh cách Đồng Âm. Với cách cục Đồng Âm ngộ Tang Môn với nữ mệnh đắc chính cách của Đồng Âm, thường luận phẩm chất tốt ưa đóng góp âm thầm tới cộng đồng. Trường hợp giao hội Sát cách không luận vậy, biến hóa theo Sát Kỵ. Mệnh tạo cách cục Đồng Âm ứng hợp chữ phúc hậu, được đánh giá tốt hơn với Cơ Âm. Tuy nhiên về tài năng, khả năng ứng biến mệnh cách Cơ Âm luận hay. Hai cách cục trên hình thành khi nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Trường hợp còn lại thuộc cách Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi. Ba cách cục đồng độ trên xét tính chất không xét tới vị trí sáng tối của Thái Âm. Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi tam hợp chiếu Thiên Lương và cung độ VCD ngoại Cự Cơ xung. Đây là cách cục có một phần thị phi do bản cung VCD chịu tác động của Cự Môn trong cách cục Cư Cơ Đồng. Âm Dương Lương tại đây có tính chất ưa thay đổi, chủ thời gian ổn định, là cách cục quan hệ xã hội. Do mang ý nghĩa ổn định, may mắn nên không gặp khó khăn bế tắc tạo kích phát tới bố cục. Âm Dương Lương chịu tác hóa của Thái Dương giao hội Thái Âm. Thái Dương có dương tính, ưa công khai, nhiệt huyết. Âm Dương đồng độ chịu tác động của hai chính tinh này nên có phần rối ren trong bố cục. Khuyết điểm thường chủ chóng thay đổi khi chưa thành tựu gặp khó khăn, không bền vững, bằng lòng với cuộc sống. 




Trường hợp Thái Âm độc tọa tại các cung Tị Hợi Mão Dậu Thìn Tuất phân hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương định cách toàn bố cục, các vị trí của Thái Âm nhập vượng hoặc hãm tác động tới sứ cát hóa của sao này. Thái Âm cát hóa mạnh khi nhập Hợi cung. Đây là cách cục Nguyệt Lãng Thiên Môn thuộc Âm Dương Lương cách với Thái Dương đồng độ Thiên Lương có tính hướng lên, phát triển. Thái Âm nhập mệnh bố cục này chủ hưởng thụ, thuộc cách cục ưa bình ổn, khó tiến nếu không Sát hóa toàn cục. Nếu nữ mệnh nhập cách cục này chủ tâm tính ưa việc an ổn, cuộc đời ít biến động lớn tuy nhiên cũng khó thành tựu. Với nam mệnh cách Thái Âm cư Hợi cần giao hội Sát cách chủ khó khăn hóa Âm thành Quyền cách luận tốt, thứ tới dụng Văn cách. Mệnh cách Thái Âm cư Hợi thường được luận tốt ở phẩm chất, luận sự nghiệp thành tựu không đắc trợ cách là mệnh thường. Cách cục Âm Dương Lương tại đây chủ mối quan hệ xã hội. Khi tốt là bản thân có các mối quan hệ tại tầng lớp cao của xã hội, gia đình xuất thân đa phần tốt đẹp do Phụ Mẫu định cách bởi Âm Dương. Khi Sát hóa mệnh cách Thái Âm tùy từng bố cục luận sai biệt chủ tính chất âm ám, tàn nhẫn, mưu mô, tranh đoạt. Đây là trường hợp Thái Âm giao hội Sát cách hóa Quyền. Khi Sát hóa được chữ bất lương. Thái Âm là sao chủ nội âm, thuộc âm thủy. Khi định cách Chính Tinh thực lý bên ngoài cuộc sống khi ứng hợp. Thái Âm hóa cạnh tranh ngầm, mối quan hệ ngầm. Thái Âm là những việc không bộc lộ, công khai. Do đó hàm chứa Tài Cách, bí mật kinh doanh không nên để lộ dễ bị phá hoại, trong kinh thương rất quan trọng việc tranh đoạt, cạnh tranh âm thẩm với nhau. Lợi ích bằng tiền không nên lộ ra dễ phá tán hoặc gặp cản trở. Tài vượng do hóa âm cách. Trái với Thái Dương chủ Quan cách, trong công danh sự nghiệp hay chính trị thường bộc lộ công khai bên ngoài nhiều hơn. Khi Thái Âm tốt đẹp chủ hiền hòa, hi sinh âm thầm, chịu đựng. Thái Âm chủ tiếp thu, lắng nghe, suy nghĩ. Thái Dương thường có Cự Môn chủ tiếng nói. Bố cục Âm Lương tam hợp luôn chịu tác động của Thiên Lương tại hoàn cảnh tới mệnh tạo, hướng tư tưởng ưa phân biệt phải trái, lý nghĩa. Thái Âm trong bố Âm Dương ưa hội Tang Hư Mã. Do tính chất giao tiếp, xã giao của nhóm sao này với nhóm Tang Hư Mã chủ khoa trương, đặc biệt khi hội Hóa Khoa. Tang Môn tăng tính âm cho Thái Âm chủ tài ngầm. Thiên Hư hợp với Âm Dương. Tuy nhiên cách Âm Dương Lương hội Tang Hư Mã dễ biến hóa theo khuynh hướng tác họa tới gia đình hoặc phụ mẫu khi hội Sát Kỵ với Lưu Sát Kỵ. 

Wednesday, August 22, 2018

Ngũ hành của mệnh cục.



Số mệnh và số phận là điều thường mỗi người được nghe và suy nghĩ. Những đứa trẻ sinh ra đã gặp tai kiếp, bệnh tật hay những đứa trẻ sinh ra có cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ. Tai kiếp cũng tới với cả một gia đình không may, tới cả một dòng họ, một ngôi làng hay một quốc gia. Khi đó người đời luận với số phận, số mệnh. Cuộc đời luôn biến động, thời gian biến dịch. Mệnh đế, vương giả, tri thức, quan cách, binh tướng, bần nông, nô bộc thời trước hiện tại tất cả đã về cát bụi. Luận tử vi thì tất cả mệnh tạo đều phải tuyệt mạng nếu không bởi tai kiếp thì bệnh tật. Tuy nhiên lá số thực đại vận tới 12 cung hành vận rất dài so với tuổi thọ. Ngũ thập tri thiên mệnh, người tới tuổi này đã rõ được số mệnh của bản thân. Số mệnh tại đây là bản tính, tính cách cố hữu của bản thân tuy biến hóa nhưng cơ bản không thay đổi lớn, khác với tâm tính biến động theo vận. Như kẻ có nghiệp tới khẩu ngôn, tức khi người đánh giá mệnh tạo thường chủ định lời nói, khẩu ngữ mệnh tạo. Về lâu dài vạn vật đều phải suy tuyệt, tức khi biến đổi thái quá. Khi luận tử vi là định về bản tính ban đầu và phẩm chất tính cách dời đổi khi ứng hợp với khí hình của mệnh tạo. Mệnh, Thân và Vận rất quan trọng. Tuy nhiên có một số định cách cơ bản khi luận phối hợp mệnh vận tức biến đổi tính cách người luận có thể sai biệt khi luận. Vạn vật đều biến động phân thể và dụng, khí gốc và hình hóa là lý chung. Khi xét tới lá số tử vi. Ngũ hành mệnh và ngũ hành của cục thường định trước khi luận mệnh cách. Thường người luận xét Mệnh sinh Cục, Mệnh khắc Cục, Mệnh Cục bình hòa và trường hợp ngược lại của Cục. Luận tương ứng với hành vận tốt và xấu, cũng luận tương đối như Cục sinh Mệnh và Mệnh Cục bình hòa là tốt đẹp. Thứ tới là Mệnh sinh xuất Cục và Mệnh khắc Cục. Xấu là Cục khắc Mệnh. Tử vi đông a không luận cách xét như vậy. 



Thực lý với trường hợp theo luận trên sẽ có sai biệt khi các lá số Cục sinh Mệnh và Cục khắc Mệnh có bố cục lá số tử vi và khí hình có phần tương ứng luận bố cục tốt đẹp thành tựu rất lớn không gặp khó khăn. Thực sinh khắc không có tính tổng quan toàn lá số vậy, nếu vậy vận đại hung trùng phùng Sát Kỵ tác họa như cục sinh mệnh thì không phải vong mạng. Luận như vậy có phần khiên cưỡng. Cũng không xét luận trên là sai lầm, tuy nhiên không nên dụng khi chưa rõ để tránh rối loạn khi định cách. Người viết luận cách cục xét hợp hóa ngũ hành mệnh và cục để phối hợp định biến hóa thể dụng giữa mệnh cách tức bản tính ứng với các đại vận thay đổi tương ứng với ý nghĩa bố cục. Như Cục sinh Mệnh tác hóa của đại vận biến đổi tới tính cách ban đầu mạnh. Lưu phi tinh tác động tới đại vận ý nghĩa biến động mạnh hơn khi tác động tới mệnh cách. Mệnh sinh Cục chủ tác hóa của bố cục mệnh cách tới đại tiểu vận mạnh, biến đổi vận phối hợp mệnh, mệnh cách nắm lệnh. Trường hợp sinh là dấu cộng khi định cách phối hợp luận cát hung. Trường hợp Mệnh khắc Cục hay Cục khắc Mệnh luận ngược lại. Trường hợp khắc là dấu trừ khi định cách phối hợp luận cát hung. Xét phối hợp rất quan trọng tại tính chất cơ bản của tinh đẩu và toàn tổ hợp Mệnh với Vận. Do đó khi định cách được tính chất toàn tổ hợp khi giao hội mới cần thiết xét ngũ hành mệnh cục luận khuynh hướng biến đổi. Nếu không thì cũng không cần thiết tránh khó khăn khi luận tử vi. 



Như người viết đã từng luận về Tử Vi Đông A khởi nguyên mạnh thời Trần. Khi trải qua các vua Trần từ Trần Thái Tông tới Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. Quân Nguyên Mông sang xâm chiếm Đại Việt gồm ba lần, đều bị đánh bại tan tác. Quân Nguyên Mông tức Mông Cổ và nhà Nguyên về sau. Sử còn ghi rõ vua Nguyên Thế Tổ tức Hốt Tất Liệt khi thua trận vẫn rất muốn đưa quân sang đánh nước ta. Tuy nhiên, các năm sau đó đều gặp đại hạn, có năm tướng lĩnh chết, năm phó tướng chết, trắc trở không thể xuất binh, cuối cùng Hốt Tất Liệt chết, đời sau không  gây chiến Đại Việt. Các đời vua Trần đều lấy Không làm dụng, thể là tham muốn hòa bình phát khởi Không cách, vận nước do vua, đều lấy tư tưởng tính Không để định khí hóa. Trước đó Đạo Lão định Không cách bằng hai chữ vô vi tuy nhiên tính chế dụng có phần chưa triệt để thực lý trị nước có phần chưa thực hài hòa. Tới Không cách của Phật Giáo từ đời Thái Tông tới Anh Tông đứng đầu quốc gia đều là nghiên cứu thiền học trở thành thiền sư thâm lý Không cách dụng thể tính. Đắc trợ cách hóa cục vận nước từ thế Tuyệt địa phùng Sinh, sức cát hóa hiển hiện, chủ không ngờ mà thành, việc như khó cùng. Sau khi thái bình thảy kẻ tinh thông toán mệnh, nghiên cứu mệnh lý đều rõ sự việc. Đông A Phái cũng nghiệm lý toàn cục, thấy rõ vạn vật không phải thực có số mệnh như trước đó lấy đạo mệnh làm gốc. Vạn vật sinh vượng suy tuyệt đều nhập Không là giai đoạn khó định cách. Trong Không cách hàm chứa vạn vật, những điều không tưởng xảy ra gặp từ cổ chí kim. Biết rõ không có số mệnh, chỉ có nhân quả hợp thành, từ tính cách mà sinh tai họa hay thành tựu, tính cách lại biến đổi tương tục qua mỗi thời điểm. 




Người đời sau luận tử vi qua phú luận nhìn vào Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt không định rõ Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Tuần Triệt thì luận cách cục nghiệm lý khó toàn diện. Với Không cách thể dụng không mang ý nghĩa bản mệnh cách gặp Thiên Không Không Vong, Triệt Lộ Không Vong, Tuần Không Không Vong mà trong nội bản tính của tinh đẩu đều có thể dụng Không cách ứng hợp. Các sức bộc phát không ngờ, đột biến rất lớn rất nhiều bố cục do cách cục này tác hóa. Trong khi thể là Không lại dụng tham muốn, tham vọng cực vượng. Đây là trợ cách mạnh của tử vi. Với những người đứng đầu quốc gia, sẽ đứng đầu tại lý tưởng. Thời trước có một số cách luận về Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Do tác động lớn của phẩm chất quân tử ở đạo nho giáo tới việc định cách đạo đức, luân lý nên có sai biệt khi luận về hai nhóm sao này. Trước thời thế trọng chữ tín, nghĩa. Cũng do ý nghĩa của Thái Tuế chữ Thái là thực. Thiên Hư chữ hư là giả dối. Xét về giá trị đạo đức thường luận Tuế Hổ Phù tốt đẹp với Tang Hư Mã. Việc phân biệt vậy cũng như phân biệt Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc và Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình. Vạn vật biến động, dịch lý không ngừng. Bố cục hai nhóm sao trên không chỉ mang ý nghĩa vậy. Tang Hư Mã khi tốt như phú luận cách Đồng Tang ưa giúp đỡ, từ thiện với người. Tuế Hổ Phù khi xấu là đưa ra quan điểm sai lệch nhằm che dấu tội ác, chứng minh bản thân đúng như lý tưởng của Pôn Pốt, lý tưởng Hitle, lại có quần chúng theo tức Phượng Khốc. Chữ thực giả cũng biến đổi liên tục như quy luật dịch lý vạn vật. Chữ thực giả không mang ý nghĩa đạo đức. Cũng không luận khi mệnh tạo có Tuế Hổ Phù chủ lời nói thực. Kẻ mệnh tạo gặp Tang Hư Mã thường lời nói dối. Cũng như mệnh tạo không có Thiên Cơ vẫn tính toán bản thân trước người khác. Tính cách luôn thay đổi từng ngày hoặc từng giờ. Vòn đại vận là 120 năm. Thực tế không có mấy người đi được hết vòng này là tới cửa tử dù vận về sau tốt đẹp. Khi luận tử vi nên luận sự biến động thường trực với tất cả mọi cách cục, tính cách, tài danh, ngay cả toàn cục của tử vi. Vạn vật cũng do biến đổi hình thành tính tích lũy hoặc suy bại. Kẻ thất bại nhiều lần sẽ tích lũy được kinh nghiệm. Sát cách khi dụng hóa thành tựu thì tạo hoạch phát. Như kẻ rèn luyện nỗ lực thì dễ thành tài. Có những kiến thức khó truyền đạt từ tính mô phạm mà chỉ tự nghiệm lý mới có thể thấu rõ. Tử vi đông a luôn luận giải các lá số qua các thời kỳ của xã hội, luận định cách do tính dịch biến khi mỗi thời kỳ có phần sai biệt khi cái bên ngoài thấu lộ từ bố cục tinh đẩu là ngoài đời thực thay đổi, xã hội thay đổi, vị thế quốc gia với vận thiên hạ cũng thay đổi biến động từ mọi mặt.