Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Khôi Việt. Show all posts
Showing posts with label Khôi Việt. Show all posts

Saturday, March 11, 2017

Sức ảnh hưởng của bộ Khôi Việt



Sức ảnh hưởng của bộ Khôi Việt tới cách cục


Thiên Khôi và Thiên Việt là các sao an theo Thiên Can tới cung địa bàn. Các sao an theo Thiên Can có tính chất hiển hiện, tác động mạnh chi phối toàn bộ cách cục. Khi xem lá số Tử Vi thì bộ Khôi Việt được để ý đến đầu tiên trong Lục Cát Tinh. Khôi Việt như thường luận là quý nhân, được sự giúp đỡ từ người khác. Thực chất bộ sao Khôi Việt có tính tự khắc phục khuyết điểm của chính bản thân. Bộ sao này từ cách an từ Thiên Bàn cho thấy giá trị của chúng. Một số những nguyên tắc an sao cho ta thấy được tính chất của chúng. Như Lộc Tồn khởi từ vị trí Lâm Quan của Vòng Trường Sinh của Thiên Can. Sao này an từ Thiên Can mà ra. Tính chất của vị trí Lâm Quan là sự phát triển, hướng tới, thu được lợi nhờ tích lũy và đang tiến lên. Sau Lâm Quan tới Đế Vượng chủ sự phát triển đã cực độ, vào thời kỳ đi xuống. Vì vậy, như xét tại Can Giáp. Ta có khởi Trường Sinh tại cung Hợi, đi theo chiều nghịch tới Lộc Tồn tại Dần. Cung Ngọ và Tuất là Dưỡng và Tử. Vì vậy, tính chất của Mệnh tại Lộc Tồn khác Mệnh tại Quốc Ấn hay Bệnh Phù và hạn cũng như vậy. Khi Mệnh có Lộc Tồn đồng cung với Thiên Khôi rất khác so với tam hợp có Thiên Khôi. Bộ Khôi Việt là sự hữu tình của ngũ hành ở Thiên Can và Địa Chi lấy vòng trường sinh để đo sức. Thiên Khôi cũng khác Thiên Việt và các sao bộ còn lại từng cung khác nhau như vậy. Sức ảnh hưởng của Khôi Việt xếp như Lộc Tồn, Kình Đà. Khôi Việt là hai sao chủ quý, phát khởi và đỉnh điểm. Thiên Khôi là đỉnh điểm và Thiên Việt là khởi phát. Bộ Khôi Việt có khả năng điều hòa Sát Tinh, tuy nhiên do đặc tính cơ bản mà có những cách cục mang ý nghĩa xấu.
" Khôi Việt trùng phùng Sát tẩu cố tật vưu đa".
" Việt Linh Hình ngộ Cơ Lương, hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh".
" Cự Kỵ nên tránh đò sông, Phục Binh Hình Việt mắc vòng binh đao".
Riêng cách Cự Kỵ ngộ Việt Linh Hình Kình Khoa tức là Cự Môn ngộ Kỵ Hình Kình Việt Linh có Khoa là cách xấu do hình thành Kỵ Hình và Việt Linh Hình nhưng Khôi Việt và Khoa ở đây giải họa rất nhiều cho cách Cự Kỵ, mệnh tạo thuở nhỏ thường xuống nước, ngay cả hạn xấu nhưng không có vấn đề gì.
 Cách Khôi Việt ngộ Sát Tinh trùng phùng. Đây là cách có bệnh kinh niên, tức có tật nhưng chữa không khỏi. Cách này bắt nguồn từ tính chất điều hòa và khởi phát của bộ sao này.



 Thiên Khôi là sao chủ việc cũ, Thiên Việt khởi phát, như gặp Kình Kiếp là sát tinh đi với cơ quan như Thiên Đồng là cách bệnh cũ đau bụng tái phát kinh niên do bộ Đồng Kình Kiếp ngộ Khôi Việt tai họa với cái bụng. Tuy nhiên cách Đồng ngộ Không Kiếp có Khôi Việt không mấy xấu vì còn được phát phúc, nếu gặp Chính Tinh như Cự Môn chỉ thấy xấu. Khôi Việt tốt đẹp là thói quen tốt lặp lại, là phẩm chất tốt học tập theo như phẩm chất đạo đức, phẩm chất thành công. Cũng vì phần lớn của tính chất này mà Khôi Việt được luận là văn tinh, là vị liệt tam thai. Các tính chất tốt đẹp của sao này thường thể hiện do tính thói quen của bộ Khôi Việt. Hai sao này còn chủ sự quý hiếm. Bộ Khôi Việt kỵ gặp Thiên Hình hình thành bộ Khôi Hình và Việt Hình đều không tốt. Nếu thêm Hỏa Linh thành cách Khôi Hỏa Hình và Việt Linh Hình chủ tai họa. Nhìn chung để thành cách cục mang tính chất quyết định với bộ Khôi Việt cần nhiều sao hội họp do Khôi Việt là quý tinh, có tính chất điều hòa như Hóa Khoa. Cách cục xấu như Phục Binh Hình Việt, Linh Hình Việt có Phi Liêm,... như các cách thường đề cập trên báo KHHB thời trước do chiến tranh còn xảy ra được nghiên cứu kỹ lưỡng. Trong thời chiến nếu chẳng may gặp cách Việt Linh Hình ngộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thì khó mà thọ nổi. Trong thời bình các cách trên chưa mang tính quyết định nếu thiếu Kỵ Hình, Không Kiếp hoặc ngộ Sát Tinh trùng phùng. Vì vậy, các cách Việt Linh Hình hay Khôi Hình chỉ cần Hóa Khoa hoặc Quyền hoặc bộ Lộc Ấn Bệnh có thể biến đổi tính chất trở nên tốt đẹp. Cách Phi Việt Linh Hình cũng chưa xấu nếu chưa gặp Sát Phá Tham, xấu hơn nếu có Hình Kỵ và quyết định nếu gặp thêm Không Kiếp.

Saturday, March 4, 2017

Bộ Khôi Việt với nhiều cách an



Bộ Khôi Việt với nhiều cách an


Trên lá số Tử Vi, mười Thiên Can chứa nhiều bộ sao an theo các Thiên Can này. Từ bộ Khôi Việt, Lộc Tồn Ấn Bệnh, Kình Đà, Phi Phục Thanh, Lưu Hà, Triệt, Tứ Hóa. Các sao này thường có tính chất hiển hiện, tác động mạnh tới tính cách. Các sao an theo Thiên Can có tính chất đặc trưng so với các sao an theo Địa Chi. Các bàng tinh an theo Địa Chi có đặc tính bổ trợ là chủ yếu, vì các sao theo Thiên Can gốc ngũ hành thuần khí, ở địa chi tàng khí của Thiên Can nên khó thuần thanh. Bộ Khôi Việt an theo Thiên Can. Bộ Khôi Việt đặt dưới các địa chi trên các cung của lá số Tử Vi. Lưu ý địa chi của lá số Tử Vi khác với Địa Chi của năm sinh đã viết ở trên. Chính cách là sao Thiên Khôi hoặc Thiên Việt tọa thủ ở chính cung Mệnh, Thân, Hạn tính chất hiển hiện rõ ràng trong bản tính, nếu ở các cung tam hợp là thứ cách, luận mang bản chất của toàn bộ tổ hợp hoặc bản cung tam hợp chiếu nếu xét riêng. Cách Khôi Việt ở tam hợp gọi là gia thêm, ở bản cung luận là tọa thủ. Bộ Khôi Việt được luận là quý nhân, không an tại hai cung La Võng. Qua đó có tính chất đặc biệt qua các an sao tại các vị trí trên lá số. Như cách an đã đưa ra ở bài viết trước, bộ Khôi Việt xuất hiện tại các cung hai lần trừ cung Thìn Tuất và ở Dần Ngọ. Chính ở cung Dần Ngọ này gây ra tranh luận ở các lý thuyết về an bộ Khôi Việt tại tuổi Canh tại Dần Ngọ hay Mùi Sửu.


 Ở hai cặp thiên can Bính Đinh và Nhâm Quý. Bộ Khôi Việt an tại Hợi Dậu - Dậu Hợi và Tị Mão - Mão Tị. Cách an này do việc cách cung độ La Võng. Theo nguyên lí của Khôi Việt từ cách an ban đẫu xuất phát. Với sao Thiên Khôi, ở thiên can Dương cùng ngũ hành hơn thiên can Âm một cung tiến lên theo chiều âm. Như hành Mộc với Giáp Ất an Thiên Khôi tại cung Sửu Tí. Với hành Hỏa, thiên can Bính tại cung Hợi, như cách thì Đinh an tại Tuất nhưng Khôi Việt không lâm Thìn Tuất an trên một cung về cung Dậu. Tương tự với hành thủy, Thiên Khôi của can Nhâm tại Tị dẫn tới can Quý tại Mão do không an tại Thìn Tuất. Nếu luận sâu hơn việc hành Hỏa không an tại cung Mộ khố của Hỏa là cung Tuất. Với hành thủy không an Khôi Việt tại mộ khố của Thủy là cung Thìn. Việc an Khôi Việt là ở nơi hợp hóa hữu tình tại nơi khó khăn. Hiện tại lưu truyền cách tuổi Canh an bộ Khôi Việt tại Dần Ngọ và Mùi Sửu. Lý thuyết an tại Dần Ngọ do thấy tính khuyết thiếu trong việc 10 thiên can an tại 10 cung trừ hai cung Thìn Tuất mà Khôi Việt tính bình đẳng với ngũ hành trong khi Dần Ngọ chỉ xuất hiện một lần, các vị trí khác xuất hiện 2 lần, đặc biệt Sửu Mùi xuất hiện 3 lần với tuổi Canh, Mậu, Giáp. Trường hợp an tại Mùi Sửu của tuổi Canh theo nghiêm lí qua đa phần ở các trường hợp Hạn của người sinh năm Canh tới cung Mùi. Gặp một số trường hợp mệnh an tại cung Mùi tính chất bộ Khôi Việt rất rõ rệt như đã đề cập tới các bàng tinh an theo Thiên Can ở trên. Ngay trong chiết tự Hán sang Việt đã phân biệt Khôi Việt. Cũng thường sử dụng trong cuộc sống. Thiên Khôi chủ đứng đầu, khôi vĩ. Thiên Việt chủ chủ bắt đầu, phát triển. Cả hai đều có khuynh hướng chữ quý.