Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Đồng. Show all posts
Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Đồng. Show all posts

Thursday, August 9, 2018

Luận về mệnh cách Cự Đồng.



Lá số mệnh cách Cự Đồng cư Sửu đắc cách, có địa vị cao trong xã hội. Phần luận cách cục này học trò luận. Về cách cục đã có cái nhìn tổng thể về tử vi, ứng hợp đúng với mệnh tạo ngoài thực tế người viết đã từng luận, trình bày luận tương đối đầy đủ về định cách cơ bản, xóa bỏ được một phần cách luận thiên lệch trước đây. Người nghiên cứu tử vi không nên nóng vội, nghiệm lý từng cách cục nhỏ, từ cơ bản nắm rõ, thực lý rõ thì gốc vững, gốc vững thì luận không gặp rối loạn. 

 Bố cục chung Thiên bàn phân thành 4 nhóm sao đó là TPVTL, SPT, Cự Đồng Cơ và Âm Dương Lương.  Tinh hệ này là tinh hệ Tử Vi cư Ngọ, đương số sẽ có những phẩm chất hơn người, chí ít là ở hoàn cảnh. Tử Vi độc tọa, lý tưởng và tính chất bộc lộ rõ ràng, không bị ảnh hưởng  và bộ Âm Dương sáng tạo điều kiện tốt cho đương số. Trò luận đương số có chính kiến, có lý tưởng. Đó là xét về chính tinh. Xét tiếp đến Bàng tinh, Không Kiếp Kỵ Hình Linh Hỏa không tụ tập. Các sao tăng mức độ quan trọng tụ tập nhiều ở cung độ Thái Âm Khoa  Khôi  Việt Đại. Thực ra trò vẫn khó phân biệt cung trọng điểm. Các trường hợp rõ ràng như lá số của trò có thể ngay lập tức nhận ra. Nhưng nhiều lá số rất khó. Ở đây trò vẫn nhận định cung trọng điểm là cung quan lộc với chính tinh Thiên Cơ ngộ Hữu Việt Hư  Mã Không Kiếp nhập Sinh. Ở đây là bố cục khá xấu nhưng may mắn nhập được Sinh Vượng mà hóa cát. Người này sẽ gặp nhiều nghịch cảnh nhưng lại vượt qua được mà thành công. Tuy nhiên cũng không hoàn toàn hạnh phúc.


Mệnh cung chủ ý chí, nghị lực con người, cũng là nơi bộc lộ phẩm chất và tính cách. Bố cục chung Mệnh Tài Quan là Cự Cơ Đồng ngộ Tả Hữu Việt Quyền Kình Tiểu với Tang Hư Khách có Tuần Triệt Không Kiếp nhập Sinh Vượng. Cự Cơ Đồng là nhóm sao chủ bất mãn, phản đối, dễ sinh thị phi, bất đồng mà đưa đến phản bội, mang tính chất nội bộ. Ở đây Cự Đồng Cơ ngộ Kình Hao, tính phản kháng càng thêm mạnh, nhưng chỉ là Tiểu Hao, tính chủ động bị hạn chế, trong lòng chứa nhiều bất mãn. Cự Đồng cơ ngộ Tang Hư Khách, can Quý Cự hóa Quyền, Tang Hư Khách hợp với Thiên Đồng chủ từ thiện, làm phúc, lại có Thiên Việt thật tốt quá, đương số tốt bụng, thương người, hay giúp đỡ người khác mà cũng được giúp đỡ lại. Tuy nhiên cũng hình thành các cách xấu như Đồng Không Kiếp, Cự Không Kiếp, nếu không làm phúc sau này tai họa tất đến, dù cho Không Kiếp đắc địa đi chăng nữa. Bố cục nhập Sinh Vượng nên vượt qua được những khó khăn, năng lượng lớn, có ý chí, có sức khỏe: “Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ hoặc cư Tuyệt xứ. VCD hoan phùng Tả Hữu Sinh Vượng hóa hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài”. Đương số lại được sinh ra trong gia đình giàu có, được học hành đầy đủ, do vậy hưởng phúc tài lại càng đúng. (Câu phú nói đến VCD nhưng trò nghĩ là tính cả chính tinh, không biết đúng k thầy?). 
Mệnh cung cũng là đại vận đầu tiên là Cự Đồng ngộ Tang Kình Quyền nhập Vượng  có Tuần Triệt án ngữ. 



Mệnh Thân đồng cung, đương số khá thống nhất trong suy nghĩ và hành động, ngôi sao Tử Vi độc tọa tại Ngọ chủ lý tưởng. Người này có ước mơ và phấn đấu theo ước mơ đó.  Mệnh Thủy, Đồng Cự cũng đều là hành Thủy, luận theo cả 2 sao. Ở đây dụng Thiên Đồng có lẽ tốt hơn so với Cự Môn do hình thành cách Đồng Tang hay hơn Cự Kình không có Phượng. Cái hay là Tuần Triệt án ngữ nên được hưởng 2 chữ phòng tránh, hai cung Tài Quan tuy rằng không đẹp nhưng cũng khó ảnh hưởng đến Mệnh Thân. Mệnh có Tang Môn, đương số có nét buồn trên gương mặt. “Tang Hổ Điếu Binh vị chi tứ Hung, nhược ngộ Đồng tinh nhi hóa cát”, đương số phẩm chất tốt, đây là người tốt bụng, tuy nhiên công việc không tốt, dễ gặp tai họa tác động trở lại cung Mệnh, khiến Mệnh cung có điều bất mãn, lo nghĩ. Cung Quan Lộc với cách Cơ ngộ Hư Mã Không Kiếp có Việt chủ phát sinh khó khăn, tai họa và đánh giá sai thời cơ. Mệnh cung phản kháng lại bằng sự bất mãn Cự Kình nhưng chỉ là Tiểu hao, phản kháng và sự thay đổi cũng không mạnh mẽ, không được ủng hộ của Phượng Các. Tuổi nhỏ đi học, có lẽ đương số kết quả học tập không được tốt.
Phú có câu: “ Cự hãm tứ Mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm” Đa ngôn là nói nhiều, lại nói tầm bậy cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối. Từ chỗ cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối đến vô tình hay cố ý phản bội người. Mệnh tại đây ta là người có khuynh hướng tạo phản, đồng thời cũng là kẻ bị hại.


Đại vận thứ hai nhập cung độ Tham Lang. Tham Lang ngộ Tuần Triệt Đào Tồn Kỵ. Tham Đào ham chơi, lại gặp cách cục xấu “Kình Đà hiệp Kỵ vi bại cục”. Tam hợp là Phá Tướng Ấn nhập Tuyệt và Thất Sát ngộ Xương Hồng Bệnh. Đại vận này bất lợi cho tình cảm, lại Phá Quân nhập Tuyệt không lợi cho phá bỏ.  Mệnh Cự Đồng đến hạn Cáo Phụ, Tồn Kỵ khéo còn mang tiếng hỗn láo với người trên, trong lòng tồn tại bất mãn. Tuy nhiên Tham ngộ Tuần Triệt lại hướng đương số đến Không cách, huyền học tu đạo: “Tham Đào tại nhàn cung, nữ mệnh độc phụ chi nhân ngộ Triệt Tuần tâm hồn thư thái”. Ở đây trò nghĩ cả nam và nữ, Triệt Tuần ở đây giúp đương số bớt ham chơi mà thay vào là được giáo dục tốt, nhưng bại cục vẫn là khó tránh khỏi. Ở đây luận khí hình biến đổi theo hướng tĩnh, đi theo Thiên Đồng, dụng ngôi sao này, ở đây trò khó khăn trong việc luận khí hình vận, mong thầy giảng thế nào để đánh giá là khí hình mạnh/cao, thế nào là khí hình thấp ạ. Đương số sinh ra trong gia đình giàu có nên khí hình gốc vượng. 

Đại vận thứ 3 hội họp nhiều sao quan trọng, đến đây đương số bắt đầu gặt hái được thành công, nhưng nhìn chung nếu là một người xuất thân bình thường các đại vận trải qua trò thấy không nổi bật cho lắm, thành công cũng không được vang dội. Ở đây có lẽ do hoàn cảnh đương số sinh ra trong gia đình như vậy nên mới được làm Tổng giám đốc, nếu không có lẽ cuộc đời sẽ rẽ sang hướng khác.

Monday, July 17, 2017

Mệnh Cự Đồng tại Sửu cung




 Cự Đồng cư tại Sửu cung luận Mệnh



Lá số này khá tốt đẹp với bố cục Đồng Cự Cơ ở vị trí xấu nhưng được bàng tinh gia hội mà trở nên hợp cách, bản cung mệnh có cách Cự Đồng Kình Tang Triệt Tuần, tam hợp cung Quan Lộc có sao Thiên Cơ tọa thủ gia Không Kiếp Sinh Mã Bật, cung Tài Bạch vô chính diệu có Tiểu Hao, Tả Phụ. Cách cục thuộc bố cục Cự Cơ Đồng ngộ Kình Tiểu kiến Tam Không Sinh Vượng Phụ Bật. Đặc biệt là Cự Đồng được Tuần Triệt tại bản cung. Với Mệnh thuộc ngũ hành Thủy với bố cục Cự Cơ Đồng thì đây là cách cục luôn tồn tại mâu thuẫn để phát triển, cách cục này do Cơ Đồng đi với Cự Môn, trường hợp còn lại do Cơ Đồng đi với Âm Lương mang tính may mắn, êm đềm nên gọi là văn cách. Với cái thế Tử Vi cư Ngọ lực cát hóa rất lớn, bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh và thống nhất, hoạt dụng nên hai cách cục cùng phe là Cự Phá đều nhập hãm, tức đều thuộc cách thua thiệt khi Cự Môn phải chịu bất mãn trước Tử Vi và Phá Quân không thể kháng cự Vũ Tướng ở đối cung. Ở cách cục này ở mệnh mang ý nghĩa, tức khi mệnh có Cự Môn hay Phá Quân trong trường hợp này trong thế giới tâm thức người đó, lưu ý là trong thế giới của chính bản thân luôn tồn tại một tổ chức, người đứng đầu xây dựng, và bản thân ta thường là yếu hơn so với những người xung quanh. Cự Môn từ đây sinh ra bất mãn và nỗ lực. Cách cục Cự Cơ Đồng không được đánh giá hay qua các câu phú thời phong kiến vì cái Tử Vi to nhất là triều đình, vua chúa. Luật lệ hà khắc khiến Cự Môn nếu bất mãn, phản đối dễ mất mạng trong khi thời nay việc phản đối chính quyền cũng không gặp nhiều hình phạt nặng. Ở thời phong kiến do bất mãn nên từ Tạo Phản, Làm Phản tạo ra từ đây. Cách cục Cự Đồng cư Sửu có Thiên Cơ tam hợp phải nhận xét đây là cách cục có nhiều khuyết điểm trong các bố cục chính tinh. Và cái cần nhất ở đây là gặp Không Vong để biến chữ Không thành Có. Nếu trường hợp này không có Không Vong tại đây thì cũng chỉ là cách cục thường vì tam hóa không thấy đâu chỉ được một chữ Quyền tại mệnh, do Tinh Hệ Tử Vi cư Ngọ rất mạnh nên bản thân ta chỉ là kẻ kém cói, trong khi họ hàng, cha mẹ, người ngoài xã hội mà ta tiếp xúc cảm thấy đều giỏi hơn ta. Tuy nhiên ở đây hai chữ Tam Không khiến toàn cục thay đổi, bên ngoài xã hội vẫn rất mạnh, rất giỏi nhưng bản thân ta cũng không kém. Bằng chứng là Thiên Cơ ngôi sao toan tính, mưu kế gặp Phụ Bật Không Kiếp, đặc biệt là Không Kiếp cư Tị nhập Miếu tính hoạch phát như lôi. Không Kiếp Tị Hợi là nơi bộ sao này phát huy tối đa tính chất tốt đẹp. Tuy nhiên với điều kiện là có Quyền Tinh. Ở đây mình sao Hóa Quyền không làm nên trò trống gì, không thể điều khiển cách cục mà chính là Tả Hữu Quyền mới có thể dụng được cặp Không Kiếp, ý nghĩa ở đây là gì, tức sống chung với côn đồ mà khiến chúng tạo lợi ích cho bản thân. Cách Tả Hữu Không Kiếp có Kình Việt đi với Thiên Cơ thường biết cách dụng những thành phần cặn bã của xã hội, khác với Tử Vi ngộ Không Kiếp là đế ngộ hung đồ, cách Tả Hữu Quyền Không Kiếp tương tự như cách Thiên Tướng hay Sát Phá gặp Không Kiếp ở tính bạo phát do dụng được Sát Tinh. Đặc biệt là bộ Sát Phá gặp Không Kiếp thời loạn được Tam Hóa thường là tướng lĩnh, vì Không Kiếp ở đây tượng là nơi chết chóc.



Ở thời bình không có cách cục này thì dụng Không Kiếp có lá số thường làm cảnh sát, công an chỉ huy được côn đồ. Mệnh tạo Cự Đồng Kình có thể theo khuynh hướng này để dụng bộ Không Kiếp, tuy nhiên đây chỉ là chiều hướng không quá tốt vì bản chất của Không Kiếp Cự là chữ Phản, ngay chỉ Không Kiếp đã có tính chất lên xuống thất thường người viết đã chỉ ra ở những bài viết có bộ sao này, đặc biệt là các bài viết về danh nhân sinh tháng Hợi, tức tháng 10 luôn bị cặp này tại mệnh và kết quả dù đắc cách thì cao nhất là vua cũng bị xử tử. Trái với Không Kiếp thất thường ta có cặp lệch pha là Xương Khúc mang tính ổn định. Trường hợp dụng thứ hai của Không Kiếp là khai sáng cách. Ở đây thì Trương Đình Anh công khai lá số Thiên Tướng gặp Không Kiếp tại Hợi là một cách tiêu biểu của dụng Không Kiếp, phát ngôn mang tính ngẫu hứng, làm việc sáng tạo,  Không Kiếp dạng này đắc cách tính khai sáng rất lớn và hóa thành Quyền. Chữ Khai Sáng này cũng khiến nhiều nhà khoa học có bộ Không Kiếp phát minh ra nhiều thứ. Như trong kinh doanh việc sáng tạo và khai sáng giúp bản thân thắng các đối thủ, bản chất của khai sáng là thay đổi nhanh chóng, thất thường là ý nghĩa của Không Kiếp. Thực chất việc thành bại là do bản thân chọn, chỉ là biết hướng đi đúng hay không. Cách Cự Cơ Đồng có Tang Kình Quyền gặp Không Kiếp Mã dễ theo lợi mà đi theo chiều hướng âm ám, có thể trái pháp luật vì lợi ích là Thiên Cơ và ngã ngựa tức Mã Kiếp Kình cũng do bản tính gặp hoàn cảnh ngoài đời tác hợp mà gây ra. Với xã hội này thì bây giờ theo con đường có chữ Đen hiện giờ đang còn tốt, tuy nhiên muốn bạo phát cả tài danh thì cần bỏ chút lợi trước mắt, nhìn ra xa mới không bị cặp Không Kiếp tạo phản. Vì vậy cũng là kẻ đứng đầu nhưng nơi chứa chữ Sát là xã hội đen, giang hồ hay thay đổi vị trí, tranh đoạt lẫn nhau. Tuy nhiên lãnh đạo tổ chức lớn, chính quyền mặc dù quyền lực lớn hơn tất cả nhưng luôn cư xử ân cần bên ngoài, cho kẻ khác thấy bản thân không nguy hiểm nên không gặp tai họa. Cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm mạnh do oó khuynh hướng khai sáng theo đường chính, được hợp bởi hai bộ Từ Vũ Liêm có tính định hướng, xây dựng và Phủ Tướng có tính tương trợ nên cách cục khi đầy đủ là bền vững, như việc chữ lý đi với chữ tình. Trong khi Sát Phá Tham và Cự Nhật nặng về chữ lý nên thường trong xã hội Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là chủ. 12 cung đều là của bản thân ta nếu sao Tử Vi bất luận nằm tại vị trí nào tốt đẹp thì hạn tới sẽ dụng được nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm.

Tuesday, April 18, 2017

Thiên Đồng hóa thành Quyền tuổi Đinh



Thiên Đồng hóa thành Quyền tuổi Đinh


Sao Thiên Đồng thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương trong trường hợp bố cục hoàn chỉnh. Còn một trường hộ nằm trong cách cục Đồng Cự Cơ. Sao Thiên Đồng hóa thành Quyền tại tuổi Đinh. Với tuổi này ta luôn có đủ bộ Tam Hóa trong trường hợp Thiên Đồng đi với Cơ Nguyệt Lương và có bộ Nhị Hóa gồm Khoa Quyền và có thêm Hóa Kỵ cản trở khi đi cùng Cự Cơ. Với cách cục Thiên Đồng hóa thành Quyền khá may mắn vì luôn được nhiều Hóa khí tụ tập tăng độ số cho cách cục. Thiên Đồng tại đây tính chất biến đổi khi hóa thành Quyền rất lớn và ta có thể gặp cách Thiên Đồng chê hóa sát tinh trong trường hợp kiến Tứ Sát. Cách Cự Cơ Đồng mang tính tốt đẹp hơn vì cách này chỉ sự đứng đầu và có thêm Hóa Kỵ nếu thêm hung sát tinh dễ biến sao Thiên Đồng hiền lành, trợ giúp cộng đồng trở thành cách cục tính tình thâm sâu, tạo được mưu kế, toan tính trong lòng khi thực hiện các mục đích của bản thân. Thiên Đồng luôn có Tham Lang trợ giúp, trong trường hợp này Thiên Đồng tốt hơn Tham Lang và người tham gia trợ giúp do uy tín của Thiên Đồng tạo nên. Ở tuổi Đinh cách cục Thiên Đồng cư Hợi ngộ Thiên Việt có Kình Hao tam hợp mang ý nghĩa khá hay. Kình Việt là cách phát sinh và Thiên Đồng hóa Quyền khiến sự tranh giành, tính Sát của Kình Dương hóa thành quyền cách. Thuộc cách tạo ra phúc lợi cho kẻ khác và được nhận sự kính nể. Thiên Đồng tại đây tuy ở vị trí hãm địa nhưng thuộc cách cục tốt đẹp. Đặc biệt ở đây không chỉ là cách Kình Việt mà hình thành thêm cách Kình Kỵ Hao có Quyền khiến tính chất trở thành quyền ngầm. Tuy theo có các sao như Thiên Hình, Linh Hỏa, mà luận về tính chất biến đổi theo chiều hướng cực đoan của cách cục. Trường hợp Đồng Linh tại đây khá hay vì hình thành cách Linh Kỵ tại bản cung có Kình Quyền là quyền lực mang tính sinh sát hoặc tạo áp lực lên kẻ khác. Ở cung độ Tham Lang ở cung nhị hợp có cách cục Tham Hỏa chủ phú cách đặc biệt hay khi tới hạn này chủ giàu có nhanh do giỏi việc tranh đoạt và sử dụng nhiều sức lực. Ở vị trí cung Dậu có cách Đồng Khôi ngộ Đà Hao hình thành bộ Đồng Quyền Khôi Đà là cách cục không mấy tốt do  tính chất của Thiên Khôi khác Thiên Việt như ở trên, Đà La cũng mang tính thủ, chậm trễ khác với Kình chủ tiến. Thiên Đồng tại cung Ngọ gặp Lộc Tồn không hợp cách vì vị trí của Cự Môn tại cung tam hợp kỵ với Lộc Tồn và cách này thuộc các đồng Âm Tí Ngọ.

Saturday, April 8, 2017

Đồng Lương Dần Thân hội (phần 2)



Đồng Lương tọa thủ Dần Thân (phần 2)


Thiên Đồng và Thiên Lương khi đầy đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương với Thiên Cơ cư Tí Ngọ và Thái Âm tại Thìn Tuất tam hợp. Thiên Cơ là cơ hội, hoàn cảnh và Thái Âm là sự âm thầm. Bản cung mệnh có bộ Đồng Lương tức là sự may mắn, che chở và phúc hậu. Chữ Phúc và Ấm luôn tác động lẫn nhau. Một người có Phúc thường được may mắn và ngược lại. Phúc có tính chất lâu dài, như việc có được cuộc sống an ổn, bình yên lâu dài là có Phúc. Chữ Phúc còn có mặt khi ta gặp nạn không chết gọi là Phúc dày, chữ Phúc là Thiên Đồng có nghĩa đầy đủ, trọn vẹn và nổi bật ở từ hạnh phúc. Thiên Lương là chữ Ấm, quan trọng nhất ở tính chất Thọ của sao này. Bộ Đồng Lương tọa thủ ngay bản cung mệnh đã hàm chứa ý nghĩa hay và trong bối cảnh trên lá số Tử Vi việc Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham giao hội hình thành nên các cách mâu thuẫn ở bên ngoài nhược cung Tật Điền Bào và Phụ Tử Nô, tức lệch pha với Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật cho thấy bản thân ta may mắn với người khác, đặc biệt may mắn nhất khi bên ngoài hình thành cách Tử Phá mâu thuẫn giữa lý tưởng và phản kháng, phá bỏ thay đổi giữa hai nhóm sao bạo lực lên đến đỉnh điểm hình thành các cặp đối nghịch đồng cung tăng tính xung đôt như Liêm Tham, Vũ Sát, Tử Phá. Ở nhóm sao này có Cự Nhật ở bên ngoài tham gia cùng Phá Quân và Cơ Nguyệt Đồng Lương bảo toàn được phúc thọ, may mắn yên bình. Đồng Lương luôn nhị hợp với bộ Liêm Tham bị ảnh hưởng tác động của cách này. Bên trong ta từ thiện, nhân hậu vì soi xét thấy sự ham muốn về vật dục và tính đạo đức, liêm khiết xung đột với nhau gây nên họa rối loạn trong khi tính chất của Đồng Lương ưa sự an ổn, yên bình vì vậy hình thành tại bản cung cách không tranh giành khiến tính Sát giảm thiểu.


Đồng Lương là sự đồng lòng, cùng chung làm việc tốt cho người khác như Thiên Lương chủ từ tâm vì vậy không gặp cảnh xung đột. Tuy nhiên trên lá số Tử Vi luôn có khuyết điểm trên 12 cung tương ứng với sự thiên lệch về lực lượng bàng tinh khi ở cung này tốt ắt cung khác tập trung sao xấu. Hạn dịch chuyển của Đồng Lương hợp cách khiến sao này khi đáo hạn xấu tăng tính bất ổn của cách cục, đặc biệt tới hạn Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm có thể gặp tai họa nếu Sát Tinh trùng phùng tại đây và ta thường nghe tới việc người này sống tốt cả đời nhưng lại gặp tai họa. Thực chất khi sinh ra thì sự thiên lệch về Âm Dương luôn khiến họa phúc biến đổi liên tục, cũng cần phải xét tới các tai họa mang tính quyết định từ các vận lớn hơn khó tránh. Nhìn chung Đồng Lương được sự an ổn và yên bình khi đắc cách. Được may mắn về tinh thần hơn các nhóm sao còn lại. Xét về phúc hậu, từ thiện không hẳn hơn vị trí của Tử Vi tốt đẹp mang tính trách nhiệm, xây dựng xã hội. Cái tốt của Tử Phủ mang tính ẩn và Đồng Lương có tính hiện vì thế khó phơi bày ra ngoài như Đồng Lương. Phá Quân khi tốt là đòi hỏi công bằng, phá những thứ sai trái do lý tưởng của Tử Vi xấu gây ra. Cự Môn tốt là sự phản đối về bất công, dám đứng lên đấu tranh. Tùy bàng tinh gia hội vào cách cục mà có thể luận rõ nét về tính cách thiện ác của các sao. Trong 12 cung và 14 chính tinh ở tất cả vị trí ngay cả Tử Vi cư Ngọ cũng mang khuyết điểm. Đồng Lương tọa thủ Dần Thân được nhiều tính chất hay cho bản thân hay toàn bộ cách cục. Thuộc nhóm người hiền lành, ưa cuộc sống an ổn, hưởng thụ trong xã hội. Đồng Lương gặp Lộc Tướng Ấn rất hợp cách chủ sự dài lâu, tích lũy phúc đức, may mắn. Gặp Thanh Phi Phục do không có tính Sát lớn nên hợp cách. Trong trường hợp gặp Kình Hao hay Đà Hao kém hay hơn nhưng cũng không gặp tai họa quá lớn trừ khi gia thêm Không Kiếp. Đồng Lương kỵ gặp Hỏa Linh đồng độ, đặc biệt là Hỏa Tinh.

Thursday, April 6, 2017

Thiên Đồng cư Tị Hợi luận giải (phần 2)



Thiên Đồng cư Tị Hợi luận giải (phần 2)


Sao Thiên Đồng cư tại Tị Hợi không được đánh giá cao trong khi tại tam hợp bộ Cự Cơ tại Mão Dậu và cung VCD có Âm Dương Sửu Mùi chiếu đều là các cách cục mang ý nghĩa ban đầu hay. Vì vậy khi mệnh ở vị trí này thì hoàn cảnh thì tốt đẹp, ta được trợ giúp trong khi bản thân của ta thì không được giỏi giang. Cũng may là các cách đẹp chưa ở tại vị trí cung xung chiếu nên còn có một cái may. Thiên Đồng hay bộ Cự Cơ Đồng là cách mâu thuẫn giữa nhiều người trong cùng một tập thể, khi mà lợi ích của bản thân là nguyên nhân dẫn tới cự cãi, tại vị trí sao Thiên Đồng thủ mệnh. Nếu vị trí thủ mệnh của ta là ở bộ Cự Cơ thì ý nghĩa phần thắng thuộc về ta tức bản thân ta đứng lên đòi lợi ích cho bản thân trước tập thể, cũng là cách nắm bắt được cơ hội khi rất nhiều người xung quanh đều có nhưng không nắm bắt được. Thiên Cơ có được Cự Môn đồng cung rất hay. Tuy nhiên mệnh của ta lại là Thiên Đồng và Thiên Đồng do không thành nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương nên tính chất phúc thiện không rõ ràng mà luôn đi với phiền toái, bất mãn của Cự Môn. Ở bài trước đã đưa ra một số cách cục khi giao hội với bàng tinh của Thiên Đồng. Sao này khi đi với các trường hợp Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục đều mang ý nghĩa biến đổi mạnh. Cần thiết nhất là bộ Kình Hao hoặc Đà Hao hình thành cách Cự Cơ Đồng ngộ Hao mang ý nghĩa thay đổi để chống lại mâu thuẫn khiến Thiên Đồng có thêm lực kích phát, giảm tính thụ hưởng mà vươn lên giành cơ hội của sao này.


Hay nhất là bộ Kình Hao có thêm Phượng Khốc, nếu Đà Hao có Phượng cũng mang ý nghĩa tốt đẹp. Thiên Đồng cư Tị Hợi đồng cung với Lộc Tồn cũng mang ý nghĩa khá tốt, mặc dù có cách Cự Tồn thường hay tồn tại bất mãn, phản kháng cách. Đi với Khôi Việt tại tuổi Bính và Đinh. Với tuổi Đinh cư Hợi được cách Kình Việt Hao hợp cách. Với tuổi Bính cư Hợi được cách Khôi Phi đặc biệt Cự Môn có Thanh Long là cách lão bạng sanh châu giảm tính xung khắc của sao này tới cách cục. Khi tác động với các Địa Chi. Thiên Đồng tại vị trí này cần thiết nhất là cách Phượng Khốc để tăng giá trị cho cách cục như bộ Khôi Việt. Bộ sao này có giá trị tạo sự ngưỡng mộ của cộng đồng bởi sự đứng lên phản đối của Cự Môn trước những sai trái, bất công. Thiên Đồng cư Tị Hợi ở vị trí có thể gặp Trường Sinh. Cách Thiên Đồng ngộ Trường Sinh khí rất mạnh, nếu gặp Kình Dương hay các sao như Hỏa Tinh thường thể hiện sức mạnh bạo thái quá, cần thiết có tam hóa tại đây tăng tính vượng ở khí của Tam Hóa. Sao Thiên Đồng trường hợp giao hội với Đào Hồng Cô Quả cũng là cách cục hay trong trường hợp chưa hóa thành Quyền Sát vì Thiên Đồng là ngôi sao hiền hòa gặp Đào Hồng có tính chất vui vẻ, hòa đồng trong tập thể, cộng đồng, cũng là cách dễ gây thiện cảm với người xung quanh, giảm được tính lo âu mà hướng tới niềm vui thụ hưởng của Thiên Đồng. Tuy nhiên tại đây cần tránh trường hợp có nhiều dâm tinh hội họp khiến Thiên Đồng lao vào tửu sắc khiến công danh vất vả khó thành tựu. Đồng Cơ Cự mang tính mâu thuẫn trong cách cục có hai biến hóa là hóa thành Quyền và giảm tính mâu thuẫn là hợp cách của bộ sao này.

Friday, March 24, 2017

Thiên Đồng độc tọa tại cung Mão Dậu



Thiên Đồng độc tọa tại cung Mão Dậu


Cách cục này thuộc trường hợp Cơ Đồng giao hội với sao Cự Môn trong nhóm Cự Nhật. Khi đó Thiên Cơ cư tại Sửu Mùi và Cự Môn tại Tị Hợi tam hợp chiếu hình thành bộ Cự Cơ Đồng có tính chất riêng đặc trưng mang tính phản kháng, không được yên ổn, may mắn như cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, tuy nhiên bộ CNĐL khó thành công khi kiến sát tinh như cách Cự Cơ Đồng. Thiên Đồng là ngôi sao chủ phúc lợi, thường làm việc liên quan tới cộng đồng tuy nhiên khó có được thành công rực rỡ do tính hưởng thụ của sao này. Thiên Đồng độc tọa tại cung Mão Dậu có Thái Âm xung. Tính chất ban đầu của Thiên Đồng bình thường không có sự vượt trội như các cách Đồng Lương hay Đồng Âm ban đầu đã chứa sự may mắn của cả cách cục. Vì vậy bộ sao này cần thiết có bàng tinh hợp cách để trợ lực và giảm tính xấu xa, mờ ám của cách này. Tại cung Mão có thể gặp bộ Khôi Việt ở tuổi Nhâm Quý và ở tuổi Bính Đinh với mệnh an tại Dậu. Thiên Đồng là sao phúc hậu khi gặp Khôi Việt hình thành cách Đồng Việt chủ phát phúc. Từ phúc của Thiên Đồng có thể là phúc lợi, phúc phận với bản thân của người có sao này. Thiên Đồng khi tốt là bất phạ tai ương tức không bị vạ với tai ương họa hại. Qua nghiệm lí mệnh có sao này tính cách có khuynh hướng tâm linh, tôn giáo lớn, thường gặp các sự việc nguy hiểm rồi tai qua nạn khỏi nhanh chóng, thích sự hưởng thụ an nhàn, việc này khác hưởng thụ của sao Tham Lang thiên về việc đáp ứng được ham muốn này lại sinh tới ham muốn khác. Cái thụ hưởng của Thiên Đồng đơn giản hơn, có khi chỉ là đáp ứng cho người khác một yêu cầu. Vì vậy Thiên Đồng luôn có suy nghĩ đơn giản, trẻ hơn so với cùng lứa tuổi. Thiên Đồng khi độc tọa đầy đủ toàn bộ tính chất của sao này. Thiên Đồng cần gặp nhất là bộ Khôi Việt, kế đến là cách cục Tam Hóa.


 Ở cách Cự Đồng Cơ khó được cả bộ Tam Hóa, với tuổi Đinh gặp cách Khoa Quyền Kỵ có Lộc xung là cách hay. Với tuổi Bính có Cơ Đồng thành bộ Quyền Lộc, hỉ được Xương Khúc hình thành bộ tam hóa Khoa Quyền Lộc có tính thành công lớn. Thiên Đồng hoán cải vô thường có Tả Hữu giúp sức khiến sự thất bại giảm thiểu. Thường có sao này hay gặp cảnh làm việc tới lúc khó khăn bỏ dở, không chịu được gian truân mà tìm cách để thoát khỏi khó khăn, vì vậy khi đứng một mình đôi khi cần sát tinh kích phát. Như cách Thiên Đồng Kình Dương uy chấn ở biên di. Tuy nhiên cần tránh trường hợp Sát Kỵ trùng trùng khiến sao này gặp nguy hiểm tới bản thân vì tính dụng hóa Sát tinh không mạnh như Cự Môn hay Sát Phá. Thiên Đồng hay cả bộ Cự Cơ Đồng ưa gặp cách Đào Hồng Cô Quả chủ sự vui vẻ, hạnh phúc dù cho không có nhiều danh lợi. Cách cục này thường trong xã hội là người không bền chí nên ít gặp thành công rực rỡ, tuy nhiên xét về mặt tinh thần là cách tốt đẹp được cách bất phá tai ương mà cuộc sống thanh bình. Thiên Đồng tối kỵ Hỏa Linh xâm phá, tất nhiên là xét ở trường hợp đồng cung nếu đi với Hỏa Tinh chủ sự nông nổi, bất an trong tâm tính khiến mệnh tạo trở nên vất vả hơn. Nếu gặp Linh Tinh chủ sự lạnh nhạt trong việc đối xử cộng đồng. Thiên Đồng lấy niềm vui vì giúp đỡ kẻ khác nên gọi là Phúc, nếu ở mặt này xấu thì tính chất biến đổi về cách tự phấn đấu để hoạch phát vì không có chỗ dựa tinh thần. Bộ Hỏa Linh còn khiến tổ hợp Cự Cơ Đồng thêm rắc rối và mâu thuẫn của Cự Môn với những điều gặp đẩy lên.

Wednesday, March 22, 2017

Cự Đồng Sửu Mùi cách tổng luận



Sao Cự Môn đồng cư Thiên Đồng cách


Trường hợp có bộ Cự Đồng là trường hợp bố cục Chính Tinh không mấy hay của các cách cục trong Tử Vi. Trường hợp này thuộc Cự Môn giao hội với nhóm Cơ Đồng, đồng cung với Thiên Đồng không hay bằng việc đi với Thiên Cơ. Thường tiền nhân luận Thiên Đồng có tính chất thay đổi, không bền chí thực chất do cơ hội đến từ sao Thiên Cơ. Trong Toàn thư có đoạn luận về Thiên Đồng có tính chất khi đắc cách chủ tính tình hòa nhã, khiêm cung, biết tôn trọng người khác và có lòng nhân từ, suy nghĩ sâu sắc mà hành động tránh làm tổn hại đến nỗi quan hệ với người khác. Nhấn mạnh tính chất thay đổi có mới nới cũ, xây dựng ý tưởng kế hoạch nhưng mang tính phù trầm, khó có quyết tâm thực hiện, vì vậy mà nói thì nhiều mà làm thì ít, có tính hài hước và tính trẻ con. Thiên Đồng nhấn mạnh ở tính thụ hưởng, chấp nhận với thực tại ở trong các trường hợp tốt xấu kể cả bị lấn át, chèn ép nếu xấu nên cũng không gặp tai họa lớn như các Sát Tinh đấu tranh bằng cả bạo lực và tinh thần, vì vậy luận là Phúc Tinh chủ có phúc đức. Tuy nhiên khi đứng cùng sao Cự Môn đặc tính này không hay để bị nhận xét là cách cục xấu. Cách Cự Đồng là cách chấp nhận sống với sự bất mãn của Cự Môn. Sao Cự Môn là sao luôn chứa bất mãn với Tử Vi nên rất cần cách cục đấu tranh hoặc trực tiếp thay đổi để chống lại sự bất mãn. Vì vậy cách Cự Môn ngộ Kình Hao hay Đà Hao đều thuộc cách tranh đấu hoặc nhẫn nhịn để bộc phát như đã luận ở tính chất bộ Kình Đà. Đồng độ với Thiên Cơ chính là thời cơ, cơ hội thoát khỏi bất mãn và lợi ích từ sự bất mãn, từ đó sinh ra quyền lợi hay những thứ khác.


Với Cự Đồng nếu tầm thường là sự cam chịu số phận để hưởng thụ cuộc sống bình thản. Tử Vi cư Tí Ngọ độc tọa lý tưởng cao và đầy đủ bộ Vũ Tướng và Liêm Phủ khiến Cự Môn về vị trí hãm, khi Tử Vi có lý tưởng sai lầm nghiêm trọng sẽ hình thành cách tất cả chung sự bất mãn tức cách Cự Đồng. Bộ sao này nằm trong tinh hệ Tử Vi cư Tí Ngọ, các Đại Hạn đi qua tùy tốt xấu mà luận tính chất biến đổi theo gốc tính cách của bản cung Mệnh. Cự Đồng nhập mệnh ý nghĩa bản thân thiếu quyền lực vì phải chấp nhận bị chèn ép, vì vậy rất cần có bộ Tam Hóa hoặc Sát Kỵ nhằm kích phát khiến bố cục nâng cao hơn. Cự Đồng Sửu Mùi tối hỉ được bộ Khôi Việt nâng giá trị cho bộ sao này, đặc biệt là cách Tọa Quý Hướng Quý theo Thiên Can ở các tuổi Giáp, Canh, Mậu. Cần thiết gặp bộ Phượng Khốc hoặc Đào Hồng theo địa chi để Cự Đồng giảm tính khuyết điểm trong cách cục. Ở đây kỵ gặp bộ Lộc Tướng Ấn tăng tính bất mãn của Cự Môn, mệnh tạo khổ sở vì những việc không thể chống cự dù có thể chỉ là những chuyện tào lao. Ở đây gặp Kình Hao lại là cách hay mặc dù có cách Thiên Đồng Kình Dương thân thể tao thương nhưng đây là phản kháng cách. Tuổi Đinh Kỷ có Kình Dương cư Mùi và tuổi Quý có Kình Hao tại Sửu. Đặc biệt bộ Cự Đồng hỉ được tuổi Đinh có tứ hóa Nguyệt Đồng Cơ Cự hình thành bộ Khoa Quyền Kỵ gia hội Thiên Khôi hoặc Thiên Việt ngộ Kình Hao hoặc Đà Hao. Tuổi này là trường hợp tốt nhất cho bộ Cự Đồng cư Sửu Mùi, nếu được thêm bộ Phượng Khốc luận là hay, chủ được sự ủng hộ, đồng lòng khi Cự Môn bắt đầu lên tiếng phản đối trong trường hợp có Việt, và đứng đầu trong tổ chức đối lập trong trường hợp có Khôi. Cách cục này cần thiết kiến Sát Kỵ để thay đổi tính chất cam chịu. Với Mệnh Cự Đồng cung độ gặp tổ hợp Sát Phá Tham là thời cơ để thay đổi cái nhìn để thành công. Cự Đồng ngộ Xương Khúc chủ giảm khuyết điểm của Cự Môn, ngộ Tả Hữu được sự giúp đỡ khi khó khăn, gặp Tang Hư Khách không luận xấu. Vì vậy cách này chỉ kỵ gặp Không Kiếp và thứ đến là bộ Hỏa Linh.

Tuesday, March 21, 2017

Một số tính chất qua lá số Thiên Đồng



Một số tính chất qua lá số Thiên Đồng


Một lá số mệnh có Thiên Đồng độc tọa tại cung Hợi thuộc cách Đồng Lương xung chiếu lẫn nhau. Xét bố cục của chính tinh là cách Đồng Cơ Cự với Thiên Đồng đơn thủ tại Hợi cung, bộ Cự Cơ cư tại cung Quan Lộc và Tài cung vô chính diệu, Thiên Di là Lương tại Tị và nhị hợp có Tham cư Dần, bố cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh. Đại vận đi theo chiều thuận với tinh hệ Tử Vi cư Thìn. Tại bản cung Mệnh có Thiên Đồng, Thiên Việt, Linh Tinh, Thiên Hình, Hóa Quyền, Thiên Mã, Hỉ Thần, Điếu Khách. Ngay tại đây đã đủ cách Việt Linh Hình có Hóa Quyền và Thiên Mã cư Hợi. Lá số sinh tuổi Đinh Dậu. Xét tổng thể cách cục Đồng Cơ Cự ngộ Triệt tại Mão, Kình Hao Việt, giao hội Mã Tang Hư Khách, Hình Diêu, Khoa Quyền Kỵ, Thai Tọa, Linh nhị hợp Hỏa. Cách cục này chứa nặng tính Sát. Đa phần người luận tử vi sẽ nhìn ra các cách cục chính mang tính quyết định như Kình Kỵ Linh Hình Việt, Cự Môn phùng Diêu Đà Kỵ, Kình tứ mộ Mã triều lai và các cách cục ý nghĩa tốt như Cự Cơ Mão ngộ Song Hao, Lương xung tọa thủ kiêm thọ ấm, luận phối hợp với nhau nhưng khó việc suy xét giữa cách cục nào mang tính chất quyết định giữa hai lực lượng để luận cát hung, khi các cách giao hội biến hóa tính chất ra sao. Nếu người chưa có cơ hội nghiệm lí nhiều năm sẽ khó phân biệt được cao thấp của các cách cục và nhìn rõ các cách bổ trợ làm thay đổi hoàn toàn chiều hướng luận như việc Việt Linh Hình Kỵ có thêm Hóa Khoa tính chất thay đổi. Vì vậy cần nắm rõ tính chất phối hợp của chính tinh và bàng tinh ở tại bản cung và phối hợp toàn bộ tính chất của bố cục Chính Tinh thì việc luận đoán sẽ trở nên chính xác hơn. Bản cung là chủ và tam hợp là bổ trợ. Đương số từ nhỏ đã có đầu óc khác thường, tính tình lạnh lẽo chứa những ý tưởng chứa tính Sát. Thuở nhỏ khi nhập hạn xấu phải mổ xẻ vùng bụng là bệnh viêm ruột thừa. Lớn lên thỉnh thoảng chảy máu vùng bụng do xuất huyết dạ dày và nghi ở đây có khối u nhưng hiện tại đi khám không có dấu hiệu.



Mệnh tạo có tính quyền sát rất lớn, ưa lây việc chung làm việc riêng, tính tình thâm sâu nhưng thực bản chất có sự phúc hậu. Có quyền ngầm, quyền sinh sát lớn do chức vị và tính cách cũng biểu hiện việc thích quyền lực ngầm. Nắm bắt tốt những thời cơ và thuở nhỏ đã tỏ ra được tài năng lớn. Đặc biệt phần tính cách thất thường khó đoán. Tuy có tính chất sát phạt và sự nghiệp thăng trầm, có tai họa khó khăn, nhưng thực tế lý tưởng tốt đẹp, làm việc ngầm có ích xây dựng xã hội. Cách Đồng Việt chủ sự phát từ tâm hóa giải một phần bộ Việt Linh Hình Kình Kỵ khiến bộ sao này không tác họa lớn tới tai họa của bản thân, thuộc dạng ngoài ác trong thiện. Cũng vì vậy mà hội cả Tam Ám nhưng vẫn có thể hóa giải về cách âm thầm làm việc khó hiểu, mờ ám để giúp đỡ kẻ khác. Bộ Khoa Quyền giải mạnh các cách cục xấu nếu không có Không Kiếp có thể trở nên đắc dụng. Thiên Đồng không hợp với Kình Hao nhưng hợp với Tang Hư Khách, sao này khiến cả bộ Tứ Hung gồm Tang Hổ Điếu Binh đắc dụng chưa kể chỉ có hai sao Tang Điếu chủ sự đồng cảm với kẻ khác, đặc biệt luôn có Thiên Mã hợp với Thiên Đồng. Ở cung Quan Lộc bản chất bên trong là cả tổ hợp Cự Cơ Đồng, bên ngoài được bộ Âm Dương cư Sửu hóa thành Lộc. Tính chất của bản cung Quan Lộc chủ sự tranh đấu, được ủng hộ do Thai Tọa, thuộc bộ Kình Thai Tọa mang tính võ cách. Cung độ Cự Cơ cư Mão có Triệt Khoa Kỵ Tang Diêu Y là cách cục không mấy hay khi tính chất cơ hội của bộ sao này không tốt đẹp, nếu gặp thêm Sát Tinh dễ trở thành nguy cơ. Thiên Đồng chủ phúc nhưng trường hợp này đương số không được hưởng phúc mà bôn ba lao lực, cuối cùng sự nghiệp lên xuống thất thường mà hạn xấu khi đến cung độ Liêm Trinh cư Thân phải trắng tay và mang bệnh tật mãn tính khó chữa. Sát Tinh sức công phá rất lớn, để hóa Sát thành quyết tâm, quyền uy rất khó khăn mặc dù trường hợp này đã có sao chủ tính nhân nhưng vẫn mang nhiều khuyết điểm.

Monday, February 13, 2017

Phân tích về tính chất Thiên Đồng



Phân tích về tính chất Thiên Đồng


Thiên Đồng thuộc hành Thủy, nằm trong nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Như nhóm Sát Phá Tham đối xung với Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, ta cũng có Cự Nhật đối xung với Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thái Âm luôn đi với Thiên Lương, Thiên Cơ luôn đi với Thiên Đồng thành hai nhóm sao nhỏ là Âm Lương và Cơ Đồng. Tương tự ta cũng có Tử Vũ Liêm và Phủ Tướng. Để luận đoán Thiên Đồng cần hiểu thêm tính chất của Thiên Cơ. Bộ Cơ Đồng thuộc nhóm sao có tính chất động, nhị hợp với Thiên Đồng luôn có Tham Lang, nhị hợp với Thiên Cơ luôn có Phá Quân. Thiên Đồng có tính chất cộng đồng, xã hội. Thiên Đồng có đặc tính ôn hòa, chủ được hưởng phúc nếu tốt, thường có lòng thương người, khó kiềm chế cảm xúc. Thiên Đồng biểu tượng là đứa trẻ, trong cơ thể là cái bụng. Những suy nghĩ biểu hiện ra bên ngoài gây tác động tới người khác là bụng dạ con người. Thiên Đồng khi tốt là suy nghĩ đơn giản, thường nghĩ cho mình xong đến cho người. Trong trường hợp gia Sát Tinh vừa có thể chế hóa, khi đó Thiên Đồng hướng tới đối tượng là những người kém may mắn, bệnh tật,... chính là Sát Tinh. Cách này cũng như Thiên Lương kiến Sát thường làm thầy thuốc chữa trị. Thiên Đồng coi trọng việc hưởng thụ vật chất, bên nhị hợp có Tham Lang chính là lòng tham muốn phát khởi. Vì vậy muốn rõ Thiên Đồng thì phải xem sức ham muốn của Tham Lang. Nếu tại Tham Lang có cách Hỏa Tham tức ham muốn là giàu, Mệnh Thiên Đồng ảnh hưởng tới việc hưởng thụ vật chất cần giàu có. Nếu cách Tham Linh chủ ham muốn Quyền Lực, tức Thiên Đồng cần sự uy tín, ảnh hưởng của mình tới người khác. Thiên Đồng là sao hay làm việc đóng góp cho cả xã hội, các ngành nghề thường liên quan tới từ thiện.


Trong trường hợp Thiên Đồng gia Không Kiếp hay nặng hơn là Kiếp Kình không luận vậy. Đây thuộc cách bụng dạ hiểm gian, do bị ảnh hưởng phải chào thua trước đại sát tinh Không Kiếp, kết quả Không Kiếp thắng thì tai kiếp tới, thường thuộc cảnh cùng chung họa. Nếu thắng được Không Kiếp tức dụng được Không Kiếp cũng hoạch phát, hoạch phá, tùy theo phản cách. Thiên Đồng có Khôi Việt và Không Kiếp không thêm cách xấu thì luận trung bình, nếu có cát tinh như Tả Hữu, Khoa Quyền Lộc tốt đẹp và đặc biệt là trường hợp Không Kiếp nhập miếu tại Tị Hợi hoặc chỉ gặp một sao trong bộ Không Kiếp. Thiên Đồng tối hỉ thấy Khôi Việt vì hình thành cách Đồng Việt chủ phát phúc, Đồng Khôi là phúc phận lớn. Thiên Đồng nhập 12 cung không gặp Không Kiếp gia cát đều luận là khá tốt đẹp, ít nhất thường được sống yên ổn, may mắn hơn người xung quanh. Mỗi Chính Tinh đều có các sao kỵ gặp, trong các Sát Tinh ngoài bộ Không Kiếp đặc biệt là Thiên Không, Tứ Sát gồm Kình Đà Hỏa Linh không mấy xấu. Thiên Đồng ngộ Hỏa Linh chủ tinh thần bất an, bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương nổi bật ở tính nhàn nhã, yên ổn rất kỵ bộ Hỏa Linh.
" Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá".
Cách này xấu chủ do Thiên Lương của nhóm Âm Lương và Thiên Cơ của nhóm Cơ Đồng kỵ gặp Hỏa Linh. Cơ gặp Hỏa Linh tâm trí thường rối loạn, nếu kiến Sát Kỵ Hình dễ gặp tình trạng liên quan tới tâm thần bất ổn định, đặc biệt có Kỵ Hình ngộ thêm Khôi Việt có thể gây ra việc tàn nhẫn khi đó Hình chuyển thành hình pháp của pháp luật. Nhìn chung Thiên Đồng không nên gặp Hỏa Linh, đa phần các trường hợp nóng lạnh thất thường, cuộc sống trở nên khó khăn vì tính cách hường thụ của Thiên Đồng khiến sao này khổ sở. Thiên Đồng cát hóa mạnh ở bộ Đồng Lương khi Thiên Lương chủ may mắn đáp ứng cho Thiên Đồng. Nhị hợp là bộ Liêm Tham cũng chủ may mắn, tham muốn dài lâu vì Liêm Trinh chủ dài, do vậy tính động, hưởng thụ của Thiên Đồng được đầy đủ khiến Mệnh trở nên tốt đẹp. Đây cũng là cách vừa có phúc, vừa có thọ.
" Dần Thân tối hỉ Đồng Lương hội".
Thiên Đồng không nên gặp những bộ sao tạo nên khó khăn. Như ngộ La Võng tại Thìn Tuất khiến Mệnh tạo vất vả. Mệnh có Thiên Đồng là ngôi sao khá dễ đoán định vì khó xảy ra việc biến hóa theo chiều hướng cực đoan, cần xem vị trí của Không Kiếp và Hỏa Linh để đưa ra kết quả ban đầu khi luận đoán.

Saturday, September 10, 2016

Bộ Đồng Âm đồng cư Tí Ngọ thủ mệnh







Thiên Đồng và Thái Âm đồng tọa Tí Ngọ



Thiên Đồng và Thái Âm là hai chính tinh trong bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG. Đoán Thái Âm thì phải luận đến Thiên Lương vì hai sao này vĩnh viễn tam hợp, đi sâu hơn thì có sao Thiên Phủ ngay sau Thái Âm, Tham Lang ngay trước sao này. Bộ Đồng Âm cư Tí Ngọ là trường hợp khá đặc biệt khi Tham Lang luôn đứng trước Thái Âm, nay lại nhị hợp mang đến tính chất riêng của cách ĐỒNG ÂM. Và Thiên Đồng luôn nhị hợp Tham Lang nay có thêm Vũ Khúc thành bộ THAM VŨ đồng hành ở cung Sửu Mùi. Bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG hoàn chỉnh ở cách cục này tức Tử Vũ Liêm và nhóm Sát Phá Tham giao hội với nhau. Thiên Đồng và Thái Âm đồng cư Tí luận khác với cách cư Ngọ, Đồng Âm cư Tí được xem là tốt đẹp hơn do bộ Âm Dương rất quan trọng vị trí sáng tối.
"Đồng Âm cư Tí, Bính Đinh phú quý trung lương".
Cách cục Thái Âm và Thiên Đồng là cách có cả phú lẫn quý, trường hợp ở Tí luận rõ nét khi Thái Âm nhập miếu, tuổi Bính có bộ Đồng Cơ Xương Liêm được Quyền Lộc, tuổi Đinh có Nguyệt Đồng Cơ được cả bộ Tam Hóa KHOA QUYỀN LỘC và Lộc Tồn, thêm Thanh Long Lưu Hà rất tốt đẹp. Vì vậy, cách Đồng Âm Tí Ngọ rất cần thêm Lộc ( Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn) như đã giải thích ở trước các sao chủ Ám, tính Che Dấu, Ẩn rất cần Hóa Lộc để xóa bỏ nhiều tình trạng xấu diễn ra. Tuôi Bính có LỘC TỒN ở cung Tị, khi đó tam hợp Mệnh gặp Đà La, nếu không có Lộc luận là xấu, vì hai sao Nhật Nguyệt rất kỵ bộ Kình Đà tức có thêm Hao chủ dễ gặp cảnh nhân ly và tài bị hao tán. Thiên Đồng hóa thành PHÚC,  Thiên Lương tam hợp hóa thành ẤM, phối hợp với Thái Âm tại Mệnh thành cách. PHÚC ẤM BẤT PHẠ TAI ƯƠNG, đây cũng là cách lương thiện, đề cao việc tập thể, xã hội. Những người hay làm việc từ thiện, việc công ích cho xã hội thường có Mệnh là Thiên Đồng, ngôi sao này chủ PHÚC nên đa phần dễ có ngoại hình trẻ hơn tuổi thực, khác với sao THIÊN LƯƠNG ở Mệnh thường tư tưởng và ngoại hình già dặn, cũng có thể mang tính biểu tượng, tức người ngoài nhớ đến lúc già, mang biểu tượng là già, cao tuổi. nhất là các cách Lương Y.


Cách cục Đồng Âm thủ Mệnh cư Tí hợp cho nữ hơn nam, mệnh có được luận khuôn trăng đầy đặn khi Thái Âm đi với Thiên Đồng thường mang vẻ đẹp đầy đặn, cũng có ý nghĩa là vẻ đẹp tươi trẻ, tức thiếu nữ. Người xưa thường miêu tả người phụ nữ đẹp với trăng tròn. Cách này ở Mệnh mới chỉ tạm gọi là xinh đẹp, và cách này tăng lên từ thấp đến cao tùy thuộc vào bàng tinh. Đẹp hay xấu ngoài xã hội quan niệm ở tính hiếm và phổ biến. Cách ĐỒNG ÂM có thêm Đào Hồng hơn rất nhiều, thêm Khoa cao hơn, gặp Khôi Viêt lại đẹp hơn, thêm Xương Khúc sắc đẹp thêm phần tinh tế, gia Long Phượng được ngưỡng mộ và cũng là cách nét đẹp tôn quý mới xứng đáng là biểu tượng của đất nước. Mệnh đắc cách được như vậy là rất hiếm, ứng với tỉ lệ rất hiếm và cũng phải tùy vận nước mới xuất hiện. Ngay các cách Hoa Hậu ở Việt Nam đa phần là hạn chủ nổi danh về sắc đẹp, chưa phải sắc đẹp khuynh thành. Bộ Đồng Âm tối hỉ gặp Phượng Các, có thể vô hại khi thêm Kình Dương hình thành cách Kình Phượng có Đồng Âm là cách tất cả đều hướng tới chung một lòng, khi đó nhị hợp là Vũ Tham là cách có người tham gia hỗ trợ, thuộc cách tiền hô hậu ủng rất tốt.
" Đồng Âm cư Ngọ, nhị phùng Kình Phượng nhất thế uy danh". Ở đây cung Ngọ có Thái Âm cực hãm, đây cũng là cung có sát tính khá cao, được ủng hộ đồng tình nên gọi là NHẤT THẾ UY DANH. Mỗi cung địa chi đều mang đặc tính riêng, tùy từng chính tinh mà phân định hợp hay bất hợp. Đồng Âm cư Tí phát phú hơn quý, ở cung nhị hợp có tài tinh Vũ Khúc của nhóm TỬ VŨ LIÊM, đồng độ với Tham Lang là sao chủ tiền của nhóm SÁT PHÁ THAM. Hai tài tinh đồng cung nhị hợp với Mệnh nên tính tài lộc rất lớn, tam hợp có Thiên Lương chủ tiền của nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG.


Cách Đồng Âm cư Tí Ngọ rất kỵ bộ Hỏa Linh, cách Âm Dương Linh Hỏa là tình cảm nóng lạnh, đã là cách không hay. Bộ Hỏa Linh gây tác động xấu cho toàn bộ nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG. Cách hóa giải chỉ là khi Hỏa Linh nhập vị trí đắc lợi, hoặc hình thành các cách giải tính xấu của hai sao này. Như cách Linh Kỵ Quyền rất tốt, cách Hỏa nhập Miếu có Khoa luận là tốt.  Bộ Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh nhưng khi hợp cách rất cần thiết vì Tứ Sát đều mang tính sát, cũng chính là tính nỗ lực, cát hóa, kình lực phát triển mạnh.
" Đồng Lương Viên ngộ Khôi Quyền, tăng phùng Linh Kỵ giao lai Song Lộc hoạch dị phú cường".
" Hỏa Tinh miếu vượng. danh trấn chư bang. "
Bộ Hỏa Linh gặp sao Lộc giảm tính hung họa, kỵ gia thêm bộ Khôi Việt thành cách Hỏa Khôi và Việt Linh là các cách xấu. Mệnh Đồng Âm gặp bộ Tả Hữu giảm tính động cho Thiên Đồng, Tả Hữu là người trợ giúp, là chân tay đắc lực khiến mệnh tạo hưởng phúc dày của Thiên Đồng. Tả Hữu cũng khiến Thái Âm tăng tài lộc. Thái Âm là âm thầm trợ giúp. Cách Thái Âm cư Tí và cư Hợi xét về mệnh tạo không thua kém nhau, Thái Âm ở Tí là cách THỦY ĐĂNG QUẾ NGẠC, cách cư Hợi là NGUYỆT LÃNG THIÊN MÔN, ở Tí tốt hơn ở Hợi nhưng xét toàn cách thì cách Thái Âm ở Hợi thuộc tinh hệ TỬ VI CƯ NGỌ, cách này là đế cách,  tất cả các vị trí đều sắp xếp hợp lí, hạn Tử Phủ Vũ Tướng Liêm nếu không bị phá cách là đại hạn có tính cát hóa rất lớn về cả danh và vọng. Ngay ở lá số 12 cung đều là của ta, cái mà Mệnh đứng đầu, quan trọng nhất là SỐ MỆNH tức LÁ SỐ TỬ VI, cung Mệnh ở đây là tính cách, các cung số khác cũng rất quan trọng, đặc biệt cung an Thân quan trọng hơn cung Mệnh. Cung hạn quan trọng hơn Thân vì liên quan đến sống chết ở hiện tại. Cách Đồng Âm thủ mệnh luôn có hạn Sát Phá Tham hội Tử Vũ Liêm phức tạp, cung Mệnh tốt đến đó có thể thành công. Vì cung hạn cũng dùng các sao ở Mệnh và Thân ban đầu phối hợp.

Monday, August 15, 2016

Thiên Đồng cư Thìn Tuất thủ mệnh





Thiên Đồng ở vị trí cung Thìn Tuất



Thiên Đồng thuộc Nam Đẩu Tinh, triết tự chữ Hán tên riêng là Phúc, chủ về phúc đức họa hại của con người. Chữ Phúc có mặt hầu hết tất cả mọi nơi. Tại lễ cưới hỏi mọi người chúc Phúc cho cô dâu chú rể. Một người vừa trải qua tai nạn mà không mảy may bị thương được ngợi khen là Phúc lớn, Mệnh lớn và từ Phúc còn sử dụng được trong quy mô Địa Vị và Tiền Bạc. Và các câu nói về Phúc rất nhiều trong cuộc sống thường nhật của chúng ta.
" Phúc như Đông Hải, thọ tỉ Nam Sơn".
" Phúc bất trùng lai họa vô đơn chí".
Và từ Phúc còn được sử dụng trong từ ngữ hằng ngày như Hạnh Phúc, Phúc Thọ, Phúc Hậu, Phúc Đức, Hưởng Phúc,... Vì vậy, Thiên Đồng là một sao quan trọng chủ Phúc trong tử vi, nhập mệnh hợp cách chủ bản thân có Phúc để dành khi họa mang ra dùng hoặc phúc hưởng thụ ngay từ lúc sinh ra.
" Thiên Đồng nhập mệnh bình sinh phúc hậu"
" Thiên Đồng nhập mệnh hoán cải vô thường".
Thiên Đồng tượng cơ thể là cái bụng, trong nhân tướng học bộ phận này cũng có tên là Phúc. Thiên Đồng và Thiên Lương là hai sao may mắn nhất của tử vi.
" Ấm Phúc tọa mệnh thân bất phạ tai ương". Thiên Đồng chủ Phúc còn Thiên Lương chủ thọ, Thiên Đồng là đứa trẻ còn Thiên Lương là cụ già cao tuổi. Trẻ nhỏ mang nhiều niềm vui đến hơn cụ già, một đám trẻ con quây tụ thì có phúc khí, và cái bụng phệ no đủ thời phong kiến cũng tượng trưng cho Phúc. Xét về phúc thì Thiên Đồng là kẻ hơn Thiên Lương vì kẻ may mắn không tốt bằng kẻ phúc dày. Phúc và may mắn phải phát sinh, từ các sự việc vì bản thân may mắn và phúc không có tính thường trực, vì vậy cần có Thiên Việt để kích hoạt việc tạo phúc và hưởng phúc.
" Phúc phùng Việt diệu đinh thị hải hà dục tú".
Cách Đồng Việt là cách phát phúc, cũng là cách làm việc thiện. Mệnh Thiên Đồng tính cách ưa làm việc xã hội, vì Thiên Đồng cũng có nghĩa là tập thể, cộng đồng. Đi sâu vào luận đoán thì cách Thiên Đồng ở Thìn Tuất có đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương không thừa không thiếu. Với Thiên Đồng cư Thìn thì bộ Cơ Âm sáng và Thiên Đồng cư Tuất là khi Cơ Âm lạc hãm.


Cách sách đều mô tả Thiên Đồng thìn tuất lạc hãm, đây là vị trí không mấy đắc ý của Thiên Đồng khi mà tuy đủ cách Cơ Nguyệt Đồng Lương nhưng lại bị Cự Môn xung. Trái với " Lương xung tọa thủ kiêm thọ ấm", Cự Môn là thị phi tinh kỵ xung chiếu với Thiên Đồng, ở đây vị trí La Võng dễ bị vu oan, nên luận là không mấy hay, đương nhiên còn nhiều yếu tố khác liên quan đến bố cục hạn di chuyển, cung nhị hợp. Như cách Cự Cơ Đồng ở Mão Dậu và cách Cự Đồng Sửu mùi thì mệnh đóng ở Thiên Đồng không mấy tốt. Cách Thiên Đồng Thìn Tuất tối kỵ gặp Không Kiếp vì hình thành cách cùng chung tai họa khó thoát do trời đất, dù Không Kiếp đắc địa, cần gặp bộ Khôi Việt để tăng tầm quan trọng của Chính Tinh khi lâm hãm địa, ở đây không thể có bộ Khôi Việt ở Thìn Tuất, cách giáp Khôi Việt của tuổi Bính Đinh trong trường hợp này không tốt bằng việc có ở tam hợp. Mệnh Thiẻn Đồng cư Thìn Tuất hợp với tuổi Đinh. Ở vị trí cung Thìn được cách Long Hà Kỵ và Tam Hóa rất tốt. Ở Tuất được giáp Khôi Việt gia Tứ Hóa Khoa Quyền Lộc Kỵ có bộ Tồn Ấn Bệnh thành cách Song Lộc, xa lánh được Không Kiếp luận là thượng cách hình thành vô số cách cục tốt đẹp. Thiên Đồng Thìn Tuất không nên gặp thêm Hóa Kỵ, nếu không có cách sao giải chủ mệnh lo lắng tào lao, lại gia sát hình là hạ cách.


Các sao ở vị trí đắc ý nếu gặp bàng tinh hợp cách trở nên rất tốt đẹp, hơn việc ở bố cục hãm địa mà được cát hóa trở thành tốt, vì hãm hay đắc liên quan đến vị trí sắp xếp phối hợp của 14 chính tinh trên lá số tử vi, và tiền nhân xét ở đó không phải chỉ riêng mệnh tài quan mà tất cả mãn cuộc cho ra đáp án như vậy. Như việc mệnh ở Thiên Đồng Thìn Tuất thì tất cả các cung khác đều thay đổi tên, hạn xuất phát thay đổi, vị trí lục hợp, xung chiếu, nhị hợp thay đổi. Vì vậy tuy tam hợp với mệnh quan hệ chặt chẽ nhiều lúc coi như một, nhưng mệnh Thiên Đồng Thìn Tuất khác Cơ Âm Dần Thân, bản cung mệnh hoàn toàn khác nhau, khi đoán hạn cũng phân biệt rõ bản cung và cung tam hợp.

Sunday, August 14, 2016

Đồng Lương Dần Thân hội





Đồng Lương ở vị trí Dần Thân



Tổ hợp Đồng Lương ở vị trí Dần Thân là nơi đắc cách nhất của bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương do một Phúc tinh và một Thọ Ấm tinh thủ mệnh. Cung Mệnh khác với cung tam hợp vì nơi cung mệnh là nơi tính cách, bản thân khác với tam hợp là nơi của Tiền Bạc và Địa Vị tuy quan hệ mật thiết nhưng chủ luận theo bộ nên với Đồng Lương tam hợp không tốt đẹp bằng nhập mệnh. Như việc Thiên Đồng ở Tị Hợi không mấy đắc ý nhưng cung Quan Lộc có bộ Cự Cơ rất tốt. Tuy vậy Mệnh Tài Quan là ba thứ tất yếu làm nên tính cách con người và bổ sung cho nhau, và khi luận đoán thì lấy tam hợp như bản cung, trừ các sao theo bộ với bố cục xung chiếu riêng và có ý nghĩa riêng như trục Tồn Phi, nếu nằm vị trí Bệnh Phù ở Mệnh đoán khác, vị trí Tồn Bác đoán khác, nhưng nếu mệnh ở Bệnh Phù thì vẫn áp dụng các câu phú có Lộc Tồn như thường, vì Lộc Tồn không ở Mệnh thì ở Tài Quan đều quan trọng giá trị như mệnh, vì các chính tinh ở tam hợp tác động qua lại với nhau chặt chẽ. Nên việc luận toàn tổ hợp phải dùng đến cả tam hợp để ra các luận đoán riêng tổng thể. Ví dụ như Đồng Lương Dần Thân có Bệnh Phù thủ mệnh dễ làm lương y vì có cách Lương Bệnh, nhưng luận Đồng Lương Dần Thân ngộ Lộc Tồn tam hợp thuộc cách may mắn về tiền bạc cũng chính xác, như vậy  đơn giản để phân biệt khi luận bản cung và luận cả tổ hợp. Bộ Đồng Lương Dần Thân có ưu điểm và khuyết điểm riêng như tất cả cách cục khác, với Tử Vi thì đây thuộc hạng Thượng Cách.

" Dần Thân tối hỉ Đồng Lương hội".

Bộ sao Đồng Lương ưa gặp và cần thiết nhất là Khôi Việt hình thành cách Lương Việt, Đồng Việt là cách phát phúc và phát may ( tuy nhiên do có Cơ Lương tối kỵ thêm Linh Hình thành cách Việt Linh Hình tối kỵ Cơ Lương ) gia thêm Lộc Tồn hình thành cách Phúc Thọ trường tồn, có thể dung nạp Hỏa Linh nếu có thêm Quyền. " Đồng Lương viên ngộ Khôi Quyền, tăng phùng Linh Kỵ giao lai Song Lộc hoạch dị phú cường, hình thành cách Linh Kỵ Quyền ngộ Song Lộc rất hay, hóa giải khuyết điểm của cách cục Đồng Lương do có Khôi tức người đứng đầu và cách Linh Kỵ Quyền mang lại quyền uy cho nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thực chất nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương yếu nhất về khả năng lãnh đạo trong các cách cục lớn như Cự Nhật có Cự Môn lãnh đạo, Sát Phá Tham có Phá Quân, Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có Tử Vi nên nhóm sao này cần bàng tinh chủ đứng đầu như Khôi, Kình thủ hoặc tam hợp mệnh, nếu không phải có một vài hóa hoặc Thái Tuế, Phượng Các để thành công và nổi danh. Tính chung thì mệnh Đồng Lương Dần Thân khá hiếm gặp.

" Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân".

Đồng Lương Dần Thân hợp với tuổi Đinh, vì được Tam Hóa theo thứ tự Nguyệt Đồng Cơ đủ bộ Khoa Quyền Lộc chủ mệnh đại phú đại quý, nếu ở Dần thêm cả Lộc Tồn thành bộ Song Lộc tránh Không Kiếp thủ chiếu dù gia sát tinh hạng nặng cũng không bị phá cách, tuy nhiên cung an Thân và hạn không được quá xấu nếu không dễ biến chuyển thành cách không may, hoặc còn may mắn sống sót với bao đau thương. Đồng Lương Dần Thân tuổi Đinh không có Khôi Việt và Thái Tuế nhưng bù lại dễ gặp bộ Tam Minh Đào Hồng Hỉ. Trong các cặp sát tinh thì Không Kiếp đứng đầu.
" Không Kiếp là tối hung thần, đóng đâu ở đó mười phần hiểm nguy".
Đồng Lương cũng không ngoại lệ, gặp Thiên không ( là Địa Không ) vô hình chung hình thành cách Lương Không và Đồng Không chủ vô phúc, bất hạnh. Thêm Địa Kiếp chủ hình thành cách Đồng Kiếp cùng chung tai họa và Âm Kiếp dễ là tiếng nổ. Nếu gặp Không Kiếp thì tối kỵ có thêm Lộc Tồn, cần gia Khôi Việt để hình thành cách cát hung tương bán, dễ khi phát họa lại gặp phát phúc. Trong lục sát thì duy Kình Đà là bộ sao mà Đồng Lương không kị gặp. Dù mệnh Tử Vi cư Ngọ là cách đẹp nhất mà gặp Triệt án ngữ hoặc Nhị Không ở mệnh cũng phá cách, tức là bàng tinh mới là kẻ quyết định chính tinh. Nếu không thì chỉ cần một Thiên Hư là Tử Vi trở thành hư vọng, địa vị không có thật. Nếu không hợp chỉ cần một sao có thể thay đổi hoàn toàn cách cục từ tốt về xấu.


Cách Đồng Lương Dần Thân đắc cách tức bàng tinh phối hợp nhịp nhàng thì đại hạn xấu qua một cách dễ dàng mà không phải lao đao như các cách khác, tất nhiên là với điều kiện chỉ xấu, nếu quá xấu thì khó cứu vì hạn là cái ta đang đối mặt ngay tại thời điểm này, ví dụ như việc nổ bom nguyên tử ở Nhật Bản chính là hạn xấu, thời điểm hiện tại. Nếu hạn xấu tức ta ở đó dễ chết dù mệnh rất tốt đẹp, như ta mang trong người nhiều kiến thức, nhiều tài hoa nhưng gặp bom nguyên tử thì ta vẫn chết. Nếu mệnh xấu hạn tốt thì như việc ta mang thương tật trong người nhưng ở Việt Nam nên không bị dính họa khó chết.

Saturday, August 6, 2016

Luận về Thiên Đồng Tỵ Hợi



Thiên Đồng cư Tỵ Hợi luận giải

Thiên Đồng cư ở Tỵ Hợi có Cự Cơ ở Dậu Mão cung tài hợp chiếu thành bộ Cự Cơ Đồng, bên ngoài có Thiên Lương xung vô hình chung thành cách "Lương xung tọa thủ kiêm thọ ấm". Thiên Đồng hóa khí là "Phúc", chủ phúc của con người, Thiên Đồng nên gia hội thêm Thái Âm thành bộ Đồng Âm chủ Âm Phúc. Gia cát tinh và vận hạn không quá xấu thì cuộc đời thường an nhàn hưởng phúc không phải lo nghĩ, tai họa đến nhưng phúc lớn thì tất vượt qua, cuộc đời thường gặp may mắn nếu có sao Thiên Lương hợp chiếu. " Phúc Ấm thủ mệnh bất phạ tai ương". Thiên Đồng chủ cái bụng, cũng chủ suy nghĩ thâm sâu trái với Thiên Lương, Thiên Đồng cũng chủ đồng lòng. Cái bụng được gọi là Phúc, cũng thiên về việc hưởng thụ. Sao Thiên Đồng có tính phúc thiện lớn, thường mệnh gia cát tinh hay làm các công tác xã hội, có tính từ bi trong lòng. Xét về Thiên Đồng cư Tỵ Hợi,  trong trường hợp này không có sao Thái Âm ở tam hợp không hay bằng cách có Thái Âm. Trái với Thiên Lương là người cao tuổi, trong cơ thể là đỉnh đầu nơi cao nhất thì Thiên Đồng là đứa trẻ, là cái bụng, lòng dạ. Thiên Lương hợp bộ Tuế Hổ Phù và Thái Dương vì thuộc nhóm bày tỏ, ngược lại Thiên Đồng thì hợp với Thái Âm cùng thuộc nhóm âm thầm.
"Thiên Đồng hội cát thọ nguyên thời"
Có sao Thiên Đồng hợp cách tại mệnh dù bất kì vị trí nào cũng thuộc dạng hưởng phúc, nhưng nhắc lại rằng gặp tai ương hoạn nạn không nguy trong điều kiện hạn không quá xấu, nếu Sát Tinh Phá Cách tập trung trùng phùng vào đại tiểu hạn thì dù bộ Đồng Lương Dân Thân gia cát thủ mệnh cũng phải chịu quy luật Tử của sinh vật. Hạn chính là chiều hướng của cả Mệnh và Thân. Gieo tính cách gặt số phân, cái tính cách 10 năm đầu tức ở mệnh là bản năng do sự tác động của các sao lên, nhưng các đại vận khác khi ta lớn lên gây biến đổi một số tính cách, nhưng vẫn phải dựa trên tính cách ban đầu là mệnh.


Thiên Đồng ở vị trí Tỵ Hợi phúc không có nhiều vì ngôi sao may mắn Thiên Lương ở đối cung khác với tam hợp. Vì vậy các sách thường cho ở vị trí hãm địa. Thiên Đồng ở Tỵ Hợi nếu gia bàng tinh hoặc tam hóa luận không phân biệt với vị trí khác gia cát. Như việc " Thiên Đồng Tuất cung phản bối, Đinh nhân hóa cát vi đại quý" tức tuổi Đinh tứ hóa Nguyệt Đồng Cơ Cự có Thiên Đồng tọa đất La Võng không hợp với đặc tính được bộ Tứ Hóa gia thêm Đào Hoa và Tồn Tướng Ấn, lại có bộ Khôi Việt giáp nên luận là đại phú đại quý. Mệnh cách rất đẹp hình thành vô số cách cục hay, việc quan trọng hơn là đại hạn tốt hay xấu. Như đã bàn ở trên, có nhiều lá số mệnh tốt người viết đã nghiệm lí hạn chết trẻ do không đương cự nổi khi đại hạn tập trung quá nhiều phá cách. Chuyện đó cũng thường ngày thấy trên báo đài về việc đang tuổi trẻ thành công bỗng nhiên chết lãng xẹt vì bệnh tật, tai họa.


 Vì vậy một lá số đẹp ít nhất phải có các hạn trung bình hoặc xấu nhưng không được tuyệt mạng. Cũng như vậy lắm kẻ đang đầu đường xó chợ mấy hôm sau thấy lên đời danh chức mặc dù bằng cấp không có, rồi buôn lậu trót lọt, làm chuyện trái pháp luật mà một phi vụ bằng cả đời người làm. Vì vậy xem tử vi tuyệt đối không nên phạm sai lầm xem chỉ  mệnh thân tốt còn hạn không quan tâm là hoàn toàn sai tôn chỉ của tiền nhân. Thiên Đồng tức bộ Đồng Cơ Cự trong trường hợp này có bộ Cự Cơ khá tốt nên cái được nhất chính là phàn nhà đất khá rộng rãi, cần gặp Khôi Việt để hình thành cách phát phúc và làm phúc, chắc chắn khi lưu Khôi Việt đến Thiên Đồng người mệnh Thiên Đồng không phá cách nặng nề sẽ sinh ra việc làm phúc lợi , qua kinh nghiệm là vậy. Người viết đã trải qua quá trình xem xét luận giải nhiều lá số và thấy đúng từ cơ sở của tiền nhân mới dám khái quát các cách giao hội ở các bài viết học thuật tử vi, tuyệt nhiên không phải lấy trong sách bàn mà không kiểm nghiệm trước sau. Mệnh Thiên Đồng rất cần Khôi Việt và Tam Hóa, có thể gặp Linh Tinh với điều kiện gia cát tinh và không có Thiên Hình để phúc phận tăng thêm linh ứng. Người may mắn không bằng người phúc dày.

" Thiên Đồng tối kỵ Hỏa Linh xâm phá"


Thiên Đồng tối kỵ bộ Không Kiếp vì hình thành cách không ngờ gặp phải tai họa, kiếp nạn lớn. Không Kiếp chính là họa đối nghịch với Thiên Đồng là phúc, tuy vậy chỉ gặp Không Kiếp thì không quá đáng ngại nhất là khi Không Kiếp ở vị trí đắc địa, nên gia thêm Khôi Việt hình thành cách cát họa liên tục thay thế nhau.