Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Mệnh Thân Hạn. Show all posts
Showing posts with label Mệnh Thân Hạn. Show all posts

Saturday, May 4, 2024

Vận động của nhân mệnh và kết quả theo toán mệnh

 


Những điều bí mật của tàng thức được khóa trong vật dẫn của thực tại là cơ thể. Thí như người đang mắt sáng bỗng nhiên bị mù, là quá trình từ Tuyệt khí, nhưng những thứ trải nghiệm trước đây bằng thị giác của họ không mất đi, tức tới Sinh trong vòng tròn Trường Sinh của toán mệnh. Điều này có thể hiểu như linh hồn của nhân mệnh đó có tri giác về cái biết của những thứ thấy bằng tưởng tượng hình ảnh, nhưng bị hạn chế bởi vật dẫn ra ngoài là mắt (nhãn quan) đã bị phong bế. Khi thiền định đúng cách, những mảnh ghép của ký ức các kiếp trước bắt đầu nổi lên, đan xen mờ nhạt và dần rõ khi nhân mệnh điều hướng tâm được an tịnh, cái thấy bắt đầu hiện ra. Cái thấy này như phát kiến khoa học về kính hiển vi, là cái thấy khác biệt với mắt thường. Thí như khi quá nhiều tiếng ồn cùng đan xen thì không thể cảm nhận được những tiếng động nhỏ cấu tạo nên toàn bộ điều nghe thấy. Linh hồn (hay Mệnh) cũng vậy, không thể tri kiến thấy biết được những điều kiếp nghiệp quả trước đây khi trong thân thể, bởi những khóa xích trói buộc bởi những quy tắc trong cơ thể tại ngũ quan và quy định bởi nghiệp lực. Và khóa xích này nằm tại những tư tưởng chất chồng liên tục, không có đủ thứ gọi là Định để con mắt tiếp theo sáng lên, tức Định trong các cấp bậc của Tứ Thiền. Điều này rất hay và khoa học khi mỗi người có cơ duyên thực hành Thiền định một cách nghiêm túc sẽ phát hiện ra sự thực đã trải qua hàng nghìn năm nay, về khám phá bằng việc mở rộng khả năng nhận thức bằng cỗ máy chính cơ thể của mỗi chúng ta. Và trong giấc mơ, nơi thường được gọi kết nối giữa thực tại và những điều ẩn trong tàng thức có thể hiển hiện một số mảnh ký ức trong tàng thức của người hữu duyên. Thí như người viết đã luận về việc giữa hai người, một người mù bẩm sinh, và một người mắt sáng gặp biến cố trở nên mù nhìn nhận chánh kiến về điều họ tri kiến về cuộc sống. Cái thấy mới do tập trung nhất tâm này có điểm khác so với điều thấy thường nhật. Khiếm khuyết của cơ thể (hay ví như tính năng của máy tính) có thể tác động lớn tới việc nhận thức về thế giới của mỗi người. Người ngồi hay nằm để tâm tưởng tĩnh lặng giác quan tiếp theo tức cái thấy sẽ vượt trội hơn.  



Cũng vậy, tính linh như ngôn ngữ của vạn vật, thí như về việc tác ý của việc Ăn, Ngủ, các ngôn ngữ đều biểu hiện tiếng nói khác nhau nhưng chung một ý nghĩa. Khi tác ý trong tâm thông là một trong Ngũ thông sẽ kiến giải cho thấy về việc không cần hiểu hết ngôn ngữ, trong nội tâm cũng tự phát hiểu, vấn đề này nằm trong Hành thức. Không cần cao siêu để nhìn nhận một người tu hành bằng việc thần tín hay thánh tín. Thay bằng việc thánh tín, thì việc hiểu về con đường cải biến tư tưởng của người tu hành thì tốt hơn, bởi mục đích được an ổn, được siêu việt trong lúc sống thấy được vận hành của vạn pháp, không nằm ngoài việc khiến việc không còn nổi lên nhiều luồng tư tưởng trong nội tâm, và chuyển hóa điều sợ thành bình thản, hành thức vẫn hoạt động nhưng không vướng mắc, bởi vậy Thiền phải có đề mục để tập trung, nhất tâm. Khi tĩnh lặng thực sự, bắt đầu các mảnh ghép ký ức của kiếp xa xưa, những suy luận về nhân quả nổi lên, như người mắt mờ, mù bẩm sinh được mở mắt lần đầu nhìn thấy cuộc sống mới. Tâm tướng khi đạt Định lực cũng vậy, không quá mang nhiều màu sắc thần bí cao siêu. Nhân mệnh thường cố chấp để giữ một vấn đề đối với bản thân là quan trọng, tuy nhiên rất dễ từ bỏ khi bản thân phải học tập nghiên cứu, kiên nhẫ làm những công việc, học hỏi thứ nhỏ để phát triển lớn sau thời gian dài nỗ lực. Thường muốn nhìn thấy kết quả trong thời gian ngắn. Có người có thể làm việc nặng nhọc trong thời gian rất dài, không thay đổi hàng chục năm, tuy có thể rèn luyện được sức khỏe, tuy nhiên để phát triển đột phá sẽ có phần khó khăn hơn, thường ngại thay đổi công việc vì sự không chắc chắn, bởi lương đều đặn và bản thân dần quen với công việc trở thành bình thường. Để tích lũy được tiền bạc tương đối vất vả, tuy vậy nếu người khác lên đời những vật chất hiện đại, hoặc hưởng thụ thường lệ, có thể sẵn sàng lên đời theo, mặc về công sức để tạo ra tài sản ở mức độ rất khác nhau, bởi việc nhẫn nhịn tạo cảm giác khó chịu, chi tiêu tạo cảm giác thoải mái về tinh thần. Điều này có thể dẫn tới sự sai biệt về khoảng cách xã hội nếu gặp biến cố của cả nền kinh tế khi trở nên khó khăn mà thiếu sự phòng bị bằng những khoản tiết kiệm nếu nhân mệnh chưa có tư duy kiếm tiền theo nhiều phương án mà chỉ có nguồn thu từ công sức lao động. Bởi vậy sức nỗ lực của hậu thiên từ cổ chí kim tiền nhân đều không thể đánh giá thấp. Bởi nhân nguyên trong tự tính đều có sức mạnh tàng ẩn rất lớn, bằng những điều khó làm như ẩn nhẫn làm việc nhỏ hàng ngày, qua ngày tháng thời gian dài tạo nên sức bộc phát. Có những thời điểm khi khí vận hao tán mạnh, nhân mệnh có cố gắng tích lũy được sẽ gặp việc phải hao phí bởi tật bệnh, hay vấn đề khác, tuy nhiên việc duy trì sự tiết kiệm có thể tạo bước chuyển đáng kể khi nhập vận tụ tài sẽ có tác động rất lớn tới nhân mệnh. 



Nhân mệnh muốn hỏi một vấn đề hoặc một góc cạnh nhỏ theo toán mệnh. Điều này sẽ cần nhìn tập trung vào gốc tiểu hạn phối hợp vận khí của hạn hành nếu thuộc về giai đoạn hiện tại. Hoặc về tương lai. Tuy nhiên những yếu tố hoàn cảnh ngoại cảnh tác động tới mệnh cách cũng sẽ tương đối lớn khiến dự đoán sẽ có phần sai biệt. Thí như việc hỏi về phương hướng, cát hung luận định, hoặc tự duyên khởi đặc biệt như gặp một cơ hội, gặp điều đột biến sẽ có câu trả lời xác đáng hơn việc xét định về thời gian phát tài. Thí như khi xét một nữ mệnh cách Cơ Lương ngộ Tướng Tuế Ấn hội cách có Khoa Tồn Kỵ Hình Kiếp. Mệnh cách không mấy hay tuy nhiên đạt hai hành vận liên tiếp kích phát mạnh khiến hóa cục của sinh mệnh tăng lên rất lớn. Nhập khí vận 10 năm tới cách Cự Nhật có Lưỡng Lộc Mã Khốc Khách, và 10 năm tiếp theo trong Tam Hóa liên châu tới Vũ Tham Hỏa Quyền hội Kình Đào Khúc Hỉ đắc vòng Trường Sinh. Đây là cách cục bạo phát, không thể ngăn chặn khí thế cường vượng về Tài cách, miễn là mệnh cách vẫn còn tồn tại trong xã hội không bị cách ly như hình tù hay gặp biến cố kiếp nạn thì mệnh cách vẫn hoạch phát lớn trong hạn hành. Tuy nhiên khi xét toàn cục, cách cục này bên trong ẩn chứa bố cục Hình Kỵ Tồn Kiếp, như người đi trên dao, chủ thời thế thịnh hay bĩ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát triển và vượt khó khăn của nhân mệnh. Như thời thế xã hội phát triển, đức liêm chính thịnh dễ khiến mệnh số hình tù, nếu thời bĩ cực, lỏng lẻo sức hoạch phát tương đối dài. Thí như một mệnh cách nổi tiếng của Ngô Thắng Minh, thăng trầm vô độ, hình tù cách, niềm tin sống là người con gái của mệnh cách cũng đã tự tử khiến nhân mệnh rơi vào thế tuyệt vọng định kết liễu nhưng vận số chưa tuyệt để có thể như Tuyệt xứ phùng Sinh, trở thành kỳ cách. Cũng bởi một phần tham vọng gắn với kiếp nạn khi luật pháp thời này của Trung Quốc rất nghiêm về việc buôn lậu. Bởi vậy khi nhìn thời vận thịnh thế với bản thân hay bĩ cực cũng đều có thể là nhân nguyên để tổ chức lại lực lượng và phản công mạnh tạo nên chiến thắng trong cuộc đời. Lý số nằm trong trời đất, nhưng cũng không nằm ngoài chữ Nhân. Luôn có niềm tin mãnh liệt sẽ khiến tỉ lệ vượt qua hiểm cảnh tăng lên rất nhiều. Cũng như các nhà khoa học nghiên cứu về tiềm năng trí óc của con người là không xác định được mức độ siêu việt. Bởi vậy nhân sinh quan mỗi nhân mệnh một khác, mức độ chịu đựng áp lực khó khăn cũng khác nhau, buông bỏ hay nắm chặt cũng ẩn liền với chữ Mệnh quý hay Mệnh thường. 




Người viết nghĩ thực có số phận, thí như không may gặp hiểm tật bệnh ách y học hiện đại không thể chữa trị. Có người gặp bệnh máu khó đông nhiều người trong dòng họ, khiến một vết thương nhỏ cũng gây tuyệt mệnh đành không thể sống được bình thường. Nhưng có những cơ hội thay đổi cuộc đời với những người bình thường khi sống trong xã hội. Bình thường đã là rất đáng quý để có cơ hội bình đẳng phát triển công danh tài bạch. Số phận như thập nhị nhân duyên là vô minh từ tập khí kiếp trước. Như điều chính nhân mệnh thấy là những điều xui xẻo, bất hạnh trong đời sống. Trong các trường hợp, nhân mệnh đều phải nỗ lực giải quyết những vấn đề gặp phải và vươn lên bằng nỗ lực của bản thân. Trong tháng 3 này, tứ Thìn hội ngộ, có những cái chết tự hình bởi Thìn hình Thìn gây ra, có những sự dằn vặt đau khổ cũng tự cách này. Có những cách xung Thìn Tuất được đánh giá hung cách. Số đến, người chết trong mơ ác mộng, người trong nhà cũng có việc ra ngoài để gặp nạn, người chính chiếu tai nạn đó, người gặp Sát vận hóa thành đau buồn bởi người thân quyến gặp nạn. Vận hành của mệnh cách nhiều hướng đi, nhưng có những Sát vận chắc chắn phải có tổn thất. Có những người cuộc sống an toàn, ổn định nhưng trong tâm luôn muốn tự sát, kết liễu bản thân bởi chữ Không, vô vọng, trầm cảm. Khi người trầm cảm, việc khuyên ngăn về cuộc sống, ý nghĩa cuộc đời có thể không mang lại lợi ích, như gió thoảng qua không thể ngăn chặn đau thương. Toán mệnh cũng vậy, khi hạn hành cách cục hiểm họa lớn, việc nắm được hung họa cũng không nói lên việc tránh được họa hay không, nếu họa hiển hiện dưới dạng bệnh ách nan y cũng như dao chém vào nước, không có nhiều tác dung phòng ngừa. Người viết cũng vậy, viết điều sự thực, luận số cần đánh đổi, như bí mật cần khó khăn mới có thể tìm thấy. Tuy nhiên cái hay của toán mệnh là đáp án có thể được hỏi thêm tới những người cùng nghiên cứu lý học để nhận được đánh giá người giải đoán có thực hiểu về mệnh lý. Đây cũng là điều hay, không như người mù dò dẫm con đường, bởi những điều tâm linh huyền bí. Bất dĩ, việc xem toán mệnh dù luận định tính chính xác cao cũng tuyệt đối không được lấy để dao động tâm tướng của bản thân. Trong các trường hợp nhân mệnh đều nên xét tưởng nếu vận cách khó khăn, là những thử thách để rèn luyện phẩm chất, nếu vận cách dự báo thuận lợi cũng vận dụng hết những thế và lực và cẩn trọng phát triển. Trong thời thế xã hội, người viết có luận định bố cục tinh diệu thay đổi ý nghĩa biến hóa khôn lường. Trong thời điểm đấu tranh cái sai, thế nước phồn thịnh, Sát cách tuy đắc cách cũng dễ hóa thành hình tù. Phụ tá tinh đắc thế. Trong thời binh thế hỗn loạn, Sát cục nắm quyền định, phụ tá tinh yếu thế. Cũng có thể dễ dàng nhận ra ở những mệnh đại quý khi vận khí từ thiên hạ vận hóa Sát tinh thành Hình tù cách, cũng hóa Quan thành Quỷ, nơi cao nhất cũng rơi xuống đất. Vậy tất cả Tinh đẩu thực phân theo thời thế là chủ, mới phân tính chất là thứ yếu. Kẻ ác thường được người đời chế giễu, phỉ báng. Tuy nhiên suy xét cùng tận, giữa những lý lẽ về thiện và ác một số trường hợp đặc biệt sẽ khó định. Ngăn chặn cái ác phát sinh to lớn về sau bằng một việc ác khó có thể định đoạt là việc thiện hay ác. Bản đồ tinh diệu cũng vậy, xét theo thể chế thời thế xã hội. Có những nơi ở khu vực chiến tranh, việc lạm sát người vô tội cũng không có tòa án kết tội, lương tâm có lẽ là tòa án quan trọng như cách vận hành của nhân quả.

Friday, October 8, 2021

Quá trình phấn đấu của mỗi nhân mệnh

 Nhân mệnh thai sinh, trưởng thành và theo guồng quay của nghề nghiệp công việc đang làm, để mục đích kiếm ra nguồn thu nhập, nguồn tiền lương cho cuộc sống, thụ hưởng của mỗi người. Một số nhân mệnh muốn thoát ra những vòng tròn lặp lại để tạo nên đổi mới trong cuộc đời, khi ngành nghề không phù hợp, hoặc hướng tới công việc tốt hơn, thay đổi số phận thường như đã được lập định để tìm kiếm tự do về kinh tế, đáp ứng nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần. Một loạt các quy tắc chuẩn mực của xã hội, trong công việc khiến mệnh cách có những áp lực tới chính bản thân. Điều này cần xét về tính chất thông minh và xoay chuyển tình thế của nhân mệnh. Trong chuỗi ngày nghề nghiệp tác động ngược lại bản thân do kết quả là lương tiền Thiên Lương tới nhân số. Liên quan tới tử vi đẩu số, là phương pháp toán mệnh trên khí hóa của mệnh tạo khi thai sinh. Phàm thời khắc khai tạo một nhân mệnh là thời điểm cốt gieo nhân quả tới thiên địa. Khi thai sinh, nhân mệnh chịu sự tác động tương tục của xã hội tới nhân mệnh. Chính tinh chủ nghiệp nối tiếp quá trình nhân quả sẽ theo nhân mệnh tới khi hết chu kỳ sinh lão bệnh tử. Do vậy, luận cách cục tối quan trọng là Chính tinh thủ mệnh và các tinh đẩu tại bản cung mệnh. 12 chính tinh và giao hội, VCD khắc họa bản tính nguyên thủy của nhân mệnh. Điểm trọng chính là điểm xét cách cục tạo tại mệnh nguyên để xét năng lực, khả năng, thiên tính của nhân mệnh. Cuộc đời gắn với tinh đẩu là tính cách tồn tại của nhân mệnh phản ánh từ vô thức, gắn với cát hung thịnh suy khi luận đoán. Cũng vậy, xuất hiện nhiều tổ hợp Mệnh có thể khiến đương số khó có thể vực dậy sau những sai lầm biến cố cuộc đời. Dự đoán vận cát hung là vấn để cơ bản khi nghiên cứu tử vi, là điều nhập môn người nghiên cứu có thể nắm rõ. Vận sinh tử là phần tương đối phức tạp để định cách. Dựa vào cát vận hoặc đại hung vận cách không đủ xét định số phận tuyệt khí của mệnh tạo. Phàm vạn vật theo lý đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Khí linh ứng cảm giao tương ứng là tất yếu khi khí hóa của bố cục phát ra bên ngoài. Cách cục vận hạn đại hung ứng hóa với hoàn cảnh bên ngoài sẽ tạo nên tính chất hung hiểm tai kiếp nặng nề, tuy nhiên chưa xét tới họa sát thân. Sự thay đổi diễn ra có thể khiến nhân mệnh mất đi chỗ dựa của bản thân về chính công việc, thứ tạo ra nguồn thu nhập của mỗi mệnh tạo. Nghề nghiệp, chức vụ là quá trình khởi phát của công danh, tính chất của Hóa Kỵ là nỗi sợ, trong vòng Tang Hư Khách Mã là nhóm sao có tính chất khởi phát sự đương đầu của nhân mệnh trước những quyết định lớn trong cuộc đời. Nỗi sợ hiển hiện rất nhiều đặc trưng bởi đánh mất, mất mát của nhóm Sát Phá Tham, hay của mâu thuẫn, đè nén bởi Cự Cơ Đồng. Tại đây, có nhân mệnh chịu đựng để nghĩ tới ổn định trong cuộc sống, có nhân mệnh lựa chọn thay đổi để tìm phương hướng khác, chưa xét tới quá trình thành hay bại khi lựa chọn của chính bản thân đương số tới những điểm tác động của cuộc đời. Tuy nhiên dây buộc lại chính là việc lo sợ mất việc làm, lo sợ về không có lương tiền để duy trì cuộc sống. Đặc biệt với những nhân mệnh có những khoản nợ được trả bởi lương tiền hàng tháng. Điều này dẫn tới việc quan trọng là sự lựa chọn, quá trình lựa chọn của nhân mệnh trước những biến động của thời cuộc có sự tác động của chính tư tưởng, hay bản tính, tính cách của mệnh tạo tới. Trong nhiều thời điểm, xét mệnh cách gặp Khôi Việt Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc hội cách cục cát hóa mạnh, khi bản thân có thời gian ngẫm về tử vi giai đoạn còn thanh niên và sau này khi thời gian lập lại hòa bình của đất nước, khó để suy xét mệnh cách quý hiển bằng các tổ hợp sao cát trợ tinh, nhược lại có rất nhiều cách cục gặp bố cục trên khiến cuộc sống nhàn hạ, nhân mệnh bình thường không gặp các biến động lớn của thời thế tác động tới duy trì cuộc sống của nhân mệnh. Lương tiền, lương bổng là điểm cốt yếu có thể ảnh hưởng tới các quyết định cuộc đời của nhân mệnh. Có người do nghĩ tới gia đình, bản thân và nhiều lý do khác. Tính chất lo sợ, áp lực của những hoàn cảnh mang lại khiến nhiều đương số không thể phát triển thêm những tư duy, tư tưởng mới, khi vừa xuất hiện đã bị loại bỏ. Và có những tư tưởng đáng lý sẽ thay đổi toàn bộ cuộc đời của nhân mệnh. Trong quá trình chịu áp lực lớn, cũng là thời điểm kích phát của cục số. Tính chất này do tính chất phát tác của hung sát và cách cục tới nhân mệnh. 





Những nhân mệnh thành tựu sẽ đưa ra các quyết định mang tính quan trọng trong một số lần trong cuộc đời sau những thử nghiệm, cố gắng tồn tại trong chính tính cách của mệnh tạo. Điều này dẫn tới các tín hiệu của hành vận tạo bởi một số sự kiện do nhân mệnh đưa ra quyết định tiên quyết. Thí như một trường hợp người viết có luận với lá số một thanh niên có sự nghiệp ổn định tại ngân hàng nhà nước và khi thời điểm Lộc Kỵ Kiếp Tướng bỏ công việc và khởi đầu với kinh thương qua mạng internet. Sau gần một năm loay hoay với những khoản tiết kiệm đã dùng hết và lương tiền không còn được bảo lãnh bởi công việc làm. Nhân mệnh rơi vào thế áp lực khủng kiến, vay mượn của gia đình người thân. Gặp thời cuộc đã có tài sản rất lớn, có thể bằng đời người tích lũy. Sự thay đổi mang tính mạo hiểm và quyết định có thể khiến nhân mệnh bế tắc trong cuộc sống hoặc khiến cuộc đời mở ra bước ngoặt mới. Phàm quá trình xây dựng sự nghiệp của mỗi nhân mệnh có đích tới nằm tại quyết định những thời điểm quan trọng của nhân mệnh. Như việc đặt cược sự thay đổi có thể dẫn tới thành tựu hay trượt dài trên những quyết định hối hận. Quá trình phấn đấu của mỗi người chịu tác động bởi cả hoàn cảnh vận làng, vận nước. Trong giai đoạn dịch bệnh này có thể khiến nhiều đương số rơi vào tình cảnh nợ nần, khủng hoảng về tư tưởng do áp lực của tài sản hao hụt hay không thể kinh doanh buôn bán. Thời điểm này thương nghiệp chịu ảnh hưởng nặng, quan lộc cách có thể ít gặp biến động hơn. Phép luận định khi hoàn cảnh vận nước sẽ thay đổi thích nghi với dịch bệnh để khôi phục phát triển kinh tế, tạo ra nguồn tài sản từ những thiệt hại do ngưng trệ giao thương. Nhiều nhân mệnh sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, cũng như mỗi thời trong giai đoạn chiến loạn mệnh cách đắc sẽ bạo phát. Giai đoạn này là thời điểm của thay đổi thích nghi. Như trong tự nhiên việc sinh tồn dựa vào quá trình thích nghi liên quan tới tính mệnh. Trong thời kỳ vận bĩ, khai thông, lật đổ bĩ sẽ tới giai đoạn thái. Trong thời điểm này, sẽ có nhiều nhân mệnh đánh mất toàn bộ tích góp của cuộc đời tính tới giai đoạn này, lâm vào cảnh nợ nần bế tắc. Một số kẻ tiếc nuối về những quyết định của bản thân. Rất nhiều mệnh cách quý hiển rơi vào thế khó khăn, cũng là thời cơ cho sự thay thế của trật tự xã hội. Trong quá trình phấn đấu này, thành bại nằm tại tính cương cường, vững chắc. Tuy nhiên điểm cốt yếu là khả năng linh hoạt xoay sở, khi dồn vào thế chân tường. 





Mất mát là cách cục thường hiện diện trên lá số tử vi, vào các hạn hành hung sát trùng phùng, hội họp cách cục phá tán. Đánh mất gia nghiệp là việc khổ tâm của mệnh cách, đặc biệt nếu nhân mệnh đã trải qua quá bốn hạn hành tức vào thời trung niên. Việc gây dựng lại sẽ khó khăn, bĩ cực thái lai, phàm sự thoái lui là quá trình sai giảm để hướng tới cơ hội mới của vạn vật, nếu không nhanh thay đổi ắt sẽ tụt hậu hoặc phá tán mạnh như quá trình từ Đà La tới Lộc Tồn, tới Kình Dương. Con người gặp giới hạn bởi thời gian, tức mỗi giai đoạn sống phân định hữu hạn về quá trình phấn đấu. Nếu chậm trễ khi chuyển vận về sau càng suy giảm thời gian sống. Thực tế, khó có thể luận định được cơ hội sống của mỗi người trong thời gian cuộc đời, chỉ xét tới tính chất bệnh tật, yếu tố tai nạn, họa hoạn đã tạo nên những mối nhân quả sai biệt giữa các mệnh cách. Người viết thường thấy rõ việc nhân mệnh thành tựu sự nghiệp quý trọng thời gian hơn những vấn đề lo nghĩ, lo sợ về quá trình thực hiện công việc hay nghề nghiệp. Điều này là sự tinh tường rất lớn của những nhân mệnh này. Mối quan hệ chặt chẽ này gắn với tính khởi phát quan trọng nhất trên lá số tử vi mà thường người luận định không chú trọng tới, chỉ tập trung vào luận đoán bố cục và tính chất của tinh đẩu. Thời gian là điều kiện tiên quyết của mệnh cách để xét định toàn bộ lá số tử vi. Thời và vận là những điều cần nhìn rõ để xác định khả năng và tiến trình vận cuộc đời của một người. Thí như nghiệp quan gắn với thời gian đắc lệnh thường tầm trung niên. Theo nghiệp kinh thương xét tới tính chất hoạch phát lớn hơn tức giai đoạn nhân mệnh bước vào tiền vận đã có thể tạo nên sự nghiệp kinh doanh lớn. Tuy nhiên khi xét yếu tố thời gian, mục tiêu của nhân mệnh đạt được cuộc sống chính là giai đoạn tiền vận và khởi đầu của trung vận. Mười năm thiếu niên đắc thời không bằng 1 năm trung niên đắc vận. Quá trình sinh phát tương kiến của vật theo khuynh hướng phát triển sẽ hội tụ điểm kích phát cần chú trọng tại thời gian sau. Do giai đoạn tiền vận thường tích lũy kinh nghiệm sống, nguồn lực không mạnh như giai đoạn về sau. Tuy nhiên tại giai đoạn trung vận sẽ ảnh hưởng thêm tác động tật bệnh và suy yếu của thể trạng. Nhân mệnh cách được thừa hưởng, kế tục từ phụ mẫu là điểm cát khi thời gian phát triển rút ngắn. Tính chất này cũng khiến nhân mệnh nếu khởi sự từ bạch thủ hưng gia, tay trắng nên nghiệp bắt buộc khuynh hướng rất táo bạo, đánh đổi, đánh cược với những tư tưởng đổi mới khác. Cũng vậy, quá trình biến động của vật chất không như quá trình suy giảm của sinh lực.  Tài vận có thể thăng giáng, ở mức âm do nợ tài sản, tuy nhiên sức khỏe chỉ theo chiều hướng suy yếu theo thời gian và ngưỡng số Không tức Vong.  




Sức tác hóa của thời gian và hiểu rõ tính chất quan trọng của thời gian tạo ra các thời vận, cơ hội là điều mệnh cách thành tựu đại nghiệp nắm rất rõ. Phân phối và lược bỏ những vấn đề tác động không cần thiết là nguyên tắc cho quá trình phát triển mạnh về sau. Điều này thường không nhiều đương số xét tới, do vậy mệnh cách thành tựu không nhiều trên tổng thể. Vận trinh của cuộc đời là các giai đoạn trải qua, càng về giai đoạn sau cuộc đời nhân mệnh sẽ có khuynh hướng sự an toàn, ổn trọng, do vậy nếu tích lũy năng lực và khả năng thay đổi nắm thời thế nằm tại giai đoạn hành vận thứ 3,4. Hai đại vận này có tính chất quan trọng do chịu tác động của thời gian tại lá số tử vi. Nếu hai hành vận này phối hợp Mệnh tốt đẹp, lá số luận cát. Sát tinh sẽ chế hóa điểm chủ tại hai đại vận này. Rất nhiều lá số nhân mạng khởi sự lại từ đầu khi giai đoạn trung niên, có những mệnh cách còn nợ số tài sản lớn tại giai đoạn này. Thứ cần thiết của mệnh tạo lúc này là thời gian gây dựng lại. Do vậy những điều tiêu hao như sức khỏe và thời gian ứng quy luật vòng Trường Sinh khởi phát sẽ tác động phần lớn tới độ số của mọi mệnh cách. Tri kiến và tích lũy kinh nghiệm từ giai đoạn tiền vận là điểm quan trọng để mệnh cách có thể phát triển tương đối an toàn về sau. Có thể đánh đổi tức Thất Sát, trao đổi bằng thời gian giải trí Vũ Khúc, Đào Hồng, Diêu Y, hay thậm chí thời gian sinh hoạt của mỗi nhân mệnh để lấy tri kiến trong giai đoạn này. Người viết có luận giải những mệnh số giai đoạn khó khăn trong cuộc sống, phân định thời gian dành cho giải trí hay thú vui nhiều hơn dẫn tới tích lũy về kinh nghiệm có phần khuyết. Khi Sát Kỵ tác động nhập vận tác hóa tới gặp biến động như bị lừa đảo, hay kinh thương thất bại, hoặc gặp biến cố trong công việc, hoặc mắc vào tệ nạn, cờ bạc... dẫn tới khủng hoảng của bản thân và gia đình. Khi lập thế vững chắc của tri kiến tức Xương Khúc có thể khắc phục vấn đề này. Lựa chọn tạo bởi chính nhân mệnh, về việc tạo sự chuẩn bị trước những biến cố là điều cần thiết. Lựa chọn cũng chính là Đào Hoa. Tinh đẩu biến hóa theo đích là chủ thể tức nguyên mệnh. Phần phân định này là khán hạn sẽ phân định được rất nhiều cách cục chính yếu gắn với độ số của mệnh tạo. Khi suy xét về khả năng tham muốn về tri kiến, học thuật ở phương diện sách vở và kinh nghiệm, có giá trị hơn thời điểm giải trí, hoặc thí như đặt quá nhiều thời gian cho những mối quan hệ và chịu tác động của các tư tưởng hưởng thụ khi thế của nhân mệnh chưa thực mạnh. 




Phòng vệ, lường trước những biến cố cuộc đời là điều cần thiết, ở mức cao hơn là lập định kế hoạch tức Tham Lang để hướng tới, như Tham Lang cần có Hỏa Tinh tức nhiệt huyết là cách cục quý. Kế đến là sức khai phá, làm chủ của Phá Quân, Tử Vi và Cự Môn tới cuộc đời nhân mệnh. Một lá thư của một đương số bắt đầu tới giai đoạn hành vận trung niên đề cập tới người viết về sự khó khăn đột biến khi dịch bệnh xảy ra khiến đương số trở về số không khi thời kỳ trước có một doanh nghiệp tương đối lớn về dịch vụ. Cũng rơi vào trong điểm vận Phá Không Tồn Kiếp Ấn Đào ứng với hai thời kỳ hành vận của nhân mệnh và thời vận của vận thiên hạ bất lợi với một số ngành nghề liên quan tới dịch vụ. Thực tế nhân mệnh có thể khởi phát cơ nghiệp khi nhập vận Khoa Quyền Lộc hội trợ tinh mạnh trong thế đứng của Chính Tinh vững hợp cách mệnh. Tuy nhiên khi lưu chuyển trên 12 cung độ ắt sẽ có giai đoạn gặp Sát Kỵ dẫn tới bại cách. Điều này cũng thường gặp tại nhiều lá số trên kinh thương và các quan trường. Tới giai đoạn hậu vận, có thể gặp phá tán nặng nề. Phân định ngày tháng ý nghĩa là một trong những yếu tố để định số trong tử vi. Tạo bởi tổ hợp Âm Dương khi định cách. Nếu trên thiên bàn, bộ Âm Dương nhập miếu gia cát là cách thời gian sử dụng tốt. Sự tác động của khí hóa khiến nhân mệnh lo sợ rất nhiều vấn đề, là lo lắng đánh mất sự ổn định tuy nhiên thực tế vạn vật luôn vận hành, biến chuyển không ngừng, những ý tưởng, tư tưởng hay bị phá bỏ bởi hoàn cảnh trước khi được khởi tạo là thường gặp. Vì vậy mới thường ca ngợi cách cục Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế, là sự thay đổi của Cự Môn khi bất mãn. Hay cách cục Sát Phá Kình Đại sẵn sàng phá lề lói cũ đổi mới. Tử Phủ Lộc Tồn với hệ tư tưởng vững chắc trước thời cuộc, có tính tích lũy lớn và linh hoạt của Vũ Khúc. Nhân mệnh hành trình của cuộc đời là tìm lại cuộc sống của bản thân, hướng tới điều hoan hỉ, an ổn, thỏa được vật dục và sắc thọ ấm. Số và phận gắn liền với nhau, mệnh cách an phận thì số không biến động mạnh, mệnh cách hướng lên trên, không an phận thì số biến động, có thể thành bại thăng trầm. Có lẽ cuộc đời nên thử một vài lần. Cổ nhân luận định, mệnh quý là mệnh hoan hỉ trước những khó khăn và lo lắng khi đạt được thành tựu lớn. Việc tư tưởng và hoàn cảnh tác động mạnh tới khuynh hướng nghề nghiệp, hai lá số cùng tứ trụ, khởi sinh cùng thời điểm, một thăng vận Sát Kình Tuế Phượng Khôi Quyền Kiếp, giữ vị trí quan trọng trong quốc phòng, một theo nghiệp kinh thương xuất ngoại đạt được sự nghiệp lớn trong ngành công nghiệp bên Hoa Kỳ, cả hai đều nhập đại vận phát dã như lôi. Phàm nhân mệnh, xét thời là quan trọng, vận bĩ mệnh quý là thời khắc thử thách vận bĩ là trui rèn cho năng lực của mệnh tạo. Cả hai lá số một người phụ thân mất sớm khi thiếu niên, một người mồ côi, cũng là điểm tác họa của Sát tinh. Nhiều lá số khác tại vị trí cao trong xã hội trong trích lục của Tử Vi Đông A, khởi phát khi hoàn cảnh thế cùng cực, thắp lên ý chí cao viễn để có thành tựu về sau. Cũng ở mệnh lý của nhân mệnh đương nhiệm, Tử Vi Đông A chỉ bàn luận về cách cục, không xét về cụ thể. Điều nghiệm lý nhiều mệnh cách gốc mệnh bình hòa, toàn bộ tổ hợp đắc chế hóa lưu tại hành vận trung niên, nhập vận bất ngờ đắc thời trong giai đoạn rất ngắn giữ vị trí quan trọng trong xã hội. Đây là điểm huyền nghiệm của mệnh lý. Ứng tiền nhân luận "Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Hạn hảo". 




Mệnh quý cũng có thể luận là mệnh tri kiến sâu rộng, năng lực suy xét nhạy bén, giải quyết vấn đề. Cuộc đời nhân mệnh có thể dài hoặc ngắn, trường đoạn có người rời khỏi nhân thế khi đầu xanh, có mệnh số vừa chào đời đã không thể tiếp tục sinh mệnh. Vật vô thường vậy khiến suy xét về tính phát khởi của nhân mệnh cần chú tâm. Người bệnh tật, hình pháp, tới thương tật chỉ tham cầu sự sống hay tham cầu đầy đủ tứ chi, vô bệnh tật. Việc bế tắc, áp lực tồn tại do vấn đề khác là tác hóa dư khí của Sát Kỵ tới nhân mệnh. Rất nhiều nhân mệnh có khả năng nắm bắt thời cơ để tạo ra khối tài sản khổng lồ trong thời gian ngắn, cũng có nhân mệnh biến hóa, linh hoạt tìm ra những bí mật, sơ hở của luật pháp các quốc gia để tạo nên cơ nghiệp của bản thân. Tuy nhiên nếu có Kỵ Hình Phi thì cẩn thận bị bắt, nếu có Khôi Hình Kỵ Hổ khó có thể thoát nạn. Nhiều trường hợp ở vị trí cao trong xã hội cũng khó thoát ách nạn này. Giai đoạn từ khi thai sinh tới lão bệnh là quá trình tiếp nối của thời gian, không thể quay lại và càng về vận trình sau của cuộc đời sẽ có cảm nhận rõ về thay đổi của thời khắc, điều cần lưu tâm là chế ngự được hung sát tinh tác động tạo áp lực, đè nén, xung đột tới mệnh cách. Thiên Cơ tương kiến là linh động, chủ dùng trí phân tích. Phá Quân dùng lực và tính khai phá. Thiên Phủ dùng tình cảm. Thiên Lương dùng đạo. Thất Sát dùng dũng. Tử Vi dùng lý tưởng. Thiên Đồng dùng cộng. Cự Môn dùng khẩu. Tinh đẩu khi đạt khí hóa cao nhất như việc nhân mệnh học hỏi ở mức độ tinh thông. Đại diện cho các vị trí tài giỏi, nổi danh. Phàm tử vi không có tinh đẩu đại hung, chỉ có bất hợp. Như thuyết ngũ hành, năm hành đều quý, miễn là tương hợp chế hóa hữu tình. Tử Vi xét chính tinh chủ mệnh là bản thể, khi xét cách hóa ra bên ngoài tượng nghĩa, là bản thân nhân mệnh, tú khí thì thành tựu. Kể hung sát ám tinh, tú khí là nhân mệnh tài giỏi, như Tào Tháo đa nghi cũng là mệnh vương. Tần Thủy Hoàng thường bị người đời luận định ác nhân lưu truyền tài trong sử ghi. Một cung đường cuộc đời, tới trăm năm cũng thành cổ nhân, hà tất lo sợ việc thay đổi có thể phần mạo hiểm để mưu cầu điều tốt hơn cho năm tháng còn lại. 

Tuesday, August 17, 2021

Nối tiếp thế hệ và bạch thủ hưng gia

 Sự nối tiếp của thế hệ đi trước trong một gia đình tức vận nhà khiến hệ cách cục định số biến chuyển theo khuynh hướng có tính khảo cứu tương đối hay. Thứ nhất thường một số người nghiên cứu tử vi có kinh nghiệm luận về truyền tinh của phụ mẫu tới nhân mệnh. Thứ tới là việc suy xét tính chất này có một đặc điểm quan trọng khi khảo cứu là xét sự biến dịch của tổ hợp tinh đẩu hung họa trong một gia cảnh tốt đẹp để định cách biến hóa của tổ hợp. Cách cục bản chất về tính cách hay bản tính không có sự sai biệt. Tuy nhiên về lý tưởng, tham muốn đạt được của hai trường hợp này đã ở cách xét mức độ rất khác nhau. Vận thiên hạ thắng vận nước, vận nước thắng vận làng, vận làng thắng vận nhà, vận nhà thắng vận mệnh. Đây là sự tác động nghịch với nhân mệnh. Tuy nhiên bản chất một nhân mệnh khí hóa cao viễn hay thậm chí bình thường vẫn có thể là tác nhân suy chuyển vận nước, việc này đúng với yếu nhân đứng đầu trong một tổ chức quốc gia. Trong bài viết này bàn về tác động của vận nhà tới mệnh cục. Thể chế, truyền thống, bản sắc một quốc gia sẽ tác động tới toàn bộ công dân của quốc gia này, từ hệ thống công trình cho tới giáo dục, y tế, kinh thương,... Đặc biệt là sự tác động của giáo dục sẽ tương đối mạnh. Tại đây tác động này sẽ hình thành nên sự sai khác giữa các quốc gia. Tức sự tác động của vận nước sẽ liên quan tới nhân mệnh quốc gia này. Vận làng tức xét hoàn cảnh sinh sống tại một địa phương. Và vận nhà là tác động của gia đình, phụ mẫu huynh đệ tới nhân mệnh. Nếu vận nhà cực thịnh, tức tổ nghiệp ở vị trí cao trong xã hội thậm chí quốc gia. Tính chất của toàn bộ tinh đẩu sẽ sai khác về tham muốn và lý tưởng. Thí như với lá số nhân mệnh đắc cách Cơ Lương cư Thìn hội Khoa Lộc Mã Xương Khúc Tả Hữu, sinh khởi trong gia đình phú gia địch quốc. Nhân mệnh đắc cách này có khuynh hướng phát tài phú tương đối mạnh. Tuy nhiên trong các lá số nghiệm lý, có nhân mệnh theo khuynh hướng tu đạo, có người rời bỏ gia đình ẩn cư tu đạo. Các bố cục định cách về khuynh hướng đã hóa hợp sai biệt tương đối mạnh. Tượng cách Cơ Lương có một phần tính chất ưa nghiên cứu đạo, thoát ly tăng đạo như cách Tử Tham. Khi định cách cục này có trường hợp nghiệm lý quả thực có kết quả trường hợp sai biệt. 



Với bố cục mệnh cách thừa hưởng kế tục được tước vị, hay tài sản rất lớn của phụ mẫu hay thậm chí gia tộc, dòng họ do tính truyền thừa, kế thừa. Nghiễm nhiên một số mệnh cách này đã có được khởi đầu rất tốt đẹp. Đây là điểm rất cần chú trọng khi xét gốc khởi ban đầu của cách cục. Thực tế trong giai đoạn hiện thực, tại tất cả các quốc gia khi xét ở phương diện doanh nhân hoặc chính trị có nhiều mệnh cách được sinh khởi trong gia đình có truyền thống lãnh đạo đứng đầu một tổ chức hoặc một quốc gia. Gốc khởi phát này như nguồn lực rất lớn tới nhân mệnh cũng dễ xét tới trong ngay môi trường xung quanh mỗi nhân mệnh. Tuy nhiên khi khảo sát về nhân mệnh đắc thành tựu khởi phát từ gốc vận nhà tương đối yếu thế, với cách cục Sát cách đắc lệnh vẫn mang ý nghĩa hoạch phát rất lớn. Nhân mệnh nếu khởi điểm không được nhiều thuận lợi, có thể trong hoàn cảnh rất khó khăn bằng nỗ lực tạo những thành công lớn tới xã hội cũng xuất hiện rất nhiều. Cách cục này để thành cách có những tinh hệ thường khi xét luận chủ có tính chất vươn lên, cầu tiến rất mạnh. Khi nghiệm lý toàn cục xét tính chất sao, cổ nhân phân định Khôi Việt là bộ sao quý nhân, tính chất vượt trội rất mạnh, an theo Thiên Can nằm ngoài bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can. Thiên Khôi và Thiên Việt nếu nhập Mệnh ắt nhân mệnh hẳn không là người tầm thường. Lưu ý việc Khôi Việt nhập mệnh khác tam hợp chiếu, củng chiếu mệnh hoàn toàn. Khôi Việt thí như sự trọng đại, khi nhập mệnh mang ý nghĩa tăng trọng cung độ này. Nếu xét tính bộc phát, Khôi Việt có tính chất dự đoán, cát hóa bố cục hung cách. Không Kiếp bộc phát bất ngờ. Khôi Việt là cách cục chủ vươn lên, là thế trợ lực của hoàn cảnh tới nhân mệnh. Mệnh cách gặp Khôi Việt, nếu sinh khởi nhân mệnh hoàn cảnh khó khăn sẽ có sức vươn lên tương đối mạnh. Về phần định cách cục Khôi Việt một số bài người viết đề cập tới tính chất của tinh đẩu này. Thường xét luận 6 trợ tinh gồm Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt. Tuy nhiên nếu xét thực tế trên thiên bàn có 4 trợ tinh có thể hóa khí và có bàng tinh an theo trợ tinh này tức Tả Hữu Xương Khúc có Thai Tọa Ân Quý Cáo Phụ. Tả Hữu chỉ Hóa Khoa có 2 phụ tinh Thai Tọa. Xương Khúc có thể Hóa Khoa và Hóa Kỵ gồm 4 phụ tinh Ân Quý Cáo Phụ. Thực tế phân định hai tổ hợp của Thai Tọa và Quang Quý an theo ngày sẽ hình thành một số cách cục mang ý nghĩa cốt lõi trong trợ luận về độ số. 




Hai bộ Quang Quý và Thai Tọa an theo ngày nên không nằm cố định theo tổ hợp sao xác định từ trước. Tác động của hai bộ sao này tương đối mạnh, biến chuyển tính chất hoàn toàn của một cách cục cát hung. Người nghiên cứu tử vi thường nghiệm lý hai trường hợp Xương Khúc Ân Quý đồng cư Sửu Mùi và Tả Hữu Thai Tọa đồng độ tại Sửu Mùi. Bốn trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc hợp hóa tương đồng, xung chiếu tại Thìn Tuất, tam hợp chiếu tại Tị Dậu Hợi Mão, đồng độ tại Sửu Mùi và đơn thủ tại Tí Dần Ngọ Thân. Sáu vị trí Thìn Tuất Tí Ngọ Dần Thân gặp trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc không đủ bộ, đơn thủ. Do vậy cổ nhân luận cách Xương Khúc Tả Hữu đồng cư Sửu Mùi là cách cục nhập miếu cát hóa mạnh, đặc biệt khi giao hội Thai Tọa hay Cáo Phụ. Với Sát tinh Không Kiếp luôn đồng độ tại Tị Hợi, xung chiếu tại Dần Thân, tam hợp chiếu tại Mão Dậu Sửu Mùi, đơn thủ tại Thìn Tuất Tí Ngọ. Khi xét xong phân bố của Chính Tinh, xét Tứ Hóa, 4 trợ tinh, Không Kiếp để định khí hình gốc hay năng lượng của tinh bàn. Tại sao gọi là năng lượng ?. Do tính chất lưỡng đấu của Sát và Trợ tinh, hoặc vị trí kích phát treo của các tổ hợp này khi nhật hạn, nguyệt hạn, tiểu hạn với thời gian ngắn vận qua sẽ gặp biến hóa mạnh trong tư tưởng, hàm tính biến động, dao động mạnh. Năng lượng trong các tinh hệ Chính Tinh với các nhóm sao thủ mệnh sai biệt tương đối lớn. Xét cục nếu phần năng lượng của Sát cục lớn, hoặc trợ tinh lớn là điểm vượng suy của nguyên cục. Nếu Sát tinh có năng lượng lớn, sức áp lực, đè nén, bất ngờ, lo sợ và bế tắc, mất phương hướng,... sẽ phát khởi mạnh nếu không được chế hóa. Với trợ tinh lớn như Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt là sự phát triển, xu hướng tốt lên, tăng tính ổn định, thời vận, tuy nhiên năng lượng khởi phát không lớn mạnh, khởi tham vọng lớn như Sát tinh do tính cân bằng, ổn trọng trong tính chất tác hóa. Trên tinh bàn, xuất hiện các tổ hợp có sức tác hóa lớn, đây là mệnh phát triển bất ổn định, tức khi phát ắt hoạch phát tài danh, khi hung họa tăng mạnh tính hung. Bản chất khi xác định dòng khí hóa vận hành qua các hành vận tác động tới tư tưởng, Mệnh Thân việc gặp tai kiếp nạn ách thương tích, thương tật hay phá tán bại vong đều đổng đẳng tính chất hoạch phát, cát hóa, đắc tài lộc, gặp thời cuộc. Đều không là mệnh thường, tuy nhiên hai khuynh hướng rất sai biệt. 




Điều quan trọng, người nghiên cứu tử vi xét luận từ gốc định, có thể phân rõ năng lượng trong tổ hợp hình thành mạnh là cát hay hung. Sát tinh có thể phối hợp định cách đại cát, cát trợ tinh khởi phát tối hung. Điểm khẩn yếu này biến hóa vận động thực tế do mong muốn của lòng nhân. Thí như một loài sâu bọ, khi diệt loài này có thể mang kết quả tốt với con người tránh hại cây quả, tuy nhiên có thể kết quả xấu với tự nhiên khi mất cân bằng. Năng lượng hay khí hóa gốc của tinh hệ cũng vậy, ngược về gốc bất phân cát tinh hay sát tinh. Khi truy nghịch, nghiên cứu giải đoán lá số người nghiên cứu cũng suy xét từ nguyên căn, thứ tới phân định cát hay hung của chính nhân mệnh mới có thể thực tránh một số sai lầm khi luận giải. Nếu nguồn năng lượng khởi phát trên một số tổ hợp mạnh, hay chính yếu là tổ hợp cung trọng điểm sức tác động lớn. Nghiên cứu tử vi không chỉ nhìn xét cách cục luận theo phú giải. Tinh đẩu biến hóa phức tạp, một số người nghiên cứu thời gian còn chưa thực sự nhiều tuy nhiên do một phần tính huyền học của toán mệnh tương đối khó tiếp cận, người nghiên cứu cũng thường muốn tri kiến của bản thân được người biết như trên các trang mạng khi luận giải hay truyền đạt tới mọi người như sự nghiệm lý, tổng hợp phân định phú giải cần sâu dày cần tránh rơi vào sự tự tin dẫn tới tạo nghiệp quả khi dự đoán lá số tới người khác. Quan trọng phú luận có tính phổ quát, tổng hợp rất lớn, nếu không nắm rõ yếu tố cốt lõi rất dễ sa vào câu chữ trong phú luận. Điểm chế hóa của mệnh cách là sự dung hòa của cách cục. Như việc dung hòa được thuốc có tính độc trong cơ thể phá những bệnh huyết ứ trong đông y. Ngược lại bồi bổ những liều thuốc, thức ăn bổ nhiều sẽ phát sinh tới bệnh tật. Bổ cứu là điều quan trọng trong ngũ hành tương sinh tương khắc. Tức giữ được đạo trung dung vậy. Việc được mặt này mất điểm khác là quy luật của thiên địa. Cách cục tượng cách lạc quan và hướng lên phía trước khi thời điểm hoàn cảnh khó khăn nhất là cách cục mang ý nghĩa cát hóa mạnh. Mệnh tạo này có sức đột phá mạnh, luôn tìm kiếm cơ hội, giữ tích cực trong thời gian dài là điểm ít cách cục nhân mệnh có thể hình thành. Các tổ hợp an theo Địa Chi. Với nhóm Đào Hồng Cô Quả và nhóm Tuế Hổ Phù Tang Hư Mã Phượng Khốc hình thành nên các cách cục mang ý nghĩa sai khác về tính cách khi nhập Mệnh. Đào Hồng có tính bất ngờ, Đào Sát chủ đoạt lấy, giữ của bản thân, Đào Hồng là nguyên nhân, Cô Quả là kết quả. Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã là hai mẫu người khác nhau, một chủ quan điểm, lập trường, lý tưởng rõ ràng. Một chủ tính xã giao uyên bác, mẫn tiệp, thích nghi, đa năng. Nhân mạng phân định như trên, phối hợp cách cục chính tinh và các nhóm sao khác hình thành nên hệ tư tưởng, mẫu người riêng trong xã hội. Cũng như xét định nhân tướng phân định diện tướng sai biệt có những tính cách riêng rẽ, hoặc như mệnh cách chịu ảnh hưởng của hành khí Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ trong ngũ hành phân định tính cách riêng. 

Thursday, August 5, 2021

Con đường công danh

Phàm nam mệnh khi sinh khởi lấy chí tạo lập công danh làm đầu. Vượt qua những phép Đào hoa sắc hay vật dục để hóa cục tinh hệ tham muốn khởi phát thì được hưởng thành quả sau này. Điều quan trọng là sự tồn tại thực tế của thành tựu khởi đầu luôn khởi nguyên căn từ Đào hoa cách luận. Thí như khởi gốc từ vòng Trường Sinh tới giai đoạn Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan tới Đế Vượng. Vòng tác hóa khởi một vòng của tư tưởng cũng khởi phát theo nguyên tắc này. Do vậy thực tế, định cách của một thời vận trong thời gian chỉ một niệm rất ngắn đã phân đủ giai đoạn của Sinh Vượng Tuyệt tại ý niệm. Dài hơn là công danh một đời. Động lực là gốc cho việc cần hướng tới. Động lực khởi thường do Đào Hoa cách. Do vậy ngay khi khởi khí Trường Sinh, tiến khí chính là Mộc Dục, tức tư tưởng tham muốn của nhân mệnh sau đó mới chuyển sang hành khí của Quan Đới. Khi định cách lá số tử vi, nếu tham vọng bất kiến loạn, tức ẩn tính tham muốn vật dục, chuyên nhất vào mục tiêu lớn cách cũ đó thành cách. Thường hóa khí của tinh đẩu có tác dụng điều hướng thông qua tư tưởng của nhân mệnh ứng hợp với tính chất của Chính Tinh và phụ tinh hóa khí. Khi Cự Môn hóa thành Kỵ, trong tính chất của Cự Môn luôn hóa tồn nghi, lo sợ, loạn tâm về những vấn đề hình thành. Hóa khí Khoa Quyền Lộc tức dẫn hành khí tới về tư tưởng nghiên cứu, học hỏi hoặc xây dựng uy tín, quyền hạn, hoặc tích lũy, phát triển hướng lên khi dẫn cục. Hóa khí trong một quá trình tư tưởng có vai trò quan trọng để thành cách. Tuy nhiên tham muốn, tham vọng tức vị trí Mộc Dục của tư tưởng khởi phát trước vị trí Quan Đới có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Lưu ý Mộc Dục người viết xét không nằm trên tinh bàn, chỉ quá trình vận hành của một vòng Trường Sinh ứng công danh khởi phát. Đây là điểm thường tương tự khi xét đoán khởi ý định cách tới như vòng Trường Sinh Bay của dòng Phúc Tông. Luận định về cực điểm của tứ tượng cũng không nằm ngoài suy vượng của khí hóa xét đương nhiệm. Thực tế, tính tất yếu sinh trụ dị diệt của toàn bộ khí hóa xét trong toán mệnh lý cần nắm rõ là điểm không thể tách rời với định cách độ số tử vi. 




Hung nhược bất hung, cát nhược bất cát điểm xét vượng suy khi phối hợp như âm hỏa đắc lợi rèn kim, hỏa vượng kim sắc, dương hỏa cực vượng kim chảy hóa thủy. Phàm bất quá thành hư nhược, phản tượng. Khí hóa của vòng Trường Sinh khi định cách của Đông A bản chất không xét định trên lá số tử vi, người viết đã có xét tại các lá số phát khởi thai tạo cùng ngày giờ tháng năm sinh, có đứa trẻ mang tai kiếp bệnh tật bẩm sinh, có thai sinh vừa khởi sinh đã lưu tới tử tuyệt. Vòng trường sinh của Đông A phái xét theo nguyên căn khởi gốc, có tính riêng biệt rất mạnh của mỗi nhân mệnh. Khi xét định Sát cách lấy vòng trường sinh khí hóa làm trọng, để luận định cát hung họa phúc. Một số người nghiên cứu tử vi có gửi tới người viết về những lá số chịu ác nạn của bệnh dịch hiện nay và xét định cách của đương số. Thực tế khi nghiệm lý xuất hiện có những sự tương ứng khí. Có nhân mệnh đang thời kỳ sự nghiệp rất mạnh, hành khí của đại vận cát hóa cường vượng, tiểu vận tương ứng khi xét Tài Quan cách mang ý nghĩa cát. Tuy nhiên khi xét gốc đại vận gặp Mã hội Lưỡng Lộc trùng phùng đại tiểu vận trong bố cục Cự Cơ Đồng. Thiên Di cung nguyên cục ngộ Sát Cô Hồng Đà Kiếp Bệnh. Một lá số nam mệnh đang làm chủ một doanh nghiệp lớn khi hội cách cục Mã Khốc Khách có Quyền Ấn trong tổ hợp Vũ Tham thành cách trùng phùng đại vận lưu về Tài cung gặp biến loạn bệnh ách. Thực tế phái Đông A khi xét khởi nghiệm lý rõ về tính khẩn yếu của Sát tỏa vận đồng khởi, từ vận làng, vận nước và vận thiên hạ có tính chất thấu triệt rõ ràng. Thí như quốc gia Ấn Độ khi đỉnh điểm dịch tới với khoảng 300 nghìn người mắc cũng như nạn diệt chủng tại Campuchia giai đoạn chiến loạn khiến khoảng 1/4 tầng lớp tri thức, tư sản của Campuchia tuyệt mệnh. Khi đó Khoa Quyền Lộc chỉ là cái áo bên ngoài, không thể vượt khỏi cương tỏa của Sát cục vận quốc gia. Khi xét tính chất của bệnh dịch covid-19 có điểm phát sinh là ngoài tính chất khu vực khi lây nhiễm xét nguyên cục hành vận sẽ chịu tác động lớn hơn. Thí như tại khu vực có khả năng lây nhiễm lớn, hành vận có Kỵ Hình Mã Kiếp hoặc Mã Khốc Khách hội Lưỡng Lộc trong thế đứng Cự Cơ Đồng hoặc Kình Mã Phượng khi hội vận Thiên Mã ứng cách phát sinh chuyển động phối hợp sao chủ Bệnh dễ gặp tình trạng bệnh tật khi di chuyển. 




Tại cách cục dịch chuyển ứng với tiếp xúc và truyền nhiễm bệnh. Qua khoảng 18 lá số nghiên cứu nghiệm lý mắc dịch bệnh có 10 lá số gặp cách cục chuyển động do Thiên Mã hội cách. Tuy nhiên khi nghiên cứu về mệnh lý nhập vận tử tuyệt số lượng chỉ 3 lá số. Trong đó 2 lá số hành vận có Thiên Mã hội Song Lộc trong thế Cự Cơ Đồng và Thiên Mã hội Quyền Ấn trong thế Vũ Tham. Hai lá số bất kiến Không Kiếp Kỵ Hình. Lá số thứ ba hành vận cách cục đắc cách may mắn Dương Lương cư Mão trong thế Âm Dương Lương có tính giao tiếp xã hội lớn. Tính khả  cứu của Dương Lương rất lớn khi hoàn chỉnh cách tuy nhiên do gốc Âm Dương Lương có tính xã giao, giao tiếp, Sát vận ứng vận làng tại vị trí địa lý sinh sống dẫn tới tai kiếp. Khi người viết đọc tin tức trên mạng, có trường hợp một gia đình có 9 người cùng mắc bệnh, trong 9 mệnh số này có người mệnh cách nhập hành vận bình hòa, bất hung, có thể có người đang lưu vận cát. Vấn đề nhiễm bệnh tại đây liên quan tới vận gia đình và tính chất của việc bệnh tật lây lan rất nhanh chóng khi tiếp xúc. Hạn bệnh tật liên quan tới sinh tử do nội thân tác động và do hoàn cảnh bên ngoài tác hóa. Có những nhân mệnh ăn uống không khoa học, uống nhiều rượu bia và hút thuốc tuy nhiên khi lão niên mới gặp vấn đề lớn tới sức khỏe. Tuy nhiên cũng rất nhiều nhân mệnh trong thế hệ thanh niên hoặc độ tuổi ban đầu của trung niên gặp ác bệnh trong cơ thể, các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, suy thận, xơ gan,...là những bệnh không thể chữa trị. Do vậy, thực tế trong nội cơ thể mỗi nhân mệnh phân định sai biệt. Kẻ gặp Tham ngộ Trường Sinh gia cát hay cách Đồng Lương đắc cách thường cơ thể sẽ có thể phòng chống được bệnh tật rất tốt. 




Một số nhân mệnh hạn tử tuyệt hiện trên diện tướng, tức tướng mạo đặc biệt tại vị trí ấn đường chủ Mệnh cung. Lại nhãn tướng biểu hiện. Suy xét khi nhân tướng tại tướng trạng hình tù pháp lý ứng hợp tính khả tín rất lớn. Tức diện tướng là nơi khí phát ra ngoài có thể dự đoán, huống tới nội khí trong luân chuyển tuần hoàn, khắc phá tương hợp có hữu tình hay không cũng phần dự đoán thời kỳ tiếp theo của nhân mệnh. Cách biểu thị nhân tướng để người đọc có thể thấu rõ hơn về toán mệnh tính dự đoán do sắc tướng là sắc, hiển lộ ra bên ngoài có thể dễ hình dung. Khi định vòng trường sinh khí hóa xét từ nguyên khí của tinh đẩu, sức cường vượng sai biệt. Như việc tướng quý, mệnh hỏa chủ vượng, tinh thần nhiệt huyết, thường cách cục dễ tạo nóng nảy dẫn tới tai họa. Khi hóa tú khí, nhân mệnh nhiệt huyết nghiêm chỉnh với lý tưởng đặt ra, tham cầu tới cùng. Xét đoán vòng Trường Sinh khí hóa, tức dẫn hóa của khí hình tinh đẩu có thể nhìn thấu triệt chủ khách khi định cách. Thí như một trường hợp, nam mệnh trong trường hợp chủ động thực hiện hành vi buôn bán chất cấm, khi bị bắt chịu xét xử hình pháp tử hình. Khởi của Mộc Dục tại đây, hay tham muốn của cách cục là lợi nhuận, tiền bạc. Bố cục liều lĩnh ắt thiếu Khoa, Xương Khúc trừ một số trường hợp rất đặc biệt có Văn tinh hội củng, tuy nhiên xét cách cục thường xảy ra nằm tại Hình Kỵ hội chiếu. Khởi vòng Trường Sinh, ý niệm là tài phú, phương cách hoạt hóa là quyết tâm ắt Sát Kỵ phải hội họp để định cách cục này. Trường hợp này, mệnh cách dẫn hóa là Chủ. Trường hợp một nam mệnh trong tình cảnh nợ nần áp lực rất lớn, phát khởi tham muốn kiếm tiền nhanh chóng để trả nợ vay lớn, mệnh cách dẫn nguyên cục là Khách. Khởi nguyên căn ban đầu thực hiện một hành động chính là khởi của một vòng Trường Sinh khí hóa. Khí hóa này cực vượng, có thể hóa toàn bộ thiên địa nhân, cơ định xung quanh phải theo nó. Khi nghiên cứu trên mạng thông tin, có bài báo người viết đọc được liên quan tới việc tác động của tâm thức khiến xoay chuyển về nhân duyên hoàn cảnh để thúc đẩy tham muốn của bản thân. "Khi mong muốn mãnh liệt sẽ khiến thế giới xung quanh hợp lực xoay quanh bản thân". Vòng trường sinh khí hóa của Đông A Phái xét nguyên khởi từ gốc nội tâm này. Thứ như xét định cách chế dụng của Sát cách cũng mang tính biến hóa từ nguyên căn trên. Vị trí Mộc Dục của tư tưởng có tính thiết yếu để định cách của vòng trường sinh khí hóa. 





Giai đoạn năm 2005, người viết có nhớ về một nữ mệnh với cách cục Vũ Phá Kình Kiếp. Trong thời điểm này, nữ mệnh lên thành phố Hà Nội và làm rất nhiều công việc nặng của nam giới để kiếm sống và chưa trị cho bệnh của mẹ nữ mệnh bị tai biến, cả dòng họ đều ở vùng nông nghiệp. Bản thân người viết có điều trị ở cùng nơi thời điểm này với mẹ của nữ mệnh. Bệnh tình mẫu thân trở nặng và có hỏi về cuộc đời của nữ mệnh sau này có được ổn định vui vẻ hay gặp nhiều sóng gió. Xét đoạn về nhân tướng, diện tướng lưỡng quyền cao, mắt nhạn, ngưu tỵ phối hợp. Khi xét luận về lá số, định cách cục Vũ Phá Kình Kiếp này, thành bại yếu tố chính do cách cục Phá Quân hội Kình Dương. Sau đó có hỏi nữ mệnh về dự định thành gia lập thất sớm tại quê nhà hay đi xa làm việc ? . Nữ mệnh đáp sẽ rời bản xứ tới đây để tạo lập sự nghiệp, trước lập thất sẽ tạo dựng tài sản và khi ổn định sẽ kết hôn. Xác định khí hóa của Vũ Phá Kình khi nhập hành vận này, phát sinh hai khuynh hướng do hành hóa vượng nhược biểu hiện khí ra bên ngoài sẽ phát sinh lựa chọn sai khác. Khi nghe bộc bạch của nữ mệnh, biết rõ nữ mệnh không nói lời phiếm. Sau khi người mẹ khuất núi, nữ mệnh tiếp tục ở lại lao động. Tới năm 2007 người viết được biết đã tạo lập một doanh nghiệp về chế biến vật liệu xây dựng, năm 2011 đã trở nên rất giàu có khi nhập vận VCD có Cự Nhật nội cách hội Lưỡng Lộc sau đó lập thân với một doanh nhân của Pháp. Khí hóa của Kình Dương hiện tướng ngưu tỵ thường khi hóa nguyên cục thành cát. Vũ Phá Kình tượng hóa nữ cường, thực tế bất kiến Hóa khí, với mệnh nữ vẫn có thể bạo phát lớn chỉ dụng cầu Không Kiếp thành cách. Khởi niệm của nữ mệnh rơi vào thời điểm biến cố loạn động của gia đình ứng với Tử Vũ Liêm hội Sát Phá Tham là cảnh bế tắc, Sát cách dẫn hóa cực vượng bởi khởi một niệm cương quyết, tạo dựng và phát triển tại đây. 

Monday, August 2, 2021

Tướng trạng của tinh đẩu trạng thái hóa khí

 Tướng do tâm sinh. Thực tế khi xét đoán tướng số là giai đoạn tương ứng hành khí của tinh đẩu. Lộ tướng và ẩn tướng do tư tưởng sinh khởi của nhân mệnh phát sinh cũng dự đoán một phần giai đoạn hoặc cuộc đời của đương số. Luận đoán tử vi hay tứ trụ cũng thường xét sắc tướng để định về vượng suy của nhân mệnh qua thời kỳ và tính cách của nhân mệnh. Người nghiên cứu tử vi thời gian dài thường thấy tương quan của diện tướng và năng lực, khả năng hoạch tài hay phát quan vị của nhân mệnh trong thời điểm xét đoán. Hành vận thay đổi tương tục, diện tướng cũng xoay dịch theo thời vận không sai khác. Có những ẩn tướng khi hiện lên báo hiệu tai họa tới rất gần, có thể hạn sinh tử của mệnh cách. Qua cử chỉ, phong thái, diện tướng cũng xét khởi một phần tính cách hay bản tính của mỗi người. Tương kiến khi nhìn người, chọn người và dự đoán về năng lực, trình độ, khả năng hoàn thành công việc. Dự đoán về nhân tướng có tương quan rất lớn với tử vi. Tướng trạng các sao trong tử vi tương ứng mà tạo nên sự tương hợp của định hành vận và xét diện tướng. Thường người nghiên cứu tử vi hiểu được Thiên Lương là "Ấm", Thiên Đồng là "Phúc". Chữ Ấm có các đặc tính cơ bản bởi tính nhân quả lành. Tập ấm, thừa ấm. Tính chất tập ấm cao là ấm thọ, thứ tới ấm sinh của tử tức quan lại trong triều đình. Thiên Lương do đặc tính cơ bản trên, đắc cách thường chủ được thừa hưởng, tiếp quản công sức của phụ mẫu, gia tộc. Chữ "Ấm" chủ mang lại rất nhiều ý nghĩa hay. Với chữ Phúc có đặc tính chủ được hưởng, thừa hưởng từ nội lực của bản thân và xét tới may mắn gặp thời vận nhiều hơn thừa hưởng từ phụ mẫu tổ tiên. Thiên Đồng luôn ở vị trí tam hợp chiếu với Thiên Cơ càng rõ tính chất may mắn, phúc phận gắn với thời cơ. Thiên Lương có thể giao hội với Âm Dương hoặc giao hội với Cơ Nguyệt Đồng thành cách Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương và Thái Âm luôn tam hợp chiếu, bên cạnh Thiên Lương sẽ có tính âm thầm che chở của Thái Âm. Do bố cục của tinh bàn, thế đứng của Thiên Lương sẽ tránh được sao Cự Môn. Thiên Đồng trong trường hợp Cự Cơ Đồng sẽ hội Cự Môn. " Công danh đợi tuổi tác cao, giáp Liêm giáp Sát một hào chẳng sai" là cách của Thiên Lương Sửu Mùi. " Lương tại Tị tắt tật du" xét Thiên Lương tại vị trí Tị. 




Thực tế khi xét định phú luận không nằm ngoài tính chất cơ bản khi phát sinh biến hóa của Thiên Lương. Trong cách Âm Dương Lương, đặc biệt khi Âm Dương lạc hãm hoặc đồng cư tại Sửu Mùi. Nếu mệnh cách ở vị trí Thiên Lương sẽ dễ tăng thêm khuyết điểm bởi tính thụ động, hưởng thành quả từ nhân quả lành trước mang lại. Ấm giám là công ơn của quan phụ mẫu được học Quốc Tử Giám. Chữ Ấm khi phát sinh biến cục sẽ khiến nhân mệnh khởi cách giải đãi, dễ hoàn cảnh mang lại tốt, hoặc nội tâm không đặt tham vọng lớn lao khiến giai đoạn tiền vận khó khăn trắc trở. Trong thời loạn lạc, hay thời vận bĩ cực của vận thiên hạ như chiến tranh, bệnh dịch. Cách cục của Thiên Lương và Thiên Đồng càng thể hiện rõ tính phúc ấm của nhân mệnh gặp may mắn. "Phúc ấm tọa Mệnh Thân bất phạ tai ương". Khi nghiệm lý về các cách cục của Thiên Lương hay Thiên Đồng nhập mệnh cung, hội họp Sát Kỵ giao hóa đều có những tai ách và giải cứu vô hình, may mắn tới phù trợ giúp nhân mệnh thoát khỏi hiểm nguy. Xét về diện tướng, Thiên Lương nhập mệnh phân trường hợp độc tọa và đồng độ. Với cách Cơ Lương chủ tướng mạo có phần hiền hòa, nhìn Cơ xét tới lông mày, ắt chủ cong, đặc biệt tại đầu chân mày, Lương chủ hạ đình có phần rộng, tướng mạo thường có nét vuông. Với cách Dương Lương cư Mão chủ mắt có thần sắc, tướng mạo chủ dương. Khi nghiên cứu nghiệm lý lá số tử vi, cần lưu ý tính chất quan trọng của Chính Tinh phối hợp định cách tại Mệnh, cũng tức diện tướng khởi của mệnh tạo. Dẫn tới một kết quả tương đối có ý nghĩa khi người nghiên cứu tử vi thường có khả năng xét đoán tới nhân tướng. Tướng pháp của nhân mệnh còn có thể sử dụng khi xét về chức năng ngũ tạng trong nội thân, bệnh tật tương ứng phát ra bên ngoài. Dịch bệnh gọi là covid-19 lây lan qua các biến chủng mới xuất hiện càng có tác động biến hóa mạnh, tiến hóa về đột biến. Thứ phát triển đột biến cũng chính là ý nghĩa tác hóa của Sát cục. Biến hóa thay đổi triệt để là tác động không hay đối với con người, tuy nhiên với bản thể virus mang ý nghĩa có lợi khi thích nghi và lây lan nhanh hơn. Sự thay đổi và đột biến của những điều tai họa, tai kiếp là điều đáng lo ngại nhất, tương ứng với tính chất của chính lục sát tinh Kình Đà Không Kiếp Hỏa Linh với đột biến không ngờ Thiên Không Địa Kiêp dẫn hóa. 




Tính chất thay đổi là tính chất quan trọng của Sát tinh, dẫn hóa bởi Kình Hao và Đà Hao. Tính chất linh hoạt hay cường động là nguyên căn cho sự thay đổi đột biến dẫn hóa hởi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Nếu căn bệnh do virus này không phát khởi biến thể đột biến nhanh chóng, hoặc không có tính lây lan, tấn công đa dạng nhiều nguồn lây thì không là mỗi tai họa lớn. Bằng chính bản chất hoạt động của virus, ta nói virus có khả năng đột biến, biến hóa nhanh. Bằng chính bản tính của một người, ta nói người đó có khả năng hoạch phát mạnh. Thời kỳ của Lộc Tồn hay Lộc Tướng Ấn có tính chất đã biến hóa sai biệt rất nhiều so với thời kỳ lịch sử giai đoạn phong kiến, quân chủ chuyên chế. Thời kỳ hiện tại là giai đoạn của sự thay đổi, dời đổi nhanh chóng. Sự đột biến của một nhân mệnh có thể tới rất nhanh và tạo ra tài sản khổng lồ qua internet kết nối vạn vật so với kinh thương truyền thống, điều này qua nghiệm lý cũng xuất hiện rất rõ qua các lá số nhân mệnh có tuổi đời rất trẻ . Sự táo bạo của Sát tinh tạo ra thời cơ rất lớn cho nhân mệnh trong giai đoạn lịch sử hiện tại so với nhiều thời điểm trong quá khứ bị hạn chế bởi quyền lực trong hệ thống địa vị xã hội. Cơ hội vẫn nằm ở đó, rất nhiều trong một không gian rộng lớn mà mỗi người tiếp cận rất nhanh gọi là không gian mạng. Nơi tập hợp cơ hội rất nhiều, và người mệnh số gặp thời vận, cách cục hành vận hoạch phát vẫn nắm được thời cơ tại đây để tạo đột biến kích phát, người vận bình hòa vẫn không nắm được một cơ hội. Cự Môn hội Lưỡng Lộc vẫn luôn tìm kiếm những tri kiến, kiến thức chuyên sâu từ internet và dễ có thêm khả năng học thêm ngôn ngữ mới là tiếng anh do nghiên cứu chuyên sâu của quốc tế sử dụng ngôn ngữ này là phổ biến. Tính chất thích nghi là yếu tố cốt lõi để định cách tổ hợp Sát của thiên bàn. Không Kiếp là thế bĩ của thời vận, nếu ứng hiềm cách cục thích nghi ắt là thượng cách, có tính chất cát hóa biến hóa vô cùng. Thuộc kỳ cách. Kình Dương và Đà La rất quan trọng. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can gồm Lộc Tướng Ấn, Kình Hao, Đà Hao, Thanh Phi Phục tượng cách như tổ hợp phân bố của Chính Tinh tới 12 cung độ. Không xét tính chất khuyết thiếu của tinh đẩu, đều có khả năng tạo hoạch lực đứng đầu xã hội tùy dụng thể hay bất dụng. 




Sự biến đổi phù hợp với thời vận không chỉ là cách Kình Hao, còn chính là cách Đà Hao. Khi rất đông số người đầu cơ nhà đất giai đoạn 2007 đến 2008 sau đó kinh tế suy yếu đã có nhiều gia đình rơi vào cảnh khủng hoảng, vỡ nợ. Trong thời điểm đó. Nếu Đà Hao suy tính cặn kẽ, có tính chờ đợi không táo bạo cướp thời cơ như Kình Hao, có lẽ giai đoạn về sau khi kinh tế phục hồi sẽ tạo nên khối tài sản lớn mang ý nghĩa hay hơn Kình Hao. Bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can đều có đặc tính cát hóa hoặc hung hóa phù thuộc vào bố cục tinh đẩu hội họp. Trạng thái của nhóm sao này khi gặp Hóa Khí sẽ hình thành nên tổ hợp sao có tác động kích phát mạnh khi bộc lộ ưu điểm hoặc khuyết điểm của cách cục. Trong trường hợp nhóm Lộc Tướng Ấn, Hóa Lộc hội họp tác động trực tiếp tăng cường tính chất tích lũy, phát sinh lộc tại trong nội tính chất, do vậy cách cục Lưỡng Lộc hay Song Lộc có tính chất lớn mạnh. Với Đà La, khi Hóa Kỵ hội cách trực tiếp tăng cường tính chất âm tàng, thu ám và hình thành tính chất lớn mạnh. Với Kình Dương, khi Hóa Quyền hội cách tăng cường tính quyền biến, uy áp, quyết đoán của Kình Dương khiến cách cũ ý nghĩa tăng mạnh khi hợp hóa. Với nhóm Thanh Phi Phục, tính chất điều hòa, phục khí khởi từ tan rã tức Phi Liêm tới hoàn lại Phục Binh và tiến khí Thanh Long hội cách Hóa Khoa ứng hợp tính chất mạnh. Thanh Long đứng đầu nhóm sao này chủ thanh danh, danh tiếng. Phân định sâu bên trong của bốn cách cục này là cả một nghiên cứu dài. Khi hóa khí hội cách cùng nguyên cục nhóm sao riêng rẽ này sức tác hóa sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều. Trong đó nhóm Lưỡng Lộc sẽ thường mang ý nghĩa tốt chủ phát phú, đắc danh lợi, khả năng tích lũy, thịnh vượng. Đà Kỵ sẽ thường mang ý nghĩa không mấy hay chủ cản trở, khi tốt đẹp hưởng chữ kỳ tài, ẩn sĩ, mưu lược. Khi người nghiên cứu nghiệm lý tiếp theo về các vị trí hình thành Lưỡng Lộc hay Đà Kỵ của các thiên can sẽ xét định từng Thiên Can với các vị trí đặc biệt hình thành cách cục này. Với can Giáp, Lưỡng Lộc chỉ xuất hiện khi Liêm Trinh cư tại ba cung Dần Ngọ Tuất. Tại bố cục này, Song Lộc hội nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có thêm Khoa. Cách cục Khoa hội Lưỡng Lộc có lợi với can Giáp rất lớn. Tại can Ất, cách cục Song Lộc hóa khí từ Thiên Cơ hình thành khi mệnh cách gặp nhóm Cự Cơ Đồng tại Hợi Mão Mùi. 




Trong trường hợp này, cách cục thường theo khuynh hướng chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ sinh ra tài lộc. Thường gặp mệnh tốt tại cách Cự Cơ cư Mão ngộ Lưỡng Lộc. Cách cục Kỵ Đà hình thành bởi Thái Âm cư tại Dần Ngọ Tuất. Trừ tại Tuất cung có phần tốt các cách cục còn lại mang ý nghĩa không mấy hay. Xét định gốc niên can sẽ hình thành nên các thế đứng cơ bản của tinh bàn dựa trên hóa khí phối hợp chính tinh và nhóm sao an theo Thiên Can. Phàm khi hội Lưỡng Lộc thường là vị trí đắc thời, tại cách Đà Kỵ dễ có cản trở, khó khăn. Đây là điểm cần chú trọng khi xét định cách cục theo nguyên cục. Nếu hội Không Kiếp hay Hình Sát tại cách cục đều là cách chủ hung. Trong trường hợp này, hành vận sẽ có tác động cát hóa nguyên cục, nếu vận hung thì mệnh khó thành tựu, hạn hành trùng phùng Sát Kỵ, dễ tuyệt mệnh. Trong giai đoạn dịch bệnh lan truyền nhanh, việc hiểu biết và phòng tránh tức Hóa Khoa hay Xương Khúc và Tuần Triệt là điểm quan trọng. Luận khán sinh tử vận là phần luận thường sai biệt rất lớn khi định số. Người viết có cơ may được tiếp cận với một số thai nhi sinh khởi ở tại bệnh viện mắc bệnh di truyền bẩm sinh hoặc một số bệnh tật nặng khác khiến nhân mệnh không thọ trường, tuyệt khí. Cũng trong thời điểm này, các thai sinh khác cùng giờ sinh bình thường. Khai thị vấn đề này, khởi vận cổ nhân truyền lại tính nhân duyên với phụ mẫu. Đa phần các trường hợp sinh khởi bình thường khi xét định lá số tử vi sẽ khán được hạn quá khứ và dự đoán nguyên cục cát hung xét phú, quý, bần, tật, thọ, yểu. Như cách cục Sát Kỵ trùng khởi mệnh và niên vận thứ nhất, xét hạn sinh tử khảo cứu cũng không có tác dụng rõ nét do những sự cố sau khi sinh được y thuật tiên tiến hỗ trợ rất nhiều trường hợp tránh được hạn tử tuyệt. Cổ nhân xét định phần định cách tính chất sao thường luận "Phi yểu tắc bần". Tức mệnh số khí hóa gốc cường vượng không gặp yểu cách thì sẽ bần hàn. Không nên nhầm lẫn bởi Sát cục có thể tạo đột phá lớn tới sự nghiệp, cuộc sống của nhân mệnh tuy nhiên tính Sát liên quan tới bổn mệnh luôn tương động rất rõ. Người viết có người họ hàng ham mê về cờ bạc, dẫn tới tham gia trên mạng thua hết gia sản, số tiền có thể tham gia chơi rất lớn và cách thức chơi không quá khó khăn. Rất nhiều nhân mệnh có khuynh hướng tuyệt mệnh khi mắc phải khoản nợ lớn khi tham gia đỏ đen dẫn tới cuộc sống về sau chuyển hướng hoàn toàn. Không gian kết nối mạng có thể phát sinh những tri kiến, những công việc kinh thương tạo giá trị tài sản rất lớn, cũng có những điều mạo hiểm khiến nhân mệnh có thể thất bại hoàn toàn. Lâm "tứ đổ tường" rất phức tạp, đặc biệt về cờ bạc có thể khiến mệnh cách tiêu tán sản nghiệp nhanh chóng. Trong những vấn đề trên, thường hình thành tại mệnh cách có Thiên Diêu hội nhóm Tang Hư Khách, hoặc hội Hỏa Linh trong cách cục Diêu Kỵ hay Diêu Đà. Tác hóa của tham muốn trở nên loạn động lớn khi tham gia cờ bạc, khiến đa phần mệnh tạo dần trở nên mạnh bạo, mạo hiểm đặt cược số tiền rất lớn sau một thời gian và tạo nên khoản nợ rất lớn. Tướng trạng cách cục Diêu Hỏa Linh có thể gây ra tai kiếp với Tài cách nhiều hơn cách cục Kỵ Kiếp Hình. Đây là điểm rất quan trọng khi luận cách cục định Sát cách. Tại một địa điểm đặc biệt, thí như chịu áp bức lớn, cách cục Khoa Quyền Xương Khúc có thể không tốt đẹp bằng Kình Hổ. Cũng vậy, khi xét định khí hình vận tức tướng trạng thực điểm của tinh đẩu trong thời điểm xét định là điểm quan trọng để định cách cục. Bản chất của tổ hợp cần xét đắc dụng với thời hay không, nếu đắc dụng như vị thế của cung Điền Trạch trong giai đoạn đất đai tăng giá mạnh, cũng là cách Tài vượng. 

Tuesday, July 20, 2021

Không Kiếp định lá số nhân mệnh quý hiển


 Trong tử vi thường bàn tới vấn đề luận về tổ hợp của hung sát tinh có thực đắc dụng. Không Kiếp hội cùng cách cục hợp cách thì phát, bất hợp họa tới miên trường. Trong thời kỳ chiến loạn, tất cả đều không thể vô căn, bắt nguồn từng xung đột mâu thuẫn, xung đột lợi ích là thứ sống còn khi thể hiện ý chí của một dân tộc phản ứng trước một quốc gia khác xâm phạm. Hai lần chiến tranh thế giới trong thế kỷ 20. Lần thứ nhất khoảng 5 năm với tổng hơn 30 triệu người chết, thương tật. Lần thứ hai với khoảng hơn 70 triệu người gặp nạn. Dân số thế giới thời điểm đó khoảng hơn 2 tỉ người. So với dịch bệnh, chiến tranh còn chưa có sức tác hóa lớn như vậy. Một trận dịch hạch khiến khoảng 1/4 dân số thế giới tử nạn, khoảng 1/3 tới 2/3 dân số Châu Âu biến mất. Thời kỳ dịch bệnh là thời kỳ đen tối của lịch sử, đặc biệt khi chiến tranh hiện đại không còn chỉ thuốc độc hay thuốc súng, còn vũ khí sinh học. Nhân mạng thực nhỏ, khoảng gần trăm nghìn người thiệt mạng ngay lập tức sau khi hai quả bom nguyên tử phát nổ và san thành phố của Nhật Bản thành bình địa. Điều quan trọng của một nhân mệnh là vị trí đứng, có quyền định đoạt từ nhỏ tới lớn, bằng không luôn bị hoàn cảnh dẫn đi. Thực tế, khi lòng tham luôn tồn tại thì luôn có sở hữu, kẻ có được sở hữu lớn càng mong tích lũy để yên tâm, cũng sợ bị kẻ khác dòm ngó tới. Suy là thời điểm tất yếu của vòng tròn phát triển vạn vật. Một nhân mệnh rất nhỏ, tuy nhiên trong trí não đã chứa đựng năng lực khổng lồ để suy tính, cơ hội không chỉ dành cho kẻ có được vị thế từ gia đình, dòng tộc. Cơ hội sống còn có mặt tại tất cả nhân mệnh đang sống cuộc sống bình thường, cũng là lẽ công bằng của tự nhiên. Xét chung đa phần người đều có những nền tảng chung để phát triển, tuy nhiên sau này lại phân định sai khác, giàu nghèo, quyền lực. Cái nhìn chiều sâu là quan trọng, từ Việt tới Khôi, từ Khôi tới Việt, nhỏ tới lớn và ngược lại. Cái nhận định sâu sắc của chính bản thân về xã hội, vận thế sẽ giúp những hành động ngày mai được chính xác, tránh được nhiều rủi ro trong hoàn cảnh thời cuộc. Cái nhìn nhỏ cũng có thể xét ra toàn cục. Nếu loay hoay trong biện lý của chính mình, sẽ không thể thoát ra. Một vòng xoáy khi vẽ trên tờ giấy là hình tròn xoáy điểm trong cùng không thể thoát, cũng có thể chính là một mũi khoan, tiến lực cực vượng. Thứ sai khác đa phần không nằm tại trí tuệ của mỗi người khác nhau, mà do hai chữ loay hoay, loay hoay giải quyết một số vấn đề, đánh mất đi những cơ hội tồn tại xung quanh khiến nhân mệnh bỏ lỡ những điều có thể thay đổi cuộc đời. 




Cơ hội xung quanh mỗi nhân mệnh là vô cùng không hạn định, thể hiện tính công bằng thứ hai của vạn vật. Một cuộc đời có thể xóa làm lại nhiều lần, mỗi một lần thất bại, điều còn lại là tư duy, năng lực phát triển của trí óc vẫn hoạt động và chứa tiềm năng vô cùng. Chỉ khi bản thân không còn sinh mạng mới có thể chấm dứt sự đột biến. Giới hạn là số mệnh, cũng chính do bản thân tự đặt ra. Khi nghiên cứu toán mệnh, rất nhiều đương số hỏi việc số mệnh có hay không ?. Số mệnh đa phần là điều bản thân giới hạn ngày mai của chính đương số. Đông A định cách xét sức hóa định của Sát tinh rất mạnh, khi phát tới dường như khiến kẻ khác không thể tin xảy ra. Năng lượng của thiên địa đa phần là năng lượng tối. Nếu chữ "giới hạn", thêm một chữ Không của Không Vong, chính đại sát tinh của Tử Vi đứng trước là vô giới hạn.  Chữ "giới hạn" thêm một chữ Kiếp, nghịch truyền thống, phá bỏ khuôn khổ đặt ra, kẻ thành tựu thường lẽ vậy. Lý tính của Không Kiếp có phải luôn thay đổi theo chiều hướng hung họa hay hoạch phát không bền hay không ?. Người vô duyên trước mặt là vàng cũng không thấy. Giới hạn bởi nỗi sợ, sợ đánh mất thứ đang có, sợ mối quan hệ xung quanh khi bản thân thất bại, chính là thứ cương tỏa bản thân. Thế giới thay đổi, xã hội thay đổi theo từng ngày tháng. Bản thân nằm trong vòng tròn an toàn chính là lúc nguy hiểm cho chính công danh, loay hoay tìm hướng đi không bằng lấy mũi tên quyết định một con đường dù chông gai. Các cách cục nhân mệnh định bố cục cao viễn, thượng cách, ý nghĩa toàn cục không nằm ngoài tính chất này phát sinh thành thế vượng xuyên suốt. Kình Dương thường thắng Đà La. Kẻ có Đà La mạnh khi thấy Kình Dương bên ngoài xung chiếu. Thứ quan trọng nhất là năng lực nội hàm của mệnh tạo. Tướng số của xét định mệnh quý hiển tại điểm này. Sự suy tàn khi ở trong một ngôi nhà lớn do rất nhiều cấu kiện bên trong hợp thành, nếu một cấu kiện tan rã, ngôi nhà sẽ dễ tan rã, nếu Địa Kiếp không nghịch truyền thống, giản định tới mức tinh gọn, cắt bỏ những khối u, những đường chỉ thừa, thì ắt sẽ như đàn mối mọt ăn mòn từ vị trí của ngôi nhà, hay một sợi chỉ thừa kéo rách cả một tấm vải, tới khi sửa chữa khó có thể trở nên hoàn chỉnh. Thế của Không cách rất cường vượng, không có điểm thoái lui, không thể không hướng về phía trước thì đắc dụng, thời loạn được thành tựu như vốn tính của Không Kiếp nhập miếu đồng độ. Một giây một phút thời điểm rất quý, vì là thời bĩ, thời của thay đổi táo bạo. Nhân sinh định cách Không Kiếp là đại sát tinh không sai, mất mạng, tuyệt mạng ứng với một số không nhắm mắt xuôi tay là Không Kiếp. 




Thực tế, khi xét định cách cục Kỵ Hình tại Mệnh cách, dù toàn cục rất mạnh cũng sẽ lên cao tới vướng vào lao lý. Cũng vậy, phàm vấn đề đều có hai mặt. Kẻ trước được ngưỡng mộ, sau ở dưới bùn đen. Tâm sở kiến tạo những thành tựu phi thường. "Vạn pháp do tâm sinh". Khi luận định tử vi, người nghiên cứu xét định yếu tố cơ bản về tính chất sao, thứ tới ghép từng ý nghĩa của tinh đẩu để xét định cách cục. Tuy nhiên khi xét toàn cục như trên. Như nhân mệnh tính khí hỏa vượng, nóng nảy ắt sẽ thiên tính phù hợp với những mối quan hệ giao tế tương hợp. Với Không Kiếp định cách khuynh hướng rõ nét khi giao hội từng Chính Tinh, tính chất sai biệt tùy theo từng Chính Tinh. Vì vậy thường phân định tinh đẩu có thể chế dụng Không Kiếp, tinh đẩu gặp họa khi hội Không Kiếp. Quá trình định cách này thiếu chữ Nhân trong Thiên Địa Nhân. Tức tư chất của những thai tạo sinh cùng thời điểm khác nhau do khí hình gốc tạo bởi tất cả yếu tố hoàn cảnh tác động khác nhau. Dự đoán về tính chất của tổ hợp sao trên tử vi xác đáng khá cao bởi tính cách của mệnh tạo và tương tác với xã hội và quan hệ xung quanh. Tuy nhiên xét về thời vận sẽ có sự sai biệt khá lớn do nhân cung phản ánh sai biệt về Phụ Mẫu, Phúc Đức, Phối Ngẫu của mệnh tạo. Đặc biệt tại Phụ Mẫu và Phúc Đức là sự nối tiếp tương tục nhiều đời về công danh hay tài sản tích lũy. Thứ xét định được là dự đoán tính cách, bản tính và năng lực gốc hay khí hình gốc của mệnh tạo có cường vượng. Nếu cường vượng sớm muộn mệnh tạo sẽ đứng đầu xã hội. Thứ xét đoán của toán mệnh là tố chất, tư chất của mệnh cách. Cũng như khi học tập thời kỳ nhi đồng, tư chất phát ra bên ngoài khiến người thầy có thể dự đoán tương đối chính xác về tương lai học vấn của mệnh tạo. Định cách của Không Kiếp cũng vậy, tuy nhiên xét định phức tạp hơn tổ hợp sai khác lớn khi tính chất mâu thuẫn, xung đột nằm ngay trong nội cách cục. Nhiều bố cục khi gặp Thiên Không đơn thủ gặp tai họa nặng nề hơn khi gặp đủ bộ Không Kiếp, do tính chất phản kháng, tự cát hóa hay hung hóa trong nội cách cục gặp hai tinh đẩu này biến hóa phức tạp. Thường phú luận thường thái quá về tính chất tác hóa của cặp sao này. Thiên Không và Địa Kiếp là cặp Thiên Địa, chữ Nhân tại đây sau khi xét định ý nghĩa toàn bộ tổ hợp sẽ xác lập ý nghĩa của toàn cục. 




Có sách luận, Thiên Không và Địa Kiếp dù đắc hay hãm địa đều có tính ích kỷ, thủ đoạn, độc đoán. Đây là điểm quan trọng khi xét định về thành tựu hay bại cục của Không Kiếp thủ chiếu Mệnh. Không Kiếp tồn tại mệnh cách, phàm nhân mệnh sẽ có những lần đổ vỡ, gặp tình thế khó khăn bế tắc khó có thể đương cự, nhiều trường hợp gây dựng lại từ ban đầu tạo nên khủng kiến trong tư tưởng. Cách cục mạnh sẽ phá tán mạnh, tuy nhiên thế cục vực dậy rất nhanh, táo bạo. Đặc biệt bố cục Không Kiếp đồng độ cư Tị Hợi đắc vòng Trường Sinh cách Sát lực tuy lớn, tuy nhiên sức vươn lên từ khó khăn đổ vỡ cũng rất mạnh. Đặc biệt trong trường hợp có Tướng hay Phá ngộ Không Kiếp đắc lệnh. Bố cục Không Kiếp rất kỵ cản trở của Kỵ, do thực Hóa Kỵ hội cách khiến bế tắc trở nên trầm trọng, nhân mệnh dù năng lực khai sáng, sáng tạo rất lớn cũng khó có thể dụng cách toàn vẹn. Mệnh gặp Không Kiếp rất nhiều lá số xuất chúng như tổng tư lệnh của Chi lê, Augusto Pinoche, Hồ Diệu Bang tổng bí thư Trung Quốc, Garfield tổng thống Hoa Kỳ, Sanba Marin thủ tướng Phần Lan hiện tại chỉ 36 tuổi, Jawaharlal Nehru là thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, Nguyễn Khánh là quốc trưởng VNCH, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt,... Trong những người lãnh đạo này có những đột biến rất lớn trong sự nghiệp chính trị hoặc đổ vỡ thăng trầm bất ổn. Thực tế sẽ có một số nghiệm lý ở trên sai biệt về thông tin ngày tháng sinh do vị trí lãnh đạo cần bảo mật, tuy nhiên khi xét đa phần rất nhiều những số mệnh thượng cách, các nhân mệnh sinh khởi tháng 10 gặp Mệnh Không Thân Kiếp đều đa phần định cách cục đắc lệnh hoạch phát mạnh như trường hợp của thủ tướng Phần Lan hiện tại. Mệnh cách Không Kiếp định bố cục, bởi tính bạo phát mạnh và nhanh chóng của tổ hợp này, khiến nhiều lá số vượt trội đứng đầu một tổ chức lớn hay thậm chí một quốc gia. Khi nghiệm lý định cách bố cục này, nhân mệnh nếu nắm được chữ Chính, ắt dễ nắm được đại quyền. Không Kiếp rất kỵ gặp thêm Hóa Kỵ, trừ trường hợp Đồng Lương nhập miếu địa, hay cách Cơ Lương, Thái Âm cư Hợi. Lược sử về quá trình tạo lập công danh của nhiều lá số người viết nghiệm lý với nhiều nhân mệnh thành tựu đột phá với Không Kiếp, đều đa phần do bản thân nắm được thời khắc quan trọng, thời điểm đột phá khiến Thiên Địa Nhân hợp, rất ngắn để bạo phát. Khí hình gốc càng vượng, bạo phát càng lớn. Với mệnh cách Không Kiếp, thường nhiều nhân mệnh phát phú hơn phát quý. Do định cách của Phú cách phù hợp với tính chất khai sáng của nhóm sao này. Quá trình phả Quý cách hay Quan cách cần sự hợp hóa hữu tình của cách cục, sẽ xuất thân hay phát triển trong hoàn cảnh tương đối nghịch truyền thống, dẫn tới tư tưởng táo bạo và khác biệt. 

Monday, July 19, 2021

Tượng của khí hóa

Khi vạn vật hấp thụ sinh khí khởi vòng Trường Sinh, tính chất dịch chuyển của ngữ hành sinh khắc chế hóa tác động tới mệnh lý. Phàm thiên khởi ắt có địa tác. Điều hỗ lý này sinh ra những kết quả sai biệt khi luận đoán về dịch. Tượng của khí hóa đều tính chất riêng rẽ đặc biệt. Tuy nhiên màu đen cũng phát sinh rất nhiều mức độ, nếu trạng thái ứng hợp hoàn toàn chính là đen tuyền. Tứ hóa cũng vậy, khởi biến hóa phức tạp phát sinh nghĩa lý trong các hoàn cảnh tính chất hoàn toàn khác nhau. Các tinh đẩu trong tử vi tính chất cũng vậy, tuy xét về bản thể khí hóa tạo bởi âm dương ngũ hành phân định đều rõ ràng, khi ứng hợp các hoàn cảnh phân định sai khác rõ nét. Cùng một mệnh cách trên Thiên Bàn ứng hiềm bát tự 8 chữ cái giống nhau, ắt khi định số bằng toán mệnh ắt bất sai khác. Lấy khí ứng của chính nhân mệnh sẽ khiến toàn bộ tinh bàn tác động khởi khí hóa phân định khác biệt. Nếu cùng số mệnh, mệnh tạo sinh khởi theo nguồn gốc Phụ Mẫu hoặc giàu có, hoặc có danh vọng, địa vị lớn trong xã hội tính chất khởi phát của khí hình ngay từ giai đoạn gốc tính chất sai khác rất lớn với mệnh cách cùng chung lá số với phụ mẫu sinh khởi trong thời kỳ khó khăn, nhiều tai họa tác động tới phụ mẫu dẫn tới khởi điểm nhân mệnh không được thừa hưởng những điều tốt đẹp khi khởi đầu. Tuy nhiên cách cục trên có tác động lớn với một số bố cục mang tính kế thừa từ mệnh cách như Thiên Phủ, Thiên Lương,... Với những mệnh cách như Vũ Phá, Liêm Tham, Vũ Sát hội Hao Sát Kỵ Hình ắt có khởi phát gốc vững từ phụ mẫu cũng dễ phá tán hết rồi làm lại. Cũng vậy, với cách Vũ Tham, Vũ Phủ, Cự Nhật, Cự Cơ hay Tử Tướng,... là bố cục phần lớn không quan trọng khởi hành của gốc khí hình đắc cách có thể tự sinh thành tựu lớn. Khi luận nhân mệnh, quan trọng khởi đầu khi luận định lá số tốt đẹp dựa vào tổ hợp tinh đẩu thể hiện năng lực nội tại của mệnh tạo. Nếu cách cục hình thành Khoa Quyền Việt Kình hội Tang  Hư Mã là nhân mệnh có thực lực tuy gặp nhiều khó khăn tác động bởi nghịch cảnh. 





Với bố cục có Không Kiếp càng khó để luận đích xác ý nghĩa của tổ hợp. Với cách Không Kiếp Đào Sát thường luận là cách hung họa. Tuy nhiên người viết có giữ hàng chục lá số khi bố cục này xác lập thành cách đều có năng lực và vị trí rất cao trong xã hội. Bố cục này chỉ cần gặp thêm Thiên Hình hoặc Kỵ Hình hay Đà Kỵ ắt là cách bại cục. Cũng có nhiều lá số người viết gặp bố cục này khi luận giải đang trong đại nạn lớn, có người tuyệt mạng. Thí như, nhiều động vật có khả năng kháng chất độc trong tự nhiên, có loài sử dụng độc tố làm vũ khí tự vệ cũng như săn mồi. Sát Tinh như độc tố, kẻ chế ngự được một đời bạo phát, kẻ chịu tác họa của Sát một đời khó tránh yểu vong hay bần khổ. Sát tinh như thế cục của sinh tồn trong tự nhiên, vật chế dụng được thì phát lớn. " Hung tinh đắc địa phát dã như lôi". Nếu vật không chế dụng được, cũng như các loài chịu làm thức ăn cho kẻ khác. Sát tinh tổ hợp trên tinh bàn biểu thị biến hóa rất lớn, có kẻ đan tâm thù niệm với kẻ khác ra tay hình thương sát hại chịu hình pháp của quốc gia. Có kẻ làm việc trái đạo đức vẫn được ung dung ở vị trí cao viễn, do Sát cách chế hóa thành cách.  Tiền nhân phân định Sát tinh mệnh bần yểu là xét về hóa khí âm ám của Sát, phân định Sát tinh thành cách là xét về tú khí sáng vượng của Sát. Như việc loài vật ăn cỏ không gây nguy hại tới loài khác, tuy nhiên  đây là loài dễ bị trở thành thức ăn của loài ăn thịt. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Lộc, tức tích lũy, thức ăn, lương tiền, lộc khố. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Quyền, tức sự thống trị, cai trị, uy trấn. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Khoa tức sự cẩn trọng, tinh anh, nhạy bén, linh hoạt tránh thế hiểm. Hóa khí của Sát thường hóa thành Kỵ, chịu làm kẻ thua thiệt, kẻ bị hại, cản trở, bế tắc, phá bại. Vì vậy, khi một cặp Hỏa Tham tương ngộ đã hình thành nên ý nghĩa phát phú, bản chất ý nghĩa tham muốn về tài sản, tham muốn vật chất. Mạnh hơn Lộc Tồn là tích lũy, tích trữ. Tham Hỏa vừa thể hiện một mặt tích lũy do tham muốn vật chất, vừa thể hiện tính linh hoạt, bộc phát của Hỏa Tinh. 





Hay cách Tử Phủ Kình Dương thành cách cự thương. Do Kình Dương có tính dẫn đầu, đi đầu, cạnh tranh mạnh. Bộ Tử Phủ có tính khai phá, khai tạo, cũng chứa tài sản bên trong do Thiên Phủ có Vũ Khúc tam hợp chiếu. Kình Dương tại đây tác động hỗ trợ mạnh như hóa khí Khoa Quyền. Sát tinh khi nắm chính đạo có tính bạo phát rất lớn. Tuy nhiên điểm cốt tủy của Sát cách nằm tại tính chất áp lực khủng kiến của Sát Kỵ tới tư tưởng nhân mệnh bằng những hoàn cảnh khó khăn, bế tắc trong cuộc sống có thể khiến nhân mệnh nhanh chóng sinh khởi tư tưởng chấp nhận với hiện thực, trượt dài trong thời gian khó khăn dẫn tới đánh mất tuổi trẻ. Trong thế đứng của cát tinh thường được luận tầm thường sự nghiệp. Khi định cách cục, trợ tinh văn tinh hội họp có tính chất tăng sự ổn định và tham muốn ổn định trong nội tâm phân biệt rất rõ về tính chất ổn trọng của từng cách cục tạo ra ý nghĩa. Thí như cùng một việc, một kẻ muốn sự an ổn khi tham muốn sự nghiệp cầu danh lợi, tránh tranh đấu, trong một tổ chức, lại yếm thế về năng lực có khuynh hướng nhường nhịn, dễ sinh bất mãn rất lớn trong nội tâm khi trong nội tâm một mặt lo ngại sự thay đổi dẫn tới mất việc, hoặc khi đụng chạm dẫn tới mệnh tạo gặp nhiều rắc rối. Tính chất ổn trọng tạo bởi trợ tinh gặp phá cách trong trường hợp này. Thí như trường hợp khác khi trợ tinh điều ngự, chế hóa Sát tinh, nhân mệnh ở thế chủ động, lấy công kích, kích động và ổn định được tư tưởng khi ở thế chủ động tranh đấu. Hai trường hợp này, tuy cùng vị thế cách cục và cách ứng hóa của bố cục sai khác, trái ngược hoàn toàn với nhau. Cũng như vậy, thường nghe việc thành tựu của một người ắt gặp một thời điểm khủng kiến về chính tư tưởng, bế tắc tuyệt vọng và lựa chọn đường duy nhất phải vực dậy hoặc mãi chìm xuống dưới đáy. Ngẩng đầu lên ăn xin chính là Kình Dương, ngẩng đầu lên để vực dậy cũng là Kình. Cúi đầu để nhận tội, nhận cảm thông là Đà La, cúi đầu nhìn xuống để phán xét, ra lệnh cũng là Đà La. Thực tế khi luận phần đắc hãm một tinh đẩu tức xét tính hữu dụng và bất dụng. "Kình Dương mắt đen như tà, ắt hẳn Hóa Kỵ trùng là Hình Diêu. Thập phần tính chủ liều, đụng vào không khéo vướng điều oan gia". 





Thường Sát tinh củng chiếu mệnh phát sinh diện tướng bên ngoài ứng hợp. Có tướng diện kẻ hung ác, kẻ thâm trầm, gian trá, kẻ hiền hòa, giỏi lý lẽ, kẻ có tham vọng lớn, kẻ đào hoa,... tướng số phát sinh ra diện tướng bên ngoài nhiều như vậy. Tử vi khi định cách các lá số cũng phân biệt không sai khác. Tuy nhiên thường người nghiên cứu tử vi hiện nay do sự trà trộn của man thư, luận về ứng hợp tính cách trên lá số tử vi của nhân mệnh còn không bằng nhìn trực tiếp tướng diện để xem tướng đoán mệnh. Điều này ám chỉ trong ý nghĩa của tinh đẩu hoặc khi phối hợp thành các tổ hợp, khi kinh thư lưu truyền ra bên ngoài đã tam sao thất bản khi định cách. Toán mệnh cách là bộ môn huyền diệu trong huyền học lý pháp về Nhân trong thiên địa nhân. Thực tính từ nguyên tắc luận định từ dịch lý để xét khởi. Việc xem xét nhân tướng học, xem tướng mạo được xác định là việc cơ bản trong đời sống hàng ngày. Tướng mạo tiền nhân thường luận về ác tướng như mũi diều hâu, mắt tam bạch, tứ bạch đản, yết hầu lộ cao kết hợp da cổ mỏng, hàm dưới dài mặt gãy khúc,... . Hoặc thí như một số tật bệnh tạo ra tai kiếp ngay từ khi mệnh tạo thụ thai như hội chứng của bệnh Down sẽ bất lợi về trí tuệ rất lớn. Về hình tướng cũng sẽ đặc trưng so với những người bình thường. Hiện tại những khám phá y sinh mới hiểu rõ về nguyên do bệnh tật này. Trong thời đại quá khứ, xét biến hiện bởi tướng trạng bên ngoài để luận đoán, dự đoán số mệnh từ kinh nghiệm. Việc đương số sinh khởi tướng mạo ứng hợp với tư tưởng nội tâm hành hóa bởi khí đã khởi phát từ xa xưa, ngay cả khi nhìn các giống loài ăn thịt và ăn cỏ sát tướng và sát khí khởi phát rất sai biệt. Môn bốc phệ, quẻ dịch thời khắc sự kiện phát sinh chiêm bốc dự đoán về việc cát hung phát sinh một điểm quan trọng chính là giờ thai tạo của một nhân mệnh ắt sẽ sinh diễn biến nét chính về dự đoán cuộc đời của mệnh tạo. Tú khí hay tạp khí là điểm tối quan trọng khi luận toán mệnh một lá số. Cũng như diện tướng hiển hiện quý tướng trên khuôn mặt hợp vị, hợp cách tức tú khí phát ra bên ngoài. Định cách lá số tử vi không nằm ngoài lý này. Tổ hợp tinh đẩu thành cách ứng hợp diện tướng có điểm đắc cách. Khởi cách cục, luận mệnh đắc cách, dù Hỏa Linh Không Kiếp hội không đáng ngại, trái lại còn tạo nên hoạch phát lừng lẫy cho mệnh tạo. Khởi cách cục, luận mệnh phá cách, dù Lộc Mã Khôi Việt cũng là mệnh tạo bình thường, chỉ lo lắng cho sự an toàn, yên ổn của bản thân bỏ qua nhiều cơ hội phát triển lớn. 



Tượng nguyên thủy của Hóa Lộc là thái, tượng của Hóa Kỵ là bĩ. Hiềm nỗi vận thái bĩ luân hồi. Nhân mệnh không trải qua khó khăm trắc trở lớn như Kim không được Hỏa luyện ắt không bén. Phàm mệnh cách hình thành thế Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt trùng phùng hội các vòng sao tốt đẹp như Lộc Tướng Ấn, Tuế Phượng, Đào Hồng với các Chính Tinh cát hóa, đa phần khó đắc cách thành tựu lớn hơn hội Sát Kỵ trùng phùng. Do yếu tố căn bản của ổn định phát triển là thiếu đột phá, bứt phá với tham vọng đột phá. Nếu một kẻ khư khư giữ tiền của bản thân trong túi tích cóp nhỏ nhặt có thể trở nên tiểu phú, tuy nhiên sẽ khó có cơ hội trở nên đại phú, phú gia địch quốc. Điểm cốt tủy ở cách cục hay khí hóa hình thành là chữ Tinh. Có thể luận theo ý nghĩa diễn giải là tinh hoa, tinh túy mang tính cô đọng, ngưng tụ của Hóa Kỵ. Sát cách khi chế hóa được cục, nắm được chữ tinh, ắt nắm được Sát cách, luận được tổ hợp Sát, tức định cách được lá số, những điểm cát hóa mạnh hay phản tác hóa vi cát của Sát tinh có sức tác động rất lớn, tăng mức độ của cách cục. Sát cách khi tác họa, nhẹ thì hình thương họa hại, nặng thì khí tuyệt mệnh vong. Sát cách khi  cát hóa, phúc hẳn rất lớn. Thực tế khi định cách cục trong tử vi, hai lá số đồng dạng, sinh đôi trường hợp khác trứng của Đông A phái khảo sát có sự tương hợp rất lớn về tính cách và nghề nghiệp. Tuy nhiên hạn hành hoạch phát hay hung tai mức độ sai khác. Như người viết có xét hai trường hợp của cùng sinh đôi. Cùng giai đoạn Hổ Hình Lộc, mệnh cách theo hai khuynh hướng sai biệt, người anh theo ngành luật sư kế thừa người cha, người em theo ngành thẩm phán tòa án. Hạn năm Kỷ Hợi tức năm 2019, nam mệnh theo ngành thẩm phán gặp thời một bước lên mây, thăng chức liên tiếp trong khoảng thời gian ngắn. Người anh theo ngành luật sư cho doanh nghiệp bên ngoài năm này giải quyết vấn đề liên quan giữa doanh nghiệp cũng tạo được tiếng vang rất lớn, tuy nhiên sức hoạch phát về công danh không lớn mạnh như người em, tuy nhiên về phần tài lộc và ám lộc có phần tốt đẹp hơn. Bố cục định Sát cách tuy hai lá số trùng nhau, lại cùng môi trường hoàn cảnh gia đình, tuy nhiên khuynh hướng về sau sai khác, cùng ứng hợp với bố cục nghề nghiệp mang tính hình tụng, lại có điểm sai biệt. Tuy đại đồng nhưng tiểu dị.




 Phàm nhân mệnh gặp vận hạn tối tăm mờ ám, khó có thể tạo nên đột biến lớn nếu Sát cách không chế ngự được bởi toàn cục. Lại ứng tới mỗi nhân mệnh sẽ hấp thụ nguyên cục của Sát tinh và sau đó hóa hợp mang ý nghĩa sai khác. Sát cục hóa thành tú khí, mệnh này tối quý, ắt nắm đại quyền. Sát tinh hóa thành tạp khí, hung khí ắt mệnh ứng hiềm dễ yểu tử hay gặp ác nạn bất ngờ. Cũng giống như các thời cơ do hoàn cảnh mang lại hiện nay như việc một làng được xây dựng các khu chế biến, công nghiệp ngay tại đó ắt đời sống của người dân buôn bán gặp thời. Lá số cuộc đời cũng như vậy, có vận cát hóa, dễ tạo được thành tựu lớn trong đời, có vận hung họa dễ gặp tai kiếp. Cũng vậy, người nắm được thời vận biết tiến lui phù hợp hoàn cảnh ắt có được phú quý. Trong thời điểm ứng hiềm thời bĩ của vận thiện hạ, việc phát sinh bệnh dịch như dịch covid-19 hiện nay, khi xét bố cục vận nước qua mỗi quốc gia nhìn rất rõ được tai kiếp của vận làng, vận nước, vận thiên hạ tác động tới mỗi nhân mệnh. Tại một quốc gia đang gặp tai kiếp nặng nề do bệnh dịch như Ấn Độ có thời điểm lên tới gần 400.000 người mắc mỗi ngày , hay Nepal có ngày lên tới hơn 8000 người mắc. Và bệnh dịch này có tỉ lệ khoảng 1/4 tác động nghiêm trọng tới phổi hay cơ quan nội tạng. Tức với quốc nạn này hình thành, cao điểm sẽ có khoảng gần 100.000 người mỗi ngày chịu tác động hậu quả lớn. Cả một số ngành nghề kinh thương hay có những người giàu sẽ trở nên khó khăn, nợ nần lớn khi chịu tác động trực tiếp tới việc kinh thương. Trong thời điểm bệnh dịch này, mệnh cách hội họp nhưng tinh đẩu chủ di chuyển, chuyển động thường xuyên ắt sẽ ứng hợp với nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Hoặc như tại vận làng, cũng sẽ có khu vực trọng điểm dịch bệnh. Điều quan trọng tại đây là trong sẽ có nhân mệnh tại mệnh cách hình thành bố cục Kỵ Hình Việt hội Tang Hư Mã và Sát dễ hóa thành mang ý nghĩa vi phạm quy định, thêm Phi Liêm thành cách trốn trách khai báo, có hung họa hay không còn ở tại Lưu Sát Kỵ và Không Kiếp Hỏa Linh. 




Nhân mệnh khi xem các môn huyền học mệnh lý, hay xem bói, lên đồng, cúng bái, giải hạn khi xét tới yếu tố dự đoán về việc sắp diễn ra cần chú ý tính xác thực. Nhân mệnh cách hạn hoạch phát nếu xét tại diện tướng có thể nhận định dự đoán tương đối gần và sát thực tế do khí phát tiết ra bên ngoài diện tướng, tướng mạo là hành khí đặc trưng của mỗi nhân mệnh. Lá số tử vi là thế đứng của nhân tính, do bản tính chịu tác động của âm dương ngũ hành, thuận vòng Trường Sinh lấy làm thể mệnh. Quá trình xoay vòng không dứt, một vòng tròn thập nhị cung đồ, 12 cung như thập nhị nhân duyên. Sinh Vượng Tử Tuyệt cuối cùng nhập Thai sinh nối tiếp nhau. Liệu bản tính của nhân mệnh có thực là hình thành trong kiếp sống này hay thực tế là tập khí chuyển dịch của kiếp trước. Vòng Trường Sinh là vòng tròn, không thấy điểm cuối. Bản chất nhân mệnh là sinh diệt tự mất đi, tuyệt khí về tâm thức sau khi tuyệt mạng, hay như vòng Trường Sinh, cuối cùng của chữ Tuyệt lại bắt đầu một chữ Sinh mới, điều này khó có thể khẳng định. Thực tế người nghiên cứu tử vi, nghiên cứu các môn huyền học toán mệnh sẽ tự chiêm nghiệm của bản thân thực chứng về thế giới quan về huyền học phương Đông. Sinh và tử của con người là quá trình bất dịch. Tượng của khí hóa là thể của thiên địa. Thí như mưa đủ thì vạn vật tốt tươi, nhiệt đủ thì sưởi ấm vạn vật, đất giúp thu tàng, dưỡng mộc. Kim là thuộc tính quan trọng của thiên địa, trong máu hay các cơ quan trong cơ thể đều có kim loại, kim sinh thủy, trong các nguyên tố kim loại chiếm phần tương đối lớn trên bảng tuần hoàn hóa học. Ngũ hành có tính chất riêng biệt. Mệnh quý rốt cuộc có thường có quý tướng, tính cách, thói quen dễ dẫn tới thành công. Cũng như việc khi chưa nắm rõ nguyên lý về bệnh tật, coi việc những nhi đồng không may gặp bệnh tật như bệnh down và tắc-nơ theo tướng số ắt thường khó có thể đạt được những tài danh hoạch phát khi xét nhân tướng. Người nghiên cứu toán mệnh nên soi xét về điều này, thường quy dự đoán phú quý thành bại về tư tưởng, tâm sở của bản thân. Tâm thức mạnh, chuyên nhất, tập trung với tham vọng dễ đạt được những thành tựu tốt đẹp. Mệnh tạo nếu chịu tác động bởi nhiều Đào hoa tinh là việc khó luận, có thể dẫn dắt tham vọng cầu tài danh, có thể khiến nhân mệnh chìm sâu trong ảo vọng về tài sắc, hư huyễn. Cách cục mạnh trong mỗi thời kỳ mỗi khác. Khi chế độ phong kiến, quân chủ sụp đổ, không còn vua thực quyền, danh chính ngôn thuận. Thời thế thay đổi, tinh đẩu biến hóa theo nghĩa lý của thực tại, tuy nhiên về ý nghĩa gốc cốt yếu không sai khác.