Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Tứ Hóa. Show all posts
Showing posts with label Tứ Hóa. Show all posts

Monday, February 7, 2022

Thay đổi đột biến trước thời cuộc

 Đột biến, đột phá là điều quan trọng trong đời thực. Trong tử vi, các tổ hợp sao phối hợp hạn hành hình thành các tính chất đột biến. Trong quá trình phát khởi của vạn vật, đột biến thay đổi bản chất và quá trình dịch chuyển nhanh chóng. Phàm nếu không có sự đột biến từ điều nhỏ là gien như khoa học hiện đại nghiên cứu thì khó có thể xuất hiện nhân mạng từ vượn người. Thích nghi có thể mang lại đột biến. Khôi Việt là sự biến động từ thấp tới cao. Không Kiếp là sự đột biến nhanh chóng nghịch với phát triển thông thường. Sự đột biến phân định cát hung, cũng Sát Tinh phân định cách cục tốt đẹp hay phá bại. Điều hung họa là những đột biến gây ra bên ung thư, đột biến về công nghiệp có thể gây ra tai họa về tự nhiên, tuy nhiên tính hai mặt cũng tạo điều phát triển tới người. Đột biến và đột phá thường xuất hiện bởi tính chất một số Chính Tinh và Bàng Tinh. Cự Môn thường đột biến bởi tư tưởng phản cực. Phá Quân đột biến do sự khám phá, khai phá cái mới. Tử Vi đột biến bởi hành vi, tư tưởng quản lý, phương hướng. Vật từ đại tới tiểu đều tồn tại đột biến trong nội hình. Trong quá trình nghiên cứu huyền học, hai chữ đột phá là điều kiện để xét mệnh tú khí hay vượng khí một thời. Để xét hành vận có sự phát triển bình ổn, bình hòa, hay tạo bước tiến nhanh chóng thành công. Khởi sự từ bần hàn, vươn lên trong xã hội cần những đột biến tích lũy từ những thay đổi Song Hao, Tử, Phá, Cự, Mã, Cơ,... Những cơ hội vẫn phát sinh như chủng tử trong mọi hoàn cảnh. Một bàn cờ  có hữu hạn bước đi bởi quy luật giới hạn nhưng sự phát triển song hành của xã hội với tâm tưởng mỗi nhân mệnh luôn vận động, khiến cơ hội mong muốn về công danh sự nghiệp mỗi nhân mệnh đều bình đẳng. Sự đột biến phát khởi từ những sự vận động thay đổi rất nhỏ. Nếu không có tư tưởng khởi tham vọng, tham muốn về tài danh khó có thể đạt được bước tiến. Tham muốn không được dẫn bởi hành động cũng khó có thể thay đổi hiện thực. Tích lũy thay đổi nhỏ dẫn tới đột biến, đột phá. Trong quá trình khai phát sự nghiệp, mỗi thời thế đều có nhiều khó khăn tại thời điểm nhân mệnh sinh sống. Từ giai đoạn chế độ quân chủ, nô lệ tới giai đoạn xã hội hiện đại. Một bước trải qua vị trí sự nghiệp cao nhất trong xã hội trong tính phân biệt là vua và hoàng đế, bởi sự thai sinh, tính hiển nhiên phụ truyền tử nối. Vạn vật sinh sôi phát triển trong thiên hạ cũng có những quy luật phát triển để đạt được gọi là môi trường. Thí như nơi sa mạc khó có thể nhiều loài sinh vật sống. Nơi cực địa khắc nghiệt cũng khó có thể gặp nhiều cây cỏ phát triển như tại khí hậu ôn hòa. Con người cũng vậy, bản tính có tính chất liên hệ quan trọng với những thành tựu hay hung họa gặp phải. Cũng không hẳn vật chịu nơi khắc nghiệt có thể sinh sống tại vị trí ôn hòa cũng là lẽ thường của tự nhiên. 




Quá trình phát triển sự nghiệp của nhân mệnh bình thường trải qua các giai đoạn địa vị và chức trách chính trị, xã hội, hoặc khởi kinh thương, từ tiểu phú tới đại phú. Bước chuyển mình như giao long luôn chờ thời cơ, nuôi dưỡng từ Thai phát triển tới Đế Vượng. Xét tới tính chất nguyên thủy của tinh đẩu. Khi khí số bởi Sát bởi sự biến dịch của tư hữu liên quan từ giai đoạn loài bầy đàn tới phát triển thành gia đình, gia tộc. Cũng từ giai đoạn lịch sử của động vật bản năng tới con người. Sự phân định của nhóm huyết thống bởi sự nỗ lực của một cá nhân hoặc hưởng phụ ấm thừa quang, khiến đặc quyền tăng cao trong xã hội dễ tạo nên ý niệm bất công bằng trong xã hội. Tuy nhiên tính bất công bằng này là nỗ lực của giai đoạn tiền thế của phụ mẫu gắn chặt với nhân mệnh cũng biểu hiện trên lá số.  Sự vượt trội của những nhân mệnh còn lại bởi tính bất công bằng, vươn lên làm chủ như đột biến của tầng lớp xã hội, như từng sóng lớp thay thế của Phá Quân. Khi ý chí của nhân mệnh khởi sinh nghèo khó, có thể trở nên lớn mạnh hơn bộ phận còn lại được hưởng thành quả từ tiên nhân. Thí như cách Vũ Tham Hỏa Hình Ấn khi người viết trong thời gian vừa hòa bình, đa phần tài sản không nhiều chênh lệch, chiêm nghiệm có nhiều nhân mệnh xuất thân bần hàn, một tay dựng cơ đồ, làm gốc đời sau hưởng phúc ấm. Thầy địa lý trước xét định có gốc nơi tú khí mộ kết phát, trong họ khởi sinh điềm kẻ tài năng khởi hưng thịnh tổ tông. Mối quan hệ tông môn thời kỳ phong kiến liên kết chặt chẽ, quy định liên kết bởi pháp luật thời kỳ này, cũng xuất hiện tội trạng tru di tam tộc, cửu tộc liên quan tới một người mắc tội, nhiều đời gặp nạn kiếp. Ban phát về phong tước kiến địa, khi tài sản điền thổ lớn, địa vị chức tước cao nghĩ tới huynh đệ dần tới tử tôn dòng họ được hưởng phúc. Khi xét định khuynh hướng Tài cách và Quan cách có điểm dị biệt. Với Quan cách, tính chất thăng giáng và thời cơ trong bộ máy điều hành, sai khác với Tài cách có thể phát phú trong môi trường rộng. Thí như khi bước chuyển theo đường binh nghiệp, quy mô trong lĩnh vực này là nhỏ so với toàn thể xã hội. Đặc trưng các mệnh cách khuynh hướng theo đường binh nghiệp đa phần bởi cách cục sau. Liêm Sát, Phá Quân hội Sát Hình. Sát Phá Tham, Liêm Tướng hội Kỵ Hình Binh. Cách cục còn lại nhiều trường hợp hội Kỵ Hình hoặc Kỵ Binh. Hoặc Vũ Sát Phá Liêm, hay hội Địa Kiếp. Thiên Hình hình thành trong nhiều mệnh số theo khuynh hướng trên và nghề nghiệp liên quan tới tính chất chịu đựng khuôn phép, kỷ cương, tượng số ứng hợp tính Kim của Thiên Hình. 



Hình Diêu Y an theo tháng với Hỏa Linh hay Tả Hữu. Tính chất biểu hiện rất rõ khi nhập mệnh cách. Thiên Hình do tính khuôn phép, gò bó phối hợp Thiên Diêu thuộc âm ám có tính chất của vật dục và mù quáng. Hình thành nhóm sao nguy hiểm khi kích phát tính âm ám và hình nhắc khi giao hội một số cách. Người theo binh nghiệp hay tư pháp chủ sự cứng rắn, với Thiên Hình là tác phong, Hình Y như y phục mặc khiên cưỡng. Nếu tốt đẹp hóa sức quyết đoán, kỷ cương trong cả tài quan. Khi cách cục hóa hung nặng tính chủ quan, phóng đãng, vượt quá quy định. Nhiều nhân mệnh phát tài bởi Hình Kỵ bởi vượt qua giới hạn để tạo đột biến. Tuy nhiên cũng dễ gặp vấn đề liên quan tới hình pháp. Binh Hình Tướng Ấn là sự giao hội của hai nhóm Tồn Tướng Ấn và Hình Diêu Y. Thanh Liêm Binh hội Hình Diêu Y mang ý nghĩa khác. Lại Thiên Hình đồng độ mỗi tinh đẩu trong nhóm Tồn Tướng Ấn mang ý nghĩa sai biệt. Thiên Hình dễ phối hợp Sát Kỵ thành các cách cục mang ý nghĩa hung, do đặc tính phối hợp mâu thuẫn trong nội tổ hợp Hình Diêu. Trận đòn roi dạy dỗ của Phụ Mẫu cũng là Thiên Hình. Tính chấn chỉnh, khuôn phép của cách Hình Diêu Y tăng rõ đặc tính khi hội Lộc Tướng Ấn. Thấy lợi không tham vội là điềm tốt. Thấy họa không rối loạn, tính trật tự, phép tắc là Thiên Hình. Do vậy hỉ gặp Hóa Khoa, kỵ gặp thêm Hóa Kỵ. Cách Quyền Hình là phù hợp tính chất Thiên Hình trong Tam Hóa hội sao này. Tư tưởng phản đối thường xuất hiện tại Cự Môn, gặp Phục Binh thành quyền lực, gặp Thanh Long hóa hoạt ngôn, cơ biến. Nhờ có tư tưởng phản đối, cho tới xung đột, cự cãi, những vấn đề phát sinh mới hình thành và thời điểm nguy khốn có thể vãn hồi phát triển trở lại. "Cự Nhật Mệnh viên, hạn đáo Sát Hình Kiếp Kị tu phòng tâm phế, kiêm Thiên Mã hãm tật tứ chi, duy hạn Song Hao khả giải". Hình Kỵ Kiếp là cách độc của Thiên Hình, chủ thái quá. Cự Môn gặp Sát Kỵ, tác động phế tâm, có Mã lạc hãm tức Tang Hư Mã là hung cách. 



Tổn hại của Cự Môn trong cách Cự Nhật chủ tạng tâm, bất mãn hóa bệnh nhiệt, bế tắc do ám của Cự. . Song Hao là thủy địa tính hao tán phá khí bế tắc của Cự Môn. Tính chất Song Hao hay bản chất cách Hao Kình và Hao Đà thuộc tính giảm hung. Thường nghe "Của đi thay người" mang ý nghĩa tương tự cách cục này. Cự Môn tượng cánh cửa đóng lại, nhiều sự tuyệt vọng khi kiến Sát Kỵ tạo khó khăn chồng chất. Song Hao tăng sự lưu thông, tạo những thay đổi tốt. Trời đất xoay vần, nhược lúc vui sướng phòng ngày oan khiên. Cục số của một nhân mệnh bỗng chốc thay đổi theo thời thế. Khi kẻ lũng đoạn, mưu trí thành tựu, người hiền đức gặp họa tai. Sự xoay chuyển không thể hiện rõ mối nhân quả về nhân lành quả lành. Tuy nhiên thể hiện rõ kết quả của sự nỗ lực với mục đích của đương số. "Hình Hổ Cái Mã Tứ Linh, cẩm bảo y hốt cung đình thảnh thơi". Thiên Hình hội Thiên Mã trong cách cục trên được kể là hay. Bên trong hình thành cách Tuế Phượng, bên ngoài Mã xung trong bố cục Hình Mã. Phú luận ứng với những trường hợp đặc biệt tại một số cách cục, người nghiên cứu tử vi tránh việc áp dụng tùy ý khó có thể toán mệnh đúng. Mệnh lý thậm thâm, lý lẽ biến diệu không mang huyền bí, thêu dệt, tuy nhiên cũng không giản hóa. Ngẫm về mệnh số đời người, có nhiều điều vui thú, như nước chảy mây trôi. Khi luận phi tinh lưu hóa cung độ, đáng ngại là Hình Kỵ, tiếp theo mới tới Lục Sát. Tang Hư Mã là tổ hợp khó khăn và nỗ lực. Do vậy cách Lộc Mã giao trì được đánh giá hay do tính chất tự phòng vệ do nghị lực vượt qua khó khăn. Cổ nhân luận rõ nơi biến động của Thiên Mã phát sinh do địa chi, là nơi khó khăn bởi Tang Môn và Thiên Hư hội họp. Cũng là vị trí có thể vượt lên. Cũng như Thanh Long trong nhóm Phi Thanh Phục, với Phi Liêm là tan vỡ, Phục Binh chủ tuân theo. Ngay trong cách cục hay Tồn Tướng Ấn Bệnh, luôn xuất hiện Bệnh Phù chủ bệnh tật, khó khăn. Trong âm có dương, trong thế bĩ thoát bĩ, bĩ cực thái lai. Tuy nhiên thường khi bĩ tới, người rất khó vượt qua, thường luận quẻ hung. 



Sự đột biến có thể hóa thành tối hung, phá tán mất hết tài sản. Hóa công phân diệu, trước thi khoa cử dùi mài kinh sử, theo đuổi quan lộ, trị quốc, đầy đủ tài đức, khi vận thi không thuận cũng không mất tinh thần. Hóa Lộc trong nhiều trường hợp là tinh thần, tích lũy niềm tin của nhân mệnh. Đây là điểm cần lưu ý khi định cách cục. Lộc Mã giao trì, khí đương tiến tạo sức bật. Hóa Lộc không hoàn toàn chỉ lộc. Thí như cùng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, người bi quan, kẻ linh hoạt suy tính để thoát khỏi và vươn lên. Lộc Kỵ là một bài dài để mô tả hóa khí. Có khi Lộc Mã là niềm tin vượt qua bệnh tật ung thư bằng tự lực. Trong cách Tang Hư Mã Khách, sao Tang Môn nhập mệnh được đánh giá nghị lực vượt qua mất mát bởi giao hội của các tinh đẩu trong nhóm sao này mang ý nghĩa di chuyển để vượt lên. Nội sinh khi Chính tinh Hóa Lộc rất lớn. Thí như tượng cách cây mọc mầm vượt lên trên đá sỏi. Tượng lộc khí là thời gian xuân tới vạn vật đâm chồi nảy lộc sau thời kỳ đóng lại của Kỵ mùa đông. Tuy nhiên một số phát triển mạnh nơi đông tàng ẩn. Đều có chỗ đắc dụng. Tế bào sinh trưởng thái quá là ung thư. Giai đoạn tiền vận thí như rất nhiều sự tác động về tình cảm hay vấn đề xã hội khiến nhân mệnh khó có thể chuyên nhất. Khi xét định chế hóa dòng Sát Kỵ của Đông A, áp lực khủng kiến và tính che ám của Kỵ tác động mạnh khiến nhân mệnh tìm phương hướng và sai lầm từ những biến cố nhỏ. Khả năng nhẫn nại có tác dụng lớn trong định hình lại cách cục. Việc phá bỏ có thể nhanh chóng tuy nhiên vấn đề xây dựng lại rất khó khăn. Hóa Kỵ là khí hóa cần thiết để tạo sự thay đổi lớn. Nơi khí áp đảo có thể dụng cách khởi tại tính lạc quan của chính nhân mệnh trước khó khăn và nghiêm khắc Thiên Hình những kinh nghiệm sai lầm. Lưu Kỵ Hình hay Kỵ hội Sát tinh là tổ hợp phức tạp, cũng mang ác tính, giải thích việc nhân mệnh có người hung bạo đắc thành tựu, người hiền lành tuy nhiên nếu dễ bất cẩn trước những phức tạp của cuộc sống có thể gặp những bất ngờ, thuộc cách người hiền gặp nạn. 

Thursday, August 5, 2021

Con đường công danh

Phàm nam mệnh khi sinh khởi lấy chí tạo lập công danh làm đầu. Vượt qua những phép Đào hoa sắc hay vật dục để hóa cục tinh hệ tham muốn khởi phát thì được hưởng thành quả sau này. Điều quan trọng là sự tồn tại thực tế của thành tựu khởi đầu luôn khởi nguyên căn từ Đào hoa cách luận. Thí như khởi gốc từ vòng Trường Sinh tới giai đoạn Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan tới Đế Vượng. Vòng tác hóa khởi một vòng của tư tưởng cũng khởi phát theo nguyên tắc này. Do vậy thực tế, định cách của một thời vận trong thời gian chỉ một niệm rất ngắn đã phân đủ giai đoạn của Sinh Vượng Tuyệt tại ý niệm. Dài hơn là công danh một đời. Động lực là gốc cho việc cần hướng tới. Động lực khởi thường do Đào Hoa cách. Do vậy ngay khi khởi khí Trường Sinh, tiến khí chính là Mộc Dục, tức tư tưởng tham muốn của nhân mệnh sau đó mới chuyển sang hành khí của Quan Đới. Khi định cách lá số tử vi, nếu tham vọng bất kiến loạn, tức ẩn tính tham muốn vật dục, chuyên nhất vào mục tiêu lớn cách cũ đó thành cách. Thường hóa khí của tinh đẩu có tác dụng điều hướng thông qua tư tưởng của nhân mệnh ứng hợp với tính chất của Chính Tinh và phụ tinh hóa khí. Khi Cự Môn hóa thành Kỵ, trong tính chất của Cự Môn luôn hóa tồn nghi, lo sợ, loạn tâm về những vấn đề hình thành. Hóa khí Khoa Quyền Lộc tức dẫn hành khí tới về tư tưởng nghiên cứu, học hỏi hoặc xây dựng uy tín, quyền hạn, hoặc tích lũy, phát triển hướng lên khi dẫn cục. Hóa khí trong một quá trình tư tưởng có vai trò quan trọng để thành cách. Tuy nhiên tham muốn, tham vọng tức vị trí Mộc Dục của tư tưởng khởi phát trước vị trí Quan Đới có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Lưu ý Mộc Dục người viết xét không nằm trên tinh bàn, chỉ quá trình vận hành của một vòng Trường Sinh ứng công danh khởi phát. Đây là điểm thường tương tự khi xét đoán khởi ý định cách tới như vòng Trường Sinh Bay của dòng Phúc Tông. Luận định về cực điểm của tứ tượng cũng không nằm ngoài suy vượng của khí hóa xét đương nhiệm. Thực tế, tính tất yếu sinh trụ dị diệt của toàn bộ khí hóa xét trong toán mệnh lý cần nắm rõ là điểm không thể tách rời với định cách độ số tử vi. 




Hung nhược bất hung, cát nhược bất cát điểm xét vượng suy khi phối hợp như âm hỏa đắc lợi rèn kim, hỏa vượng kim sắc, dương hỏa cực vượng kim chảy hóa thủy. Phàm bất quá thành hư nhược, phản tượng. Khí hóa của vòng Trường Sinh khi định cách của Đông A bản chất không xét định trên lá số tử vi, người viết đã có xét tại các lá số phát khởi thai tạo cùng ngày giờ tháng năm sinh, có đứa trẻ mang tai kiếp bệnh tật bẩm sinh, có thai sinh vừa khởi sinh đã lưu tới tử tuyệt. Vòng trường sinh của Đông A phái xét theo nguyên căn khởi gốc, có tính riêng biệt rất mạnh của mỗi nhân mệnh. Khi xét định Sát cách lấy vòng trường sinh khí hóa làm trọng, để luận định cát hung họa phúc. Một số người nghiên cứu tử vi có gửi tới người viết về những lá số chịu ác nạn của bệnh dịch hiện nay và xét định cách của đương số. Thực tế khi nghiệm lý xuất hiện có những sự tương ứng khí. Có nhân mệnh đang thời kỳ sự nghiệp rất mạnh, hành khí của đại vận cát hóa cường vượng, tiểu vận tương ứng khi xét Tài Quan cách mang ý nghĩa cát. Tuy nhiên khi xét gốc đại vận gặp Mã hội Lưỡng Lộc trùng phùng đại tiểu vận trong bố cục Cự Cơ Đồng. Thiên Di cung nguyên cục ngộ Sát Cô Hồng Đà Kiếp Bệnh. Một lá số nam mệnh đang làm chủ một doanh nghiệp lớn khi hội cách cục Mã Khốc Khách có Quyền Ấn trong tổ hợp Vũ Tham thành cách trùng phùng đại vận lưu về Tài cung gặp biến loạn bệnh ách. Thực tế phái Đông A khi xét khởi nghiệm lý rõ về tính khẩn yếu của Sát tỏa vận đồng khởi, từ vận làng, vận nước và vận thiên hạ có tính chất thấu triệt rõ ràng. Thí như quốc gia Ấn Độ khi đỉnh điểm dịch tới với khoảng 300 nghìn người mắc cũng như nạn diệt chủng tại Campuchia giai đoạn chiến loạn khiến khoảng 1/4 tầng lớp tri thức, tư sản của Campuchia tuyệt mệnh. Khi đó Khoa Quyền Lộc chỉ là cái áo bên ngoài, không thể vượt khỏi cương tỏa của Sát cục vận quốc gia. Khi xét tính chất của bệnh dịch covid-19 có điểm phát sinh là ngoài tính chất khu vực khi lây nhiễm xét nguyên cục hành vận sẽ chịu tác động lớn hơn. Thí như tại khu vực có khả năng lây nhiễm lớn, hành vận có Kỵ Hình Mã Kiếp hoặc Mã Khốc Khách hội Lưỡng Lộc trong thế đứng Cự Cơ Đồng hoặc Kình Mã Phượng khi hội vận Thiên Mã ứng cách phát sinh chuyển động phối hợp sao chủ Bệnh dễ gặp tình trạng bệnh tật khi di chuyển. 




Tại cách cục dịch chuyển ứng với tiếp xúc và truyền nhiễm bệnh. Qua khoảng 18 lá số nghiên cứu nghiệm lý mắc dịch bệnh có 10 lá số gặp cách cục chuyển động do Thiên Mã hội cách. Tuy nhiên khi nghiên cứu về mệnh lý nhập vận tử tuyệt số lượng chỉ 3 lá số. Trong đó 2 lá số hành vận có Thiên Mã hội Song Lộc trong thế Cự Cơ Đồng và Thiên Mã hội Quyền Ấn trong thế Vũ Tham. Hai lá số bất kiến Không Kiếp Kỵ Hình. Lá số thứ ba hành vận cách cục đắc cách may mắn Dương Lương cư Mão trong thế Âm Dương Lương có tính giao tiếp xã hội lớn. Tính khả  cứu của Dương Lương rất lớn khi hoàn chỉnh cách tuy nhiên do gốc Âm Dương Lương có tính xã giao, giao tiếp, Sát vận ứng vận làng tại vị trí địa lý sinh sống dẫn tới tai kiếp. Khi người viết đọc tin tức trên mạng, có trường hợp một gia đình có 9 người cùng mắc bệnh, trong 9 mệnh số này có người mệnh cách nhập hành vận bình hòa, bất hung, có thể có người đang lưu vận cát. Vấn đề nhiễm bệnh tại đây liên quan tới vận gia đình và tính chất của việc bệnh tật lây lan rất nhanh chóng khi tiếp xúc. Hạn bệnh tật liên quan tới sinh tử do nội thân tác động và do hoàn cảnh bên ngoài tác hóa. Có những nhân mệnh ăn uống không khoa học, uống nhiều rượu bia và hút thuốc tuy nhiên khi lão niên mới gặp vấn đề lớn tới sức khỏe. Tuy nhiên cũng rất nhiều nhân mệnh trong thế hệ thanh niên hoặc độ tuổi ban đầu của trung niên gặp ác bệnh trong cơ thể, các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, suy thận, xơ gan,...là những bệnh không thể chữa trị. Do vậy, thực tế trong nội cơ thể mỗi nhân mệnh phân định sai biệt. Kẻ gặp Tham ngộ Trường Sinh gia cát hay cách Đồng Lương đắc cách thường cơ thể sẽ có thể phòng chống được bệnh tật rất tốt. 




Một số nhân mệnh hạn tử tuyệt hiện trên diện tướng, tức tướng mạo đặc biệt tại vị trí ấn đường chủ Mệnh cung. Lại nhãn tướng biểu hiện. Suy xét khi nhân tướng tại tướng trạng hình tù pháp lý ứng hợp tính khả tín rất lớn. Tức diện tướng là nơi khí phát ra ngoài có thể dự đoán, huống tới nội khí trong luân chuyển tuần hoàn, khắc phá tương hợp có hữu tình hay không cũng phần dự đoán thời kỳ tiếp theo của nhân mệnh. Cách biểu thị nhân tướng để người đọc có thể thấu rõ hơn về toán mệnh tính dự đoán do sắc tướng là sắc, hiển lộ ra bên ngoài có thể dễ hình dung. Khi định vòng trường sinh khí hóa xét từ nguyên khí của tinh đẩu, sức cường vượng sai biệt. Như việc tướng quý, mệnh hỏa chủ vượng, tinh thần nhiệt huyết, thường cách cục dễ tạo nóng nảy dẫn tới tai họa. Khi hóa tú khí, nhân mệnh nhiệt huyết nghiêm chỉnh với lý tưởng đặt ra, tham cầu tới cùng. Xét đoán vòng Trường Sinh khí hóa, tức dẫn hóa của khí hình tinh đẩu có thể nhìn thấu triệt chủ khách khi định cách. Thí như một trường hợp, nam mệnh trong trường hợp chủ động thực hiện hành vi buôn bán chất cấm, khi bị bắt chịu xét xử hình pháp tử hình. Khởi của Mộc Dục tại đây, hay tham muốn của cách cục là lợi nhuận, tiền bạc. Bố cục liều lĩnh ắt thiếu Khoa, Xương Khúc trừ một số trường hợp rất đặc biệt có Văn tinh hội củng, tuy nhiên xét cách cục thường xảy ra nằm tại Hình Kỵ hội chiếu. Khởi vòng Trường Sinh, ý niệm là tài phú, phương cách hoạt hóa là quyết tâm ắt Sát Kỵ phải hội họp để định cách cục này. Trường hợp này, mệnh cách dẫn hóa là Chủ. Trường hợp một nam mệnh trong tình cảnh nợ nần áp lực rất lớn, phát khởi tham muốn kiếm tiền nhanh chóng để trả nợ vay lớn, mệnh cách dẫn nguyên cục là Khách. Khởi nguyên căn ban đầu thực hiện một hành động chính là khởi của một vòng Trường Sinh khí hóa. Khí hóa này cực vượng, có thể hóa toàn bộ thiên địa nhân, cơ định xung quanh phải theo nó. Khi nghiên cứu trên mạng thông tin, có bài báo người viết đọc được liên quan tới việc tác động của tâm thức khiến xoay chuyển về nhân duyên hoàn cảnh để thúc đẩy tham muốn của bản thân. "Khi mong muốn mãnh liệt sẽ khiến thế giới xung quanh hợp lực xoay quanh bản thân". Vòng trường sinh khí hóa của Đông A Phái xét nguyên khởi từ gốc nội tâm này. Thứ như xét định cách chế dụng của Sát cách cũng mang tính biến hóa từ nguyên căn trên. Vị trí Mộc Dục của tư tưởng có tính thiết yếu để định cách của vòng trường sinh khí hóa. 





Giai đoạn năm 2005, người viết có nhớ về một nữ mệnh với cách cục Vũ Phá Kình Kiếp. Trong thời điểm này, nữ mệnh lên thành phố Hà Nội và làm rất nhiều công việc nặng của nam giới để kiếm sống và chưa trị cho bệnh của mẹ nữ mệnh bị tai biến, cả dòng họ đều ở vùng nông nghiệp. Bản thân người viết có điều trị ở cùng nơi thời điểm này với mẹ của nữ mệnh. Bệnh tình mẫu thân trở nặng và có hỏi về cuộc đời của nữ mệnh sau này có được ổn định vui vẻ hay gặp nhiều sóng gió. Xét đoạn về nhân tướng, diện tướng lưỡng quyền cao, mắt nhạn, ngưu tỵ phối hợp. Khi xét luận về lá số, định cách cục Vũ Phá Kình Kiếp này, thành bại yếu tố chính do cách cục Phá Quân hội Kình Dương. Sau đó có hỏi nữ mệnh về dự định thành gia lập thất sớm tại quê nhà hay đi xa làm việc ? . Nữ mệnh đáp sẽ rời bản xứ tới đây để tạo lập sự nghiệp, trước lập thất sẽ tạo dựng tài sản và khi ổn định sẽ kết hôn. Xác định khí hóa của Vũ Phá Kình khi nhập hành vận này, phát sinh hai khuynh hướng do hành hóa vượng nhược biểu hiện khí ra bên ngoài sẽ phát sinh lựa chọn sai khác. Khi nghe bộc bạch của nữ mệnh, biết rõ nữ mệnh không nói lời phiếm. Sau khi người mẹ khuất núi, nữ mệnh tiếp tục ở lại lao động. Tới năm 2007 người viết được biết đã tạo lập một doanh nghiệp về chế biến vật liệu xây dựng, năm 2011 đã trở nên rất giàu có khi nhập vận VCD có Cự Nhật nội cách hội Lưỡng Lộc sau đó lập thân với một doanh nhân của Pháp. Khí hóa của Kình Dương hiện tướng ngưu tỵ thường khi hóa nguyên cục thành cát. Vũ Phá Kình tượng hóa nữ cường, thực tế bất kiến Hóa khí, với mệnh nữ vẫn có thể bạo phát lớn chỉ dụng cầu Không Kiếp thành cách. Khởi niệm của nữ mệnh rơi vào thời điểm biến cố loạn động của gia đình ứng với Tử Vũ Liêm hội Sát Phá Tham là cảnh bế tắc, Sát cách dẫn hóa cực vượng bởi khởi một niệm cương quyết, tạo dựng và phát triển tại đây. 

Sunday, October 27, 2019

Tứ hóa phi tinh luận

Phàm luận vận hành lấy tứ hóa do chính tinh hóa khí kết hợp hai vòng Lộc Tồn và Thái Tuế làm trọng. Chính tinh biến dịch qua mỗi thời điểm lưu niên tác động bởi hành khí của ngũ hành thay đổi về điều dụng. Trong đó Hóa Kỵ có tác động lớn nhất. Cơ Nguyệt Đồng Lương có ba tinh đẩu hóa thành Kỵ. Cự Nhật gồm hai, nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm chỉ gặp Liêm Trinh và Sát Phá Tham là Tham Lang. Phụ tinh gồm Xương Khúc. Hóa Kỵ là hóa khí mang ý nghĩa cản trở, hội hung sát là họa tới. Các cách cục như Kỵ Hình, Kỵ Kiếp, Kỵ Hỏa, Kỵ Đà hay Kỵ Kình đều tăng tính hung họa cho Sát tinh. Hóa Kỵ trong cách Cự Kỵ, Lộc Kỵ, Kỵ Triệt, thường mang ý nghĩa hung. Chỉ gặp một số trường hợp thành cách hoạch phát do phá thế bế tắc. Trong tứ hóa, Hóa Kỵ khi lưu vận theo Thiên Can rất cần chú trọng, đặc biệt khi Mệnh Thân Hạn đều gặp Kỵ hoặc thành cách Lưỡng Kỵ là hạn có xung đột, phá tán, bế tắc, nếu hội Không Kiếp, Lộc Mã đảo, Diêu Đà Kỵ là hạn liên quan tới tang tóc, họa tới. Thực tế thông thường khi gốc đại vận tốt đẹp, gặp tiểu vận trùng phùng Nguyệt Vận lưu Kỵ xâm phá hội hung sát cần lưu ý tới nhóm sao mang tính bất ngờ, phát sinh, tính động như Phi Liêm, Thiên Mã, Thiên Việt hội trùng phùng lưu phi tinh có họa tới, nếu có Không Kiếp hội họp là tai họa lớn, có thể là kiếp nạn lớn của nhân mệnh. Nguyên cục luận với hóa khí, tính chất khi lưu hóa của Hóa Lộc và Hóa Kỵ lớn hơn Khoa Quyền. Lưu Hóa Khoa có tính giải trừ lớn, tuy nhiên trong vận Sát Kỵ trùng phùng bất khả cứu, thường luận tòng Sát, tăng họa nạn. Khi luận Hóa Khoa rất chú trọng điều hậu cách cục, với bố cục Hình Kỵ, hóa Khoa khả giải, nhược bằng hội Kiếp Không Kỵ Hình tăng cường khuyết điểm, hung tai. Lưu Hóa Khoa tính chất khác Hóa Khoa, khi chỗ khuyết thiếu điều hậu, tương đồng Khôi Việt, là cách Sát trọng, thành cách thanh thế gia tăng, phá cách đa tai, nhập nơi hiểm tử. Khôi Việt bất thành cách, hội Linh Hình hoặc Hỏa Kình đều phá cách nặng, trùng phùng Kiếp Không ắt là hạn kiếp số. 





Hóa Khoa khi luận cần cẩn trọng do thường xét luận " Đệ nhất giải thần", chế hóa được Hóa Kỵ và Thiên Hình thành cách cục mang ý nghĩa cẩn trọng, tránh tai họa và cản trở của Hóa Kỵ, tuy nhiên khi Không Kiếp hội họp cách cục biến hóa phản vi hung. Khi luận lưu vận, Chính Tinh và tứ trợ tinh biến hóa phức tạp, Can Chi của hành vận khiến cách cục trở nên chuyển động rõ nét của toàn bộ lá số. Lấy Chính Tinh và cách cục thủ mệnh làm gốc để luận định. Thí như đương số mệnh tạo Cự Môn độc tọa hay cách Cự Nhật, Cự Cơ, Cự Đồng đồng độ hội Kình Hao, Đà Hao là tốt. Trong trường hợp hội Kình Đà, bố cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh hội Lộc Tồn hình thành cách cục bất mãn, khó có thể thay đổi thành tựu trong hành vận này. Trường hợp đại vận tại cách Sát Phá Tham hội Lộc Tướng Ấn tại Dần Ngọ Tuất. Tiểu vận năm Kỷ Hợi tức Lộc Tướng Ấn bản cách hội Lộc Tướng Ấn do can Kỷ hóa với Lộc Tồn tại Ngọ cung là cách cục bất mãn trong nội tâm do khó có thể phá bỏ, thay đổi hoàn cảnh khó khăn thực tại. Lại nguyệt hạn Giáp Tuất tức tháng 8 hiện tại ắt sẽ phá sinh bất mãn, cách Cự Kình thuộc Mệnh ưa thay đổi, ngay cả cách Cự Cơ hội Song Hao tới giai đoạn này cũng sẽ rất khó khăn, bế tắc trong tư tưởng. Lại hội Không Kiếp hoặc Tham Hỏa ắt mang họa phá sản, tiêu tán, do Cự Môn kỵ tới vận Lộc Tồn lại niên nguyệt hạn có Lưu Lộc Tồn tại can Kỷ cư Ngọ và can Giáp cư Dần là cách cục bại cách. Lộc Tồn gặp Lưu Lộc Tồn tính chất hiển hiện, khi cường vượng đắc cách ắt đại phúc, cách cục phá cách chủ bại. Trong tháng này đương số tạo tác, tham vọng giàu có do đại vận Tham Hỏa Triệt Đào, tiểu vận bất luận ở các cung độ, khi lưu Lộc Tồn tại niên nguyệt hạn về Dần Ngọ Tuất gặp Sát Phá Tham là thế bế tắc, ứng hợp câu phú " Lộc phùng xung Phá, cát dã tàng hung" cách. Trường hợp lưu Kỵ hoặc Hóa Kỵ nguyên cục tại đây ắt sẽ phá sản. Mệnh Thân Hạn là thể thống nhất, dịch chuyển theo Lục Thập Hoa Giáp với các Can Chi dẫn tới hóa khí sai biệt, tác động tới từng giai đoạn cuộc đời của đương số. Do vậy tiền nhân thường luận " Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Vận hảo". 





Hành vận hợp hóa của cả đại vận, tiểu vận và nguyệt vận. Lưu Hóa Kỵ trùng phùng tại đại tiểu vận, hội Sát Kỵ trùng phùng của nguyên cục là vận khó có thể thành tựu. Cách cục Lưỡng Lộc dụng để luận Tài cách cục nhân mệnh. Cách cục Vũ Phủ đồng độ nhập vận là Tài vận, hội Song Lộc. Mệnh tạo sinh năm Giáp với Lộc Tồn cư Dần, bất luận mệnh cách tọa vị trí, hành vận tới Vũ Phủ cư Ngọ nhập vận ắt hội Song Lộc. Tiểu vận năm Giáp, Kỷ, nguyệt vận tháng Giáp Kỷ lộc trùng điệp, Tài cách cực vượng ắt phát tài, hanh thông, lại như năm Giáp Thìn hoặc Giáp Thân, Giáp Tí thành cách Lộc Mã giao trì, Tài càng thêm vượng. Hoặc nhân mệnh sinh năm Kỷ, gặp tinh hệ Vũ Phủ cư Tí. Can Kỷ với Vũ Khúc hóa Lộc, có Lộc Tồn xung chiếu. Tại nội cách hội Khôi Việt tại Thân Tí, đại tiểu vận trùng phùng tại đây, tiểu vận năm Canh, Kỷ phát tài, lại năm Canh Tuất hội Lộc Mã bội Ấn cách cục càng vượng, Tài phát rất mạnh. Tiền nhân luận tinh hệ Tử Tướng thường định bố cục Tài cách khi thành cách nguyên do hình thành hai cách cục Cự Cơ Mão Dậu và Vũ Phủ Tí Ngọ là hai cách cục chủ ý nghĩa tài sản lớn. Lưu Hóa Quyền khi hóa khí có tác động giải Kỵ Hình, có thể dụng Không Kiếp hoạch phát. Tuy nhiên tác động không mạnh tới nguyên cục, trừ trường hợp tại bản cung hành vận. Hóa Quyền lưu cần gặp thêm các tinh đẩu phát sinh hoặc tăng thêm giá trị cho cách cục. Có thuyết luận tứ hóa khí là cực hóa tượng của ngũ hành qua bốn giai đoạn gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đây là quan điểm khá hay khi luận Hóa Lộc ứng Xuân, Hóa Quyền ứng Hạ, Hóa Khoa ứng Thu và Hóa Kỵ ứng Đông. Việc luận ngũ hành ứng hợp là bản nguyên khí hóa của các tinh đẩu hay hóa khí, tuy nhiên cần cẩn trọng tránh việc định cách khuyết thiếu với tinh đẩu. Với Lộc Tồn là vị trí Lâm Quan của vòng Trường Sinh theo Thiên Can, luận ngũ hành Thổ có phần khiên cưỡng, tính chất chủ tích lũy, tồn tại do giai đoạn Lâm Quan tiến khí của ngũ hành, tính tích lũy này không chỉ chứa tính ổn trọng tích lũy của ngũ hành Thổ, còn chứa tính đa năng, cường vượng, chủ động của vị trí Lâm Quan khi định cách. 




Khi luận cách cục đắc vòng Lộc Tồn sẽ tiến khí cho các hóa khí, lưu Hóa Khí tới cung độ Lộc Tồn tăng mạnh tính chất. Trong nhiều giai đoạn, nhiều nhân mệnh người viết về vận phát tài. Nhìn vào Lộc Tồn và Hóa Lộc trong cách cục Lộc trùng điệp lưu tới là tiền tài thuộc thiên lộc hay dịch lộc. Tài sản do bạo phát cách khởi từ nhân mệnh dụng Tài hình thành khi bản cách cục cần gặp cách cục Tài vượng cố định, hoặc quan sinh lộc hậu. Kế tới hành vận lưu tới Tài cách là bố cục phát lâu dài. Tiền tài có thể nhìn từ điền sản, tài sản lưu động, hoặc ám tài. Trong đó cách cục quan sinh tài là cách cục Tài Quan lưỡng vượng đứng đầu. Ám tài là thứ cách. Ám tài cách do Sát cách thành lập khả năng hoạch phát lớn, nhanh chóng do ứng hợp. Đặc biệt cách cục Đồng Lương hội Không Kiếp Song Lộc là bố cục thường thấy đắc trưng cho cách cục này do tính nhanh nhạy của Không Kiếp, cường vượng của Lộc Tồn. Tính chất của Lộc Tồn khác biệt với Hóa Lộc. Lộc Tồn là tích tụ, cường vượng, bản chất của Thiên Can tới địa bàn của lá số. Hóa Lộc là khởi lộc, phát triển khởi từ nguyên căn của Chính Tinh, mang tính chất của Chính Tinh. Tính chất của Lộc Tồn khởi từ Thiên Can bao gồm cả cách cục Lộc Tướng Ấn Bệnh, có tính chất tác động hiển lộ mạnh hơn Hóa Lộc. Khi Song Lộc hình thành không gặp phá cách tượng bố cục sinh khí cực vượng. Hội Thiên Mã tài động, là cách cục đứng đầu về Tài cách do tính chất luân chuyển thu được lợi lộc. Lộc là thăng tiến, phát triển, nghịch với suy bại. Trái với bố cục tài động của Cự Cơ ngộ Song Hao hoạch phát do thời vận, là thời cơ lớn đắc tài do khai thông thế bế tắc của Cự Cơ Đồng, Vũ Phủ hội Lộc Tồn hình thành tại ba can Đinh Kỷ Quý, Song Hao cư Mão Dậu ắt Lộc Tồn cư Tí Ngọ. Trong các cách cục Tam Kỳ gia hội, bố cục tại can Giáp kém hay hơn cả. "Thiên Đồng cư Tuất địa, Đinh nhân phản vi kỳ cách". 





Cách cục Thiên Đồng cư Tuất, đối cung có Cự Môn hóa thành Kỵ, nội cách hội Tam Hóa với Âm Đồng Cơ. Kích phát từ bất mãn bên ngoài, Sát cục hình thành, Cơ Nguyệt Đồng Lương hóa thành quyết chí vượt hơn người. Giáp Khôi Việt tại Dậu Hợi. Tại đây hay do gặp Lộc Tồn cư Ngọ hội tăng cường bố cục Tam Hóa, do vậy luận phản vi kỳ cách. Nếu Thiên Đồng cư Thìn không luận vậy. Cách cục Đồng Âm cư Ngọ gặp Âm Dương ở vị trí không mấy hay, cũng hội Tam Hóa Lộc Tồn tuy nhiên không bằng. Trường hợp cư Tí tuy ngộ Phi Liêm, có Lộc Tồn chiếu khá tốt. " Đồng Âm đồng cư Tí, tuổi Bính Đinh phú quý trung lương". Can Giáp chỉ gặp Tam Kỳ gia hội khi Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành cách cục xung đột, mâu thuẫn trong nội cách. Thực tế tại đây Khoa Quyền Lộc do Liêm Phá Vũ hóa thêm Khôi Việt cư Sửu Mùi tuy nhiên khó có thể thành tựu lớn như cách cục trên. Khi nghiệm lý, mệnh tạo cách cục này nếu xuất ngoại có thể hanh thông. Khi luận tứ hóa hay bố cục Sát cách, nếu lưu trùng Tứ Hóa tại niên và nguyệt vận tới cách cục sẽ tạo tác động rất lớn, cần chú ý tới Lưu Kỵ. Cách cục Kiếp Hỏa Việt tại bản cung đại vận hoặc tiểu vận khi lưu Hóa Kỵ nhập cung trùng phùng thiên can của tiểu vận và nguyệt vận ắt kích phát Việt Hỏa dẫn tới tai họa sẽ đến nhanh chóng, có Thiên Mã là tai nạn xe cộ, có Cơ Kiếp Hỏa là hỏa tai, có thêm Phi Linh Hình là vật kim khí hoặc điện sét tới người, trong đó cách Khôi Việt Linh Hình Kiếp Không nhập vận, có Lưu Kỵ và Phục Binh nhập cung, nguyệt hạn lưu tới bố cục này chắc chắn sẽ trúng họa tới thân thể. 

Sunday, August 5, 2018

Hình pháp cách cục của Cự Liêm



Sao Liêm Trinh có đặc điểm tư tưởng bản tính mạnh về phân biệt phải trái, đạo đức, thanh danh, được luận hình tinh, có tính chất âm hỏa do Tử Vũ Liêm chủ bí mật. Khi giao hội Tử Vũ Liêm với Sát Phá Tham. Hình tượng cơ bản khuôn mặt dài, xương cằm nhô. Tùy theo vị trí độc tọa và bàng tinh giao hội định cách. Một số trường hợp khi giao hội Hình Sát diện tướng thuộc khuôn mặt lưỡi cày. Liêm Trinh có tính chất Sát, do âm hỏa hóa thành. Liêm Trinh đứng với Thất Sát là cũng có thể luận cách Hung Tú Càn Nguyên do tính chất phối hợp của Hình Tinh và Sát Tinh. Liêm Trinh nhập mệnh có tính chất chuyên quyền, cũng không phải mệnh cách hiền hòa, hàm chứa sức phản kháng lớn. Hai cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm giao hội Phủ Tướng hình thành bố cục mang ý nghĩa khác nhau. Liêm Trinh hóa cục thành hai khuynh hướng cơ bản nóng nảy và thâm trầm. Mệnh cách Liêm Trinh ổn định nếu trong bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh cát hóa đa phần sinh trưởng có phần ổn định lớn, cuộc sống ít thăng trầm hơn cách cục xung đột với Sát Phá Tham. Nếu Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, sao này bắt đầu tác hóa với Sát cục. Mệnh cách cục này đắc thành tựu đa phần do trợ tín chế hóa cách cục Liêm hội Hình Sát. Liêm Trinh đắc khí hình vượng mệnh cách có khuynh hướng theo hệ thống chính quyền, đặc biệt hình pháp. Như hình tướng, nếu mệnh cách Liêm Trinh hội Hình Sát ứng hợp võ cách, tướng mạo lưỡi liềm cách cục này Liêm chủ thâm trầm, sắc bén, có khả năng dò xét, phán xét rất tốt, cũng có tính âm thầm làm việc, giữ bí mật thân phận bản thân. Nếu mệnh tạo có sắc tướng không ứng Sát hình khắc, thiên lệch chủ bố cục này thường mệnh Liêm Trinh trong cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm cát hóa bởi trợ tinh, Sát Kỵ bất kiến. Với Liêm Trinh nữ mệnh trong bố cục này khó thành cách ổn định nếu không giao hội tam hóa, Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc.  




Khi luận phú về cách cục của Liêm Trinh. Liêm dụng võ cách, chế hóa Sát hình thành cách cục liên quan tới hình pháp, chủ dương tính mạnh, ưa thực hiện ký tưởng giữ công bằng, thực hiện công lý. Có một số câu phú trích dẫn sai hoặc bình giải sai với sao này. Người luận tử vi khi nghiệm lý phân biệt các lá số chính tinh độc tọa nhìn được điểm chung của mệnh cách có chính tinh thủ mệnh. Nếu nghiên cứu kinh sách chính yếu thì không gặp sai lầm với các câu phú. Như câu phú thường được dụng với các trường hợp Liên Trinh đồng độ Bạch Hổ sau. " Liêm Trinh Bạch Hổ hình ngục nan đào". Cách cục này xét tới khi Liêm Trinh đồng độ Bạch Hổ. Tức giao hội với nhóm Tuế Hổ Phù. Với Liêm Hổ mang ý nghĩa mạnh về dương tính, hình họa. Sao Bạch Hổ kỵ đồng độ với Sát Tinh như Thất Sát hình thành cách cục Sát Hổ tai ương. Sao Liêm Trinh do hung tính gặp Bạch Hổ trở nên bộc lộ mạnh ra bên ngoài mạnh. Liêm chủ suy xét, điều tra, cũng chủ thanh danh, liêm chính hay bất liêm chính. Do đó cách Liêm Hổ nếu mệnh cách theo hình pháp, hay liên quan tới chính trị. Trong tính chất cơ bản của Liêm Trinh, không phù hợp với Bạch Hổ do nhóm Tử Vũ Liêm ưa ẩn. Cách cục mệnh Liêm thường thành tựu do tính thâm trầm. Tuy nhiên cách cục Liêm Trinh ngộ Bạch Hổ nếu không trong bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thì mang ý nghĩa tốt. Trong cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm giao hội Tuế Hổ Phù là đường lối rõ ràng, với Liêm chủ phân định đạo đức, hình pháp cho lý tưởng của toàn cục. Với bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham có Tuế Hổ Phù mệnh tạo Liêm Hổ đều trong cục diện khó khăn do xung đột giữa hai lý tưởng, có tính tranh đoạt và Sát Tinh lớn do Vũ Sát của hai nhóm sao tạo ra. Do đó Bạch Hổ đồng độ Liêm Trinh tại đây không mấy hay. Tuy nhiên xét cách cục xấu cần gặp thêm Hình Ky, Tồn Kiếp mới có thể định họa hay đại họa. 




Liêm Trinh tối kỵ hóa Đào Hoa cách thì luận mệnh phá cách, khó thành tựu lớn với nam mệnh, do xung đột trong chính nội cách và khuynh hướng ứng hợp của mệnh tạo khi Sát cần hóa Quyền do tham vọng. Do đó cách cục Liêm Tham hay Liêm Khúc Xương, hoặc Liêm Đào Hồng mang ý nghĩa không mấy hay. Trường hợp giao hội Xương Khúc cần xét thêm. Với cách cục Liêm Tướng khuynh hướng mạnh tính tương trợ, võ cách. Liêm Phủ mạnh tính dò xét, phán xét tuy giao hội nhóm sao tình cảm nhưng mang ý nghĩ khá tốt. Nếu có kiến thức cơ bản do chính thư và nghiệm lý rõ thì người nghiên cứu đa phần có thể xét được bản tính, hình tướng ứng hợp chính tinh nếu được thông tin sự kiện cuộc đời. Khi truyền tử vi ra ngoài. Một số người nghiên cứu chưa tinh đã giải thuyết về thời gian bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông ứng hợp các biến chuyển của trời đất tới toán mệnh tức xét tứ trụ. Như mệnh sinh các mùa phân biệt, lại giờ phân biệt nên bản tính dự đoán phân biệt. Lại luận nơi không có đủ tứ mùa mệnh các toán mệnh bất ứng hợp do các mùa do ngũ hành định cách thành Thập Lục Hoa Giáp. Thực tế bản tính ở tất cả nơi đều xuất hiện tương tự, không phân biệt do vị trí hay khí hậu có đủ Xuân Hạ Thu Đông. Khí hậu tức mùa là dụng thể của ngũ hành theo quy luật. Toán mệnh lý dùng tứ trụ xét theo ngũ hành bất xét theo khí hậu do đều là thể dụng của thuyết âm dương ngũ hành. Không có tính phụ thuộc lớn. Không thể xét hai cành cây khác nhau trong cùng một gốc, khi tra xét quy luật phải từ thân cây tới cành cây. Liêm Trinh mạnh về chính trị do khả năng nắm thông tin, điều ra, xác định. 




Cự Môn mạnh về nghiên cứu, tác động do bất mãn, phản đối, khám phá tạo ra. Mệnh cách của công tố viên đặc biệt Robert Mueller từng là giám đốc điều tra Liên Bang của Mỹ ứng hợp với Liêm thủ mệnh. Cự Môn dùng miệng, Liêm Trinh điều tra, dò xét, cũng do âm ám khi hóa Sát thành âm quyền tức quyền ngầm, bất hiển lộ. Với Liêm Trinh tốt ta lấy được thông tin của đối phương do âm thầm điều tra, thu thập. Với Cự Môn với khẩu ngôn với hình pháp. Mệnh cách của công tố viên Mueller sát hóa tính chất cơ bản Liêm. Hóa Liêm Trinh thành võ cách. Ứng hợp hoàn cảnh theo binh nghiệp. Mệnh tạo tham gia quân dịch và phát triển mạnh trong quân đội, thực chiến tại Việt Nam. Khi Sát hóa Liêm Trinh khí hình tăng vượng, hoặc tuyệt khí do Sát tác họa. Liêm Trinh ứng hình pháp chỉ khi giao hội Sát Hình. Liêm Trinh và Cự Môn là hai sao mạnh về hình pháp. Mệnh tạo đắc cách thường học luật, ưa nghiên cứu chính trị. Với Cự Môn khi xấu là tai họa do can gián, miệng lưỡi. Với Liêm Trinh khi xấu do hậu quả của lòng tham, đánh mất thanh danh do phạm hình pháp. Liêm Trinh và Cự Môn nhập mệnh đều có dương tính mạnh. Cổ nhân luận Liêm Trinh tốt hơn Cự Môn do tính Ám của Cự mang ý nghĩa phản đối, chủ bất mãn. Tính Ám của Liêm Trinh mang ý nghĩa điều tra, theo dõi, nắm bắt. Hai sao đều có tài năng lớn. Tuy nhiên Cự Môn dễ hoạch phát, Liêm Trinh được bền vững. Cự Môn thường chủ động tấn công, mang ý nghĩa của Kình tạo thị phi tới thanh danh đối phương khi tranh đấu. Liêm Trinh thường âm thầm, mang ý nghĩa của Đà La, điều tra, tìm sai phạm của đối phương khi tranh đấu. Cự Môn có đồng minh là Phá Quân chủ đa mưu, giỏi ứng biến, khám phá, lợi ích. Liêm Trinh có đồng minh là Thiên Lương chủ chuẩn mực xã hội, đạo đức, lương tính. Trong chính trị hai sao Phá Quân và Thiên Lương đều rất mạnh. Khi uy tín và đạo đức chuẩn mực rất quan trọng do hệ thống chính trị đứng đầu pháp luật. Phá Quân thường thắng thế Thiên Lương. 




Điểm tựa của Liêm Trinh nhập Sát cách là thanh danh và pháp luật. Mệnh Liêm Sát ngộ Hình Ấn hội trợ tinh đắc cách chấp chưởng quyền hành pháp. Nữ mệnh Liêm Trinh đắc cách chủ tư chất đoan chính, không ưa tà vạy. Liêm Trinh nắm giữ nhiều bí mật, do đó tính thâm trầm do ứng hóa khiến Liêm tránh được tai họa so với sao Cự Môn thường bị cổ nhân luận xấu do tính thị phi. Liêm Trinh khi bất hợp cách thuộc bố cục thâm hiểm, do sao Tử Vi đường lối sai lầm. Trong các hệ tư tưởng luôn có đối lập lẫn nhau, mâu thuẫn lẫn nhau. Liêm Trinh rất đắc lực với Tử Vi. Khi đắc cách là thanh danh viễn bá. Khi phá cách hay nhập vận xấu thường gặp họa về bệnh tật, tai tiếng, hình tù với mệnh cách Liêm theo hình pháp. Bản tính của mỗi người ở mọi địa vị đều có thể phân thành các tính cách chính, đặc trưng. Mệnh Cự Môn khẩu ngữ làm trọng. Mệnh Phá Quân tính khai phá, đột biến làm trọng. Mệnh Thiên Cơ lấy lợi làm trọng. Trong chính trị, khi có kinh nghiệm nhìn người thì có thể phân lập tính cách khi tiếp xúc. Trong thương nghiệp cũng vậy. Mỗi tính cách riêng biệt có những ưu khuyết điểm riêng. Người đứng đầu đất nước với tư tưởng, tính cách có tác động quan trọng tới vận nước. Trong tổ chức cũng vậy. Cũng có thể xác định lá số tử vi khi rõ chính tinh thủ mệnh và sự kiện quá khứ khi có trụ ngày. Trung Quốc nhiều người rất uyên thâm trong toán mệnh, thường dụng cả nhân tướng để rõ hơn về đối tác hoặc đối thủ. Như tướng mệnh Thiên Cơ nếu sinh năm Mậu thì Hóa Kỵ tác động mạnh tới tính cách. Thường xuất hiện kỳ tài khả năng mưu tính sâu xa, đắc lực nếu ứng hợp bên ngoài. Nếu tướng mệnh Cự Môn sinh năm Đinh hóa Kỵ, dù mệnh tốt đẹp cũng sẽ có họa thị phi do miệng lưỡi. 



Monday, February 26, 2018

Năm Mậu Tuất với một số cách cục tử vi



Bố cục năm Mậu Tuất bởi thiên can Mậu và địa chi năm Tuất hợp thành. Với bố cục tiểu vận Mậu, cách cục Tứ Hóa theo thứ tự Lộc Quyền Khoa Kỵ bởi Tham Nguyệt Bật Cơ. Với sao Tham Lang hóa thành Lộc, bố cục Sát Phá Tham mang ý nghĩa tốt đẹp do Sát hóa thành tài. Sao Tham Lang chủ nguyện vọng, tham vọng và hướng đi của mệnh cách. Tham hóa thành Lộc tạo ra được lợi ích, lợi lộc do tham muốn. Tham Lang cũng chủ che dấu, âm thầm. Sao Tham Lang hóa Lộc rất tốt khi Sát Phá Tham giao hội Sát Kỵ. Ở đây là cách cũ hoạch phát về tiền tài, đặc biệt là khi có Hỏa Tinh. Cần rõ, với Hóa Lộc ý nghĩa cơ bản không là tiền bạc, mà là lợi lộc mang lại, biến hóa khác nhau khi giao hội phối hợp. Khi luận tử vi cần rõ ya nghĩa cơ bản của tiền bạc và vật giá trị, có tính tích lũy quý giá và trao đổi khi luận sâu. Khi Hóa Lộc giao hội đặc biệt đồng độ với Lộc Tồn ý nghĩa là tiền của, vàng bạc. Khi Hóa Lộc giao hội bố cục phát danh là lợi ích về danh thu về. Do đó cách chỉ tiền bạc hay là cách cục Song Lộc. Tham Lang ở đây nếu gặp Lộc Tồn chính là hình thành bố cục cát hung tương bán. Do Lộc Tồn có sự xung đột với Sát Phá. Nhóm Sát Phá Tham ưa thay đổi, lấy phá bỏ để thành tựu. Trong khi đó Lộc Tồn chủ bền vững, ổn định để phát triển. Bố cục này giao hội xung đột, khó thành cách cục. Với Song Lộc ngộ Sát Phá Tham có phần tốt hơn, đặc biệt trong trường hợp Sát Phá Tham độc tọa không giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm. Với tài cách thì Song Lộc ở đây nếu giao hội Tang Hư Mã biến hóa hợp cách, chủ hình thành bộ Lộc Mã giao trì ngộ Tham. 



Thực chất nhóm Tang Hư Mã hai sao Tang Môn hợp cách Lộc và Thiên Mã hợp với Lộc. Tang Môn chủ sụ cất giữ, cũn là cách tài không lộ, trong tối nên tài cách thực vượng. Như việc buôn bán nếu như bên ngoài thấy lợi của bản thân, một đồng lãi ba lộ ra bên ngoài rõ, hay những bí mật kinh doanh lộ thì tài suy. Cách cục Tang Hư Mã có tính che dấu, xã giao, thực hai sao Tang Môn và Thiên Mã đều hợp với Lộc nên thành cách. Do đó giao hội với Lộc Tồn và Hóa Lộc có dị biệt. Hoạch phát hoàn toàn khác nhau. Trong trường hợp này Lộc Mã giao trì hay hơn là Hóa Lộc giao hội Thiên Mã có Phượng Khốc. Với nhóm Tuế Hổ Phù ưa gặp Lộc Tồn chủ sự minh bạch bên ngoài, bố cục này tài cách không vượng như cách Lộc Mã giao trì. Tuy nhiên ở đây được bền vững và cả tài lẫn danh. Với Thái Âm hóa Quyền. Sao Thái Âm hóa thành Quyền hợp cách, chủ có khả năng dụng Sát, tuy nhiên hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương tính chất ưa ổn định, bình ổn. Với Thái Âm hóa thành Quyền có thể dụng được Kỵ Hình. Với năm Mậu Tuất, hóa khí của Hóa Khoa do Hữu Bật hóa thành. Cách Khoa Bật có tính chất cát hóa rất lớn, tác động mạnh với cả Lục Sát và Kỵ Hình. Cách cục Khoa Bật là bố cục tốt trong các hóa khí của Khoa, chủ sự trợ giúp, mang tính chất hóa Sát thành Quyền cách. Bộ Khôi Việt an tại cung độ Mùi Sửu. Nhóm Khôi Việt chủ quý, phát sinh, cần thiết tăng tính quan trọng của bố cục thành tựu. Khôi Việt chủ khác thường, tức vượt trội nếu giao hội với mệnh. Năm Mậu Tuất với nhóm Tuế Hổ Phù tại Dần Ngọ Tuất và Tang Hư Mã tại Thân Tí Thìn. 




Hai nhóm sao an theo Địa Chi này ứng hợp với tính chất cơ bản của tính cách. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã đều ưa gặp Phượng Khốc, hình thành hai cách cục tốt là Tứ Linh và Mã Khốc Khách đều có thể thành tựu. Với vòng Lộc Tồn an tại cung Tị. Do đó nhóm Tị Dậu Sửu ứng hợp Lộc Tướng Ấn. Nhóm Hợi Mão Mùi ứng với Thanh Phi Phục. Nhóm Dần Ngọ Tuất ứng với Kình Hao và nhóm Thân Tí Thìn ứng Đà Hao. Do đó ở các tam hợp hình thành các cách cục đặc trưng. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Kình Tuế là cách cục tốt, đặc biệt là Kình Đại Tuế có Phượng Khốc là mệnh đứng quan trọng. Với tam hợp Thân Tí Thìn hình thành cách Đà Tang tính ám khá lớn, bố cục này do nhập cung độ La Võng, ở vị trí Thiên La nên cách cục này có phần bất lợi, chủ khó khăn phải chống chịu, cũng chủ dễ gặp sai lầm do nghe theo. Với tam hợp Tị Dậu Sửu hình thành cách Lộc Tướng Ấn ngộ Hồng Việt là cách cục khá hay với nhóm chính tinh ưa ổn định. Tuy nhiên tại đây Tử Vũ Liêm, Sát Phá Tham và Cự Môn đều không hoàn chỉnh, bất hợp cách. Ở vị trí này ưa gặp Thiên Hình thành cách Hình Ấn chủ ấn quyền. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Đào Khôi giao hội Thanh Phi Phục, bố cục này có tính chất tình cảm nặng, chủ đào hoa cách. Ở đây kỵ gặp Âm Dương Lương và Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm ngộ Sát, tính biến động lớn, bất ổn cách. 




Bố cục trên cố định giao hội với bố cục Chính Tinh là cách cục cơ bản, thứ tới Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình để luận cát hung sát cách. Với bố cục Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham mâu thuẫn, khó khăn khi xung đột tức tại cung độ Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu. Tại đây với biệt cách này tạo nên nhóm cách cục riêng biệt trong tử vi. Bố cục này khó đắc cách, tuy nhiên sức cát hóa khi được chế hóa rất lớn. Ở cách cục Cự Môn không hoàn chỉnh giao hội xung đột với Cơ Nguyệt Đồng Lương tại đây cũng vậy. Với cách cục Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm tại đây, cần thiết có nhóm Kình Hao hay Đà Hao, thứ tới nhóm Thanh Phi Phục, với nhóm Lộc Tướng Ấn là cách cục Quyền cách nhưng khó phối hợp thành cách. Trường hợp này Hỏa Tinh rất cần thiết cho nhóm sao này. Với tuổi Mậu nếu đắc Khoa Bật ngộ Hỏa Hình là cách cục hay khi Sát Phá Tham giao hội Tử Vũ Liêm. Với cách cục Cự Cơ Đồng bố cục này ưa gặp Không Kiếp, kỵ gặp Hỏa Linh là cách xấu. Tùy từng bố cục luận phối hợp khác nhau. Bố cục Kình Đà tại đây với cách Kình cư Ngọ giao hội Tuế Hổ Phù không có Phượng Khốc nên không mấy tốt, cách Kình Tuế chủ cạnh tranh công khai, không được hưởng ứng, ngưỡng mộ. Trái lại Đà La nhập cung Thìn hình thành cách Lưỡng La có Hư Phá hại bản cung, giao hội nhóm Phượng Khốc và Tang Hư Mã mang ý nghĩa cát hung tương bán. Ở đây cách Đà Tang Khốc có tính chất thù oán, oan khuất. Cách cục Kình Tuế có phần tốt hơn. Với Cự Môn không Hóa Quyền mang ý nghĩa xấu. Với cách cục Khoa Bật khả giải. Khi luận tiểu vận các nhóm sao chính tác động lên lá số biến đổi bố cục, quan trọng cần rõ ý nghĩa của bố cục chính tinh, với lưu sao theo Can Chi năm tác động tới như một chuỗi hạt, nếu tác động tới đại vận thì biến đổi toàn cục, luận tiểu vận thay đổi. 

Sunday, June 11, 2017

Tuổi nào dễ được Tam Hóa trong tử vi?.



Tuổi nào dễ được Tam Hóa trong tử vi?


Bộ ba sao Khoa Quyền Lộc được an theo Thiên Can tức hàm chứa những tính chất biến hóa của Ngũ Hành thành quý, trong khi đó hung sát tinh là những biến hóa mang tính cường sát của ngũ hành mà thành. Tam Hóa gồm Khoa Quyền Lộc là những hóa khí có tác dụng thay đổi hoàn toàn bố cục của các sao. Ngay lưu của phi tinh hóa khí này tác dụng hiển hiện ngay tức uy lực của bộ Tam Hóa rất lớn ngang ngửa với bộ Lục Sát Tinh. Trong Lục Sát Tinh là hai nửa của biến hóa cực đoan ngũ hành phân thành âm dương nên có 6 sao chia làm 3 cặp, cặp Không Kiếp có sức tác họa lớn nhất vì là cặp Hỏa đới Kim tức hàm chứa tính Sát, cũng chứa tính Không của Không Vong. Ở bộ Tam Hóa sao Hóa Khoa có tính giải họa, tức dụng được các cách cục xấu lớn nhất, mang tính điều chỉnh, sửa chữa. Mệnh có bộ Tam Hóa thường không ngại Tứ Sát trừ bộ Không Kiếp có thể tốt hoặc xấu tuy nhiên với Kình Đà Hỏa Linh gặp Tam Hóa tăng sức sát phạt, thành tựu cho cách cục. Bộ Kình Đà ưa được Hóa Quyền, bộ Hỏa Linh ưa được Hóa Lộc. Hóa Khoa có tác dụng tốt với cả tứ sát Kình Đà Hỏa Linh. Mệnh dù chính tinh hãm địa tức cách cục tổ hợp chính tinh xấu gặp được Tam Hóa cũng là cách nổi danh. Mệnh có Tam Hóa cũng phân thành cách cục thượng cách, trung cách và hạ cách tức do các bàng tinh tác  động tới bộ sao này. Bộ Tam Hóa luôn có ở tuổi Giáp tức Liêm Phá Vũ Dương khi bộ Tử Vũ Liêm giao hội với Sát Phá Tham, khi mệnh ở 6 cung Tị Dậu Sửu Hợi Mão Mùi gặp các sao Tử Vũ Liêm Sát Phá Tham luôn được đầy đủ bộ Tam Hóa. Đây là hình ảnh một người luôn gặp khó khăn để tiến bộ hơn, cách cục này có tính hoạch phát rất lớn, đặc biệt khi mệnh ở hai sao Tử Vi và Phá Quân. Bộ Tam Hóa ở đây tức tuổi Giáp có thể gặp Khôi Việt do bộ sao này ở cung Mùi Sửu, không thể gặp Tuế Hổ Phù và Tang Hư Khách, Phượng Khốc vì là Thiên Can dương. Mệnh tạo có Tam Hóa giao hội với nhóm Đào Hồng Hỉ Cô Quả Kiếp Sát.


Với tuổi Giáp có Lộc Tồn cư Dần vì vậy ở mệnh tạo chỉ có thể gặp bộ Kình Hao hoặc Đà Hao hợp cách. Đặc biệt nếu có Kình Đại tăng giá trị cho cách cục cũng như lý tưởng của bản thân. Ngược lại gặp Đà Hao có khả năng kiên trì theo đuổi mục tiêu, cũng không ngại với Hỏa Tinh. Kình Dương kỵ với Hỏa Tinh và Đà La kỵ với Linh Tinh. Với tuổi Giáp có cách Kình Dương cư Mão thường được luận phi yểu chiết hình thương tuy nhiên đi với Tam Hóa mang ý nghĩa khá tốt, giỏi việc tranh đoạt công danh sự nghiệp, có Hóa Khoa khiến mâu thuẫn giảm. Nhìn chung với bố cục tuổi Giáp không có Khôi Việt là hai cát tinh mạnh nên cần thiết có Khôi Việt, đặc biệt là Kình Khôi Đại Khoa khiến mệnh tạo với lý tưởng cao viễn và khả năng thành tựu lớn. Đặc biệt ở đây cần tránh gặp Hỏa Linh nếu mệnh không có Tham Lang vì bộ Hỏa Linh kỵ gặp Kình Đà Khôi Việt hình thành các cách xấu, chủ sự quá mức dẫn tới tai họa bộc phát. Cần thiết được Xương Khúc Tả Hữu Thai Tọa Quang Quý . Với tuổi Đinh khi đầy đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương tức ở các cung Dần Ngọ Tuất Thân Tí Thìn có các sao này. Tam Hóa của tuổi Đinh an theo thứ tự Nguyệt Đồng Cơ. Ở các cung này do Thiên Can âm nên gặp bộ Đào Hồng Hỉ Cô Quả trái với tuổi Giáp không hay thì tuổi Đinh rất cần thiết. Ở đây luôn giao hội với Lộc Tướng Ấn hoặc Thanh Phi Phục cũng hợp với nhóm sao này, trừ ở tại vị trí Phi Liêm và Bệnh Phù không mấy hay tuy nhiên xét bố cục vẫn là cách cục tốt đẹp. Ở tại các vị trí này kỵ gặp Hỏa Linh Không Kiếp. Do Khôi Việt ở cung Dậu Hợi nên chỉ có cách giáp bộ sao này ở cung Tuất. Cách cục này cần gặp thêm Xương Khúc Tả Hữu tăng tính may mắn của bộ sao hiền lành Cơ Nguyệt Đồng Lương. Nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương không ưa mạo hiểm, thích sự an toàn và hưởng phúc khi đầy đủ bộ sao này, vì vậy khi được  Tam Hóa tính cát hóa không lớn như việc hung sát tinh được cát hóa phát dã như lôi, cuộc đời ít sóng gió mà thường được thụ hưởng tập ấm, được may mắn trong gây dựng sự nghiệp. Ngoài ra tuổi Tân với tuổi Bính cũng có thể được Tam Hóa nếu được bộ Xương Khúc, do được hai trợ tinh đắc lực nên cách cục hai tuổi này rất tốt, tránh được bộ Không Kiếp nên đa phần là mệnh quý.

Saturday, April 1, 2017

Tài năng của chính tinh và phụ tinh Hóa Kỵ



Tài năng của các ngôi sao khi Hóa Kỵ


Các Thiên Can từ Giáp đến Quý có nhiều Chính Tinh và hai phụ tinh Xương Khúc hóa Kỵ gồm Thái Dương, Thái Âm, Liêm Trinh, Thiên Cơ, Văn Khúc, Thiên Đồng, Văn Xương, Vũ Khúc, Tham Lang. Các sao này Hóa Kỵ mang tính chất đặc biệt không hoàn toàn xấu như các câu phú về bộ Tứ Hóa luận về Hóa Kỵ là ngôi sao, thực chất là Hóa Khí mang tính cản trợ, xấu xa, mờ ám tăng khuyết điểm và thay đổi theo chiều hướng xấu toàn bộ cách cục. Người viết có kinh nghiệm về Hóa Kỵ qua các lá số Mệnh Tài Quan có sao này và thực chất Hóa Kỵ không đáng sợ như các câu phú miêu tả. Xét về sự ổn định thì Hóa Kỵ không hay vì làm mất đi tính bình ổn của cách cục, sao này còn chủ tinh thần thường bất an, lo lắng suy nghĩ nhiều, đặc biệt ở trường hợp Cự Kỵ là cách tư tưởng lo lắng thái quá và suy nghĩ sâu vào một việc làm không gây hại hay gặp nhiều là trường hợp việc làm của người khác khiến bản thân nghi ngờ. Hóa Kỵ người viết đã từng luận trong nhiều bài có tính chất cản trở, nghi kỵ, âm ám nên tác họa thêm cho các cách cục xấu. Hóa Kỵ nếu chỉ đứng một nình do Hóa Khí không gặp thêm Sát Hình tinh thì tính chất được đánh giá là hay vì thường có dự tính trước cho các trường hợp xảy ra và chuẩn bị cho hành động đối phó. Đây là Hóa Kỵ hay nhưng ít khi gặp việc Hóa Kỵ đứng tại Mệnh không có Sát Tinh gia hội. Và trường hợp thứ hai là Hóa Kỵ kiến hung sát nhưng cũng gặp các sao mang ý nghĩa tốt đẹp hóa giải tính chất xấu của Hóa Kỵ, cách này rất đáng bàn vì có thể hay hơn cả Khoa Quyền Lộc và một cách cục muốn thành tựu vượt ngoài suy tính, làm nên sự kỳ lạ, hiếm gặp thì cần thiết phải có Kỵ. Thường hay gặp cách Thiên Cơ hoá Kỵ tại tuổi Mậu khi hợp cách chủ tài năng kỳ lạ. Một lá số gần đây bản thân có luận mệnh có Thiên Cơ hóa Kỵ tại cung Tý giao hội với Khôi Việt Tả Hữu Quyền và Kình Hao tại tuổi Ất chính là cách Cự Cơ chính hướng ngộ Song Hao, thêm Hóa Kỵ ở đây khiến mệnh tạo từ nhỏ đã giỏi việc nắm bắt cơ hội, ưa thích việc kinh thương khi nhập cung hạn thứ hai học tập làm trò chơi điện tử game mà trong thời gian ngắn chưa đầy 2 năm thu được vài tỉ đồng từ việc viết phần mềm game trên máy di động sau đó nắm bắt cơ hội thành lập một công ty trò chơi công nghệ nhưng thất bại do không lường trước được khó khăn cũng là khi nhập đại hạn thứ 3 có bộ Cự Nhật.


Những trường hợp như vậy nếu không có Hóa Kỵ thì khó có thể có được suy nghĩ khác thường, đi ngược với số đông để tạo nên thành công trong thời gian ngắn. Hóa Kỵ còn là ngôi sao chủ bí mật, lợi nhuận hay lợi lộc đa phần chỉ nhiều khi chỉ một số lượng ít người biết vì tính cạnh tranh xuất hiện rất nhanh khiến bí mật kiếm tiền bị lộ sẽ không còn tác dụng. Vì vậy Hóa Kỵ khi hợp cách hoạch phát rất nhanh và ta có cách Kỵ Hình vi phạm hình pháp, có thêm Tang Hư Khách càng khẳng định tính chất ấy. Mỗi chính tinh hóa Kỵ mang ý nghĩa khác nhau, như Thiên Cơ hóa Kỵ là hay nhất, kế đến sao Vũ Khúc hóa thành Kỵ cũng mang tư tưởng táo bạo, mới lạ. Nhìn các lá số thành công có tính chất hoạch phát và ly kỳ thường có yếu tố của Hóa Kỵ. Cùng một sự thành công nhưng có Khoa Quyền mà thành công sẽ biểu hiện ra bên ngoài tính chất khác hoàn toàn do Hóa Kỵ hợp cách thành công. Ở đây luôn chứa đựng sự phát triển theo cách ổn định bằng tài năng và sự phát triển theo hướng mới lạ bằng tài năng. Khi nghe danh tiếng của một người ta cũng có thể luận một vài nét về sự thành công của họ liên quan tới Hóa Kỵ hay cát tinh giao hội. Còn rất nhiều cách giàu có hay đạt được công danh từ sao này. Nếu một người mệnh có Hóa Kỵ thì tỉ lệ cao trở thành dị nhân, quái nhân hay nếu tốt đẹp là kỳ tài đối với nhiều người còn hơn khi họ việc có cuộc sống yên bình, không có sự biến đổi. Hóa Kỵ nếu đi với Khoa Quyền Lộc hay các sao hợp với Kỵ nếu có thêm sát tinh bộc phát hợp cách, càng khiến cách cục thêm tốt đẹp vì đây là cách chịu đựng khó khăn, trắc trở để chờ thời cơ tạo nên sự khác biệt. Nếu xấu là cách gặp tai họa mà người khác không gặp phải, tính ám bộc lộ theo chiều hướng xấu, khi đó Hóa Kỵ mới chính là hung thần.

Sunday, March 5, 2017

Tổng luận tính chất của Hóa Khoa



Tổng luận tính chất của Hóa Khoa


Trong lá số Tử Vi luôn tồn tại bộ Không Kiếp Hỏa Linh Kình Đà là lục sát tinh và Hình Kỵ là các sao biến đổi tính chất của tổ hợp theo chiều hướng cực đoan. Ngược lại như Sát Tinh có thể trở thành hữu dụng. Như cách Linh Hình chủ tai họa liên quan tới hình khắc, sát phạt nhưng có được Hóa Quyền thành cách Quyền Linh Hình là cách hay quyền lực thực tế, cũng mang tính cô khắc, uy nghiêm. Hóa Khoa có thể xuất phát từ Chính Tinh hoặc Phụ Tinh là Xương Khúc Tả Hữu. Sao này có đặc tính bình ổn cách cục Sát, chủ sự hiểu biết và danh dự. Hóa Khoa chia làm các cách hóa khí chính từ bộ 8 sao Tử Vũ Liêm Sát Phá Tham Phủ Tướng, 6 sao là Cự Nhật Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc 4 sao Phụ Tinh là Xương Khúc Tả Hữu. Ba cách cục trên khiến tính chất của Hóa Khoa có phần khác nhau về bản chất. Các sao không hóa Khoa là Thiên Phủ, Thiên Tướng, Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, Cự Môn, Thái Dương, Thiên Đồng. Các sao còn lại Tử Vi, Vũ Khúc, Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Lương, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc có thể hóa Khoa. Nhìn chung bộ sao Cơ Nguyệt Đồng Lương có khả năng Hóa Khoa nhiều nhất, trong đó Thái Âm hóa khí hai lần ở tuổi Canh, Quý. Trong tử vi thường cho rằng Hóa Khoa có tính giải ách lớn. Bộ Sát Phá Tham không thể hóa Khoa mà chỉ hóa Quyền. Cổ nhân luận Hóa Khoa có khả năng hồi vãn cách cục xấu bằng sự sáng suốt, suy nghĩ theo chiều hướng tích cực và tìm cách giải quyết vấn đề. Thực chất Hóa Khoa có tác động biến Sát Tinh do Hung Sát Tinh đa phần có tính Sát và tác động tới bản thân đương số. Hóa Khoa chính là sự phát triển do điều hòa. Vì vậy, lí tính của tổ hợp sao xấu không lên tới cực điểm. Như cách Kỵ Hình chủ xấu do tính chất ngăn chặn, cản trở của Hóa Kỵ kết hợp với tính khắc hình, hình sât của Thiên Hình ra cách xấu. Tuy nhiên khi tùy đi với Chính Tinh mà ở mức độ riêng. Như lại có tính Sát,tranh đoạt hay mất của sao Thất Sát hình thành cách " Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên". Cách này là việc quá mức của các sao có tính chất trên tạo nên.



Hóa Khoa có thể điều chỉnh Hóa Kỵ hay Thiên Hình do đặc tính riêng chủ sự thông suốt, hiểu biết của sao này. Vì vậy, cách này có Hóa Khoa không luận là yểu cách. Tuy nhiên, Hóa Khoa không hoàn toàn tốt đẹp với các sát tinh. Như bộ Không Kiếp ngộ Hóa Khoa là cách cục xấu, do sao Thiên Không có tính chất bất ngờ, Địa Kiếp có tính tai kiếp. Hóa Khoa chủ tốt do sự hiểu biết mà tránh được, khi gia thêm hình thành cách không ngờ gặp tai họa do sự hiểu biết. Bộ Không Kiếp có tính sát thân rất lớn. Hóa Khoa ngộ Không Kiếp là cách cục xấu hơn ban đầu. Còn như cách khác như Linh Xương Đà Vũ, Việt Linh Hình, Kỵ Hình... sao này có khả năng cải thiện khiến biến đổi tính chất liên quan tới sự hiểu biết qua sách vở, thông tin. Như cách Linh Kỵ chủ sự không may liên quan tới điện, sét, tính lạnh lẽo. Có Khoa hình thành sự hiểu biết liên quan tới điện, sét. Như cách bị sét đánh hay cách làm thợ điện đều có sao Linh Tinh thủ mệnh hoặc tam hợp nhưng một cách tai họa vong mạng, một cách gắn với bản thân nhưng có thể kiếm ra tiền. Hóa Khoa gia vào tổ hợp sao cũng như vậy, tùy thêm thuộc võ cách hay văn cách. Nếu võ cách tức Tử Vũ Liêm thường tính chất liên quan đến hoạt động, hành vi cụ thể. Nếu Khoa của văn cách Cơ Âm Lương có tính chất về kiến thức, học tập. Tất nhiên với Xương Khúc Tả Hữu tùy việc đi với các Chính Tinh để luận theo.

Tuesday, February 21, 2017

Một số thiên can và tứ hóa



Một số Thiên Can và Tứ Hóa


Tứ Hóa được an theo Thiên Can, là hóa khí của Chính Tinh tùy từng tính chất ban đầu mà ra các khí Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ. Trong tử vi có 14 chính tinh và 4 phụ tinh là Tả Hữu Xương Khúc có hóa khí. Trong các chính tinh có các sao Thiên Tướng, Thiên Phủ, Thất Sát là không có hóa khí. Điều đáng bàn đến rằng các chính tinh không hóa khí hết mà chỉ có một số, có sao hóa ra cả Tứ Hóa, có sao lại không thể Hóa Khí. Với phụ tinh, bộ sao Tả Hữu chỉ hóa thành Khoa, với bộ Xương Khúc có thể Hóa Khoa và Hóa Kỵ. Nhìn chung, nếu giải thích bằng các cách ngũ hành hay tinh tượng có nhiều thuyết giải thích. Bản thân người viết chỉ thử nghiệm cách an các sao Hóa cho chính tinh hay phụ tinh của các thiên can có thực sự chính xác và ý nghĩa của các hóa khí theo các Chính Tinh khác nhau. Trên lá số Tử Vi luôn xuất hiện bộ Tứ Hóa tại các cung, không phải ở tại cường cung hay hơn nhược cung, mà việc phân bổ Tứ Hóa có thực sự hợp cách. Cát Tinh không hợp cũng vô dụng, hung tinh hợp cách thì quyền sát phạt uy lực. Vì nhìn Tứ Hóa tức nhìn bố cục của Chính Tinh, hai sao Xương Khúc và Tả Hữu cũng rất quan trọng tạo nên tính cách ban đầu. Với tuổi Giáp có Tứ hóa là Liêm Phá Vũ Dương theo thứ tự Lộc Quyền Khoa Kỵ. Thái Dương hóa thành Kỵ, Liêm Trinh thành Lộc, Phá Quân thành Quyền và Vũ Khúc thành Khoa, thì bố cục Chính Tinh có sự thay đổi về tính chất ban đầu. Tứ Hóa làm mặt tính chất cơ bản của Chính Tinh tăng lên theo hóa khí. Khi Thái Dương hoá thành Kỵ, các tính chất cơ bản bị cản trở, biến thành khuyết điểm. Các Thiên Can thực chất cũng là những khí ngũ hành phân làm hai nửa Âm Dương như Mộc gồm Giáp- Ất, Hỏa gồm Bính- Đinh, Thổ gồm Mậu- Kỷ, Thủy gồm Nhâm- Quý, Kim gồm Canh- Tân. Các Thiên Can theo năm tác động tới tính cách của con người theo nguyên lí Tứ Trụ tức Giờ- Ngày- Tháng- Năm. Lộc Tồn lấy từ vòng Trường Sinh chu trình của Thiên Can, can Dương thì xếp tại địa bàn cung Tạp khí, can Âm thì xếp tại cung thuần khí. Như Đinh thuộc Âm Hỏa lấy Lộc Tồn tại cung Ngọ, Bính thuộc Dương Hỏa an tại cung Tị, các khí khác cũng như vậy, ngũ hành Thổ an như tại Hỏa. Khôi Việt lấy từ sự hợp hóa của Thiên Can hữu tình mà an theo. Với Tứ Hóa thì lấy của Thiên Can và Chính Tinh tức đủ cả dữ kiện của Tứ Trụ nên sức ảnh hưởng rất lớn tới Mệnh cục.



Với tuổi Đinh nếu đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thuộc văn đoàn thì có được cả bộ Khoa Quyền Lộc. Nếu tuổi Giáp nếu có nhóm Tử Vũ Liêm được bộ Khoa Lộc, nếu giao hội Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm được bộ Khoa Quyền Lộc. Với tuổi Ất nếu được bộ Cơ Lương thì có Quyền Lộc, tuy nhiên cách này luôn có bộ Cơ Đồng phối hợp Âm Lương nên cách Quyền Lộc Kỵ. Với tuổi Bính ta có bộ Cơ Đồng thuộc Cơ Nguyệt Đồng Lương sẽ được bộ Quyền Lộc, nếu có Xương được tam hóa. Với tuổi Mậu khó đạt được nhị hóa, cần thiết có Hữu Bật. Với tuổi Kỷ khó đạt được nhị hóa, cần giao hội Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham. Với tuổi Canh nếu có Nhật Nguyệt được bộ Khoa Lộc. Với tuổi Tân có bộ Cự Nhật sẽ được Quyền Lộc, nếu có thêm Khúc thêm Khoa, dễ có Xương thêm Kỵ. Với tuổi Nhâm khó được nhị hoá cần thiết có Tả Phụ được Khoa. Với tuổi Quý khó được bộ nhị hóa. Vậy xét theo 10 Thiên Can, tuổi Đinh, Giáp, Bính, Tân có thể được Tam Hóa. Trong đó một cách khi bộ Tử Vũ Liêm rối loạn với Sát Phá Tham của tuổi Giáp. Hai cách Cơ Nguyệt Đồng Lương của tuổi Bính Đinh. Tuổi Tân dành cho bộ Cự Nhật. Nhìn chung tỉ lệ đạt tam hóa khó khăn, không tính trường hợp xung chiếu không thành cách luận khác.

Wednesday, February 15, 2017

Hóa Kỵ và phối hợp cách



Hóa Kỵ và phối hợp cách


Hóa Kỵ hay Khoa Quyền Lộc chính là khí thuần khi chịu biến đổi của Thiên Can với các Chính Tinh. Hóa Kỵ là sự cản trở, trái nghịch, thu lại, u tối,... thường là những khuyết điểm về các mặt của Chính Tinh. Mệnh có Hóa Kỵ thường mang sự khiếm khuyết các tính chất tốt đẹp của Chính Tinh. Như nếu có Cự Môn Hóa Kỵ là cách lo nghĩ thái quá, cũng là cách vọng ngôn khiến tâm trí phải khổ sở, tướng miệng méo, thường môi thâm và cái miệng trở nên nổi bật so với toàn bộ khuôn mặt. Hóa Kỵ mang đến những thứ đen tối, phù động cho tinh thần. Tuy nhiên, trong một vật luôn tồn tại hai thiên hướng do tách từ Thái Cực mà ra phân biệt ra đúng sai, tốt xấu. Một Hóa Kỵ là mặt tính chất mà con người, tức tư tưởng của đa số con người cho là xấu, hung. Hóa Kỵ chính là sự nghi kỵ, ngờ vực, sự thất bại, khó khăn khi thực hiện một công việc. Vì thế có Hóa Kỵ thủ Mệnh thường làm bỏ dở một công việc khi bắt đầu gặp khó khăn. Hoặc do suy nghĩ quá nhiều tới một vấn đề dẫn đến không dám làm các công việc, các kế hoạch. Hóa Kỵ đi với Xương Khúc là cách cản trở rắc rối về giấy tờ, khi thi dễ trượt do tính ngăn cản, khiến tâm rối loạn do nghĩ thái quá. Hóa Kỵ ngộ Xương Khúc thường được bình giải uổng đời tài hoa vì không gặp thời, không gặp may, xui xẻo hơn là mất mạng, khi đó Xương Khúc Kỵ là tác phẩm nghệ thuật dành cho tang lễ. Hóa Kỵ có tính Ám trong tính chất cơ bản, đi cùng với Diêu Đà hình thành bộ sao nổi tiếng tai họa trong Tử Vi là Tam Ám hay tên khác là Diêu Đà Kỵ. Bộ Tứ Hóa không chỉ quan trọng nguyên cục mà Lưu Tứ Hóa theo tiểu hạn có tác động rất mạnh. Việc xảy ra Lưu Kỵ nhập cung nào cung ấy có biến động tức thời. Nhìn chung, khi xem trên lá số Tử Vi ngoài Không Kiếp cần xem tới Hóa Kỵ thứ hai. Trong tử vi thường gọi là sao Hóa Kỵ. Với sao này, việc hợp chiếu thêm sát tinh gây họa cấp số nhân. Cách Kình Kỵ, Đà Kỵ, Hình Kỵ, Hỏa Kỵ, Linh Kỵ, Kiếp Kỵ đều mang tính chất xấu của Sát Tinh trở nên mạnh hơn. Để thay đổi tính chất của các cách này cần thiết nhất phải có các sao trong bộ Khoa Quyền Lộc. Hóa Khoa khiến đặc tính tốt trong Sát Tinh phát khởi, như việc Hỏa Tinh trở thành nhiệt huyết, soi sáng, thành công lan tỏa khắp nơi.



Với Hóa Kỵ khiến Hỏa Tinh có tính nóng vội, mù quáng, giận giữ, đốt cháy, tro bụi,... Nếu Hóa Quyền tính chất biến đổi theo Quyền tinh như uy lực mạnh, hiệu lệnh khẩn cấp, quyền sinh sát trọng,... Với Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp cũng như vậy. Cách Khoa Kình chủ sự khoa học, định hướng, tranh luận khoa học, thành công sớm,.. Cách Kình Kỵ chủ chống đối, thất bại sớm, khai trận tử chiến, ác tính, tranh đoạt,.... Tuy vậy, Hóa Kỵ có tính phủ định cách cục tốt mạnh, nhưng vẫn có những cách hợp với Kỵ như Khoa Kỵ. Quyền Kỵ, Long Kỵ,... chuyển hóa một số đặc tính gia tăng khuyết điểm của Kỵ. Tuy nhiên không trở nên tốt đẹp hoàn toàn. Mệnh có Hóa Kỵ phải luôn sẵn sàng đối mặt với những tính chất xấu của Kỵ. Nhưng Hóa Kỵ cũng có những tính chất quan trọng khiến Mệnh trở nên phi thường cách. Nếu nghi kỵ trong kinh doanh là rất tốt. Nếu thất bại, trượt không đi sang các nước Trung Đông có chiến sự là tốt. Việc ngăn chặn, cản trở của Kỵ với những điều xấu là cần thiết. Vì vậy, Kỵ mang một tính ngăn cấm do hiểu biết tức là cách Khoa Kỵ. Hóa Kỵ còn là sao lập dị, nếu đắc cách là cách kỳ nhân, trí tuệ quái dị, khác thường. Đó là trường hợp Kỵ tốt. Không nên luận Mệnh như có Kình Linh Kỵ là cách xấu mà cần hiểu rõ xem tính chất của bản Mệnh có chế ngự được để trở thành cát lực hay không. Dĩ nhiên đa phần Kỵ phò tốt trở nên tốt đẹp hơn, đi theo xấu trở nên hiểm hung hơn. Quân tử không phải không có Sát Tinh, quân tử là người dám làm việc ít người dám làm, theo đạo lý của xã hội. Những việc khó khăn như vậy nếu không có lực sát của Sát Tinh theo chiều hướng tốt khó mà thành tựu. Và cái giá phải trả là khổ cực phải chịu đựng khi có cách Sát Tinh theo chiều hướng tích cực. Thời nay bảo cứu người tai nạn trên đường có mấy người làm được, đa phần sợ lý do này nọ, Cát Tinh vô lực không bằng Sát Tinh hữu lực.

Saturday, February 11, 2017

Tính chất của Hóa Quyền tại các cung




             Tính chất của Hóa Quyền tại các cung


Hóa Quyền thường được gọi là sao nhưng thực chất chính là Hóa Khí theo Thiên Can của Chính Tinh. Các chính tinh và bàng tinh đều có các tính chất gồm các khí tạp phối hợp trong cùng một sao. Với Chính Tinh và hai phụ tinh Xương Khúc Tả Hữu chịu tác động lớn của Thiên Can thành các khí trở nên thuần của bốn thứ Khoa Quyền Lộc Kị. Vì vậy, sức tác động của Tứ Hóa mạnh hơn và tác động lớn tới cách cục hơn các sao. Hóa Quyền tức chủ quyền lực, uy quyền, tự do, ảnh hưởng tới người khác. Hóa Quyền do từng chính tinh hóa khí mà có những gốc khác nhau, cho dù đều chủ Quyền. Tử Vi hay gọi Hóa Quyền là sao ám chỉ cho Chính Tinh sinh ra Hóa Quyền. Với sao Hóa Quyền cơ bản nhất là quyền lợi, lớn hơn là quyền lực, quyền quý,... để chứng minh địa vị uy tín của bản thân với xã hội.
" KHOA QUYỀN NHẬP MỆNH TUY NHÀN LẠC DIỆC HỮU HIỂN DANH".
Mệnh có Hóa Khoa hoặc Hóa Quyền tọa thủ tại bản cung, không phải các trường hợp tam hợp hoặc xung chiếu tuy bị Sát Tinh vây chiếu hoặc vị trí Chính Tinh không đắc ý nhưng hiển danh. Trường hợp có cả Khoa Quyền có thể tam hợp chiếu hoặc củng chiếu. Hóa Khoa là sự tốt đẹp, to lớn, hiểu biết, giá trị khiến Quyền hành, uy tín lớn lên.
" KHOA QUYỀN NHÂN KHÔI VIỆT DĨ THÀNH CÔNG".
Thực chất mệnh có Khoa hoặc Quyền tỉ lệ vẫn hay gặp. Trong mỗi Thiên Can tỉ lệ 1/12 người có cách này. Với bộ Khoa Quyền hiếm gặp hơn khi chỉ có một số Thiên Can như tuổi Giáp là Phá Quân và Vũ Khúc, tuổi Bính là Thiên Cơ và Văn Xương. Với tuổi Ất thì Hóa Quyền tại Thiên Lương, Hóa Khoa tại Tử Vi không thể hình thành bộ Khoa Quyền. Vì vậy, có Khoa Quyền đã là hơn người, đây là trong trường hợp chưa kiến sát tinh và sao bất hợp cách. Khoa Quyền có thêm bộ Khôi Việt là cách khó đạt được hơn vì bộ Khôi Việt cư tại các cung khác. Đây thuộc cách nổi trội, vượt trội hơn người vì có Khôi Việt, cũng là cách Hóa Khoa ngộ Văn Tinh nhất bảng khoa. Chỉ cần tính trung bình khả năng số người có các cách hiếm là có thể đánh giá được lá số của bản thân. Tứ Hóa gồm Khoa Quyền Lộc Kỵ là cần thiết nhất rồi mới đến các bàng tinh khác vì gắn liền với Chính Tinh. Hóa Quyền có một cách nổi bật chủ nổi danh là cách Quyền Khốc.
" Quyền Khốc minh danh vụ thế".




Hóa Quyền chủ cô, uy, cương khi đi với Võ Tinh hay Sát Tinh đều khắc chế được một phần. Với Thiên Khốc là sầu tinh nhưng có tính ương ngạnh đi với Quyền, tức đồng cung là cách kiên cường, quyết tâm. Phượng Các tại tam hợp ngộ Quyền chính là cách Quyền Phượng chủ tăng trọng lượng, được chúng theo. Hóa Quyền cư cung nào có ý nghĩa với chính cung đó. Như việc Hóa Quyền cư Tài các tính chất Quyền được luận đi liền với Tài Bạch. Nếu cư Quan Lộc thì đi liền với công việc, uy tín xuất phát khi làm việc, hoặc từ vị trí địa vị công việc. Cư Thiên Di ra ngoài xã hội, giao tiếp bên ngoài được nể trọng. Tuy nhiên Quyền tại Mệnh khác tại cung Di mặc dù đều bản thân được đánh giá. Quyền cư tại cung Mệnh có bản chất từ tính cách ban đầu tác động tới tất cả cung còn lại. Quyền tại Thiên Di là vì một lí do thể hiện ra bên ngoài được đánh giá là uy tín. Quyền tại Mệnh bao gồm cả Thiên Di. Cũng thực chất là do quan hệ xung chiếu của Chính Tinh. Như bên trong mệnh có Thiên Tướng, bên ngoài Phá Quân hóa thành Quyền khác bên trong tự Hóa Quyền.
" Khoa Quyền củng chiếu bất như lâm viên".
Hóa Quyền xuất phát từ các sao có tính Sát như Phá Quân khác những sao như Thiên Lương hóa thành Quyền. Một bên quyền lực do sự phá, bắt,... gây ra thường đi liền với nghề nghiệp cảnh sát, quân sự,... Một bên Quyền đến từ sự từ tâm, may mắn, che chở tức quyền hành đến từ sự quan tâm mà kẻ khác nể phục uy. Các Quyền sinh từ Chính Tinh khác nhau tuy cách thức khác nhưng kết quả chung đều là tính chất cơ bản của Hóa Quyền.

Sunday, January 22, 2017

Ý niệm và định mệnh


Ý niệm và định mệnh

Quá trình phát sinh từ động vật tới con người đã sản sinh cho chúng ta thứ mà con người hiện đại gọi là ý thức, nhưng có đúng như niềm tin con người là đứng đầu trong tự nhiên, liệu nó có thực sự là ý thức hay sự vô thức của mỗi chúng ta qua thời gian sinh trưởng ở tự nhiên và thời gian kết hợp khao khát sự sống tạo thành. Tử Vi cho tới ngày nay vẫn là môn được ưa dùng trong bộ phận huyền học toán mệnh của nước ta. Với mỗi người gốc của Mệnh là sai biệt khiến tính cách ban đầu có phần sai biệt, nhưng hầu hết các trường hợp tại cùng một khu vực quốc gia luận đoán tử vi khá chính xác với đa số trường hợp. Tất cả môn toán mệnh đều xét con người trên khái niệm vô thức để đưa tới luận đoán, những thứ vô thức từ nguyên thủy con người vẫn hằng bị chi phối là sự Bảo Toàn Tính Mệnh, Tài Sản hay gọi là Ham Muốn. Kế đến do lòng ham muốn dẫn đến phát kiến ra phương pháp để đẩy mạnh ham muốn thành sự thực, nhưng có những phép thử sai ta gọi là sự thất bại của nhận thức, hay là trí thông minh. Phần phát của lòng tham trở nên mạnh mẽ từ Hỏa phát động đến nên trong Tử Vi các sao thuộc Hành Hỏa đa phần có tính Sát như Không Kiếp, Hỏa Linh, Liêm Trinh. Hành Hỏa có tính bộc phát khó ngăn chặn bởi nhận thức, vì vậy gây ra sự khó kiểm soát khi xảy ra. Trong bộ Sát Phá Tham mang tính sát phạt lớn cũng có tính Hỏa. Tuy nhiên, cổ nhân cũng nhận ra điểm thiếu sót khi không lấy sự biến đổi thích nghi của xã hội của mỗi con người từng thời kỳ để luận, và cũng có những cá thể riêng biệt không tuân theo sự tuần hoàn của tự nhiên. Quá trình này có thể lấy ví dụ như việc phun thuốc trừ sâu vào một nhóm sâu nhưng sau lần phun đầu sẽ có những con sống và kháng với thuốc, con người không nằm ngoài quy tắc đó. Đây chính là Hóa Kỵ ở cấp bậc cao nhất, tức sự kỳ lạ mang tính chất quý giá. Vì vậy, không chỉ dựa vào các sao nên đã đặt ra quy tắc " nhân định thắng thiên, đức năng thắng số". Trong một cộng đồng, kẻ có được sự tài trí, mưu mẹo và khả năng linh tính tốt cùng các đức tính lãnh đạo sẽ có được vị trí cao, không hẳn là phải kẻ có lá số tử vi hoàn hảo. Trong những cá thể xuất chúng do sự khác biệt về mặt trí não hoặc nhận thức từ khi sinh ra, cũng có không ít việc môi trường, cha mẹ dạy dỗ thành tài. Vì vậy, đừng cố tìm một định lý đúng tuyệt đối cho Tử Vi khi tất cả những câu phú truyền lại đều ở những thời đại không còn phù hợp. Cái chúng ta cần thiết là sự khái quát chắc chắn tới mức dự đoán gần như chính xác.




Như một sự thật, tính cách bạn khá nóng nảy của Dương Hỏa, đây là điều cần thiết của Tử Vi cần cho biết. Tử vi cho chúng ta biết nhiều hơn những điều đó, nó cho ta biết những thuận lợi, khó khăn trong cuộc sống và mô tả khá chi tiết việc đó nếu đã có một số thông tin về hướng đi của Mệnh. Một mệnh có Việt Linh Hình Quyền, nhị hợp gặp Binh Tướng Ấn thì việc đi theo Binh Nghiệp sẽ có thu hoạch lớn hơn và tránh được sức tác họa của sao Thiên Hình. Chỉ cần biết bạn theo ngành nghề có thể đưa ra dự đoán thêm về vài nét của tương lai và tìm về lại được quá khứ là điều cơ bản của Tử Vi. Việc Hóa Kỵ và tất cả bộ Sát Tinh đều áp dụng theo nguyên lí này, vì vậy sinh ra các hiện tượng anh em sinh đôi nhưng hạn thành công và thất bại hay cả cái chết cách xa nhau. Một số người lấy được những thông tin khác về tên hay những biến cố để đưa ra dự đoán là cách hoàn toàn đúng, nhưng lại có những người chỉ xem lá số và bắt đầu đưa ra các luận đoán không cần thêm dữ kiện, điều đó là sai hoàn toàn và cần phải học lại những thứ cơ bản của Tử Vi.

Thursday, January 5, 2017

Hóa Kỵ và động lực của phát triển



Hóa Kỵ và động lực của sự phát triển



Trong Tứ Hóa của Tử Vi, chưa xét tới sự riêng biệt về việc đắc thụ khí của mỗi người mà chỉ xét tương quan trên các lá số thì Hóa Kỵ là hóa khí đối nghịch với cả bộ ba Khoa Quyền Lộc, và Hóa Kỵ với sức mạnh như vậy thương được xếp loại vào hung sát tinh. Bộ Tứ Hóa mô tả sự phát triển và suy thoái về các mặt quan trọng của con người dựa vào Chính Tinh hay Phụ Tinh Xương Khúc Tả Hữu. Hóa Khoa với sự hiểu biết rộng mang tính học thức, có tính khoa trương, bằng cấp, là dấu hiệu của sự tốt đẹp, thuận lợi. Hóa Quyền là gốc của quyền lực, sự nghiêm nghị, nghị lực. Hóa Lộc là gốc của tài lộc, sự phát triển tươi tốt của vật. Và Hóa Kỵ là trở ngại, nghi kỵ, ghen ghét, tối tăm và cản trở. Tuy vậy, Hóa Kỵ là gốc của sự sống và phát triển, là bước khởi đầu của Khoa Quyền Lộc. Trong bài viết này đề cập chủ yếu tới hóa Kỵ. Trong quá trình sống và phát triển thì tất cả mọi sự thành công đều xuất phát từ khó khăn và thất bại. Nếu không có sự trở ngại thì sự phát triển và tiến bộ sẽ không xuất hiện. Trong tự nhiên, nếu tính cạnh tranh giữa các loài không cao sẽ dẫn đến xu thế chững lại. Trong cuộc sống, kẻ sống sung sướng về cả tinh thần và vật chất khó lòng trở nên xuất chúng về một mặt nào đó nếu không trải qua đau khổ. Như việc bạn sống trong cuộc sống thua thiệt với bạn bè trang lứa sẽ là sự cố gắng thoát khỏi khó khăn và phát triển tới mức cao hơn. Tính cạnh tranh của Hóa Kỵ là yếu tố quan trọng của thành công. Tuy nhiên Hóa Kỵ là con dao có hai lưỡi rõ ràng. Hóa Kỵ khi xấu tượng là sự cản trở không thể vượt qua, là do nghi kỵ mà gây mất lòng tin của người khác, là sự ghen ghét mà khiến bản thân bị ghét, là việc làm tối tăm gây nguy hiểm cho cả người và mình.


Mệnh có Hóa Kỵ tính tình hay lo nghĩ, đặc biệt các sao như Cự Môn hoặc Thiên Cơ, đây là khuyết điểm lớn của Hóa Kỵ. Chính vì vậy, mệnh tạo thường cảm giác rằng bản thân phải chịu nhiều khổ cực, lao tâm hơn người khác và lâu dài gây ra một số bệnh nặng. Hóa Kỵ khi hợp lý là sự trách móc bản thân để tiến bộ hơn, là sự suy nghĩ cặn kẽ thấu đáo mọi tình huống bất ngờ xảy ra. Hóa Kỵ rất cần được hợp cách để biến hung thành cát, và sự thành công hơn rất nhiều so với cát tinh vì lực cát hóa lớn. Thông thường các cách Tứ Hóa đặc biệt hay và thành công hơn bộ Tam Hóa. Hung Tinh khi hợp cách phát danh và tài rất nhanh chóng do tích lũy khí và tham vọng để thực hiện mục tiêu. Hóa Kỵ cũng là ngôi sao chủ Kỳ Tài, Kỳ Lạ. Đặc tính đặc biệt của Kỵ là sự khác biệt với lẽ thường, trong kinh doanh có thể là cách đi ngược xu thế chung để thu lại nguồn lợi.

Tuesday, November 8, 2016

Một số cách cục của Hóa Khoa







Một số cách cục của Hóa Khoa trong Tử Vi



Hóa Khoa là hóa khí của một số Chính Tinh và trợ tinh Xương Khúc Tả Hữu. Đây là Hóa Khí quan trọng nhất của Tử Vi với khả năng điều hậu hung sát tinh và nhiều cách cục xấu trở nên tốt đẹp. Hóa Khoa là sự tăng trưởng theo chiều hướng tốt, được luận là sao chủ Khoa Bảng. Như đã viết tính quan trọng nhất của Hóa KHOA là sự điều hậu khi tụ họp nhiều hung sát tinh không quá xấu gây nguy hiểm tính mạng, vì vậy Hóa Khoa thường được gọi là Đệ Nhất Giải Thần. Mỗi một sao sẽ có tác dụng tốt đẹp hợp với Hung Sát Tinh khác nhau, cái khả năng giải trừ của Hóa Khoa là chuyển hướng phá hoại của Sát Tinh thành tai họa trong sách vở. Như Linh Tinh chủ điện, sét ngộ Hóa KHOA là cách nghiên cứu liên quan đến máy móc điện tử, nghiên cứu về điện sét vô hình trung được cách phòng bị trước nguy hại của Linh Tinh. Hóa Khoa không chỉ giải được nhiều sao xấu trở nên tốt đẹp còn có khả năng giải được Hóa Kỵ chủ trắc trở, khó khăn, ngăn cản. Hóa Khoa là sao chủ hanh thông, liên quan đến bằng cấp, danh dự, sách vở nên ngộ Hóa KỴ khiến Kỵ bớt miệng lưỡi ghen ghét trở nên có ích vì lời cấm khuyên can có cơ sở. Cách KHOA KỴ là cách trung bình không xấu cũng không tốt. Hóa Khoa còn khả giải được sao Thiên Hình hình thành cách Hình ngộ Khoa vô tai, sao Thiên Hình tự gây ra thương tích cho bản thân nếu nhập Mệnh ngộ Hóa KHOA là cách phòng tránh các họa thương tích cơ thể. Hóa Khoa không phải là sao có thể giải trừ mộ tai họa, cũng như tất cả các chính và bàng tinh khác khi xấu là cách làm cho họa nạn thêm to, hoặc với các vị trí không thích hợp như ngộ Thiên Thương nhi ám hối, cư tại cung Nô Bộc xấu vì cấp dưới bạn bè đều có bằng cấp hơn chính bản thân nếu Mệnh xấu, nếu Mệnh được cát tinh hợp cách là cách bạn bè cấp dưới có năng lực làm việc lớn trợ giúp cho bản thân. Hóa Khoa ngộ Không Kiếp là cách xấu, chủ tai họa lớn, kiếp nạn lớn khó tránh khỏi, nếu có Sát Phá hoặc Cự Môn và Thiên Tướng làm chính tinh khả giải.
" Khoa tinh hãm ư hung thần miêu nhi bất tú".


Hóa Khoa của các sao thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ thiên về mặt học thức, chủ bằng cấp trong xã hội. Tùy theo được Sát Tinh làm trọng điểm mà phân cách cục thấp cao, hoặc có Lục Cát Tinh trợ giúp, các sao tăng tính quan trọng, bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương thường làm công ăn lương nếu không có các sao tăng giá trị hoặc hạn phát. Các cách cục được hóa giải thường có lực cát hóa rất lớn, thành công đến cũng lớn hơn. Các bộ sao còn lại Hóa thành Khoa đều mang đặc tính nổi trội là tìm tòi khám phá của Khoa, chính tinh Tử Vi, Vũ Khúc trong nhóm TỬ PHỦ VŨ TƯỚNG LIÊM tối hỉ hóa Khoa, thuộc cách tài năng và sự tốt đẹp tăng lên. Các trợ tinh Xương Khúc Tả Hữu hóa Khoa chủ mang tính trợ lực của Khoa tới Chính Tinh tại bản cung, Tả Hữu hóa thành Khoa tay chân giúp việc rất đắc lực và mang lại hiểu biết đến cho Mệnh. Nếu Xương Khúc hóa Khoa tức từ nghệ thuật hay sách vở mang đến kiến thức cho Mệnh. Hóa Khoa cần thiết do trợ tinh hóa khí nên luôn mang đặc tính tốt đẹp đầy đủ, còn lại chủ yếu bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hóa khí khiến công việc chuyên môn được tin cậy nhưng cần giao hội với Cự Nhật hoặc được các cách tốt để nổi danh vị trí đứng đầu. Bộ sao Xương Khúc và Tả Hữu hóa Khoa khiến Mệnh nổi danh bởi thuộc hạ hoặc lưu danh tại sách vở, Hóa Khoa cũng là sao chủ danh dự, danh tiếng.