Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Cơ. Show all posts
Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Cơ. Show all posts

Saturday, September 14, 2019

Bố cục chính tinh luận tổng quan độ số




" A man xuất thế do hữu Cự Kỵ Khốc Hình Thìn Tuất". Tức Tào Tháo thành tựu đại nghiệp do cách cục này. Phú thường luận " Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận kỵ tương phùng". Xét về cách cục chủ đạo đức, Cự Môn nhập La Võng tức hình thành cách Cự Nhật, theo quan điểm của phong kiến, bố cục này mang ý nghĩa bất mãn, nghi kỵ, phản đối và làm phản. Điểm bất lợi của phú luận là đánh giá rất lớn tính chất Chính, Trung, Lễ,... theo tiêu chuẩn của Nho giáo. Chính sự tác động của thời thế dẫn tới các câu phú trong từng giai đoạn lịch sử sẽ mang ý nghĩa khác nhau về đánh giá của tiền nhân tới phú quý. Cự Kỵ Khốc Hình tức là cách cục Cự Nhật Kỵ Khốc Hình là cách cục có tính độc đoán, mưu lược, quyền biến và đa nghi. Trong giai đoạn thời phân cắt đất nước, tình hình giai đoạn này có rối ren, người chú, là một người thầy của người viết về nghiên cứu dịch lý. Luận bàn truyền đạt lần đầu về ý nghĩa của nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Trong giai đoạn khi cả ba thể Tử, Phá, Cự hoạt động mạnh chính là giai đoạn bất ổn nhất, ba cách cục trên luôn hình thành thế cục đặc biệt trên tử vi. Khi Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thành cách, Sát Phá Tham tại đối cung hoàn chỉnh, Cự Môn giao hội với Cơ Đồng ở thế lục hợp luôn âm thầm tạo nguy cơ bất ổn, rối ren trong nội bộ. Đặc biệt với thế đứng Tử Tướng đồng độ, Cự Cơ hình thành tại lục hợp, Phá Quân xung chiếu với Tử Tướng là cách cục bất ổn lớn do thế đứng của Cự Cơ cũng rất mạnh chủ tàng ẩn lợi ích bên trong, cũng mang ý nghĩa đắc thời để khởi binh, tạo phản. Phá Quân xung chiếu trong nhóm Sát Phá Tham với Sát cư Tí Ngọ rất đắc lực. Nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với Vũ Phủ đồng độ có tính bạo lực. Toàn thế đứng của Tử Tướng là thế đứng của bất ổn, khi tất cả các tinh đẩu đứng đầu nhóm sao đều cường vượng, nghịch với bố cục Tử Vi cư Ngọ với Tử Vi cực vượng, Sát Phá Tham và Cự Đồng đều ở thế bất lợi, phá cách trước Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. 






Các thế đứng của Tử Vi sắp xếp theo dịch lý, là quy luật biến đổi của vạn vật, cũng như việc phân định vạn vật theo Âm Dương, thể âm có tính chất nhu, thể dương là cương. Người nghiên cứu tử vi thời nay lao vào các lý thuyết hỗn độn quên mất cái cơ bản, những vấn đề cốt tủy của tử vi. Bất kể mệnh cách tại các bố cục tốt đẹp, độ số xét khởi đầu tiên khi luận tử vi là định cách thế đứng của tinh hệ, chính là toàn bộ cục diện của đương số, là nét tổng quan về cuộc đời nhân mệnh trên thiên bàn. Bản chất của tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là quyền lực tập trung bởi nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm nắm lệnh. Nếu mệnh cách tại các bố cục còn lại tương ứng với tính chất của tổ hợp trên trong toàn tinh hệ để luận mệnh khí. Bố cục của tinh hệ là tổng quả của cách cục nhóm sao trong Mệnh Tài Quan, tính tổng quát lớn hơn và có ý nghĩa về tổng quan cuộc đời. Như việc phân định Mệnh Tài Quan thuộc Cự Cơ Đồng. Bản xung Mệnh là Cự Cơ, tam hợp chiếu Thiên Đồng. Ý nghĩa của toàn tổ hợp là sự bế tắc, ồn ào, tìm thấy cơ hội để khai phá trong khó khăn. Mệnh cách gặp Cự Cơ tức bản thân ta, bản tính đương số là Cự Cơ, cách cục tổng quát là Cự Cơ Đồng. Khi xét toàn bộ thế đứng của tinh hệ Chính Tinh cũng vậy, tinh hệ Cự Cơ Đồng là bản thân ta, trong cách cục tổng quát tạo bởi tinh hệ Tử Tướng cư Thìn Tuất hình thành ý nghĩa cả ba nhóm sao Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cự Cơ Đồng đều rất mạnh, xung đột lớn, biến động mạnh. Mệnh cung cho biết về tồng quan bản tính trong hoàn cảnh toàn tổ hợp Mệnh Tài Quan. Tổ hợp Mệnh Tài Quan cho biết về tổng quan vị trí hoàn cảnh bản thân trong hoàn cảnh xã hội, thế giới quan quanh tư tưởng nhân mệnh hình thành, chịu tác động. Một vấn đề thường người nghiên cứu tử vi không lưu ý tới là việc khi nhìn toàn bộ cục diện lá số, thường chú trọng rất lớn tới các Sát Tinh gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình, đặc biệt với Không Kiếp, Kỵ Hình mà quên đi sự biến hóa của các Chính Tinh bởi sự hình thành các Sát tinh là Chính Tinh là tối quan trọng, phần quan trọng nhất trong tử vi là định cách bố cục Sát, tức bố cục Chính Tinh và thế đứng xung đột, mâu thuẫn của  Chính Tinh tác động mạnh hơn các tinh đẩu Lục Sát rất nhiều, do thế đứng của Chính Tinh là thế đứng cuộc đời, của các sao chính trong tử vi để định ý nghĩa với các phụ tinh còn lại, ngay cả Sát tinh. 





Nhân mệnh sinh nguyệt lệnh tháng Hợi luôn gặp mệnh Thiên Không, khả năng gặp bộ Không Kiếp hợp chiếu là 2/3. Tuy nhiên khó có thể luận về được mất, thành bại do yếu tố Chính Tinh thành cách quyết định tới độ số. Tuy nhiên nếu nhân mệnh gặp bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành thế đứng của Tử Phá ắt cả cuộc đời có sự thăng trầm, khó khăn rất lớn. " Vũ Sát Liêm Tham hội khúc toàn cố quý cách". Ngay can Giáp hội Tam Hóa tức Khoa Quyền Lộc bởi tứ hóa Liêm Phá Vũ Dương, lại có Khôi Việt tại Mùi Sửu thuộc tổ hợp, không gặp Lộc Tồn tại đây phá do Lộc Tồn an tại Dần. Bố cục được cát hóa toàn cục tuy nhiên cuộc sống nhân mệnh có cách cục này vẫn rất khó khăn, biến động thăng trầm cuộc đời lớn. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hay do Phủ Tướng hỗ trợ nhóm Tử Vũ Liêm. Tử Vi cư Ngọ hay do Liêm Phủ đồng độ và Vũ Tướng đồng độ tạo tính chất đặc biệt. Khi luận tử vi cần nắm vững tính chất của các Chính Tinh, thứ tới là các phụ tinh còn lại và ý nghĩa hóa khí khi từng Chính Tinh và trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc hóa thành đều khác nhau. Thiên Phủ bản tính, hay tính chất cơ bản là đánh giá, nhận định, nhận xét và phán xét, có tính bảo mật, che đậy bí mật quan trọng. Do vậy khi đồng độ với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc tính chất phối hợp rất khác biệt. Đồng độ với Liêm Trinh được luận tốt do luôn nhập cung Thìn Tuất có La Võng, thứ tới với Thiên Phủ ưa phán xét cần gặp tinh đẩu chủ dò xét, điều tra. Khi nhận xét luôn cần tính chất trong sạch, liêm chính để nắm lệnh. Phần thông tin Thiên Phủ che giấu, bí mật quan trọng khi gặp Liêm Trinh dò xét, điều tra lưu lại bên trong. Thiên Phủ là khố. Liêm Phủ đồng độ là lấy thế danh nghĩa, chính nghĩa do Liêm Trinh nắm lệnh từ Tử Vi cư Ngọ, cách Liêm Phủ mang rất nhiều ý nghĩa hay, ở vị trí quan trọng trong tổ chức. Do tính chất cơ bản, khi Thiên Phủ ngộ Không Vong, đặc biệt là Triệt Lộ, phá tính chất lưu giữ thông tin bí mật, như việc âm mưu, tính toán bị lộ, các sai sót che giấu lộ ra bên ngoài, có phần nguy hiểm khi thế đứng Cư Đồng và Sát Phá Tham đều mang hung tính. Tại hai Chính Tinh gồm Thiên Phủ và Cự Môn đều tối hỉ đồng độ Thanh Long. 





Bản chất của Thanh Long là tiếng nói, khi Thiên Phủ gặp Thanh Long tính chất thay đổi, cơ biến rất linh hoạt, thường luận là ứng biến theo tình hình. Với Cự Môn gặp Thanh Long là cách " Lão bạng sanh châu", tức nhấn mạnh về kinh nghiệm đối định, đối chất hay giao thiệp, giao tiếp rất tốt. Trong lịch sử nước ta chỉ mới ổn định thời gian rất ngắn, người nghiên cứu tử vi nếu sống trong các thời kỳ vận nước thay đổi lớn sẽ nhận thấy sự biến dịch, các cơ hội lớn theo thời vận cũng thay đổi. Hóa khí của các tinh đẩu cũng biến đổi về tính chất khi ứng hợp với từng chính tinh. Chính tinh hay chủ tinh với các thế đứng quyết định về ý nghĩa cục diện, khi giao hội các phụ tinh sẽ biến hóa ra kết quả cát hung, thành bại. Tuần Triệt và Thiên Không mang tính Không Vong thường được luận với tính chất rất đặc biệt như " Tuần Triệt đương đầu thiếu niên tân khổ". Triệt, Tuần, Thiên Không ( Địa Không ) đều hàm chứa tính Không và tính Vong. Chữ Không là nghịch của Có, tuy nhiên Không Vong mang ý nghĩa sai khác, chủ mất đi, tổn thất nhiều hơn được lợi. " Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại". Cách cục của cả Tuần và Triệt đều bất lợi với các bố cục ổn định, tích lũy. Đó là cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh, Lộc Tồn, Cơ Nguyệt Đồng Lương. Khi đồng độ tại bản cung với từng Chính Tinh sẽ mang ý nghĩa sai khác. Với các thế xung đột như Cự Cơ Đồng, Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, Cự Nhật gặp Tuần Triệt mang ý nghĩa tốt hơn xấu. Tính chất của Triệt Lộ, Tuần Trung và Thiên Không sai khác hoàn toàn với nhau. Trong trường hợp cách cục hội Tam Không, thường nhiều sách cho rằng đây là bố cục tai họa, thực tế trong các trường hợp để luận định. Với bố cục Cự Cơ Đồng, Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham hỉ kiến Tam Không. Lưu ý Không Vong tọa thủ bản cung tính chất khác với tam hợp chiếu. Tuần và Triệt sẽ tác động trực tiếp ý nghĩa của toàn cách cục Chính Tinh phân tách. Trong thế Cự Cơ Đồng với cách Cự Cơ Mão Dậu hội Thiên Đồng tại Hợi Tị. Nếu Triệt Lộ tại bản cung Cự Cơ, tức cách cục Cự Cơ chủ lộ mưu tính, lộ về tính toán của bản thân, cũng là cách Cự Triệt dễ gặp thị phi, đặc biệt khi có Hóa Kỵ. Nếu Triệt tại vị trí Thiên Đồng tức tại cung Tài Bạch thành cách Đồng Triệt nội cách Đồng Cự Cơ ý nghĩa vẫn chủ thế bế tắc, xung đột được thay đổi, Đồng Triệt khai thông, Thiên Đồng chủ thay đổi, tăng tính chất biến đổi toàn diện. Nếu Cự Cơ Đồng tại đây hội Tam Không chủ mệnh tạo thường tính cách thường hay quên, tư tưởng hư không, nếu đắc vòng Trường Sinh khí vượng có thể thành tựu lớn. 




Cách cục Cự Cơ cư Mão Dậu này nếu có Song Hao tại bản cung và cung xung chiếu là cách cục bạo phát về Tài Danh. Thực tế tại đây không chỉ do bản chất của Cự Cơ Song Hao. Thực tế chỉ trong ba can Đinh Kỷ Quý có Song Hao cư Mão Dậu, đây là ban can tuổi âm nam, hành vận lưu tới cung độ Tham Lang, Âm Dương, Vũ Phủ, Thiên Đồng và Phá Quân. Trong đó hai hành vận Tham Lang và vận Vũ Phủ định cách Cự Cơ bạo phát, do Tham Lang nhập vận thứ hai phát khởi tham muốn, tham vọng ở thế đứng Thất Sát cư Tí Ngọ hội chiếu rất hay. Hành vận Âm Dương tăng tính giao tiếp xã hội, cung vận Vũ Phủ là hành vận then chốt luôn hội Tồn Tướng Ấn hoặc Thanh Phi Phục. Cự Cơ cư Mão, với Đinh Kỷ có Lộc Tồn tại đối cung, với can Quý với Lộc Tồn tại ngay bản cung. Cự Cơ cư Dậu, can Đinh Kỷ tại bản cung và can Quý có Lộc Tồn tại đối cung. " Cự Cơ Mão Dậu tốt thay, công danh vinh hiển lại tay hoang tàn, ngộ Song Hao là làng quán thế". " Cự Cơ Mão Dậu hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế". " Cự Cơ đồng lâm công khanh chi vị". Tiền nhân khi lưu lại các câu phú có nhiều trường hợp tổng hợp toàn bộ độ số của cách cục, người nghiên cứu tử vi nếu không suy xét cẩn trọng có thể gặp sai lầm khi định cách cục và tính chất của các tổ hợp Mệnh cách. 

Saturday, June 9, 2018

Bàn mệnh số tử vi cụ Hà Uyên với Sát cách



Cụ Hà Uyên sinh ngày 22 tháng 8 năm 1928 âm lịch, giờ Mão. Để tránh việc gọt số trò xin nêu tất cả những gì trò biết về cụ. Đó là cụ sinh ra trong một gia đình khá cơ bản, 14 tuổi cụ bỏ nhà ra đi làm cách mạng. Cụ sau đó được làm phó sau cụ Sùng Lãm. Cụ được nhờ vợ rất nhiều và cụ cũng học huyền học. 
Cụ Hà Uyên có cung trọng điểm tại Hợi Mão Mùi với các sao TUẦN KHÔI KHOA TUẾ, vận hạn trải qua đây tất có những biến động lớn, lại đi cùng bố cục TVL giao hội Sát Phá Tham nên có sự mâu thuẫn trong vận này, tuy nhiên bố cục cung trọng điểm này khá tốt đẹp, luận đến vận này cụ sẽ thành công nhưng cũng khá vất vả, thuận cho kinh doanh. Trò có đọc nhiều câu phú về bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham nhưng không thấy có câu nào ca ngợi, chỉ có dâm, khó khăn, khúc toàn cố quý hay là không lợi quan trường, lợi cho kinh thương.
Mệnh thuộc Mộc, hợp với Thiên Cơ thủ Mệnh. Sao Thiên Cơ nằm trong nhóm CNĐL vốn tính ổn định cao, với Cự xung nên tính thành công sẽ không thể bằng cách Cự Cơ Mão Dậu, một phần do bố cục chính tinh đã phân biệt khi mà Cự Cơ Mão Dậu là tinh hệ Tử Vi Tý Ngọ với sự sắp xếp chính tinh khá hoàn chỉnh và đặc biệt là Tử Vi cư Tý Ngọ, nếu không bị phá cách luận không phải kẻ tầm thường. Phần khác là do bố cục CNĐL mang tính ổn định, được may mắn của bộ Cơ Lương. Ở đây là Cự xung, tính thị phi, tranh luận cũng khá nổi bật với đương số. Tuy nhiên bố cục này lại gặp Kình Hao. Thiên Cơ chủ cơ hội hợp với Kình Hao cần thay đổi, nhưng cả nhóm CNĐL lại không hợp. Bố cục chung là CNĐL ngộ Kình Hao với Tang Hư Mã có Phượng Khốc và Quyền Kỵ Tuần Kiếp nhập Sinh Vượng. Đây cũng là nói lên tính cách con người cụ, CNĐL ngộ Kình Hao mang tính chủ động, phản kháng với hoàn cảnh, tính bộc phát cao nhưng được sự ủng hộ, ngưỡng mộ của Phượng Khốc, sự đồng lòng của hoàn cảnh xung quanh, làm tăng thêm tính chất đứng đầu của Kình Dương, lại thêm Tang Hư Mã là sự chủ động trước khó khăn, vượt qua khó khăn mà thành công do nghi lực, ý chí của Mệnh (thời bình) và cách chiến binh với võ cách (thời chiến). Đó là nghi lực của người Tang Hư Khách. Khi khó khăn sẽ khiến cho bản thân mạnh hơn, thích nghi mà tiến xa hơn trong sự nghiệp. Ở đây có nhiều cách hay như Kình Phượng, Mã Sinh, Quyền Khốc nên cái Tuần Kỵ Kiếp kia cũng chỉ là tai họa khiến cụ mạnh mẽ hơn mà thôi. Bản thân cách Tang Kình Phượng tại Mệnh cũng là cách cục quyết đoán, chủ động trước nghịch cảnh. Sức khỏe cụ cũng rất tốt (Sinh Vượng)
Đại vận đầu tiên tại Mệnh cung với cuộc sống không được êm đềm với bố cục Cơ ngộ Kình Tang Phượng Kỵ nhập Vượng giao lai Đồng Lương ngộ Đại Kiếp Mã Khốc Khách nhập Sinh và Âm Hư Tuần Quyền. Cái khó khăn lớn đến từ cung Tài (ĐẠI KIẾP) dù được cát hóa bởi Sinh Vượng cũng ảnh hưởng đến cung Mệnh, khiến bản Mệnh có ý chí phản kháng, chống lại. Ý chí Sinh Vượng đó rất mạnh mẽ, lại ứng hợp với thời chiến nên cụ làm chiến binh. Bố cục có Đồng Lương nhập Sinh nên may mắn, phúc bền. Bố cục nhập Sinh mà hóa Sát thành Quyền. Cụ chủ động bỏ nhà đi theo cách mạng. Trò có nhớ là cụ Hà Uyên sinh ra trong gia đình cơ bản ở một nước thuộc địa, khí hình gốc như vậy luận thấp đúng k thầy? Với thời nay có lẽ cụ mà làm kinh doanh sẽ thành công lớn. 
Đại vận thứ 2 là cung độ Tử Phá ngộ Xương Khúc Khôi Thanh có Linh giao lai Vũ Sát Khoa Bật Binh và Liêm Tham Hóa Lộc Tả Phù Hồng Phi Tuần. Bố cục rối ren, nhiều mâu thuẫn cả trong nội tâm lẫn hành động. Tử Phá là 2 sao lãnh đạo trong Tử Vi, lại có Khôi Khoa Tuần Hồng nên cụ cũng được làm lãnh đạo, làm phó cho cụ Sùng Lãm. Bố cục Mệnh mang tính chủ động theo võ cách chiến binh, hạn TVP giao hội SPT lại có Phi Phục Thanh là cách chiến tranh. Cách Bật Khoa có tính cát hóa lớn, giúp định hướng tốt hơn, giải quyết xung đột, khó khăn. Tài năng cụ cũng hơn người với cách Nhị Khúc, Xương Khúc Khôi Thanh có văn hóa, trong thời đại đó càng hơn người, được làm lãnh đạo cũng đúng. Cung Hợi Mão Mùi ở đây là cung độ hay và thành công nhất của cụ.
Đại vận thứ 3 là cách VCD có Tiểu Phù Trì Diêu Y Thiên Không giao lai Cự Hổ Triệt và Dương Đà Tuế Hình. Bên ngoài xung là Đồng Lương ngộ Đại Kiếp Mã Khốc Khách nhập Sinh. Cự Môn ngộ Triệt lại đóng giữa Cự Tướng, đây là cách bị lộ, bi phản bội. Nếu ở thời bình có lẽ cụ bị phản bội nhưng ở mặt tình cảm do ở đây là hình ảnh người đàn ông gặp tam Ám. Nhưng trò đúng là vẫn chưa biết cách cục đi tù ở đây là gì, mong thầy chỉ điểm cho trò ạ. Liệu có phải cách Đồng Kiếp không thưa thầy? Vì hạn này trò chưa rõ nên vẫn chưa luận được hướng của vận sau, nên trò tạm dừng ở đây, mong thầy chỉ điểm giúp trò ạ. Trò xin chân thành cảm ơn thầy.



Luận Thai Tọa là an nhàn sau song sắt nhà tù thực là cách luận sai sót phần kiến thức để luận giải lá số tử vi. Cần xét điểm quan trọng của vận nước. Đây là thời chiến loạn, rối ren. Có sự tác động của quốc gia khác tới xã hội, bóc lột và cai trị. Vận nước tất cả đều chịu tác động thì tính tác hóa lớn nhất. Nếu lá số này thời bình luận hoàn toàn khác, mệnh cách thuộc ngành nghề hình pháp, đa phần là cách cục của luật sư, ưa hình pháp và vấn đáp, cự phản đối. Mệnh cách sinh ra trong bối cảnh thời vận này, nếu có Cự Môn thủ mệnh chính là bất mãn với chế độ cai trị, có tính nhân bởi Cơ Nguyệt Đồng Lương càng thúc đẩy cho hai chữ " Tạo phản". Các bố cục mệnh số giai đoạn này còn lưu giữ mệnh Cự Nhật hay Cự Cơ Đồng với mệnh thân Cự Môn giao hội Sát cách đều có khuynh hướng vậy, quan trọng là xét chỉ trong ý nghĩa tư tưởng, miệng lưỡi hay cả hành động. Ngay thời nay cũng vậy, mệnh Cự Môn đặc biệt Cự Kỵ thường có khuynh hướng chính trị, Cự Nhật cư Dần hay bởi đứng lên bày tỏ quan điểm phản đối với đường lối. Ba sao đứng đầu Cự Môn, Phá Quân và Tử Vi đều có lý tưởng, đường lối bên là ba sao dứng đầu trong thế chính tinh. Mệnh cách Cơ Kình Kỵ Tang Phượng nhập Vượng, Đồng Lương cách ngộ Đại Kiếp Mã Khốc Khách nhập Trường Sinh. Mệnh cách Cơ Nguyệt Đồng Lương có Kiếp Kình Kỵ Tang Khốc nếu không nhập vòng Trường Sinh ắt phải gặp tai kiếp lớn, không thọ. Định cách bởi Kỵ Sinh ngộ Đồng Lương có Kiếp là vượng khí, khí bất tuyệt thì mệnh thăng trầm nhưng không phải là mệnh yểu. Bố cục này đã chế hóa Kỵ Kình Cơ bởi huyền học thuộc Văn Cách. Cũng lá số người viết với cách cục này. Trọng điểm cách bởi chính bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương có Kình Kỵ Tang Kiếp Mã Khốc Khách nhập vòng Trường Sinh với Đồng Lương Sinh. Bố cục này là cách cục hay. Nếu theo kinh thương thì bạo phát thành tựu thương nghiệp. Đây chính là lá số chế hóa Sát cách ở mức khá vượng. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương dụng Sát cách nòng cốt bởi Kỵ, tối hỉ đắc vòng Trường Sinh. Đây là lá số đại vận thứ hai gặp khó khăn lớn, trong bối cảnh thời cuộc rối ren, Cự cư Thân, trong cách Cự Cơ Tí Ngọ nhập Mệnh Thân, với Tử Phá vận như vậy thuộc cách cục hướng tới đường lối. Do trọng điểm cung nằm tại Mệnh cách, do đó tác động bởi mệnh tới cách cục vận rất lớn. Đây cũng chính là lá số khác biệt với mệnh quần chúng. Tập trung bởi Sát cách ứng Kỵ Khốc Mã Kình Kiếp. Như việc Trung Quốc cách đây khoảng 1960 còn nghèo đói, số người chết đói rất nhiều, một Trung Quốc thấp kém so với thế giới. So với hiện nay gần 40 năm đã vượt đứng đầu thế giới về mệnh cách đại phú. Thời cuộc là như vậy. Vận nước tác động lớn như vậy, tuy nhiên người luận tử vi không rõ gốc thường tự ưa chỉ luận bởi lá số tử vi của mệnh tạo ra cả cuộc đời trong khi cuộc đời gắn xã hội, là thứ biến động. Chỉ sự biến động là bất biến.   Chữ phản kháng và cái nhìn khác không cam chịu do thân phận là gốc của đứng dây cách Kình Phượng, có quần chúng tôn. Lá số này do bố cục Sát cực vượng, xuất thân ứng hợp Văn Các thì hợp cách. Khí hình gốc vượng. Lá số này là cách cuộc đời rối ren do thế sắp xếp của Chính Tinh, chủ xung đột, khó khăn về đường lối, lý tưởng. Nếu mệnh cách không hội Sát cách vượng thì chỉ là mệnh thường, cam chịu khó khăn. Ở đại vận thứ hai bố cục này mang ý nghĩa tăng tính tranh đoạt, do mệnh cách thuộc tổ hợp cung trọng điểm, tác động mạnh, các đại vận luận theo bố cục này. Tính cạnh tranh, xung đột trong nội tâm hay cách bản thân nhìn xã hội trở nên lớn, bởi Tử Phá tức xung đột về lý tưởng, trong nội tâm cũng luận vậy. Cách vào tù là bố cục Cự Nhật ngộ Tuế Diêu Đà có Kỵ Kình Tang Cơ xung lại ở cung an Thân. Cách cục này vào tù do đứng lên phản đối bày tỏ quan điểm, được ngưỡng mộ, cũng là cách Cự Triệt phản kháng. Lưu ý nguyên do là bất đồng chính trị, đứng lên phản kháng ứng hợp thời vận thì hình ngục. Rất nhiều cách cục tù ngục biểu hiện bởi các bố cục. Ở đây là do lý tưởng, Cự Nhật dương lên phản đối trong cách cục trên thì không chỉ một lần. Xã hội thời trước tới nay, quan can gián dễ hình ngục. Do vậy nên cổ nhâm thường luận Cự hay Liêm dễ họa tù ngục. Nhìn được lý do thì luận ra bố cục, định được Sát cách. Cần lưu ý. Trong bối cảnh vậy, bên ta đang là kẻ nổi dậy, tất yếu kẻ đứng đầu, ưa phản kháng đấu tranh thì ngồi tù. Trong thời đại nay bố cục này thì lại của phe đối nghịch với nhà nước ta. Cũng thường là Cự Môn, bố cục này cũng vậy. Do hình thành đủ quan điểm, quần chúng đi theo. Người viết hay luận cách Kình Khốc hay Kình Hao Phượng Khốc mạnh bởi có quần chúng tôn theo. Cũng với cách cục này ở nơi khác thì thường tự tạo một đảng phái đứng đầu. Bố cục trên mang ý nghĩa vậy. Luận Sát cách thành thục gắn liền với Khí Hình thì rõ được nội dung biến động của giai đoạn. Nếu chỉ nhìn vào các bố cục thì thườn nhìn chỉ được họa hay phúc, không nhìn được thăng hay giáng. Luận mệnh quý là vậy. E rằng thời nay nhiều người luận mệnh cách này yểu mạng. Khi rõ thấu hơn thì thấy rối loạn của tử vi gây ra bởi nhiều người luận chưa tinh, thường có một phần nhỏ tự nhận định và đề cao bản thân thì dễ nhầm lẫn khi luận cách cục vậy. Mệnh cách vậy bố cục chế hóa Sát vượng, tuy có khuyết điểm nhưng vẫn thuộc cách cục mệnh quý. 



Sunday, December 10, 2017

Luận nữ mệnh cách Cự Cơ hóa Kỵ

Nữ mệnh thuộc ngũ hành Hỏa, mệnh cách gặp bố cục Cự Môn giao hội với Cơ Đồng hình thành cách cục Cự Cơ Đồng, bất hoàn chỉnh cách cục Cự Nhật do đó bố cục này cần giao hội cách cục tốt đẹp hoàn chỉnh ý nghĩa. Với cách Cự Cơ Đồng thì bố cục Cự Cơ cư Mão Dậu được đánh giá hay nhất của cách cục này do sự giao hội giữa Cự Môn và Thiên Cơ tạo thành các ý nghĩa khá tốt đẹp. Ở đây Thiên Cơ và Thiên Đồng là hai sao chủ hiền hòa, bố cục này mang tính chất ổn định, ít gặp sóng gió do tính chất bằng lòng, và sự ham muốn về hưởng thụ tinh thần của bố cục. Tuy nhiên khi giao hội với Cự Môn thì sao Cự Môn đinh chủ thị phi tác động lớn tới bố cục của mệnh cách. Cự Môn là sao tài năng của nhóm Cự Nhật, do đó nhóm sao này chỉ gồm hai sao hoàn chỉnh tác động mạnh như ba nhóm sao lớn còn lại. Cự Môn hỉ đồng độ với Thiên Cơ do sao Cự Môn chủ thị phi tuy nhiên là một trong ba sao đứng đầu, có khả năng khai sáng dẫn đầu do khả năng, tiềm năng của bản thân. Do đó mệnh cách có sao Cự Môn tọa thủ tuy biến hóa khác biệt nhưng vẫn có nét khác thường, đặc biệt là cách cục Cự Môn giao hội với các bàng tinh tăng tính chất quan trọng. Cự Cơ là sự giao hội của Cự Môn và Thiên Cơ có tính chất phối hợp khá tốt đẹp.


Sao Thiên Cơ chủ sự lễ phép, cũng chủ hỏi, nghi vấn, từ đó Thiên Cơ là khôi sao chủ bí mật, chủ thời cơ do đặc tính cơ bản tạo thành. Thiên Cơ chủ hiền, chủ lợi ích riêng, nhóm riêng khi phối hợp với Cự Môn. Do đó cách cục Cự Cơ có phần chế hóa thành hữu dụng nột số tính chất của Cự Môn thành tốt đẹp. Cự Cơ thủ mệnh cách cục này chủ biến đổi, thay đổi khi gặp thời cơ, lợi ích trước mặt. Cũng chủ nghiên cứu sâu về học thuật, hay khám phá nghiên cứu. Cự Môn hay chê bai khi luôn cảm thấy bất mãn, bất công và Thiên Cơ chủ sự suy nghĩ, câu hỏi tác động liên tục lẫn nhau nên mệnh cách có khả năng tốt về nghiên cứu chuyên sâu. Mệnh cách chọn khuynh hướng của Cự Môn và Thiên Cơ với các hướng đi khác nhau mang lại cuộc đời khác nhau. Mệnh cách khuynh hướng Cự Môn thường có khả năng đặc biệt khi tập trung chú ý sâu vào sự việc sẽ nhận ra được những khuyết thiếu hay đặc điểm chỉnh do luôn tự đặt câu hỏi và mâu thuẫn với bản thân. Do đó Cự Môn trở thành văn tinh, nếu giao hội với các sao Khoa, Khôi Việt, Xương Khúc hoàn toàn có thể theo khuynh hướng nghiên cứu học thuật. Cự Cơ ở đây gặp Khoa Quyền Kỵ, đặc biệt cách cục Khoa Kỵ Triệt Đại Tuế tại bản cung khiến mệnh tạo có khả năng sử dụng miệng lưỡi, tức khả năng ngôn luận tốt hơn người khác.


Tuế Hổ Phù ở đây là cách bày tỏ quan điểm của bản thân tới bên ngoài, và do có được Phượng Khốc là một điều may mắn khiến mệnh cách trở nên tạo được sự chú ý của bên ngoài cũng vì cái miệng của bản thân, ở đây thuộc cách cục nổi danh do hình thành bộ Kình Đại Việt Quyền Khốc. Nổi danh đi liền với thị phi là đặc điểm đặc trưng của bố cục này. Cách cục này cũng mang lại chữ to lớn, khả năng thành tựu cao khi Cự Môn có Kình Dương, đặc biệt là Kình Đại thì ưa khởi tạo, làm chủ, bản thân có thể giành thế chủ động. Trong khi cung an THÂN với Đà La thì nhiều khi hay nghe lời một cách mù quáng, không suy nghĩ cẩn trọng. Cách cục Cự Cơ ngộ Kình Đại tức hoàn toàn đắc cách Song Hao là bố cục hoạch phát tài danh, nữ mệnh có bố cục này cũng luận hay do cách Cự Cơ hợp với cả nam lẫn nữ. Ở đây bố cục xấu là cách Cự Kỵ Kình Hình Việt chữ thái quá là thích hợp cho tổ hợp này. Đương số dễ thực hiện một cách thiếu kỷ luật mà theo khuynh hướng tự do, cách cục này dẫn tới vượt quá thời gian, chữ thái quá này như việc cố gắng làm một việc, hay quá giờ, hoặc quá sức. Tuy nhiên cách cục này lại mang khuyết điểm của Âm Dương cư Sửu  ở cung an Thân và Cự Cơ tại đây thuộc cách cục khá trễ nải, lười biếng, thường việc sắp đến thời hạn mới thực hiện, khả năng sắp xếp kế hoạch, thực hiện theo khuynh hướng ổn định trước kém.



Như cách cục này tương tự việc trễ giờ làm, đến muộn do bản thân thường sai lầm khi đánh giá các công việc. Tuy nhiên cách cục Thế Hổ Phù tại đây tạo ra đường lối nên chế hóa một phần của tính chất do bố cục mệnh thân tạo nên. Bản cùn Mệnh có Thiên Khốc, cách cục Mã ngộ Tam Thai khi bản thân tính dương lớn, nữ mệnh ưa xông pha, cũng ưa chủ động, tính chất tò mò, khám phá. Ở đây mệnh cách có Thiên Cơ giảm tính dương, tuy nhiên không đủ và khiến mệnh tạo gặp bệnh tật về phổi. Cách cục này mang ý nghĩa táo bạo, ưa đứng đầu và chỉ đạo, cũng giỏi việc cạnh tranh, tranh giành lợi thế cho bản thân do đó nếu theo Tài Cách là hợp mệnh. Cự Cơ hiểu biết tốt do đó nhìn ra các cơ hội. Ở đây cách Cự Cơ Kỵ Việt Quyền chủ tìm ra hướng đi khác lạ, cũng ưa việc này nên thường đạt được mục tiêu nhanh hơn, tuy nhiên mệnh cách lại ưa danh hão, chủ cố gắng cầm chừng, được một không lấn tới hai mà có phần do dự, tự mãn nên ảnh hưởng lớn tới cách cục phát của Cự Cơ. Mệnh cách có Cự Cơ với cung an Thân tại cách Âm Dương Lương thường trong họa không lường sẽ gặp phát may do Cự Cơ chế hóa được một phần tính bất ngờ của Không Kiếp, tuy nhiên cung an Thân tại vị trí Vô Chính Diệu thì không mấy hay ảnh hưởng lớn tới sức khỏe do gặp Cự Kỵ xung, nội cách có Đà ngộ Tang Hư Mã Khách là bố cục sức khỏe không ổn định.


Thân gặp Khôi Vượng Hư thì sức khỏe tuổi trẻ cũng ổn định, tuổi già gặp nhiều vấn đề, tuy nhiên một Lương ngộ Trường Sinh thì trong cái nguy hiểm sẽ được cứu không tới mức gặp bệnh nan y. Nữ mệnh có Cự Cơ ngộ Triệt Kỵ Khoa Đồng Quyền thì nội tâm dễ xúc động, cũng có tính cách thương người do ảnh hưởng của Thiên Đồng, tuy nhiên nếu xét trên lợi ích thì xét bản thân trước mới tới người khác, do đó dễ gặp sự ghen ghét, mệnh cách cũng mang tính chủ động giỏi cạnh tranh càng tăng mức độ xung đột. Mệnh cách dụng Quyền do Thiên Đồng hóa để chế hóa Kình Hình, cách cục Kình Kỵ Hình rất dễ bị người khác ghét bỏ, khi chế hóa thành thì biến hóa tính chất trở thành uy tín, danh tiếng khiến kẻ khác nể phục, với bố cục Cự Cơ dương tính hoàn toàn có thể chế hóa được cách cục này, tuy nhiên nữ mệnh không luận trước tùy khuynh hướng của đương số đặt vấn đề gia đình hay vấn đề sự nghiệp lên trên. Cự Kỵ Khốc Hình có Quyền là bố cục nổi tiếng của Tào Tháo thuộc cách cục. " A Man xuất thế do hữu Cự Kỵ Khốc Hình Thìn Tuất". Ở cung độ Thìn Tuất âm hiểm nên tạo nên tính cách của Tào Tháo. Mệnh cách tại đây ưa việc khoa trương, do hóa Khoa được chế mà thành, đây là cách cục khá hay khi thành thương nghiệp cách do hình thành bố cục tài năng được thổi phồng khi nhập vận phát, chủ phát danh hơn tài cách.



Mệnh cách nữ mệnh tuổi Đinh không thích hợp với Cự Cơ mão dậu ở phần tình duyên và phẩm chất ở thời xưa do cách cục này chứa nhiều thị phi của Cự Môn và cung phu thê luôn gặp cách cục Âm Dương Lương bị Đà Hao xâm phạm, đặc biệt vị trí cung Phu Thê là Âm Dương cư Sửu Mùi luôn gặp phải bộ sao kỵ gặp là Kình Đà. Đường tình duyên ắt gặp trắc trở với nữ mệnh là đúng với cách cục này. Nữ mệnh có Cự Cơ thì hợp hơn các sao khác do Thiên Cơ gặp nữ cách hợp với tính cách. Sao Thiên Cơ chủ suy nghĩ khi gặp Kỵ Hình Kình thường suy nghĩ thái quá, hay lo âu, đây là ngôi sao của cơ hội. Cách cục này tốt ở phần điền sản, mệnh cách có bộ sao này luôn không lo lắng về vấn đề nhà đất, hợp với ngành nghề liên quan tới điền sản, chủ sự luân chuyển, buôn bán tạo ra lợi ích. Nhìn chung mệnh cách nữ với Cự Cơ cư Mão bố cục khá tốt, ngộ Song Hao và Khoa Quyền Việt Phượng tuy nhiên kiến Kình Kỵ Triệt Hình không được chế hóa nên có khuyết điểm lớn, cuộc đời thăng trầm, bất ổn định, dựa vào đại vận để thành tựu. Một chữ Kình Phượng Việt thì khởi đầu, khởi tạo dù gặp nhiều khó khăn nếu nắm bắt thời cơ sớm muộn sẽ thành tựu vì đây là cách được ngưỡng mộ.

Wednesday, July 19, 2017

Tính chất bố cục tổ hợp của sao Thiên Cơ




Tính chất bố cục tổ hợp của sao Thiên Cơ




Sao Thiên Cơ thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương, luôn đi với Thiên Đồng hình thành cách Cơ Đồng có thể phối hợp bới bộ Âm Lương hoặc Cự Môn hình thành cách cục Cự Cơ Đồng và Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn toàn khác nhau về tính chất của mỗi cách cục. Bộ Cự Cơ Đồng luôn có tính xung đột ngay trong chính bố cục, tức việc có cách cục này không có sự êm đềm mà dễ gặp phải chia rẽ trong nội bộ bởi lợi ích chung và lợi ích từng cá nhân. Sao Thiên Cơ ở đây do ý nghĩa là suy tính nên có tính chất thực dụng với bản thân, sao Thiên Đồng là tập thể, xã hội, số đông nên ở đây có sự mâu thuẫn về lợi ích, sao Cự Môn có tính Ám khiến cách cục này thường do Cự Môn đứng đầu. Ở cách Cự Cơ Đồng thì Thiên Cơ đi với Cự Môn tốt đẹp hơn Thiên Đồng đi với Cự Môn vì cách Cự Cơ giỏi việc sử dụng ngôn ngữ hay cái miệng để tạo lợi ích cho bản thân, tạo tiếng nói cho bản thân và cũng có khuynh hướng rất giỏi một lĩnh vực khiến tính thị phi của Cự Môn giảm thiểu thấp. Cách Cự Cơ thường hay nghe trong kinh thương  đa phần nếu tồn tại thêm bộ Kình Hao hay Đà Hao tức gặp Song Hao khiến Cơ Phá có Cự tăng tính trao đổi, chuyển dịch vì vậy lợi cho việc sử dụng đồng tiền liên tục. Trái lại nếu thuộc cách Cự Cơ thêm Khoa Quyền hay Văn Tinh đa phần theo con đường học vấn, học vị là đúng hướng vì Cự Môn và Thiên Cơ có khuynh hướng nghi ngờ, cách Cự Cơ cũng ưa khám phá, có tính chuyên sâu của một lĩnh vực. Đa phần các lá số đắc cách người viết luận về Cự Cơ thường theo con đường học vị, một số có Song Hao phải đại hạn đi thuận tới Tham Lang cần gặp Hỏa Linh, đặc biệt Hỏa Tinh đồng độ thì theo đường kinh thương. Thiên Cơ đặc biệt kỵ gặp Hỏa Linh trong mọi trường hợp, nếu có thêm Kỵ Hình sát tinh ngay chỉ ở cung độ đại hạn cũng thuộc cách tâm trí đầu óc gặp vấn đề, nặng thì có khuynh hướng loạn động. Cự Cơ Đồng tính động cao khác với các sao có tính ổn định không ngại kiến Sát Tinh hoặc dụng được Sát Tinh như cách Sát Phá Tham. Trong trường hợp này nếu gặp phải Kỵ Hình không xấu bằng Hỏa Linh, đặc biệt nếu có cách Việt Linh Hình Kỵ ngộ Thiên Cơ thì não bộ thường bị tổn thương do áp lực, hay căng thẳng thần kinh rất hay gặp, có một số trường hợp bị động kinh. Với Cự Cơ Đồng khi ở vị trí Cự Đồng tam hợp có Thiên Cơ nếu sao Thiên Cơ thủ mệnh thì đây là cách cục liên quan tới bất mãn ở số đông, sao Thiên Cơ lúc này không hay khi Cự Đồng gây rối loạn lớn, thường dễ lộ ở tính lợi ích nếu Thiên Cơ ngộ Triệt. Bố cục Cự Cơ Đồng với Thiên Cơ độc tọa và Cự Đồng đồng cư là cách cục mâu thuẫn lớn, là cách cục không hay. Trong trường hợp Cơ Đồng đi với Âm Lương hình thảnh nhóm sao Cơ Nguyệt Đồng Lương nhấn mạnh ở tính âm nhu, hiền lương. Thiên Cơ trong bố cục này được hưởng lợi ở phần tinh thần, cách cục này chứa nhiều may mắn và không gặp Cự Môn gây mâu thuẫn mà gặp bộ Âm Lương hiền lành khiến bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương có tính chất an phận, hưởng thụ cuộc sống, may mắn. Ở đây bản thân không cảm thấy bất mãn mà thường nhìn cuộc sống thoáng. Thay vì bản thân đang ở mức dưới rất nhiều người, ở mức trung lưu với Cự Cơ Đồng có tính vươn lên lớn thì cách Cơ Nguyệt Đồng Lương nhìn xuống phía dưới thấy bản thân mình còn may mắn hơn nhiều người. Ở đây xét về các mặt cơ bản là phần công danh và tinh thần thì được phần tinh thần an ổn, cuộc sống không gặp nhiều khó khăn ngay cả khi không dư dả, trong khi đi với Cự Môn dù được chữ Phú nhưng vẫn luôn tồn tại bất mãn khi nhìn lên và cố gắng lên tầng lớp cao hơn. Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương xét về mặt tinh thần nếu trường hợp đắc cách thường tin tưởng việc thiện ác, nhân quả nên ít làm việc táo bạo hay việc tàn phá vì lợi ích nên khí Sát không tạo tác lớn dẫn tới ít phải gặp những tai họa lớn. Chính bản thân cũng tự thấy không mắc lỗi lầm mà có phần rộng lượng như Tử Phủ. Tuy nhiên khi Cơ Nguyệt Đồng Lương xấu gặp phải Sát Kỵ trùng phùng lại là cách chịu tai họa, xấu nhất là vong mạng vì tai họa do chữ Sát do kẻ khác gây ra cho bản thân.



Thiên Cơ về gặp Sát Tinh một số sách luận là hạng trộm cắp vặt là sai lầm. Thực chất sao Thiên Cơ khi phá cách không hoàn toàn do Sát Tinh, thuộc dạng kém trí tuế, mưu kế nhìn thấy lợi nhỏ mà lấy ngay bỏ qua cái lợi lớn. Sao Thiên Cơ ý nghĩa cơ bản là lợi ích tuy nhiên giữa việc đắc cach và phá cách hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt khi nhìn bên ngoài người viết đã nghiệm lý các lá số đắc cách và phá cách của sao Thiên Cơ hay bộ Không Kiếp đều có một đặc điểm chung. Với bộ Không Kiếp phá cách cái xấu là kẻ nhìn thấy lợi nhỏ mà làm việc không suy nghĩ, thuộc hạng trộm cắp vặt, bất tín đều thuộc cách này. Với Không Kiếp này cũng như Thiên Cơ ở đặc tính lợi ích nhỏ, ngoài ra còn nhiều tính chất có thể xác định mệnh đắc cách hay phá cách của Không Kiếp sẽ luận ở bài của cặp sao này. Với Thiên Cơ đắc cách khá khó tuy nhiên dụng được thì tính hoạch phát lớn vì ngôi sao này liên quan tới cơ hội của bản thân cần nắm bắt. Cách Cự Cơ Đồng là cơ hội do khám phá, cơ hội ra trong cái khó khăn, khi mà Cự Môn hay bất mãn trong khi cơ hội của cách Cơ Nguyệt Đồng Lương liên quan nhiều tới may mắn xuất hiện đột ngột không mang tính khám phá của bản thân như thời cơ của Cự C
Cơ Đồng. Sao Thiên Cơ rất cần Hóa Khoa để thành cách, Hóa Khoa khiến sao này có khả năng hóa Sát thành Quyền. Ở cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương có tính chất ổn định tránh gặp các sao Không Kiếp, Kỵ Hình cần thiết gặp Lộc Tướng Ấn, Đào Hồng, Cô Quả, các sao không mang tính hoạch phát hoạch phá thì Song Lộc là cách hay nhất vì hàm ý giữ được sự bền vững lâu dài, cũng mang hàm ý thịnh vượng vì vậy Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Cơ Nguyệt Đồng Lương ưa cách này, hai nhóm sao Cự Nhật và Sát Phá Tham tính động lớn không nên gặp, đặc biệt là tránh việc Cự Phá đồng cung Lộc Tồn. Sao Thiên Cơ nhị hợp Phá Quân nên tính động khá lớn. Cách cục Cơ Kình Hao hay Cơ Đà Hao đều hay hơn trường hợp Thiên Cơ đi với Lộc Tồn đồng độ, đặc biệt là Cự Cơ Mão Dậu lại thêm Lộc Tồn. Sao Phá Quân và Thiên Cơ lợi ích với nhau, cũng là cách dùng mưu kế để tư lợi khác với Tử Vi bằng lý tưởng. Vì vậy, Phá Quân thường hay bị cổ nhân đánh giá là xấu khi thời phong kiến Tử Vi tức là vua hành động theo ý trời, tức Thiên Tử. Tất nhiên là khi xảy ra xung đột tức Sát Phá Tham đi với Tử Vũ Liêm thì kẻ thắng lại là vua, lại là Thiên Tử, cứ thế luôn dời đổi không ngừng. Thiên Cơ cũng chính là thời cơ như vậy.




Sunday, July 16, 2017

Sao Thiên Cơ với cách cục tâm linh




Sao Thiên Cơ với cách cục tâm linh



Sao Thiên Cơ thuộc nhóm sao Cơ Đồng, bộ Cơ Đồng và bộ Âm Lương thuộc nhóm sao Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao thuộc chính tinh liên quan nhiều nhất tới tâm linh. Ngoài đời thực ta cũng hay thấy các hiện tượng lên đồng, nhập hồn, nhập cốt. Những hiện tượng này thực chất chưa luận vội ở tính chính xác, hay cơ sở. Ta thấy từ việc tâm linh rất dễ bị coi là tâm thần. Ở đây do sao Thiên Cơ luôn đi với Thiên Đồng, trong trường hợp tạo thành nhóm sao Cơ Nguyệt  Đồng Lương thì hay tin vào chuyện lương thiện và quả báo, trong khi nếu đi với Cự Môn hình thành nhóm Cự Cơ Đồng thì ta lại có việc thị phi, gặp chuyện đồn thổi vì Cự Môn luôn có ý nghĩa là lời nói, cái miệng đời. Trong cách cục Cơ Đồng thì sao Thiên Đồng hay liên quan tới chữ Phúc, cũng là sao chủ phúc hậu, từ thiện nên dễ thấy chữ Phúc thường đi với chuyện tâm linh. Tam hợp với Thiên Đồng là sao Thiên Cơ cũng đóng vai trò quan trọng vì sao Thiên Cơ có ý nghĩa là suy nghĩ, tư tưởng thường thiên về tư duy, khác với lý tưởng của sao Tử Vi mang tính trách nhiệm thường không thay đổi, thuộc hành Thổ có tính ổn định trong khi sao Thiên Cơ mang ý nghĩa về suy nghĩ luôn luôn động, tính động của Thiên Cơ càng lớn hơn khi bên cạnh nhị hợp luôn có ngôi sao Phá Quân. Cách cục mệnh có Thiên Cơ hoá làm Thiện tinh vì thực chất sao này dùng đầu óc nên việc làm có phần mang tính tri thức, có suy nghĩ khác với việc bất chất hậu quả như Sát Phá Tham. Cái nguy hiểm dẫn đến đa phần chuyện luận giải sai về sao Thiên Cơ trong khi nhìn cách cục rất tốt đẹp gia Tam Hoá, Lục Cát tuy nhiên khác xa với thực tế của ngôi sao này là ở tính chất động của Thiên Cơ gắn liền với sự linh hoạt hoặc phù động. Đối với Thiên Đồng có khả năng phòng ngự mạnh với Sát Tinh gồm Kình Đà Hoả Linh Không Kiếp Hình Kỵ, tuy nhiên sao Thiên Cơ rất dễ bị phá cách, đặc biệt bởi Hoá Kỵ. Nhiều nhà khoa học nghiên cứu nổi tiếng thường lập dị, liẻn quan tới một số hành động trong đời thường, tuy nhiên rất khó để tìm ra người đứng đầu có khuynh hướng như vậy. Các nhà nghiên cứu, nhà khoa học nhiều phần có mệnh tạo là Thiên Cơ, ở đây cách cục xấu của Thiên Cơ liên quan tới việc đầu óc không được bình thường. Người viết nghiệm lý nhiều lá số có mệnh Thiên Cơ thấy khuynh hướng của Thiên Cơ rõ nét khi phá cách là về vấn đề tư tưởng không bình thường, đặc biệt là trong trường hợp gặp với sao Hoá Kỵ, hay tác động mạnh hơn khi chính bản thân sao hoá Kỵ ở thiên can Mậu, kế đến là việc gặp với Không Kiếp. Sao Thiên Cơ thủ mệnh có Thiên Đồng tam hợp, tức Thiên Đồng ở vị trí cung cấp thông tin bên ngoài vào khiến tính cách của mệnh Thiên Cơ thay đổi, lưu ý là trường hợp cung độ tam hợp khác bản cung ở việc một bên chính bản thân có tính chất vốn có của chính tinh, một bên khi tam hợp mang tính chất của sao này tác động tới chính tinh bản cung khiến tính cách thay đổi. Việc quan trọng trong bài viết này là sao Thiên Cơ rất có mối quan hệ với tính tâm linh,  nếu mệnh tạo của đương số có cách cục Cơ Kỵ đi với sao Linh Tinh hoặc Cô Quả thì khả năng việc tin tưởng với các chuyện khó tin là có thể. Cách Cơ Kỵ đi với các sao tăng tính quan trọng thì tính chất này càng rõ rệt. Người viết có nghiệm lý một số trường hợp đương số khẳng định mình bị vong nhập trong một khoảng thời gian trước khi hồi phúc và phải ở bệnh viện tâm thần để điều trị. Có người có học vấn cao, có người trung lưu bình thường. Sao Thiên Cơ gặp Hoả Tinh hay Linh Tinh trong trường hợp đồng cung đều là phá cách nặng. Cho dù thuộc cách Thiên Cơ Tí Ngọ hay Cự Cơ Mão Dậu khi gặp bộ Hoả Linh tại mệnh cung đều có khuynh hướng mang dấu hiệu tâm trí không bình thường, đặc biệt nếu gia thêm Sát Kỵ tình trạng này càng nặng nề thêm.



 Nếu như các sao Sát Phá Tham ngộ Hoả Hao thành cách cục Sát Phá Hoả Hao khủng khiến Kỵ Hình có khuynh hướng do tính Sát vượng mà gây thương tích cho kẻ khác thì cách cục Cơ Hoả Kỵ Hình do vấn đề về tâm thần mà gây ra những chuyện động trời trong khi khí Sát không nặng. Tuy nhiên việc phân biệt mức độ xấu của Thiên Cơ có thể gây ra tai hoạ của kẻ có suy nghĩ khác thường thành công và người có vấn đề về tâm thần là khác nhau. Sao Thiên Cơ khi đi với bộ Âm Lương hình thành cách Cơ Âm cư Dần Thân và Cơ Lương cư Thìn Tuất. Quan trọng là sao Thiên Lương thiên về sự may mắn, lương tâm và khi Thiên Cơ đồng độ với Thiên Lương gặp Không Vong lại mang ý nghĩa theo hướng tăng đạo.  Nếu không gặp Không Vong cách cục này mang ý nghĩa phú gia địch quốc, bàn bạc việc binh, thuộc tham mưu cách. Sao Thiên Cơ do đặc tính suy nghĩ, mưu trí linh hoạt nên giỏi việc nhìn ra lợi ích, đi với Thiên Lương may mắn, có tính bộc lộ, cách cục này lộ ra tài năng của sao Thiên Cơ kết hợp với may mắn mà tạo thành sự nghiệp. Sao Thiên Lương mang ý nghĩa gặp may nhiều khi tới khó tin, cũng vì vậy với cách Cơ Lương thì mệnh tạo cũng có khuynh hướng về tâm linh, khi gặp Không Vong tức chữ mất xuất hiện, bộ Không Vong tác động mạnh tới tính cách của Cơ Lương khiến cách cục này trở thành vi tăng đạo, đặc biệt sao Thiên Lương ngộ Không tăng chữ bất ngờ gặp may khi tới hiểm nguy do tính chất bất thường của Không Vong. Cách cục này có phần tương tự như cách Tử Tham ngộ Không Vong tức Tuần, Triệt, Thiên Không tức lòng ham muốn đã mất, hoặc ham muốn rất lớn. Tử Vi có tính lý tưởng, Tham Lang có tính ham muốn, tham vọng. Với Tham Lang là ham muốn, Thiên Cơ là lợi ích gần với nhau. Tuy nhiên sao Thiên Lương là thiện tính, lương thiện của con người. Sao Tử Vi là trách nhiệm xây dựng, gánh vác lý tưởng. Chữ Không trong môn Tử Vi mang tính chất huyền bí vì có ý nghĩa là bất ngờ, nhiều khi ta nghĩ những điều có thật là việc không thể. Cách Thiên Cơ gặp Không Vong, đặc biệt là Nhị Không hay Tam Không có tính chất liên quan tới tâm linh.

Friday, April 7, 2017

Thiên Cơ độc tọa cư Tí Ngọ cách (phần 2)



Thiên Cơ độc tọa cư Tí Ngọ cách (phần 2)


Sao Thiên Cơ ở vị trí Tí Ngọ luận phối hợp hung cát tinh theo nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Mệnh có Thiên Cơ giao hội với các sao trong nhóm sao an theo Thiên Can có tính chất riêng biệt. Thiên Cơ hay khi gặp Kình Hao hình thành cách tranh đoạt được cơ hội và thay đổi cho phù hợp. Các câu phú thường khen ngợi cách Kình Hao thích hợp cho việc kinh thương hoặc nắm bắt thời cơ xây dựng công danh sự nghiệp. Kình Dương trường hợp xét riêng với bản tính của Thiên Cơ hợp cách nhưng xét trong trường hợp đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Kình Hao khiến tổ hợp này giảm tính ổn định, hạnh phúc mà có tính mâu thuẫn trong cách cục khiến thay đổi tính chất ban đầu. Thiên Cơ ngộ Kình Hao rất cần thiết gặp bộ Phượng Khốc mang ý nghĩa hay chủ được ủng hộ đồng lòng của hoàn cảnh xung quanh, vì vậy sao Kình Dương có tính chất đứng đầu tăng thêm ý nghĩa hay khi được sự ngưỡng mộ tới bản thân. Khi xấu là cách bị hình thương, khắc hại do sự mâu thuẫn, là Kình Dương hóa thành Hình khiến tăng tính Sát khiến Thiên Cơ khó chống đỡ được. Nếu có Hỏa Tinh hình thành cách nóng giận, bốc hỏa gây ảnh hưởng nặng tới tâm trí, đầu óc. Cần thiết có Quyền Tinh như Hóa Quyền hay Quốc Ấn để giảm thiểu tính chất xấu. Trong trường hợp thứ hai là cách Thiên Cơ ngộ Đà Hao có tính chất chậm trễ, Đà Hao cũng có tính bộc phát như Kình Hao nhưng Đà La thiên về việc tích tụ mới bộc phát. Thiên Cơ gặp Đà Hao dễ gặp trường hợp không nắm bắt kịp cơ hội, tuy nhiên giảm tính Sát khi hình thành cách cục xấu.


 Thiên Cơ có Đà Hao thay đổi theo chiều hướng tích cực nếu được bàng tinh hợp cách như Khôi Việt hay Phượng Khốc. Cách Cơ Đà không được đánh giá cao như cách Cơ Kình ở mặt công danh và được ưu điểm ở việc tính phản kháng không lớn và tương đối hợp với bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương. Ở đây có thể gặp cách Đà Hỏa mà không gây tai họa như trường hợp trên, có sức đề kháng tốt hơn với Sát Tinh. Thiên Cơ gặp cách cục tiếp theo gia hội với Lộc Tướng Ấn, đây là bộ sao hay nhất khi đi với các sao an theo Thiên Can. Thiên Cơ có Lộc Tướng Ấn khiến tính động giảm và phù hợp với bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương vì đây là cách ổn định ở may mắn và phúc thọ. Tính cơ hội của Thiên Cơ không lớn nhưng may mắn của cách cục này có ý nghĩa lớn. Đặc biệt bộ Đồng Lương chủ Phúc Ấm được vòng Lộc Tồn rất thích hợp, có Quốc Ấn nên có thể hóa giải được Sát Kỵ. Bộ sao này nếu không gặp phải Không Kiếp được đánh giá rất cao khi xét về tổng thể lá số cuộc đời, đặc biệt có khả năng hóa Tứ Sát thành Quyền. Lưu ý mệnh có sao Thiên Cơ tối kỵ gặp Hỏa Linh, đặc biệt là Hỏa Tinh tại vị trí đồng độ với Thiên Cơ ắt tính hung thể hiện rõ rệt. Khi Cơ Nguyệt Đồng Lương đầy đủ là lúc Tử Vũ Liêm rối loạn với Sát Phá Tham cho thấy trên lá số Tử Vi khó có được sự hoàn chỉnh của tất cả các cách cục. Sao Thiên Cơ cư Tí Ngọ quan trọng thứ nhất khi giao hội với các sao an theo Thiên Can. Ở đây hay thứ nhì khi có được bộ Khôi Việt hình thành cách cục phát khởi phúc ấm, may mắn và thời cơ để tạo thành tựu.

Thiên Cơ độc tọa cư Tí Ngọ cách



Thiên Cơ độc tọa cư Tí Ngọ cách 


Thiên Cơ cư tại vị trí cung Tí Ngọ thực chất đầy đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương và đối cung là sao Cự Môn thuộc nhóm Cự Nhật. Cách này thuộc bộ Cự Cơ với nội Cơ ngoại Cự có phần hơn cách Cự Cơ Mão Dậu về tính an ổn nhưng xét về công danh thua thiệt hơn. Tính chất của Cự Cơ cư Mão Dậu là Cự Môn tạo động lực mâu thuẫn do luôn ở trong trạng thái bất mãn và Thiên Cơ chính là cơ hội nằm trong đó để thay đổi, nhấn mạnh tính thay đổi được của sao tài năng và lãnh đạo là Cự Môn nên rất hay. Trong trường hợp Thiên Cơ thủ mệnh cư Tí Ngọ thì hoàn cảnh không gặp khó khăn vì có được may mắn và trợ giúp của Thái Âm, chỉ có ngôi sao khó khăn, bất mãn là Cự Môn ở bên ngoài luôn xung chiếu gây bất mãn nhưng Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm từ hiền hậu, từ thiện không ưa thay đổi vì bên ngoài. Nhìn chung với cách này gặp hạn thường thể hiện rõ tính bất ổn định khi đáo hạn xấu. Thiên Cơ cư Tí Ngọ do đầy đủ tính chất nhóm sao nên cuộc đời thường may mắn và được nhiều cơ hội tốt để thành công trong trường hợp chỉ xét chính tinh. Cung độ Tí Ngọ đặc biệt là cung Ngọ có tính chất đứng đầu của Địa Chi tác động tới tính chất các sao nên thường các Chính Tinh tại vị trí này tăng thêm tính chất tốt đẹp ngay cả với Tham Lang ở đây kém xa với Tử Vi ở đối cung. Thiên Cơ là cơ hội, ở tam hợp tối hỉ khi được hai sao Đồng Lương cư Dần Thân là chữ Phúc đi với Ấm, là sự che chở và may mắn bảo vệ bản thân khi cách cục được thành lập tuy ở vị trí tam hợp tính chất không rõ rệt như bản cung nhưng tác dụng cũng mạnh mẽ.


 Nếu như xét ở phần có phúc và có may trong tất cả mọi người trong xã hội thực tế thì Đồng Lương là cách cục may mắn nhất trong trường hợp xét tính chất của bộ sao. Còn Đồng Lương gặp hạn xấu hay các sao bất hợp đặc biệt là Không Kiếp thì luận là không may tới bất hạnh nhất. Tử vi là sự chuyển động liên tục của tinh đẩu kết hợp với thực tế bên ngoài và không có một nhóm sao nào không bị phá cách và thay đổi tính chất đến ngay cả bộ Tam Không với tính chất Vô Vi, Không cũng phải biến đổi và cách cục này kỵ gặp Tam Không là mất đi vì đang thụ hưởng. Có một số trường hợp đang xấu gặp Tam Không thành tốt đẹp và một phần nhiều đang xấu gặp Tam Không ta có quyền luận là vong mạng. Khi xem Tử Vi nếu nắm được Tam Không thì phần còn lại dễ luận hơn rất nhiều vì uy lực của Không rất lớn biến đổi hoàn toàn cách cục. Thiên Cơ độc tọa Tí Ngọ nhấn mạnh ở tính thời cơ, và kết quả gồm hậu quả và thành quả nhìn vào bố cục của tổng thể mệnh, khi vận động thì Hạn chính là kết quả mỗi nơi cách cục đi tới. Sao Thái Âm tại đây ở trường hợp cư Thìn với Thiên Cơ cư Tí được đánh giá tốt đẹp hơn vì Thiên Cơ không nên có thêm tính chất hỏa chủ nông nổi, đặc biệt bộ Âm Lương ở đây sáng tốt hơn vì thời cơ ẩn dễ nắm bắt và ý nghĩa của cơ hội tốt hơn trường hợp Thái Âm hãm. Trong trường hợp Thiên Cơ cư Ngọ thì Thái Âm cư tại Tuất gặp Địa Võng tối ảnh hưởng tới cách cục, đặc biệt khi vận hành tới cách Cự Nhật chủ dương khó lên nếu không được trợ cách, nếu cách cục tốt chủ nhìn ra và nắm bắt được cơ hội trong trường hợp thời điểm tối tăm hoặc khó khăn ví như trong trường hợp xã hội bất ổn về kinh tế hay thay đổi về cơ cấu tổ chức và đây là thời điểm Thiên Cơ thu hoạch được, đây là một ví dụ đơn giản về trường hợp bản cung và tam hợp khác nhau ở ý nghĩa như vậy. Tuy xã hội tác động ảnh hưởng xấu rất mạnh nhưng ta vẫn có thể sống được nếu có nội lực, trong trường hợp tại bản cung cái tác động xấu ấy chính là do ta nên không thể như trường hợp trên.

Tuesday, April 4, 2017

Cự Cơ Mão Dậu và hai hướng đi



Cự Cơ Mão Dậu và hai hướng đi


Đây thực chất là cách giao hội giữa Cự Môn thuộc nhóm sao Cự Nhật với bộ Cơ Đồng thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hình thành bộ Cự Cơ Đồng. Bộ sao này có hai trường hợp Cự Cơ và Cự Đồng. Cách Cự Cơ mang ý nghĩa hay hơn vì Cự Môn là sao của sự phản kháng, Thiên Cơ là lợi ích và Thiên Đồng ở bên tam hợp chính là cộng đồng. Ý nghĩa của cách này là bản thân đứng lên phản đối khi thời cơ đến giành lợi ích cho chính mình và cộng đồng. Khác với cách Cự Đồng có tính chất mâu thuẫn trong nội bộ, phản đối trong nội bộ. Tất nhiên hai trường hợp này đều xét khi cách cục tốt đẹp không gặp sát kỵ hình. Cự Cơ Mão Dậu có tính chất đặc biệt như vậy, như ở thời phong kiến thường mạnh về tính kinh thương, trao đổi buôn bán đặc biệt khi có bộ Song Hao cư Mão Dậu. Tuy nhiên có nhiều người luận tử vi chỉ xét tới cách cục kinh thương của sao này mà không rõ một tính chất khác thiên về nghiên cứu kỹ thuật ở thời buổi hiện nay. Qua nghiệm lí thì bản thân mệnh tạo có cách Cự Cơ đồng độ tùy theo bố cục của bàng tinh hay trường hợp hoàn cảnh bên ngoài tác động mà theo từng hướng đi khác nhau. Tuy nhiên ở tại trong tư tưởng, suy nghĩ luôn tồn tại suy nghĩ ban đầu chủ cả về hai cách cục này và chính hoàn cảnh thực tế và bàng tinh sẽ chọn hướng để phát triển cách cục theo một hướng hoặc kết hợp cả hai hướng trên. Cự Cơ nếu ban đầu xuất phát từ dòng họ tức Phúc có tính chất văn cách hay trong tử vi có Xương Khúc giao hội thường có định hướng theo nghiệp học vấn khám phá những thứ mâu thuẫn và tìm ra lối đi.


 Cự Môn nhất là trong trường hợp Cự Cơ Đồng khi theo nghiên cứu là cách tìm dâu tận gốc vấn đề và có những hướng đi mang tính mới mẻ, đột phá. Thường theo nghiên cứu kỹ thuật. Cự Môn thuở nhỏ năng động, khi chuyển về cách học thì Cự Cơ đóng vai trò là người đứng đầu về trí tuệ, có hướng suy nghĩ khác với số đông và nổi danh nhờ những khám phá mới. Với Cự Cơ theo hoàn cảnh từ phát tích của dòng họ về hướng đi kết hợp với hoàn cảnh nghề nghiệp ban đầu của gia đình như việc có truyên thống kinh doanh thì cá tính theo hướng này phát triển bằng việc thuở nhỏ đã có khuynh hướng tìn kiếm lợi ích, tư lợi từ các cơ hội, nắm bắt được các cơ hội ấy để thực hiện việc thu về tiền bạc. Tùy vào Cự Cơ có gia Sát Kỵ nhiều hay không mà luận đoán dưowjc tính chất của Thiên Cơ là do thời cơ lấy của người khác, làm việc bất chính như trộm cướp, chiếm đoạt. Trong này cũng chia làm hai trường hợp nếu gia đình ban đầu có tư tưởng kinh thương lớn, lấy trách nhiệm và vai trò làm theo đạo đức thì bộ Cự Cơ do có tính năng động tiếp thu mà trở thành cách Cự Thương. Nếu ban đầu vì hoàn cảnh và học vấn không cao thì Cự Cơ đi theo con đường kém hơn và có thể vi phạm pháp luật dẫn tới bất mãn khi thành tù tinh. Cự Cơ theo kinh thương hay văn cách đều cần có học vấn để tránh thường hợp Thiên Cơ thấy lợi nhỏ mà mang tính bất chính. Vì vậy luôn cần thiết phải có bộ Xương Khúc. Thứ đến bên ngoài thực tế được tiếp nhận văn hóa để không bị sai hướng đi. Cũng giải thích cho việc đôi khi có lá số có tính sát lớn gia hội sát tinh nhưng lại được cách hoạch phát hoạch phá do hoàn cảnh môi trưởng phù mẫu dạy dỗ một phần.

Thursday, March 23, 2017

Cơ Âm Dần Thân cách


Cơ Âm Dần Thân cách


Đây là trường hợp bộ Cự Đồng giao hội với Âm Lương hình thành nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh với Thái Âm và Thiên Cơ đồng độ tại vị trí cung Dần Thân. Ở đây Thái Âm đi cùng Thiên Cơ tạo thành cách cục có lợi so với trường hợp đơn thủ.
" Thái Âm thủ Mệnh Thân nhất sinh khoái lạc".
Mệnh có Thái Âm đơn thủ tức tính chất biểu hiện đầy đủ khi hợp cách thường được hưởng thụ sự an ổn, cuộc sống yên bình tốt đẹp ít biến động lớn. Bộ Cơ Đồng giao hội với Âm Lương Cự tạo nên bộ Cợ Âm, Cơ Lương và Cơ Cự có tính chất phối hợp giữa hai chính tinh đồng cung, hợp với bản chất của sao Thiên Cơ và giảm khuyết điểm của sao này. Cách Cơ zâm Dần Thân phân hai vị trí cư Dần và Thân có tính chất hoàn toàn khác biệt nhau. Thiên Cơ mang tính động lớn, chủ sự tính toán lợi ích cá nhân trong công việc của tập thể. Thiên Cơ luôn nhị hợp Phá Quân chủ phá dỡ, bỏ cũ thay mới nếu có thời cơ từ Thiên Cơ và ngược lại Thiên Cơ cần sự tìm hiểu, khai phá của sao Phá Quân so với tư tưởng của Tử Vi để tìm ra cơ hội, thời cơ. Cơ Âm có tính chất âm nhu, mưu kế sâu xa, nếu ngộ Sát Kỵ thường tính cách nham hiểm, ích kỷ. Cơ Âm cư Thân được Thái Âm sáng và cư cung Dần sao Thái Âm tối xấu hơn có tính chất thua thiệt, nhẫn nhịn. Cách cục này tối hỉ tuổi Đinh được bộ Tam Hóa, tại bản cung hình thành cách Khoa Lộc và Hoá Quyền tam hợp đi với Cự Môn, đây là chính cách của Tam Hóa tác dụng hiển hiện.



Nếu cư Dần được thêm bộ Tồn Ấn Bệnh có Quốc Ấn tại bản cung. Có thể được thêm bộ Đào Hồng, Cô Quả theo Địa Chi, gia Tả Hữu Xương Khúc là thượng cách được cả phú, quý, thọ và sự an nhàn. Bộ Cơ Âm không kỵ cách Kình Hao hay Đà Hao mặc dù tác động xấu tới Thái Âm, có lợi với tổng thể toàn bộ tổ hợp. Tuy nhiên nếu gặp bộ Thanh Phi Phục hay Lộc Tướng Ấn theo Thiên Can tốt đẹp hơn khi ngộ Kình Dương, kế đến Đà La. Cần thiết gặp Khôi Việt chủ khởi phát cơ hội, tăng giá trị cho toàn bộ cách cục do Thiên Đồng và Thiên Lương cũng ai mộ Khôi Việt. Bộ Cơ Âm tối kỵ việc có Hỏa Linh đồng cung luận tính chất trở nên xấu, tai họa lớn chủ sự căng thẳng về đầu óc, dễ gặp cảnh tâm thần không ổn định khiến Thái Âm mất giá trị an ổn, tính đa tài đa nghệ của Thiên Cơ trở nên phù động mà sai laamftrong suy nghĩ. Nếu gặp Hỏa Linh cần thiết các cách giải như Khoa, Quyền, Lộc, Ấn, Tả Hữu. Kỵ gặp thêm Khôi Việt hay Hình Diêu hình thành bộ Việt Linh Hình, hay Khôi Hỏa Hình, đều mang sắc thái cực đoan phá cách lớn tới cách cục. Bộ Cơ Âm ưa gặp Tang Hư Khách và Tuế Hổ Phù, đặc biệt bộ Phượng Khốc với các sao an theo Địa Chi. Cơ Âm là cách cục hiền lành, phúc hậu với nữ giới tối hỉ chủ diện mạo xinh đẹp đoan chính, có từ tâm không chứa tính Sát. Cơ Nguyệt Đồng Lương sách viết thích hợp với các công việc mang tính đại chúng, xã hội. Thiên Cơ khi tốt là Thiện Tinh, nhấn mạnh ở tính lễ phép, lấy lợi ích cá nhân để đóng góp xây dựng cho tập thể, cư xử hợp lí, linh hoạt thích nghi, khi gặp khó khăn không rối loạn, thích phục vụ cống hiến âm thầm, nhiều ảo tưởng, đa sầu đa cảm. Bộ Cơ Âm có đầy đủ các tính chất trên nếu được Lục Cát Tinh và Khoa Quyền Lộc, Lộc Tướng Ấn giao hội tránh được Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp. Kỵ nhất là đồng độ Hỏa Linh, kế đến là Địa Kiếp.

Thiên Cơ cư Tị Hợi cách



Thiên Cơ cư Tị Hợi cách


Thiên Cơ luôn tam hợp với Thiên Đồng hình thành tổ hợp bộ Cơ Đồng. Bộ sao này có thể giao hội với Âm Lương và Cự Môn hình thành cách Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Cơ Đồng. Thường thì cách Cơ Nguyệt Đồng Lương có ý nghĩa hay hơn bộ Cự Cơ Đồng. Thiên Cơ trong bộ sao này có thể đồng độ với Cự Môn hoặc đơn thủ tại cung Tị Hợi. Sao này tọa thủ tại cung Tị Hợi tam hợp là bộ Cự Đồng và một cùn vô chính diệu, xung chiếu là Thái Âm. Trường hợp Thiên Cơ đơn thủ tính chất bộc lộ rõ ràng thể hiện ở mặt tính cách, tuy nhiên khác với các sao thuộc Sát Phá hay Tử Vũ Liêm ưa sự đơn thủ. Thiên Cơ Tị Hợi dễ bị đánh giá là do mục đích cá nhân gây ra bất mãn cho người khác hoặc tập thể chung. Thực tế nhiều lá số mệnh có Thiên Cơ thất bại vì lý do này. Tính chất của toàn cách cục Cự Cơ Đồng cũng mang ý nghĩa việc phải chống đỡ khó khăn với sao Cự Môn có tính chất luôn có sự bất mãn khiến đa phần Mệnh tạo có cách này thường tâm trí ít có được sự bình yên mà có nhiều khổ não. Trái với cách Cơ Nguyệt Đôngf Lương mang tính thụ hưởng an nhàn do việc hưởng phúc êm đẹp, hoặc thời cơ và may mắn trợ giúp.



Bộ sao Cự Cơ Đồng hợp với tuổi Đinh và tuổi Bính. Với tuổi Đinh có bộ Đà Khôi Hao hoặc Kình Việt Hao có thêm bộ Khoa Quyền Kỵ. hóa Lộc xung chiếu thành thứ cách của bộ Tứ Hóa. Tùy trường hợp do thiên can Âm có thể đi cùng với Thiên Mã tức bộ Tang Mã Khách hay Tuế Hổ Phù và đặc biệt là bộ Phượng Khốc. Với tuổi Bính có thể đi với bộ Đà Việt Hao hoặc Khôi Kình Hao giao hội với Quyền Lộc và Lộc Tồn ngộ Triệt tại cung Tị. Hình thành bộ Song Lộc ngộ Triệt bản cung Tị, nếu cư Hợi thì được bộ Cưu Đồng Binh chủ sự phản kháng mang quyền lợi của tập thể từ quyền lợi của cá nhân. Với tuổi Bính thuộc thiên can Dương có thể đi với bộ Đào Hồng Cô Quả Kiếp Sát. Sao Thiên Cơ tại Tị Hợi may mắn vì được nằm trong bố cục tinh hệ Tử Vi cư Tí Ngọ có đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Mệnh Thiên Cơ thuộc vị trí thua thiệt hơn ngang bằng với Sát Phá Tham, cư tại Tị tốt hơn tại Hợi do được bộ Âm Dương sáng dẫn tới cơ hội lớn hơn. Thiên Cơ trong hoàn cảnh này phải thay đổi đêt chống lại khó khăn do Cự Môn gây ra nên có tinh thực tế, giảm thiểu sự ảo vọng như cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, đánh giá đúng tình hình do Cự Môn giỏi việc đánh giá, Thiên Cơ là cơ hội nhưng thiếu sự may mắn nên chưa hoàn chỉnh. Nhìn chung mệnh có sao này nên có cung an Thân tại vị trí của Phúc Phối Di là cách tốt đẹp, khirend dễ đạt sự thành công hơn.

Sunday, October 30, 2016

Thiên Cơ Sửu Mùi cách





Thiên Cơ độc tọa tại vị trí Sửu Mùi


Sao Thiên Cơ thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương là ngôi sao tài năng của nhóm sao này với tính chất hay. Thiên Cơ chính là cơ hội, thời cơ nên Mệnh tạo có Thiên Cơ tốt chính là thời cơ vận hội được ban cho mỗi người. Thiên Cơ luôn nhị hợp với sao phá cũ đổi mới là Phá Quân. Trong thực tế những kẻ giàu là những kẻ biết thức thời. Vì vậy, mệnh cần Thiên Cơ không tạo ra tai họa. Thiên Cơ nằm trong bộ Cự Cơ Đồng không mấy hay bằng có thêm Thiên Lương, sao Thiên Cơ rất cần sự may mắn của Thiên Lương, đặc biệt là Lương khi đồng cung khiến cơ hội may mắn rất lớn, đó là cách Cơ Lương cư Thìn Tuất. Trường hợp này Thiên Lương xung ở đối cung vẫn còn sự may mắn ở bên ngoài mang lại, cũng là cách sống thọ nếu không bị phá cách.
" Lương xung tọa thủ kiêm thọ ấm".
Cung Thiên Di là sự tiếp xúc của con người với xã hội, ra ngoài đường chính là Thiên Di. Các tai nạn bao gồm cả bệnh tật thường do tiếp xúc bên ngoài và khi được may mắn như việc gặp đúng thầy đúng thuốc bên ngoài giúp mà khỏi bệnh. Thiên Cơ cư Sửu Mùi cung Tài Quan có hai sao Thiên Đồng và Cự Môn ở vị trí không mấy tốt đẹp. Bộ Cự Cơ Đồng không hoàn chỉnh khi Sát Phá Tham và Tử Phủ Vũ Tướng Liêm tốt đẹp và ngược lại. Thiên Cơ tại vị trí này vẫn còn may mắn khi được Thiên Lương xung, hay hơn cách Thiên Cơ cư Tị Hợi nhiều, tuy nhiên về mặt công danh không thành công, tất nhiên là chỉ so sánh vị trí sắp xếp của các Chinh Tinh trong Tử Vi. Mệnh Thiên Cơ độc tọa tại cung Sửu Mùi cần gặp Khôi Việt, đặc biệt là cách Tọa Quý Hướng Quý để tăng tính chất quý và địa vị cho Chính Tinh. Lục cát tinh là Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt nhập Mệnh thường mamg ý nghĩa tốt, hỗ trợ đắc lực cho Chính Tinh. Thiên Cơ là ngôi sao chủ tài năng, ngộ Khôi Việt là cách tài năng được phát triển. Mệnh có Thiên Cơ các cung hạn trải qua càng quan trọng gắn liền với công danh toàn cục. Thiên Cơ là sao tối kị Hỏa Linh, bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Hỏa Linh là hạ cách, tối kị gia thêm Sát Kỵ lâm vào cảnh nghèo hèn, yểu tử. Thiên Cơ ngộ Hỏa Linh cần hóa thành Khoa và có một trong hai Lộc giảm tính xấu của Hỏa Linh mang lại.



Thiên Cơ là ngôi sao không ngại bộ Kình Đà, ngược lại cách Cơ Kình là cách nắm bắt thời cơ, cũng là cách gây dựng được sự nghiệp. Do đặc tính của Thiên Lương ở cung Thiên Di tác động lớn tới cung Mệnh, đây cũng là cách trưng bày hàng hóa, kinh thương cách. Mệnh có Thiên Cơ hình thành hai chiều hướng là nắm bắt được thời cơ và bỏ lỡ thời cơ. Phá Quân ở cung nhị hợp Nắm và Thả, việc Phá Quân tốt xấu ảnh hưởng lớn đến cung Mệnh. Phá Quân tại vị trí Tí Ngọ là nơi đắc ý của Phá Quân, nếu Sát Phá khám phá tốt dễ dẫn đến thời cơ tốt. Mệnh Thiên Cơ tại vị trí này cần cả Tuần Triệt để đánh trúng. Bộ Cô Quả cần thiết để có kết quả. Trong các Thiên Can, Thiên Cơ hóa thành Kỵ ở can Mậu là cách bỏ lỡ thời cơ, tính trắc trở của Kỵ ảnh hưởng tới Thiên Cơ nếu không có sao giải cho Kỵ như bộ Kỵ Quyền, Kỵ Khoa, Long Hà Kỵ. Nếu chỉ có Hóa Kỵ đi với Thiên Cơ tại vị trí này vẫn không hay vì tam hợp có Thiên Đồng nhập La Võng và Cự Môn tại Tị Hợi ở vị trí không đắc ý. Hóa Kỵ bởi Cự Môn, Thiên Đồng hay Thiên Cơ đều  luận xấu. Thiên Cơ cư Sửu Mùi tối kỵ gặp Không Kiếp, cách này dễ gặp hung hiểm đặc biệt mang yếu tố quyết định khi nhập hạn Quế Sứ Hoa Thương nếu thành cách hoặc hanh tam hợp cung Mệnh. Cung Phụ Mẫu có cách Tử Phủ Dần Thân giáp cung ảnh hưởng nhiều tới Mệnh, bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm không bị phá cách hạn đến dễ gặt hái được công danh, tiền bạc. Tuổi Ất được bộ Quyền Lộc và Thái Âm hóa KỴ khá tốt. Tuổi Bính được Quyền Lộc nếu có thêm Xương Khúc cả tam hóa rất tốt đẹp, chủ thành công nhờ nắm bắt thời cơ. Thiên Cơ kỵ gặp Tang Môn đồng cung thuộc cách Cơ Lương Tang Điếu chủ ngã, bị chôn vùi. Cách này chỉ cần gặp Khoa khả giải, hoặc gặp Phượng Các tam hợp đồng cung đều trở thành tốt đẹp. Thiên Cơ thủ Mệnh cung an THÂN nên cư tại Thiên Lương hoặc Thái Âm, các vị trí Thiên Đồng và Cự Môn xấu.

Saturday, October 8, 2016

Lá số Cự Cơ Mão Dậu p3



Lá số Cự Môn và Thiên Cơ ở vị trí Mão Dậu p3

Cung Hạn là sự biến đổi của bản tính do môi trường tác động. Như việc học tập trong sách vở từ tiểu học đến hết trung học phổ thông cung cấp cho mỗi người rất nhiều kiến thức khoa học để phòng tránh nhiều thiên tai, điện lửa,... và Văn Học cung cấp cho con người cách đối nhân xử thế, cách để thành công trong cuộc sống, môn Đạo Đức răn đe chúng ta về việc luật pháp và hậu quả các hành vi trái pháp luật. Tuy cùng một giáo viên dạy cùng lớp nhưng mỗi người đặt sự chú ý tới một môn học hay vấn đề khác nhau. Và số mệnh bắt đầu từ sự phân biệt ấy. Môi trường tác động vào Mệnh chính là cung Đại Hạn kéo dài 10 năm của mỗi người, và đại hạn góp phần luận đoán cả nghề nghiệp, hầu hết tất cả mọi mặt diễn ra trong đại hạn. Một mệnh tốt cần các cung đại hạn hợp với cung Mệnh, hoặc một đại hạn tốt đẹp. Vì vậy xác định hành vận thuận hay nghịch là yếu tố quan trọng để nhận xét Mệnh cùng cách cục nhưng thành bại khác nhau. Mệnh Cự Cơ không mấy tốt thuở nhỏ thường hay táy máy, nghịch ngợm. Do mệnh gia KÌNH KỴ LINH HÌNH VIỆT nên đã nhiều lần bị thương tích, trong đó có hai lần nặng là mổ viêm ruột và bị mảnh vỡ va vào cổ. Mệnh cũng có lần suýt bị điênh giật chết vì ngậm dây điện tức Cự Kỵ có VIỆT LINH HÌNH, may phúc ấm lớn tức cung An Thân cư Phúc Đức là điểm mạnh có sao Thiên Lương tốt đẹp chủ bất phạ tai ương, Mệnh có HÓA KHOA cũng giảm họa hại. Hồi nhỏ tuổi phải xa cha mẹ thường xuyên, hay gây mâu thuẫn trong nội bộ, chủ thích tự lãnh đạo, thuộc cách phản đối. Đại vận đầu tiên ở cung Mệnh đánh dấu việc hình thành nhân cách con người, tuy nhiên Mệnh cũng có sự ham học hỏi, có tài năng sớm bộc lộ. Ở đại hạn đầu tiên, ra ngoài được người ngưỡng mộ, yêu quý chủ do bố mẹ tạo ra ứng với cung Thiên Di rất tốt đẹp có Âm Dương tam hợp chiếu. Bước qua đại vận thứ hai theo chiều thuận là cách Tham Lang cư Dần ngộ  Triệt Hỏa Ấn Tướng Hồng tại bản cung, tam hợp có Thất Sát ngộ Tồn Đào Tả, Phá Quân có Không Bệnh, xung chiếu là Liêm Binh Tuần Bật. Xét bản cung đại hạn là sao Tham Lang nên tính cách đặc trưng của ngôi sao này. Tham Lang chính là tham vọng có thêm Đào Hồng là dâm cách, phối hợp với Mệnh tức vào hạn này lòng dâm lớn, có TRIỆT tại bản cung và Thiên Không tam hợp, Tuần xung chiếu thành cách TAM KHÔNG, thuộc cách sớm nắng chiều mưa, khi từ bỏ lòng tham, khi lòng tham trỗi dậy. Tham Lang nếu như vậy là xấu nhưng có Hỏa Tinh tại bản cung, Hỏa Tinh ở cung Dần đồng độ với Tham Lang là cách phát phú, tuy ở đây không mấy tốt đẹp vì bị Lộc Tồn ngộ Tam Không là cách xấu chủ mất nhiều được ít. Chủ lòng ham muốn làm giàu rất mạnh nhưng không có thời cơ, chủ bất mãn do Mệnh chính là Cự Môn. Cung hạn có cách BINH TƯỚNG nhị hợp với Thiên Hình ở cung Tài hình thành cách Binh Hình Tướng Ấn, mệnh có Khoa Quyền lạc nhàn nhi hiển danh nên đi học đào tạo Sĩ Quan. 


Bộ Sát Phá Tham có THẤT SÁT là ngôi sao quan trọng cư Ngọ nên không mấy xấu, mặc dù ngộ Tam Không Đào Hoa Lộc Tồn là cách tự tạo ra họa hại cho chính bản thân, cũng trong thời điểm này cung an Thân dần phát triển và quan trọng hơn ảnh hưởng nhiều tới tính cách tức cung Mệnh. Trải qua cung hạn này học hỏi, khám phá tức Phá Quân về kinh tế nên đúc rút được kinh nghiệm. Như Mệnh có cách thuở nhỏ tiếp xúc với sách vở, lớn lên học cách làm giàu từ những tư tưởng đã có từ cung hạn trước. Lá số này thuở nhỏ tiếp xúc với ngành điện, điện tử trên mạng ảo tức sao Linh Tinh ngộ Thiên Hư, hạn Tham Lang cư Dần có tính làm giàu mạnh nên tập trung vào ngành này, đáng tiếc là cách cục Sát Phá Tham chủ mất nên cố gắng đến mấy cũng không có thành tựu, vào học ở trường quân đội, tài cách bị triệt dở chừng do đại hạn xấu, chờ sang đại hạn Âm Dương cư Sửu ngộ Tuế Phượng Lộc Xương Khúc Khôi Tuần Đại để tiếp tục bước tiếp. Hạn ở cung Phu Thê là hạn rất tốt đẹp, mặc dù Âm Dương ngộ Kình xung và Đà La tam hợp nhưng gặp các sao hợp cách Sát Tinh chuyển thành lực kích phát, Đà La hợp với Hóa Lộc và Kình Dương hợp với Xương Khúc Khôi. Hạn này nổi danh và gặp nhiều may mắn do có cách Âm Lương tốt và hình thành cách Dương Lương Xương Lộc hội. Trong trường hợp này có thể chia làm hai hướng lựa chọn tùy thực tại của bên ngoài, tức theo Tài Lộc hoặc Danh Vọng. Mệnh chọn theo tài lôc hạn được Đại Hao, Cự Cơ rất hỉ tới hạn Hao, nhưng đây là cách Hao Lộc không mấy tốt đẹp, đầu tư được nhiều mất cũng không ít. Mệnh có Diêu Kỵ tới hạn này đủ bộ Diêu Đà Kỵ là tam ám, mệnh Việt Linh Hình kỵ hanh Nhật Nguyệt nhưng không mấy lo vì được cả bộ Tứ Hóa toàn phùng hóa giải nhiều cách cục xấu. Đại hạn này phát nhanh và lớn do Mệnh có hung tinh đến hạn tốt.
" Hung tinh đắc địa phát dã như lôi, cát tinh đắc địa bình thường sự nghiệp".
Cách này không nói lên sự thành công của lá số mà nói lên thời gian dẫn tới thành công. Một số sách tử vi nhầm cho rằng cát tinh đắc địa thì sự nghiệp tầm thường, nghĩa gốc là có cát tinh thì sự nghiệp lên một cách yên ổn hơn. Lá số này chủ các cách phát tài, nếu đi theo quan lộ hạn tới Vũ Phủ hoặc Thiên Đồng đều là hạn điều tiếng và đổ vỡ. Hạn Vũ Phủ cư Tí bản cung có Phi Liêm Địa Kiếp, tam hợp là Liêm ngộ Binh Tuần Bật, bên trái là Tử Tướng ngộ Thanh Long cư Thìn có Mộc Dục. Đây là cách để lại tiếng xấu do có cách Thanh Long Mộc Dục chủ danh tiếng ngộ Kiếp Tuần là tiếng bia miệng xấu suốt ngày không yên. May mắn là có Thanh Long tại đây, nếu chỉ có Kiếp Tuần lại là cách xấu hơn rất nhiều. Sao Thanh Long gặp Thiên Phủ là cách lên tiếng hợp lí, tuy bị ảnh hưởng đến thanh danh nhưng vẫn giữ được tài sản của Vũ Phủ. Cách Vũ Phủ cư Tí nhị hợp có Âm Dương Lộc là  tài cách, chủ tiền có kho giữ, hơn nữa được Lộc Tồn xung chiếu thuộc cách Lộc trùng điệp. Trên lá số cung Tài Bạch có Thiên Đồng ngộ Thiên Mã cũng là cách dễ phát tài khi Tham Lang ở cung nhị hợp đồng độ với Hỏa Tinh. Hạn đến sao Thiên Đồng về cung Tài Bạch ngộ Tam Ám gia thêm Kình Đà Linh Việt Hình có Cơ Tang dù có Khoa Quyền là cách cục xấu, chủ phá tài, hoặc họa về tài, có thể nguy hiểm tính mạng Thiên Lương tốt đẹp có thể giải được họa nhưng những năm tiểu hạn xấu đến phải rất đề phòng sấm sét búa đao do đã hình thành đủ bộ Cơ Lương. Nói chung cung Thân chủ thọ nhưng hạn xấu cần phải thật đề phòng nếu không cũng khó thoát cảnh mạng vong. 

Friday, October 7, 2016

Lá số Cự Cơ Mão Dậu p2




Lá số Cự Môn và Thiên Cơ đồng cư Mão Dậu p2


Cung an Thân là cung quan trọng hơn cung Mệnh, thể hiện tính chất thay đổi của Bản Tính qua sự tác động thời gian. Cung an Thân trở nên quan trọng khi thân thể phát triển hoàn chỉnh, cung này có sự tác động tới tính cách và gắn liền với cung Mệnh không thể tách rời, cùng thể hiện ra ngoài tính cách mỗi người. Vậy nên có thuyết cung an Thân là hậu vận, bắt đầu từ 32 tuổi. Một cung Mệnh xấu và cung Thân tốt cho thấy tính cách khi phát triển về sau càng hướng tới thành công, tất nhiên là việc ở cung Đại Hạn chi phối chủ yếu về thành công của con người. Với cung an Thân có Thiên Lương cư Tị ngộ Trường Sinh gia Đà Khốc Xương Khúc Khôi Đại Tuế Phượng Ân Quý Lộc Mã là cách cục khá tốt đẹp cho Thiên Lương, chủ bản thân có sự may mắn lớn về thân phận, cũng là cách về sau được hưởng thụ phúc ấm tổ tiên vì Thiên Lương tốt đẹp cư Phúc Đức. Xét về nội tâm, Mệnh có Cơ Diêu Triệt là cách ham muốn tình dục lớn, tam hợp có Kình Dương càng mạnh hơn, gia bộ Kỵ Hình Việt Linh dễ vi phạm pháp luật vì ham muốn này. Tuy nhiên với cung an Thân là Thiên Lương cư Phúc Đức tốt đẹp khiến đương số kìm chế, gặp may mắn không xảy ra chuyện trong khi nhiều lúc không kiềm chế được bản thân. Cách cục Lương cư Tị Hợi các sách viết về việc nam lãng đãng, nữ đa dâm là võ đoán, cách này cần thêm nhiều yếu tố mới có thể luận như vậy. Một cung Thân tốt, cung Mệnh không quá xấu là yếu tố tốt để thành công, hơn hẳn cách Mệnh tốt mà Thân xấu. Không chỉ cung Thân có tác động tới tính cách, bản tính của cung Mệnh. Ngược lại, các thói quen, tính cách tốt xấu của Mệnh cũng ảnh hưởng mạnh tới cung Thân. Như việc Mệnh có cách vi phạm pháp luật nghiên trọng dẫn tới cung Thân cũng bị ảnh hưởng vì thân thể bị giam cầm, còng giữ. Cung Mệnh có yếu tố tiên quyết thành bại hơn cung Thân, nhưng xét về mặt sống chết, hoặc về tính bình thường thì Thân và Hạn quan trọng hơn Mệnh. Sao Thiên Lương, Thiên Đồng rất hỉ gặp Trường Sinh, chủ phúc ấm dày. Cung Thiên Di tại bản cung là VCD có nội là Âm Dương Lương, ngoại là cách Cự Cơ Đồng. Bộ sao Âm Dương Lương hoàn toàn tốt đẹp, nhưng tại vị trí này gặp thêm Cự Môn ngộ Diêu Kỵ ở đối cung hình thành cách Tam Ám Diêu Đà Kỵ, cách Tam Ám làm xấu cung Thiên Di, chủ ra đường thường vướng thị phi, bị tụ tập tức cách CỰ CƠ ĐỒNG nói xấu sau lưng. May còn Phượng Các tại bản cung nên đa phần lời nói không hay là do ghen ghét với tài năng mà ra. Trên lá số này bản cung Tài Bạch và cung Thiên Di bị bộ sao Tam Ám xâm phạm. Tam hợp Phúc Phối Di là tổ hợp cung trọng điểm khi gặp bộ Tuế Hổ Phù, Khôi Việt, Đại Tiểu, Sinh Vượng, Tuần. Vì vậy hạn đến tổ hợp này chú trọng cả lưu phi tinh về có tác động rất lớn tới cách cục.


Một lá số Tử Vi tốt đẹp tức số mệnh tốt phải có toàn bộ 12 cung không có khuyết điểm nặng nề khiến Mệnh gặp họa lớn khi lưu động tới cung số ấy. Mệnh phải tốt nhưng không tập trung hoàn toàn các cách cục tốt tại Mệnh dễ dẫn đến cách tử vong khi nhập hạn ngoài tam hợp vì hội tụ rất nhiều hunv tinh tại đây. Mệnh Thân Hạn phải cần có điểm nhấn, tức các cách cục dụng được hung tinh mới luận là số quý vì hung tinh bị trấn giữ, đắc dụng không gây hại thì hạn đến không gặp lo lắng hung họa. Như cách THAM ngộ Hỏa Linh là cách tốt đẹp chủ ý chí tham vọng làm giàu hoặc tham vọng quyền lực là cách dụng được hung tinh. Trái lại cách CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG ngộ Hỏa Linh là cách xấu, có hiểm họa ẩn tàng, nhưng nếu lại có các bàng tinh hợp với Hỏa Linh lập thành cách lại chuyển tốt như cách LINH KỴ QUYỀN, cách HỎA TINH ngộ LỘC. Cung Hạn là kết cục cùa Số Mệnh trong quá trình phát triển, đây là cung thể hiện mặt tích cực nhất cung Tử Vi, tức thể hiện sự bình đẳng về các cơ hội thành công khi gặp thời thế của Mệnh tạo. Mệnh Thân dù rất tốt đẹp, nhưng đáo hạn Sát Phá Tham gia Hình Kỵ Không Kiếp Linh là cách tử nạn rất dễ gặp. Mệnh và Thân tốt nhưng hạn xấu vẫn phải chết. Trên thực tế có rất nhiều cách chết. Vì vậy, không có lí do gì hạn gặp Cơ ngộ Khôi Việt Song Lộc Tả Hữu lại không phát phú nhanh chóng dù cung Mệnh xấu. Cần phân biệt thêm cung Mệnh xấu và Mệnh ( Số Mệnh ) xấu. Với số mệnh xấu là kẻ cả đời không thể ngóc đầu dậy, thuộc cách bần hàn. Và cung Mệnh xấu có thể phát tài hoặc địa vị khi hạn tốt đến. Tất nhiên việc theo đuổi công danh hay tiền bạc đều qua quan niệm của mỗi người, nhiều kẻ có tài chọn cách sống cuộc sống bình dị vui vẻ. Và một cái hay của cách Cự Cơ để được luận là cách có thể phát phú khi có bộ Sát Phá Tham đắc ý vì Tiền Bạc bên ngoài, lại hạn Nhật Nguyệt giáp Vũ Phủ và hạn Vũ Phủ đều là tài cách. Khi Cự Cơ ngộ Song Hao tức Sát Phá Tham ngộ Lộc Tồn thì Vũ Khúc Thiên Phủ có Thanh Long, nếu Sát Phá Tham ngộ Phi Phục Thanh thì Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có Lộc Tồn là cách Tài Tinh Trùng Điệp. Mệnh Cự Cơ ngộ Song Hao đắc ý là mệnh kinh doanh hoặc theo công danh đều luận tốt, nếu theo công danh chú ý đến tính lãnh đạo, cầm đầu của Cự Môn. 

Thursday, October 6, 2016

Lá số Cự Cơ Mão Dậu p1



Lá số Cự Môn và Thiên Cơ đồng cư Mão Dậu


Nam Mệnh có Cự Cơ Mão Dậu có các tính chất khác với nữ mệnh, bộ sao Cự Cơ với nữ tình duyên không được tốt tuy mệnh tạo có tài năng lớn. Với nữ giới cung Phúc Phối Di nên tốt đẹp. Cự Môn và Thiên Cơ là cách không lợi về đường tình duyên. 
" Cự Cơ Mão Dậu bất đáo nhân duyên". 
Cự Cơ nhập Mệnh bộ Âm Dương Lương vào cung Phúc Phối Di. Thiên Lương cư Tị Hợi cư Phúc khiến cách này dễ gây ra rắc rối tình cảm vì Lương cư Tị Hợi khi không hợp cách dẫn đến cách nam lãng đãng, nữ đa dâm. Nam Mệnh mệnh Thủy, bản cung Mệnh là Cự Cơ ngộ Khoa Kỵ Diêu Y Tiểu Tang Triệt. Xét ở bản cung Mệnh là tính cách chung chi phối cả hai cung Tài và Quan, con người thành lập cá tính từ nhỏ. Cự Môn và Thiên Cơ nhập Mệnh có Cự Môn hóa thành Kỵ và Thiên Cơ hóa Khoa tuổi Đinh, gia Diêu Y kị với Cự Môn và có Tiểu Hao ngộ Tang Triệt. Bản tính người này là cách Cự ngộ Kỵ Diêu tính ám khá lớn, thêm Triệt là cách bài xích, phản đối. Nếu không có Hóa Khoa là cách cục xấu vì hình thành thêm bộ Cơ Tang chủ cơ thể bị vấn đề. Khoa tại bản cung lực cát hóa lớn, nếu ở tam hợp không hay bằng, ở cung xung chiếu giá trị giảm lớn. 
" Khoa Quyền củng chiếu bất như lâm viên". 
Như việc chính tinh tại Mệnh là Cự Môn hóa thành Kỵ khác sao Hóa Quyền ở cung Tài Bạch hóa thành Quyền. Mệnh Cự Môn cư Mão Dậu khác với mệnh Thiên Đồng cư Tị Hợi. Tam hợp là nơi rất quan trọng vì ảnh hưởng phần lớn tới bản cung. Bản cung mệnh Cự Cơ có cách không mấy tốt đẹp vì Hóa Khoa không thể giải cả bộ Cơ Tang và Cự Kỵ Triệt Diêu. Xét đến các cung tam hợp để luận hoàn cảnh môi trường và tiếp nhận của bản tính với các tác động. Do mệnh thuộc cách ÁM và có tính phản kháng, bất mãn nên kị các sao tăng thêm khuyết điểm. Các tác động trực tiếp là cung Tài và Quan ở tam hợp. Như một kẻ bản thân có bộ máy tiêu hóa tốt, nhưng đồ ăn mới là thứ quan trọng, nếu ăn phải chất độc thì phải chết, ăn phải chất bổ thì khỏe mạnh. Hai cung Tài Quan phối hợp với Mệnh mới có được kết quả chính xác về sự xuất phát của số. Cung Tài Bạch có Thiên Đồng hóa Quyền ngộ Việt Linh Hình Mã Hỉ Khách, cung Quan Lộc là cách VCD ngộ Thai Tọa Kình  Hư. Xét các cách quan trọng nhất là các cách trọng điểm, tức gây tác động hiển hiện và bộc phát lớn vì các cách này như các sự kiện quan trọng trong quá trình đi hết cuộc đời.



Xét tổ hợp lớn là Đồng Cự Cơ có Song Hao ngộ Khoa Quyền gia Tang Hư Khách với Diêu Triệt Kỵ Việt Linh Hình và Kình Mã Thai Tọa  hình thành bộ Cự Cơ Hao Kình gia Khoa Triệt Kỵ Linh Quyền Hình Việt và Mã Thai Tọa. Xét tổ hợp Mệnh là cách kinh doanh buôn bán và binh nghiệp là hai hướng chính của Mệnh. Ở bộ sao  Cự Đồng ngộ Kình Tứ Mộ có Mã Thai Tọa gia Việt Linh Hình Quyền, có Binh Tướng nhị hợp vơi Thiên Hình ở sao Tham Lang cư Dần, chủ theo ngành quân sự, lực lượng vũ trang,  nếu không có Khoa Quyền luận theo côn đồ du đãng. Khoa Quyền là hai sao chủ sự thành công, mệnh xấu có Khoa Quyền là cách cục cao hơn một bậc so với không có. Tuy hai hóa khí này có thể hướng sát tinh tới thành công nhưng không phải là sao giải họa nếu hung tinh tụ tập, đặc biệt là bộ Không Kiếp. Mệnh do có cách vi phạm kỷ luật là Kỵ Hình, có cách chống đối, phản kháng lại cấp trên là Cự Kình ngộ Việt Linh Hình Kỵ, có bộ Khoa Triệt án ngữ tại Mệnh nên không quá xấu, Tiểu Hao ở Mệnh giảm tính nghiêm trọng. Mệnh theo con đường danh khó thành nghiệp lớn vì bị cách Hư Kình tọa thủ cung Quan Lộc. Cách Cự Kỵ Triệt ngộ Việt Linh Hình Kình việc ăn nói dễ gây mất cảm tình, tuy vậy may mắn Cự Cơ không bị ngộ Lộc Tồn thuộc cách bất mãn tồn tại, là cách cục xấu của Cụ Môn. Vì vậy số theo con đường kinh doanh hợp thời hơn khi Thiên Cơ Hóa Khoa. Nếu theo con đường Quan Lộc dễ đổ vỡ, dù vẫn được đảm nhiệm chức vụ lớn vì Cự Cơ ngộ Song Hao có Khoa Quyền Kình Mã. Trong trường hợp đầu tư kinh doanh được cách Cự Cơ Mão ngộ Song Hao tức Cự Cơ ngộ Kình Dương là cách rất hay tạo thời cơ và biết vận dụng thời cơ, ngoài ra còn giải được một phần của Hóa Kỵ, tuy nhiên lưu ý bộ Kỵ Hình có thêm Tang Môn chủ phi pháp nhập hạn xấu cần cẩn thận nếu không phải vào tù vì sao Phá Quân ở Tật Ách. Cách Cự Cơ rất ưa gặp Song Hao vì ở đây tính thay đổi của Cự Môn đẩy cao vì có thêm Cơ Phá nhị hợp, Cự Môn cũng là sao chủ tài sản, thiên về nhà đất, tượng là cái cửa có sự khai mở của KÌNH hoặc trao đổi của Hao là cách trao đổi được hàng hóa, cũng là trao đổi tiền bạc. Trường hợp này có Triệt Tuần tại hai cung Mệnh và Di xung chiếu khiến tính lưu động giảm, may được Thiên Mã ở Tài cung vẫn hợp cho buôn bán, trao đổi. Cung Thiên Di vô chính diệu tọa thủ các sao Phượng Hổ Đại Khôi Quý Xương Tuần là cách Di tốt hơn Mệnh, cách này không mấy hay khi Mệnh hơi yếu, nếu Mệnh tốt luận bên ngoài trợ giúp, ca tụng Mệnh. Cung an Thân an tại cung Phúc Đức nên có cả bộ sao ở Thiên Di. Đặc điểm của người này là cung Thân tốt hơn cung Mệnh, cung Thân có sao Thiên Lương cư Tị ngộ Trường Sinh gia Xương Khúc Khôi Đại Tuế Phượng Tuần, xung là cách Việt Linh Hình Quyền Mã. Đây là bố cục cung Thân rất tốt, cung Thân chính là thân xác, cũng là thân phận cần thiết hơn cung Mệnh. Vì vậy, sự may mắn luôn đến khi cả đại hạn xấu. Ứng với câu phú Thân tốt hơn Mệnh tốt. 

Saturday, September 24, 2016

Tổng luận về sao Thiên Cơ






Tổng luận về sao Thiên Cơ và các vị trí đứng trên tinh bàn

Thiên Cơ là ngôi sao thuộc chòm Nam Đẩu Tinh, là sao thứ hai trong vòng Tử Vi. Thiên Cơ với nghĩa chính là Cơ ,  là cơ duyên, cơ hội,  cơ nguyên, cơ định và nguy cơ. Các sao của Tử Vi có các tên Hán Việt là sự quy định của các vị trí khí hóa của Thiên Nguyên trên Tinh Bàn, có tính chất chính là nghĩa  của chính tên mỗi sao tạo nên. Thí như với sao Thiên Mã là ngựa, là chuyển động, là tay chân. Lộc Tồn là tồn tại, là tiền bạc, là lộc khố. Các chính tinh có từng tên đều mang đặc điểm chính của sao, điều này rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu môn Tử Vi, càng tìm hiểu sâu các cách cục, tổ hợp giao hội tốt xấu phải phối hợp các bàng tinh và chính tinh với nhiều nghĩa lại để luận đoán. Kình chủ tấn công, chủ mạnh, chủ trước, như các từ bổ thêm nghĩa như Kình Lực, Phát Kình, Cá Kình,... Với sao Đà chủ cản trở, chặn lại như từ bánh đà, lực đà. Cổ nhân sử dụng chữ Hán chỉ cần tinh thâm về nghĩa lí của tên các sao và các câu phú về Tử Vi đã luận có thể đúng đến bảy tám phần. Như cách Phủ Tồn gọi là hay vì Thiên Phủ là cái kho theo nghĩa đen, là bao phủ, bao trùm có Lộc Tồn tức tam hợp có Quốc Ấn là cách bao trùm tầm quốc gia nếu hợp cách, cũng là ngân khố nếu là cách Vũ Phủ có Lộc Tồn, lưu ý Vũ Khúc đồng cung với Thiên Phủ tính chất khác với Vũ Khúc ở vị trí tam hợp. Như mệnh có Cơ Lương Thìn Tuất khác Đồng Lương đồng tọa Dần Thân, mặc dù đều đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương ở tam phương. Thiên Cơ là ngôi sao chủ cơ hội, thời cơ, cơ duyên, cũng chủ con số vì mang hàm ý tính toán, dự toán. Thiên Cơ nhập Mệnh thường có phong cách hiền hòa, nếu có Hỏa Tinh rất nong tính, gặp Linh Tinh lạnh lùng. Thiên Cơ kỵ với bộ Hỏa Linh, gặp hai sao này bị chi phối lớn, do tam hợp có Thiên Đồng cũng kỵ Hỏa Linh nên mệnh nên tránh Hỏa Linh tọa thủ, nếu tam hợp phải có các cách giải như Khoa Quyền. Thiên Cơ là ngôi sao tài năng, chủ do biết cách tính toán hợp lí, vì vậy nên tạo nên đặc tính vì bản thân trước, lợi ích đặt lên hàng đầu trái với Thiên Đồng là ngôi sao chủ tập thể, là ngôi sao chủ Phúc.
" Thiên Cơ miếu vượng đa năng".
Thiên Cơ thể hiện rất nhiều tài năng, vì vậy nếu có cách Cự Cơ là cách tài năng lớn, cũng là cách dễ phú quý vì Cự chính là lớn, Cơ chính là tài năng, cơ hội mà duyên phận cho. Thiên Cơ đồng độ với Thiên Lương tạo ra cách cục hay hơn cả cách CỰ CƠ, cách CƠ LƯƠNG là may mắn cách, là lương duyên, cơ hội may mắn hợp với Thiên Cơ. Cách sử dụng nghĩa chính của các sao phối hợp là cách căn bản để nghiên cứu tử vi. Tuy nhiên, qua kiểm nghiệm thì vẫn còn khá nhiều trường hợp ngoại lệ như cách đã đề ra. Tuy vậy, nếu muốn xem Tử Vi mà không đi từ gốc, ngay nghĩa của sao cổ nhân đã tìm đặt ra các khí của Thiên Can và Địa Chi mang đặc tính nổi trội nhất là tên riêng. Thiên Cơ độc tọa tính chất và đồng độ các sao mang ý nghĩa nhau. Với Cơ đơn thù ở vị trí Tí Ngọ là hợp cách, vì có Cự Môn tức cái cửa lớn. Thiên Cơ ở vị trí Tị Hợi có cách Cự Môn đồng cung Thiên Đồng là cách cùng chung phản đối, làm phản, Thái Âm và Thiên Lương cần thiết nhưng không có ở Mệnh. Thiên Cơ vĩnh viễn lục hội với Thiên Tướng. Thiên Cơ là sao có tính thay đổi nhưng không lớn, gia thêm các sao chủ chuyển động như bộ Phượng Khốc, Song Hao tính biến động lớn. Thiên Cơ ngộ Lộc Tồn là cách cơ hội tồn tại, cũng là cách tốt cho cơ thể vì Thiên Cơ có ý nghĩa là toàn bộ cơ thể. Thiên Cơ chính là nguyên cơ, chủ mang tính lí do, với THIÊN CƠ càng nhấn mạnh tính hỏi đáp. Trong kinh doanh, sự riêng tư, cá nhân và cơ hội là sự cần thiết cho một khởi đầu sự nghiệp của chính bản thân. Nhưng cũng do tính cá nhân mà Thiên Cơ rất dễ chuyển biến xấu, như trong xã hội từng nghe đến việc vì lợi ích cá nhân mà vi phạm lợi ích tập thể, các cách trộm cướp, chiếm đoạt cũng dễ có Thiên Cơ. Vì vậy sinh ra các câu nói ngay thực tế như lưu manh giả danh tri thức, nhìn thư sinh mà giết người, vì lợi buôn bán thực phẩm bẩn hại cộng đồng. Những Thiên Cơ xấu thuộc cách hám lợi quên đạo đức.
" Thiên Cơ hãm gia Sát cẩu thâu thử thiết".
Qua kiểm nghiệm các lá số THIÊN CƠ câu phú trên rất đúng. Vì vậy, Thiên Cơ cần bộ Xương Khúc. Bộ sao này chủ danh dự, văn hóa, nhập Mệnh hóa giải một phần tính vị kỷ của Thiên Cơ vì danh dự, Xương Khúc hóa thành Khoa chủ danh dự càng lớn. . Mệnh Thiên Cơ gia sát chủ lấy người khác làm của mình,  vì vậy nên khó thành công lớn nếu không có thêm Khoa Quyền Lộc. Thiên Cơ nhị hợp vĩnh viễn với Phá Quân. Thiên Cơ khi xấu thì Phá Quân chủ bất nghĩa, nếu Thiên Cơ tốt thì Phá Quân chủ chính. Phá Quân là sao dễ mang tính cách xấu vì tam hợp là Thất Sát chủ đoạt và Tham Lang là tham muốn rất dễ sa ngã. Trong tử vi nhiều kẻ luận không biết phải trái địa lý, tính chất xã hội ở từng khu vực mà đưa ra cách luận đoán vô căn, như việc cách Sát Phá Tham gia Tồn Kiếp Tuần Hồng ở từng nơi sẽ có những tai nạn khác nhau vì Địa Kiếp tức kiếp nạn do địa, đất, thổ nhưỡng mang lại từng vùng miền khác nhau mà luận khác nhau. Cũng cách rơi rụng xấu như Việt Linh Hình Không Kiếp Kỵ nhưng có kẻ bị rơi máy bay, có kẻ đi trên đường sét đánh, có kẻ lại bình yên vô sự  nhưng bị dày vò bởi tinh thần, bệnh tật. Tử vi là thực tế cuộc sống, không thể lấy chuyện huyền hoặc cuộc sống không có để mang vào cách trong tử vi, mà chỉ có thể lấy tử vi để đưa ra luận đoán và đời thực, vì vậy môn này mang tính nghiệm lí và phải bằng nghiệm lí mới có thể tìm hiểu sâu hơn. Hay nhìn vào thực tiễn mỗi quốc gia để xem xét các cách phạm tội bị xử trí. Cũng là cách giết người như Thất Sát gia HỎA HAO KÌNH VIỆT LINH HÌNH KỴ KIẾP QUYỀN là cách nổi nóng màn tạo ra họa sát nhân hoặc bị người giết. Trong trường hợp này nếu thủ hạn sẽ gây ra cách sát, nếu ở Việt Nam ta giết người thì ta bị tử hình, người giết ta thì ta chết chính là cách Thất Sát xấu,  nhưng ở nước bên Phương Tây, một tên sát nhân giết hàng loạt ở Na Uy chỉ phải chịu mức tù dưới cả chung thân. Thất Sát ở nước đó chia rõ hai trường hợp ta giết khác hoàn toàn ta bị giết. Rất nhiều các cách cục khác bản thân đã kiểm chứng. Như hồi trước người viết có dịp khảo sát hai cặp song sinh khi trong trường quân đội. Hai người sinh đôi có đa số những đặc điểm giống nhau nếu cùng ở một môi trường, nhưng càng lớn lên việc họa phúc của mỗi người khác thay đổi lớn hơn, tuy nhịp độ hạn phát hay bại vẫn có một số đặc điểm giống nhau. Ở cặp thứ nhất, hai anh em đều thi vào khối lực lượng vũ trang, người em đi học thiếu sinh quân từ sớm, xét vào trường khối quân đội, người anh học xong thi vào ngành công an. Do tính chất công việc khác nhau, người anh tiếp xúc nhiều với tội phạm, người em làm trong Quân Đội về ngành hậu cần nên hạn tốt và cách công danh địa vị khác. Tuy vậy, các đặc tính của thân thể khá giống nhau như tóc đều thưa, bị bạc tóc khi trẻ, da tay đều bong tróc, nhưng về sau do môi trường khác nhau, người em bị đau mắt đỏ biến chứng dẫn đến di chứng mắt bị mờ khó chữa, tiêu tốn nhiều tiền, người anh bị đau mắt đỏ chữa trị kịp thời không có vấn đề gì. Tính chất công việc người anh nguy hiểm, đối mặt nhiều tội phạm. Người em ở từ nhỏ trong quân đội tính kỷ luật cao, nghiêm khắc, chịu khổ do huấn luyện. Người anh tính cách hòa nhã hơn, vào ngành Công An nên cuộc sống sung sướng hơn, quyền hành trong xã hội cao hơn. Một số trường hợp song sinh sống hai vùng miền khác nhau, tính cách thay đổi hoàn toàn khác nhau. Vì vậy mới thấy rõ rằng, môn Tử Vi hàm ý giống xã hội, kẻ sống ở môi trường khác nhau cho tính cách khác nhau, như cái cây cùng một bọc tưới bón khác nhau kết quả khác nhau. Vì vậy, mỗi thời đại có những lá số giống nhau, như thời phong kiến sẽ luận khác và thời hiện đại luận khác. Riêng việc xét sự phát triển của Thiên Hư tức cái giả, cái ảo, cái hư thời nay là cả một câu chuyện dài, không thể luận như thời trước với câu phú.
" Mệnh Khốc Hư mạc đàm phú quý".
Các sao bản chất không thay đổi nhưng sự phát triển của xã hội khiến các sao có thêm nhiều tính chất mới từ tính chất cũ. Như Linh Tinh có thêm ý nghĩa là điện, điện tử. Ngày nay, cái họa Không Kiếp có thể xóa sổ cả một Thành Phố hàng trăm nghìn người tròn vài giây. Và cũng có thể phá hủy cả thế giới, khi đó lấy đâu ra số tốt hay xấu, như Thiên Lương may mắn, Thiên Đồng chủ phúc, mệnh hạn thân đều rất tốt đẹp cũng phải vong mạng như kẻ hạn xấu không phân biệt, đây là vận Thiên Hạ. Việc thay đổi số phận cũng không khó khăn với kẻ đã biết trước những mặt tai họa của chính mình.

Thiên Cơ chính là thời cơ, vì vậy đây là ngôi sao dễ thành công do nắm bắt được cơ hội của trời cho. Thiên Cơ cũng chính là ngôi nhà, chính là cây cối. Thiên Cơ nếu thêm bộ Kình Đà Phượng có tính xây dựng. Cơ ngộ Khôi Việt chính là viên ngọc quý, đây là cách nói chính nghĩa đen, vì Thiên Cơ cũng chủ là đá, Khôi Việt có đặc tính là quý. Bộ Khôi Việt đi với Cơ Nguyệt Đồng Lương là rất hợp cách, tăng tầm quan trọng của nhóm sao hiền hòa trong xã hội, cũng là cách phát may Lương Việt và cách phát phúc Đồng Việt. Thiên Cơ là sao tài giỏi nhất của nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Cơ rất ưa Hóa Khoa, chủ cách nghiên cứu sâu về khoa học, Thiên Cơ là sự tính toán, tìm hiểu khoa học, và cũng là cách ít gặp tai họa vì đây là ngôi sao của cá nhân, của tư lợi, bản thân. Tuổi Đinh khi Thiên Cơ hóa thành Khoa thì đồng thời Thiên Đồng ở tam hợp hóa thành Quyền, nếu có Thái Âm đủ bộ Khoa Quyền Lộc nổi danh tiếng. Với Thiên Cơ hóa thành Quyền ở tuổi Bính ta cũng được bộ Quyền Lộc do Thiên Đồng hóa thành Lộc. Với Thiên Cơ hóa Lộc, nếu có Thiên Lương thành bộ Lộc Quyền. Với tuồi Mậu, Thiên Cơ hóa thành Kỵ không luận là quá xấu vì Thiên Cơ là tài năng, đi với Kỵ nếu gia cát là cách kỳ tài. Tuổi Đinh và Bính có THIÊN CƠ là hợp cách nhất. Không Kiếp là tối hung thần, đóng đâu nguy đó mười phần hiểm nguy. Bộ Không Kiếp làm xấu hoàn toàn cách Cơ Nguyệt Đồng Lương mà chủ là Thiên Không, một số chính tinh khác kỵ Địa Kiếp hơn
Bộ Không Kiếp tọa thủ tại Mệnh nếu không ở vị trí đắc ý gây ra nhiều tai họa cho Chính Tinh, đây là bộ sao phản tác dụng tốt đẹp lớn nhất của Tử Vi.