Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Kình Đà. Show all posts
Showing posts with label Kình Đà. Show all posts

Friday, December 10, 2021

Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử

 Vạn vật đều có tính chiêu cảm, có thể luận như lực hấp dẫn tác động qua lại. Suy cho cùng, tâm tướng cũng vậy. Hạn hành chẳng qua là nơi lưu mệnh trong thời gian ngắn Nhật hạn, Nguyệt hạn, Tiểu hạn, hoặc lưu mệnh trong thời gian dài Đại hạn. Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử, tuy nhiên khi xét thực tế, rất nhiều cách cục này chủ gặp nhiều điểm tốt đẹp, phát tài quan song mỹ rất hay. Điểm khi xét đến tại phú luận tại một tính chất nguyên thủy của cách cục. Có thể hiểu trường hợp xảy ra như việc tất cả Mệnh, Thân, Đại Hạn, Tiểu Hạn đều gặp cách cục Cự Hỏa Kình Dương, bất hội trợ cách như Hóa Quyền, Thai Tọa, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Xương Khúc, Tả Hữu, Thiên Khôi, Phượng Các, Đào Hoa,... cách cục trên sẽ thành cách chung thân ải tử. Hoặc kể như hội trợ tinh, thêm Sát Kỵ tinh cũng là mang ý nghĩa hung họa. Tính chất chính của cách Cự Hỏa Kình mang ý nghĩa không thể đương cự, không thể chống đỡ dẫn tới trầm uất trước biến cố nặng nề, mạng vong. Cũng vậy, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ biến hóa thành nhiều ý nghĩa theo dòng cách cục, tuy nhiên vẫn mang ý nghĩa chính là hóa khí ra tính chất riêng biệt. Có sách luận, Hóa Lộc gặp Không Kiếp thành cách nghèo hèn. Hay Hóa Khoa gặp Không Kiếp thành khoa nạn. Hóa Kỵ gặp Thanh Long trở thành rất tốt đẹp, rồng ẩn trong mây. Cần rất cẩn trọng khi suy xét định cách của hóa khí. 




Có một điểm cách hay khi xét định khí hóa của vận. Ở mức độ cơ bản tuy nhiên khi nghiên cứu luận định cách cục có thể không chú ý tới là điểm vận của Sát cách. Tại điểm vận Sát cách khí hóa dồn ép bởi cách cục Kiếp Kỵ, Kỵ Hỏa, Hỏa Kình, Kình Kỵ Khốc, Tức Sát cách tính dương, đương vượng bộc phát. Hành vận trải qua áp lực khủng kiến, tuy nhiên nếu đại vận kế tiếp, cách cục thời cơ phát khởi, hoặc duy như các cách cục cát, hoặc đắc cách, khí số đại vận này sức thành tựu không thể xem thường. Thăng phát rất mạnh. Hai hành vận tiếp chuyển, ắt nếu một hành vận trải qua cách cục Không Kiếp, hành vận tiếp theo sẽ tránh được bố cục này, nếu hội họp Xương Khúc thành cách được đánh giá hay. Sát cách đắc chế hóa, điểm vận khí vượng, lưu tới hành vận quyền cách, như Binh Hình Tướng Ấn, Quyền Khốc, Quyền Tuế, luận tương thông Quyền Sát. Thực tế điểm hóa khí vận của Sát cục là nguyên tắc cơ bản. Thí như việc khi đặt nhân mệnh thực hiện nhiệm vụ công tác ngoài đảo xa hoặc biên giới, sẽ hình thành tư tưởng quý trọng ở vị trí giao thông thuận tiện, đô thị tấp nập nhiều người đông vui. Cũng vậy, nếu nhân mệnh trải qua được giai đoạn nợ số tiền rất lớn, sẽ cảm thấy việc không có khoản nợ là điều rất quý. Phàm ở trong lao tù mới thấy thời gian tự do quý giá. Người bị bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, phổi tắc nghẽn thấy giá trị của sức khỏe. Sự kích phát điểm vận sau khi qua giai đoạn Sát Kỵ trùng phùng có tính chất phát triển đột biến nếu thành cách. Trong các Sát tinh, dễ thành cách nhất khi hợp hóa là Kình Dương, Hỏa Tinh. Cũng là Sát tinh dễ mang lại thất bại, nguy hiểm, thương tật. Kình Dương là ngôi sao cần có nếu nhân mệnh khởi phát điểm thấp, thường diện tướng luận định cách Kình ngộ Long Trì được đánh giá là hay về tướng mũi. Xét cách cục thực tế, vị trí của Hỏa Tinh gặp Lộc hay Quyền là cách tốt đẹp, do tính chất bạo phát nhanh chóng đặc biệt khi đắc địa. Một lá số nhân mệnh Thiên Tướng người viết có luận gần đây cuộc đời nghèo khổ, tới hạn hành Hỏa Khốc Kình Lộc, giao hội Tuế Phượng cách trong thế Sát Phá Tham, mười năm làm nên tài sản rất lớn, đất đai rất nhiều. Khi xét định cách cục, rất cần lưu ý tới các trường hợp đặc biệt, do bản chất thực tế ngoài xã hội người thành tựu lớn không nhiều, việc chiếm đa số là người bình thường, hoặc làm công ăn lương, hoặc buôn bán nhỏ. 




Để xét định nhân mệnh quý hiển, điểm thứ nhất cách cục hoặc đắc cách hợp hóa, hoặc phản cách thành quý, thứ tới khả năng điểm hóa Sát rất mạnh. Một số kinh sách luận về định cách của Kình Dương và Hỏa Tinh có điểm cần tránh hiểu theo nghĩa của từ ngữ. Do có phần ý nghĩa phú luận bởi biệt cách tức cách cục thể hiện rõ tính chất theo hung tính của tinh đẩu. Thực tế nhiều câu phú khiến người nghiên cứu tử vi rất khó khăn trong việc định hình tính chất, ý nghĩa của cách cục. Một lá số đắc cách tức đảm bảo yếu tố Sát vượng không hóa thành sự nguy hiểm với chính bản thân nhân mệnh. Sức phản kháng của nhân mệnh tương ứng với những lựa chọn mang tính bước ngoặt cuộc đời. Thường nghe thấy tính chất nhận định về con đường sự nghiệp là tươi sáng hoặc trắc trở. Trong bản chất của biến động này là sự thăng tiến liên tục, hoặc sự thăng giáng tuần hoàn. Một số nhân mệnh đường sự nghiệp nằm ngang, bình ổn không có tiến triển nhiều trong các hạn hành. Lá số ổn định trong thời điểm thế giới hiện tại thực tế không còn ứng hợp như trong thời kỳ lịch sử. Các truyền thống văn hóa và định hướng phát triển xã hội, ngành nghề, quan tước, phú cách về ý nghĩa và quyền lệnh đã phát sinh biến hóa thay đổi nhiều. Điểm quan trọng khi xét định các lá số gặp cách cục ổn định, tránh Sát Kỵ hội mệnh về vận trình phát triển rất khó khăn, thường chấp nhận với thực tại. Có lá số nhân mệnh làm công ăn lương trong nhà nước có bất mãn do cảm thấy không phù hợp với Tài Bạch tức về lương tiền. Thực tế vấn đề thời thế xã hội mỗi thời điểm nhân mệnh sinh sống, tồn tại tại lịch sử phân hóa những ngành nghề với cuộc đời bó buộc rất khác nhau. Đây là điểm rất quan trọng để xét định cách cục, do nghề nghiệp là đặc trưng không thường thay đổi nhiều của các cách cục ổn định hoặc ngay bố cục Sát cách. Trong thực tế, nếu lựa chọn một khuynh hướng làm việc công, viên chức trong nhà nước, hoặc ngành nghề nhà giáo, bác sĩ, y tá, đầu bếp,... là sự ứng hợp của cách cục hội cách của nhân mệnh hướng tới ngành nghề này. Ở quốc gia Mexico, xuất hiện chiến tranh ma túy là thế lực ngầm rất lớn và hàng trăm nghìn người mất tích tại đây. Thực tế đã xuất hiện thêm rất nhiều nghề nghiệp khi lợi nhuận, hay lộc được phát sinh. Từ thể chế lịch sử mở rộng lãnh thổ, tới giai đoạn hiện nay. Lộc là hóa khí đứng đầu, phát khởi tới Quyền và Khoa. Nơi có Lộc sẽ sinh khởi nghề nghiệp mới, sinh khởi uy tín, hay quyền và nghiên cứu Khoa về vấn đề phát sinh. 




Thí như Cơ Lương Diêu Y Tướng Ân Quý thường hành nghề y đạo, hoặc liên quan tới y học. Hoặc cách Phá Quân hội Binh Tướng Quyền Khốc thường theo khuynh hướng binh nghiệp, võ cách. Ngành nghề gắn liền với rất nhiều về thông tin một nhân mệnh, thường khi ghi chép thông tin cơ bản một người, phân định tới nghề nghiệp, công việc đảm nhiệm. Có người theo đường quan chức, có nhân mệnh theo đường kinh thương, hai phân định chính này là Tài Bạch, Quan Lộc mối quan tâm thường trực của đời người. Do vậy, Tài Bạch và Quan Lộc tam hợp chiếu với Mệnh cung. Mệnh là tổng thể một nhân mệnh, Tài Quan là thứ bên ngoài tuy nhiên là thiết yếu của nhân mệnh. Như một đặc điểm để nhận định một người, áo khoác Tài Bạch tức tiền bạc, và Quan Lộc là vị trí công việc, địa vị trong hệ thống xã hội là gốc rễ xét các đối đãi với một nhân mệnh, chi phối các yếu tố khác của nhân mệnh. Sự tác động này nhìn ở vấn đề thực tế tác động qua lại lẫn nhau, thí như tài sản lớn sẽ dẫn tới địa vị xã hội cao, cũng đánh giá về thân phận. Hoặc về chức vụ, quyền lực lớn sẽ có những chế độ về vật chất tốt hơn. Hoặc như năng lực, bản tính của nhân mệnh tác động mạnh tới tài sản, địa vị của nhân mệnh. Sự tác động liên hệ này là tam giác Mệnh, Tài, Quan. Luận về Sát tinh, biến hóa phức tạp. Phú luận "Dương cung gặp cách Hỏa Kình, một là phát lớn hai là hình thương". Với bố cục Hỏa Kình hội cách, đặc biệt Hình Kỵ lai xâm nơi hạn hành, rất nhiều nhân mệnh gặp tai nạn hoặc nguyên cục tại Mệnh cách có thường tật yểm li với xã hội. Ngược lại, có một số nhân mệnh kích phát thành cách cục mang tính hoạch phát. Sự biến hóa của cách cục này mang tính hai cực, có thể hóa cực đoan hoặc may mắn kích phát. Xét về cách cục Hỏa Kình kích phát cách ứng câu "Hung tinh đắc địa phát dã như lôi", bất kỳ nghề nghiệp đều ứng hợp thăng phát mạnh do nhiệt hỏa nhiệt huyết của Hỏa Tinh dẫn động Kình Dương táo bạo. Tuy nhiên với những môi trường công việc có tính đặt bẫy, cạnh tranh âm ám, bố cục này rất dễ ứng cách bị loại trừ. 




Để thành kẻ có quyền cần thêm Quyền tinh do không thể gặp Ấn tinh trong bộ Tồn Tướng Ấn tại đây. Thiên Không Địa Kiếp là thiên tai họa nạn, như động đất, sóng thần, lũ lụt, hỏa hoạn,.. những thiên tai ứng bất ngờ, khó có thể trở tay kịp là tính chất cơ bản của Không Kiếp. Tuy nhiên khi gặp thiên tai họa nạn, một số kẻ lại là thời điểm đắc lợi, được vận hội tới kiếm ra tiền bạc. Điểm chung có sự sắt đá trong nội tâm, tức thuộc cách ác bởi lợi dụng sự khó khăn, nguy cấp để đạt được lợi ích. Do vậy thực tế để dụng cách Không Kiếp cần bố cục có tính táo bạo, có thể hư giả như Thiên Hư, hoặc cách ác để thành tựu. Thời kỳ lịch sử, trước luận thổ phỉ có sơn, hải, thảo, mã tặc khởi nguồn trên tất cả quốc gia trong lịch sử, mọi nơi sinh chiếm đoạt. Tức gắn với bản tính của người. Tinh đẩu cũng mang ý nghĩa vậy, là nguyên thủy về bản tính diệu dụng của con người và sự hội họp mô tả tác hóa cát hung là sự biến định của tư tưởng, hành động của chư tinh diệu. Thổ phỉ, buôn lậu là nghề trái pháp luật, do vậy gặp Kỵ Hình trong nội cách. Hoặc bố cục Kỵ Kiếp, Tang Kỵ, Hỏa Kỵ,... sẽ có khuynh hướng biết hành động sai trái vẫn vi phạm. Nếu Kỵ Hình có Xương Khúc phát triển mạnh hơn, do Xương Khúc chủ sự hiểu biết, cũng là văn tinh chủ nho nhã, học vấn cách. Kẻ làm thổ phỉ có lý riêng để hành động, có toán cướp người giàu chia người nghèo, có toán thấy sự bất công của xã hội phong kiến, cũng như người đứng đầu cuộc khởi nghĩa, đắc thời có quần chúng ủng hộ là chính nghĩa, gặp thất bại là phản loạn tùy vào người thắng lợi sẽ viết lại lịch sử. Tượng ứng của Lộc Tồn là sự gìn giữ, tích trữ. Lộc Tồn mạnh do sự giúp sức của Tướng Quân, Quốc Ấn. Xét về Hóa Lộc là khí từ tổ hợp Chính Tinh mang ý nghĩa của tinh đẩu hóa khí. Lộc Tồn có tác động mang ý nghĩa riêng rẽ. Tổ hợp Lộc Tướng Ấn thành cách là sự tiết kiệm của Lộc Tồn, gìn giữ từ thế hệ trước Tồn Ấn với Tướng Quân là sao tình cảm, tình thương gia đình. Quốc Ấn còn là con dấu, sắc lệnh, với Tồn Ấn di sản thừa kế. Cách Tồn Ấn Tướng hay là có thêm Đào Hoa đồng cung với Lộc Tồn. Thể hiện ý nghĩa niềm vui với tài lộc, tức là cách phát tài. Khi mất mát tài sản khó có thể vui mừng, do vậy Đào Tồn cư Ngọ can Đinh được đánh giá rất hay. Ngay việc mệnh tại đối cung với cách Thái Dương tại Tí nhật trầm thủy bể, phản cách thành bố cục hay với can Đinh. "Thái Dương cư Tí, Bính Đinh phú quý trung lương". Can Đinh gặp 6 địa chi, Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu. Đào Hoa tại Tí và Ngọ. Cách cục Lộc Tồn xung chiếu Đào Hoa hoặc đồng cung Đào Hoa. Hai cách này phối hợp Mệnh cách có Hóa Kỵ hội về từ Cự Môn thành cách cơ hội, niềm vui tới từ bên ngoài. Trục Đào Phi có tính chất đặc biệt, mang tính bộc phát lớn. Thực tế cách cục Kình Hổ Khốc hay Đà Phượng được đánh giá hay khi hội nhóm Phượng Khốc an theo Địa Chi. Với cách cục Lộc Tướng Ấn và Phi Phục Thanh hội Đào Hồng Hỉ an theo Địa Chi cũng mang ý nghĩa hay. Nếu ưa tranh cướp gặp cách Kình Đào Hà, cạnh tranh là Kình Phượng. Thực tế Đào Kiếp có tính nhanh chóng. 


Tuesday, October 12, 2021

Chọn lựa và các kết quả

 Mỗi một lựa chọn, đưa ra quyết định trước một vấn để có thể khiến nhân mệnh thành tựu lớn hoặc đưa đến những bế tắc xuất hiện. Có những lựa chọn được khởi phát bởi bản tính và một số do sự huân đúc những tri kiến, tích lũy những thất bại. Trên tử vi xuất hiện các tổ hợp xuất phát từ bản tính. Người ưa việc mạo hiểm, kẻ muốn sự an toàn. Điểm quan trọng là nhận định của nhân mệnh về bản chất của sự việc có thấu. Có một số nhân mệnh có chia sẻ với người viết về tiền của tích lũy mua nhà đất tuy nhiên không cẩn trọng dẫn tới bất cẩn khi lựa chọn một mảnh đất như một đương số vướng mắc khi mua đất tại Alibaba. Một số nhân mệnh khi đưa tài sản tích góp và có thể vay nợ thêm để cho vay với lãi suất cao và không thể thu lại nguồn vốn là tài sản tích lũy trong thời gian rất dài. Có những lựa chọn có thể khiến nhân mệnh trở nên giàu có, những lựa chọn dẫn tới suy tán. Một số đầu tư theo việc cầu may tới cờ bạc. Trên tử vi, có một số cách cục chủ tham muốn phấn phát là Tham Hỏa và Đào Hoa Kiếp Sát. Điểm quan trọng là các cách cục này khi thành cách có thể khiến nhân mệnh thăng phát rất lớn. Tượng cách của Đào Sát là tham muốn từ Đào Hoa, chủ động nắm lấy và thực hiện hành động Kiếp Sát. Sao Kiếp Sát thường ít luận định trong tử vi. Kiếp Sát có đặc tính chủ tranh đoạt, khởi từ niềm tin của Đào Hoa tới những điều tươi sáng kế tiếp. Đào Sát là một trong các cách cục cơ bản khi xét nhóm sao an theo Địa Chi. Khi xét bốn cách cục cơ bản Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã Khách, Đào Kiếp Sát và Hồng Hỉ. Thường phú luận "Mệnh trung Hồng ngộ Kiếp Không mạc đàm phú quý". Với cách Hồng Kiếp có giá trị tác họa lớn hơn bố cục Đào Sát. Do thực tế Hồng Loan thường tại vị thế bị động khi hội Kiếp Không. Do Thiên Hỉ luôn bên ngoài kích phát khiến Hồng Loan ở thế bị động trước niềm vui Thiên Hỉ tại đối cung. Niềm vui đắc tài lộc, tình duyên, do vậy thường luận "Niềm vui ngắn chẳng tày gang". Bên trong còn mối họa Không Kiếp thường trực không được chế hóa. Cách cục Đào Sát chứa Sát tính, trong trường hợp đơn thủ không hội Hồng Loan, khi hội cách Đào Sát Kiếp Không, tính hung có thể bị Kiếp Sát hóa. Phát ngoài thực tế là những kẻ chiếm đoạt, như việc lừa đảo về đất đai thu lợi cho người bất chính. Nhóm sao Đào Hồng Hỉ được gọi là Tam Minh, do những niềm tin về điều tốt đẹp tới mệnh cách. 



Trong thời điểm khó khăn, bế tắc lớn, nhân mệnh xuất hiện niềm tin là động lực để có thể vượt qua. Chờ đợi thời cơ khác tính chất của trễ nải. Quan trọng là trong nội tâm phân biệt hai tính chất này rất khó khăn. Dẫn tới việc có người chờ thời vận tới tuy nhiên thời gian luôn dịch chuyển theo chiều hướng tới, không xuất hiện quyết định trong thời gian dài, lưỡng lự trong những lựa chọn được gọi là do dự. Thời cơ tức Thiên Cơ có thể tới do sự khai phá triệt để của Phá Quân, phá cũ làm mới, đôi khi việc cũ tốt đẹp, Phá Quân vẫn phá bỏ để tiến lên. 




Thiên địa tuần hoàn, vận bĩ tới thái, nhật nguyệt hối lại minh trong các thời kỳ là thuận lý tự nhiên. Đời người cũng vậy, khi thuận nước xuôi dòng, nghịch nước gặp cản cần quyết tâm vượt qua. Ý nghĩa của cách Đào Hồng Hỉ mang lại sự lạc quan tới nhân mệnh. Điểm cách của Đào Hồng Hỉ đắc cách thường được luận tối hỉ với Thái Dương, do Thái Dương là ngày mới, gặp Tam Minh là cách cục hay, nếu đủ cách Âm Dương không gặp Sát Kỵ là ngày tháng hưởng thụ vui vẻ. Việc niềm vui có thể xuất phát từ nhiều nguyên do, tai hại là niềm vui giải trí do những thứ gây nghiện, niềm vui sắc dục quá đà. Xét về tham muốn, cách cục mang lại vui vẻ của đời người khi đạt được danh vọng, tiền bạc, hoặc lý tưởng được thực hiện. Có những niềm vui do giúp đỡ người yếu thế, có niềm vui do tự chủ chính cuộc đời bản thân, niềm vui được tự do. Cũng vậy, Đào Sát và Hồng Hỉ phát triển tham muốn. Hồng Hỉ còn tượng là sắc diện, người có ngoại hình tốt cũng là niềm vui, cũng như gặp người bần cùng sa lỡ, hay hình thương bệnh tật phát sinh tâm thương xót. Trong cuộc chiến trường kỳ, nếu có niềm tin thắng lợi sẽ tạo động lực mạnh để hành động, như năng lượng để khởi phát những ý tưởng, giải pháp vượt qua tình thế. Thực tế bốn nhóm sao Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã Khách, Đào Sát và Hồng Hỉ là bốn nhóm sao đại diện đặc trưng về tính cách của nhân mệnh. Trên tử vi cũng gặp cách Tam Ám, tức Diêu Đà Kỵ. Hội vận Âm Dương gặp Diêu Đà Kỵ, hay cách Cự Môn hội Tam Ám hành vận trải qua ắt như mây dông kéo đến, mệnh cách vững có thể hóa làm trợ dụng với khả năng cơ biến. Cũng do Tam Ám hay Diêu Đà Kỵ thực tế còn tồn tại cách Kỵ Hình chủ dễ sai phạm, vượt quá những quy định. Trong các nhóm sao chính an theo Địa Chi, bố cục Tang Hư Mã Khách thường gặp đánh giá khó khăn hơn. Tang Môn, Thiên Hư là sự hư hao, còn chủ tang tóc, biến đoạn. Lý âm có dương, dương chứa âm, trong thế bĩ là nơi rèn dũi khả năng cơ biến tại Thiên Mã nghị lực. Tuế Hổ Phù là lý tưởng, quan điểm của bản thân, được đắc chữ chính khi có chữ Thái tại Tuế, có Bạch Hổ ứng chữ liêm chính, gặp Long Trì, gặp Hoa Cái, một số địa chi năm gặp thêm Phượng Các là bộ tứ linh Cái Hổ Phượng Long. Thiên Địa tuần hoàn bất phân chính, bất chính. Cũng vậy không phân xét người tụ tài, tán tài, do sở tác của lòng nhân phân định. Cũng vậy, sinh thời người thể trạng tốt, kẻ sức yếu, người bệnh tật nan y, kẻ vô lo vô bệnh. 




Người tư chất thông minh, người trí kém. Lá số tử vi phân định vậy, chỉ xét nguyên cục gặp cách Tang Hư Mã là khởi phát khó khăn so với cách Tuế Hổ Phù. Địa lý cũng vậy, nơi gặp hiểm nguy cận kề, nơi có những cơ hội phát triển tốt hơn tới nhân mệnh. Sự lựa chọn trong cuộc đời mỗi nhân mệnh có tính cá nhân, kết quả trực tiếp tới cuộc đời của nhân mệnh. Việc từ bỏ những hướng đi sai lầm là khó khăn, cần tới quyết chí đoạn tuyệt, phân định sai lầm và tri kiến của nhân mệnh. Chỉ yếu tố lựa chọn, cơ bản, là quá trình tư duy, tri kiến của mệnh số. Phàm như vật được thuần hóa như giống chó mèo nuôi nhốt, khó có thể có sự nhạy bén như loài hoang dã, nơi tồn tại giữa các nguy hiểm, sinh mạng. Tuy nhiên, nếu được huấn luyện có thể trở nên sắc bén, khả năng kích phát năng lực lớn, như huấn luyện nghiệp vụ. Cũng vậy, mỗi thế mạnh không hẳn đặt ở vị trí nguy khốn có thể tạo thành tựu đột biến, có những sự tích lũy an toàn nhờ vào năng lực nội tại. Điều quan trọng như nội tại được phát triển theo đúng khuynh hướng. Nhân mệnh khi khởi phát tính cách, có người tính cách ưa cương trấn, có người nhu nhược, có người gan góc. Có cách cục gặp nguy khốn rèn luyện được bản lĩnh, năng lực phát sinh mạnh. Có cách cục cần sự khích lệ, hướng dẫn đúng phương hướng nếu không sẽ dẫn tới suy bại, thất bại cuộc đời. Như một nữ mệnh có người con sa vào nghiện chất ma túy, muốn thoát ra tuy nhiên rất khó khăn. Nếu sa vào tham cầu về tài danh, theo con đường kinh thương nhân mệnh có thể đã được sự ngưỡng mộ. Điều quan trọng đặt sự tham muốn ở vị trí nào. Vấn đề nghiện về chất kích thích, hay ma túy ắt liên quan tới điều cấm, vượt quá hành vi cho phép, là trái pháp luật. Trên tử vi hình thành các nhóm sao mô tả bố cục này. Thế Ám hình thành, cũng là chất kích thích tuy nhiên thuốc lá được xã hội chấp thuận, bản chất của ma túy sẽ khởi phát khí Ám, tức phát sinh từ bóng tối, tượng cách âm. Cũng như bố cục Kỵ Hình, là nòng cốt của Nhị Ám. Kỵ Hình tam hợp có thêm Thiên Diêu, tức tượng cách Thiên Hình là pháp, luật, Kỵ Diêu là điều ám, chủ trong tối, việc ám muội, không công khai. Có thể Kỵ Diêu tác hóa hóa thành tính dục, tuy nhiên cũng có thể hóa thành việc mờ ám. Liên quan tới bộ Kỵ Hình là một cách cục lớn trong tử vi. Địa Kiếp khởi bởi cuồng. Kỵ Hình khởi từ phạm. 




Thiên Cơ hội Kỵ Hình tức Cơ Diêu có thể là hay, do chính yếu ý nghĩa là sự tiếp xúc âm ám với cơ thể. Cách Cơ Kỵ Hình và Đồng Kỵ Hình được đánh giá tốt hơn bố cục Sát Phá Kỵ Hình. Hoặc thí như cách Vũ Kỵ Hình là khả năng lách trước luật khi hội Song Lộc là bố cục có tính hoạch phát mạnh, Vũ Khúc là tài tinh, có năng lực linh hoạt, tuy nhiên khi hội vận Sát Kỵ cũng sẽ mang tính hình pháp dễ bị tai họa. Tính chất của Kỵ Hình trên lá số tử vi động tương ứng bên ngoài thực tế xã hội. Khi phát sinh những điều cấm mới bởi luật pháp, Kỵ Hình cũng biến dịch thay đổi tính chất. Cách cục là nguyên gốc, phản ánh ra bên ngoài và tác động nghịch lại với bố cục. Với một quốc gia được xét việc mại dâm là hợp pháp, tức bố cục Kỵ Hình biến chuyển khiến một số cách cục trở thành không vi phạm. Một số quốc gia, việc phụ nữ gặp những bất lợi trước quyền cơ bản, được coi phạm pháp luật ở một số quốc gia. Việc luật định thay đổi cũng hóa cách Kỵ Hình thay đổi. Tác động của lá số tử vi mỗi nhân mệnh là hoàn cảnh và nội tư tưởng của mệnh cách. Mối liên kết giữa lá số tử vi với vận làng, vận nước xuất phát từ hóa khí bên ngoài. Không có thế vững bền trường tồn, ngay cả sự ổn định của một quốc gia thịnh vượng, vạn vật đều tuần hoàn biến dịch, đời người cũng vậy, lấy chấp để cầu thành tựu, chấp niệm quy căn nguyên về tham muốn khởi như Tham Lang, hay sâu hơn là sao Tử Vi, khi hóa thành hành khí, ắt có biến dịch, thăng trầm, điều thay đổi là cần thiết để tiến lên phía trước.

Friday, July 23, 2021

Nhóm sao chính an theo Thiên Can

 Tham muốn, nhu cầu thiết yếu chiếm một phần thời gian của bản thân mỗi đương số. Khi xét cách cục của các sao theo tổ hợp, cách cục tạo bởi Hình Diêu Y mang tính chất đặc trưng của hai tính chất nghịch phát, khởi từ một nguyên cục. Thiên Hình là sao an theo tháng, tức nguyệt vận, có tính chất uy áp, có tính chất của khắc phạt, hình khắc. Thiên Hình  nằm trong định cách bố cục Hình Diêu Y. Nếu Mệnh các ngộ Thiên Hình, ắt Quan Lộc gặp Diêu Y. Ngược lại nếu Mệnh cách ngộ Thiên Diêu và Thiên Y ắt Tài Bạch cung gặp Thiên Hình. Nếu không nắm rõ lý tính của sao này, rất dễ luận đoán sai lầm với cách cục tinh đầu khi giao hội với bộ Hình Diêu Y. Nhóm Hình Diêu Y nhập mệnh, đa phần mang lại khó khăn. Trên tinh bàn gồm 4 nhóm sao lớn an theo Thiên Can là Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Trong đó nhóm Lộc Tướng Ấn hợp cách Hình Diêu Y. Hành tướng của Lộc Tướng Ấn chủ vượng, hành tướng của Kình Hao là công phá, của Đà Hao là chờ đợi thời cơ tới. Bốn nhóm sao lớn an theo Thiên Can đại diện cho bốn mẫu người, bốn sự thành cũng bốn sự thất bại nếu hóa hung. Cách cục tử vi thực chất khi định cách chung mô tả những tính chất riêng hướng tới khi gặp tình cảnh bất chợt, là suy tưởng ban đầu giải quyết những vấn đề gặp phải. Thất Sát ngộ Kình Hao có thể hóa cuồng, cũng có thể hóa tinh tường mà công phá giành được. Thái Âm ngộ Đà Hao có thể hóa nhu nhược, cũng có thể là sự sắc bén khi nhìn nhận vấn đề, không hấp tấp vội vàng. Bốn nhóm sao trên đều có thể đạt tới đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc. Tuy nhiên sẽ biến chuyển theo tổ hợp Chính Tinh hợp hóa, cũng biến chuyển theo tinh đẩu còn lại khi hội họp. Kình Dương tượng là giáo mác, chủ công, Đà La là khiên đỡ, chủ phòng thủ. Thực tế mỗi nhân mệnh đều tồn tại tất cả tinh đẩu trong chính nội tâm, chỉ là hóa hiện với cường độ mạnh yếu sai khác. Cũng như nhân mệnh đều tồn tại âm dương ngũ hành trong nội thân. Phụ nữ thể hiện tính Âm, đàn ông thể hiện tính Dương mạnh hơn. Tử vi cũng vậy, xét định mệnh cát hung, còn nằm tại Nhân định, là quá trình học hỏi, tiếp kiến biến đổi một phần về bản tính. Kẻ theo đạo thường giữ được trung dung, không hành xử quá thiên kiến, biết tiến thoái kịp thời. Do vậy thực tế giáo dục rất quan trọng khi xét định một nhân mệnh. Tuy nhiên cá tính, bản tính của nhân mệnh lâu không tu dưỡng sẽ dễ thoái lui những phẩm chất rèn luyện được. 




Như việc người nhập mệnh Tang Môn có thêm Diêu Y Hỏa Linh, hội Kình Hao nếu nhập cách chủ theo nghiệp quân binh, ắt rèn tính nghiêm chỉnh, tuy nhiên bản tính nhân mệnh cũng sẽ luôn tồn tại tính chất xuề xòa, do cách cục chủ mệnh kiến là cá tính tồn tại từ khi thai sinh. Sự biến chuyển này chịu thêm tác động của hành vận, đại tiểu vận tác hóa, khiến mệnh cách có thời điểm nghiêm chỉnh, nghiêm trang, gọn gàng. Có thời điểm xuề xòa, không chú trọng tiểu tiết. Điểm định cách của bố cục và xét sự biến chuyển của nội tâm khi suy xét sẽ chịu tác động của biến cố hoàn cảnh hay hành vận cơ hữu có tính biến đổi hoàn toàn cuộc sống nhân mệnh về sau. Có kẻ sinh khởi tính hiền lương, có người sinh khởi từ thiếu niên ưa sát phạt, giết mổ. Đây là điểm cốt yếu thực khởi của bản tính. Có kẻ ưa đọc sách tri kiến, đọc sách thánh hiền, có người ưa làm những việc khác. Điểm cốt yếu của cách cục nằm tại tính khởi phát của nguyên cục tức Mệnh tạo có trợ hay phá, hình thành tính cách, thói quen hành vi có lợi hay bất lợi. Kẻ ưa đọc sách thánh hiền ắt tâm sở tương ứng, người ưa giết mổ, thu nhặt lợi ích ắt ưa thực tiễn. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can tác động mạnh tới tính cách của mỗi mệnh tạo, từ đó dự đoán tới cuộc đời của nhân mệnh. Người có trí ắt ít gặp họa, kẻ thiếu tri kiến dễ gặp tai họa. Cũng như phát sinh ra điện, nhiều trường hợp do thiếu tri kiến, tức ý định chủ quan dẫn tới tai họa tới bản thân. Người hiểu biết ưa tìm tòi, học hỏi ắt có lợi biết điều nguy hiểm, an toàn. Cũng vậy, tính cách cũng sẽ hội chiêu cảm những họa phúc, chỉ trừ trường hợp họa tới do đồng vận, như phát sinh đường xá, tai họa có thể tới tập thể như gặp nạn trên xe khách. Ảnh hưởng tương kiến của họa phúc cũng nằm tại chiêu cảm. Nếu vật ở vị trí cao, hay đặc tính có chứa kim loại dễ hút sét. Tai họa cũng vậy, nếu trong nội tâm hay nội thân chiêu cảm họa dễ gặp tai ương. Như chiêu cảm may mắn bởi cách Đồng Lương hội họp hội trợ tinh tương ngộ, hành vận tốt đẹp dễ tránh được các tai họa dù lớn. Như việc ra đường linh cảm tránh được các hiểm nguy, hay do một lý do tránh được chuyến đi tai nạn. Điều này thường xuất hiện thực trong đời sống thường ngày. Cũng như vậy, cổ nhân phân định có số mệnh, cũng luận rõ " Nhân định thắng thiên, đức năng thắng số". 




Hiện tương dịch bệnh có quốc gia tức vận nước gặp nguy cấp lớn, có quốc gia tránh được phần tai họa. Trong thời điểm một địa phương, một làng hay một xã có bệnh dịch, nếu nhân mệnh có cách cục ưa do chuyển, lại hội Sát Kỵ trùng phùng khi sinh sống tại đây dễ gặp bệnh dịch tới thân. Những khuyến cáo, thông tin được những người ưa tìm hiểu, đọc sách báo sẽ nhìn nhận được mức độ nguy hiểm và sự lây lan dễ dàng của dịch bệnh. Cũng có thể nhờ tri kiến, hiểu biết do nghiên cứu, nắm bắt sớm thông tin có thể tránh được tai họa ngay trước mắt. Như việc dịch bệnh bùng phát âm thầm chưa kiếm tra, nhân mệnh tự bảo vệ bản thân, tránh tiếp xúc, gặp gỡ người xung quanh sẽ tránh được tai họa gây ra. Tuy nhiên thực tế do tính cách hay bản tính mỗi nhân mệnh sẽ phát sinh những trường hợp khác nhau. Cũng như mỗi nhân mệnh đều rõ về pháp luật, hình sự tuy nhiên mỗi thời điểm, mỗi ngày đểu có người vi phạm pháp luật. Người nghiên cứu tử vi, cái cần rõ không chỉ là xét đoán, dự đoán những biến động vận hành cát hung, mệnh cách giàu sang phú quý hay bần hàn bệnh tật. Thứ cốt yếu của người nghiên cứu tử vi toán mệnh là rõ ưu khuyết, những tai họa do bản tính tạo nên. Nhân mệnh có Sát Kình Hình Kỵ Kiếp Hổ dễ gặp tai họa hình tù do vi phạm pháp luật. Cũng vậy các cách cục luận không sai khác. Chỉ luận dễ gặp tai họa, thực tế trong các thời điểm khác nhau sẽ có các yếu tố tác động sai biệt tạo nên kết quả. Thứ nắm được cốt tủy không ngoài xu cát tị hung, cũng là sửa nhân. " Buông đao xuống đất, chắp tay thành Phật " tức về thiện tính của con người nằm ngoài khống chế của số mệnh, tuy rất khó có thể thay đổi bản tính, như việc người nghiện rượu lâu năm rất khó bỏ, do vậy sinh ra dự đoán. Tuy nhiên kẻ nghiện rượu có được trí thấu rõ và quyết bỏ rượu cũng sẽ thành. Phàm nhân mệnh đa phần ắt phải có tham muốn vật dục, ưa lợi ích nhỏ trước mắt khó thấy lợi ích rộng mở về sau, Hóa Kỵ có thể chuyển hóa rất nhiều bố cục, cũng khiến rất nhiều cách cục phản tác vi hung do vậy. Với Không Kiếp càng có tính kích phát mạnh. Thí như người vay nợ rất nhiều sẽ chịu áp lực rất lớn tới tư tưởng, khó có thể ổn định tư tưởng nhìn ra những cơ hội để khai thông thế bế tắc, tạo nên hoạch phát. Không Kiếp cũng như khoản nợ lớn của nhân mệnh, tăng liên tục khiến mọi thứ làm ra không thể bù đắp được khoản lãi, chịu tác động rất lớn của cặp sao này khi nhập Mệnh, khiến mệnh tạo khó có thể chuyên nhất, tạo đột phá. Tuy nhiên một số nhân mệnh sẽ do áp lực của nợ lớn khiến tư tưởng luôn tìm thời cơ và quyết tâm tạo đột phá dẫn tới thành tựu đột biến. 




Ý nghĩa của Không Kiếp có tính Sát rất lớn, tượng cách như trên nên dẫn tới thường nhân mệnh gặp bố cục này tại Mệnh hay Hạn đều khó có thể chế hóa được toàn cục. Thường khi xét luận của lá số tử vi cũng vậy, người nghiên cứu định cách cục nắm được cốt tủy của tính chất tinh đầu khi riêng rẽ và khi giao hội là điều thứ nhất để xét định lá số tử vi. Thường cần xét tượng nghĩa cho từng tinh đầu để nắm khí hóa khi giao hội là điểm quan trọng cần lưu tâm. Có người khi có khoản nợ lớn, sinh tâm chán nản, có thể dẫn tới hành động tuyệt mệnh. Có người sinh ra tâm loạn, sẽ đi cướp, ăn trộm, phạm pháp để có tài sản trừ nợ. Có người có trí lợi dụng lách luật, tránh luật pháp để tạo ra tài sản. Có người dụng trí tạo dựng nắm thời cơ để phá thế bế tắc. Có kẻ buông bỏ, trốn chạy khỏi nhân thế. Những hướng định trên đểu có các cách cục tổ hợp tinh đẩu mang ý nghĩa biểu hiện tới cách cục này. Cũng như vậy, Không Kiếp nắm vai trò chính yếu định đoạt toàn bộ cách cục xoay quanh, do vậy cũng có sách luận sức tác hóa của Không Kiếp mạnh như chính tinh. Từ những cách giải quyết khác nhau khi lâm tình trạng nợ không thể trả lãi, chính là phản ứng của bản tính trước cách cục. Xét định lá số tử vi là tri kiến huyền học toán mệnh đã truyền từ thời cổ, có thể nghìn năm về tri kiến âm dương ngũ hành, dịch lý của tiền nhân, trải qua rất nhiều thế hệ tới hiện nay, là những thứ thực tiễn, không chủ phát huyền diệu, hư ảo, là nghiên cứu về bản tính, tri ngộ về thiên tính của nhân mệnh, xã hội, những tính cách dự đoán rõ ràng. Có thể tiền nhân kiến giải theo lập định sai biệt, tuy nhiên về dịch lý dụng Âm Dương Ngũ Hành của triết học phương Đông không thay đổi, chỉ kiến giải sai biệt dẫn tới hiểu theo ý nghĩa mù mờ sai biệt. Cũng như kinh điển của Không Tử, hậu thế có thể không bắt kịp. Thời kỳ của khoa học tây phương nắm ưu thế vẫn có giá trị rất lớn của tri kiến tiền nhân, đặc biệt trong những kinh điển về Âm Dương Ngũ Hành hay Phật giáo có thể đương đầu với khoa học hiện đại. Khởi nguyên của bản thân nhân mệnh thực tế không làm chủ hoàn toàn bản thân, không cảm nhận được ngũ tạng hoạt động, không biết rõ những sinh vật như giun sán trong cơ thể, thậm chí nếu không được học tập, dạy về hình tướng của ngũ tạng bên trong cơ thể cũng khó có thể biết hình dạng và chức năng của nội tạng. Cái bản thể của nhân mệnh khi xét định trong tử vi khởi phát dự đoán tính cách khi lập số từ thời điểm thai sinh có hoàn toàn do thân xác sinh khởi hay có tồn tại hồn phách hay không, việc trường thành, phát triển giữa thnâ xác và hồn tác động lẫn nhau tức dẫn hóa của tư tưởng, phần hồn khiến thể xác, hình tướng biến đổi theo và ngược lại có là điểm nghiệm lý hay không người viết không xét tới, chỉ xét khi nghiên cứu tử vi, phần Mệnh và Thân tác động tương tác của thế âm dương, điều nghiên cứu tập trung là định cách cục của tinh đẩu, các tổ hợp và hành vận phối hợp để xét cách cục cát hung, ý nghĩa toàn cục trên lá số tử vi. 


Sunday, July 22, 2018

Thế bao vây tiến công với Sát cách



Hai thế phát triển của Tử Vi tại vị trí của Đà La và Kình Dương. Một trước, một sau của Lộc Tồn. Thế của Kình Đà là thế thay đổi. Lộc Tồn là thế tích lũy. Quy luật của vạn vật cũng theo hai thế vậy. Kình Dương và Đà La được luận là Sát Tinh. Đây là hai sao quan trọng trong Lục Sát do khí sát của tính chất. Kình Dương chủ tiến công, cạnh tranh, chiếm đoạt. Với Kình Dương thiên về chiều sâu. Kình Dương có dương tính, mang ý nghĩa chủ động. Đà La chủ phòng thủ, cạnh tranh, chiếm đoạt. Với Đà La thiên về chiều rộng. Đà La có âm tính, mang ý nghĩa bị động khi phối hợp với các sao chủ nghe theo. Mệnh tạo luôn gặp một trong các cách cục cơ bản an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn hay Thanh Phi Phục. Với Lộc Tướng Ấn và Thanh Phi Phục thường luận cách cục chủ cát. Bố cục Kình Hao và Đà Hao chủ sát. Do tính chất quan trọng của bốn cách cục cơ bản nên tác hóa tạo nên bản tính riêng của mệnh tạo, phối hợp với bố cục Chính Tinh thành tổ hợp. Người luận tử vi thường đánh giá tốt với Kình Dương hơn Đà La. Trong quan trường, thương trường hay chiến trường tức dụng tới tranh đoạt, hàm chứa Sát luôn gặp bố cục Kình Đà, biến hóa liên tục thay đổi tùy thời cơ sử dụng. Do đó Kình Đà luôn gặp Hao tại tam hợp tức hai sao chủ thay đổi phối hợp. Đà La có đặc tính quan trọng do âm kim, chủ mưu kế, mang tính chất bành trướng. Kình Dương do dương công thường bộc lộ, dương tính thực chất có khuyết điểm. Kình Đà luôn tồn tại khi có cạnh tranh, phát triển. Do thuộc Sát Tinh bố cụ thuộc Sát cách có tính bộc phát, hoạch phát lớn.  




Báo quân đội có viết về sự phát triển của viễn thông quân đội. Chiến lược đặc biệt của Viettel dụng thế của Mao Trạch Đông chiến lược " Lấy nông thôn bao vây thành thị". Trong trận đánh Điện Biên Phủ lấy chiến lược tạo từng thế bao vây chắc chắn từng bước xiết chặt vòng vây, lấn, tấn, dũi. Hai chiến lược trên chủ tính chất của Đà La. Trong kinh thương hay chính trường không nằm ngoài hai thế Kình Đà. Cạnh tranh chủ thay đổi. Với bố cục Sát cách, thế bị động là thế chủ tai họa. Đà La chủ âm kim, mang ý nghĩa mưu kế, chủ lấy thế mở rộng, vây lấn đều là thế chủ động. Kình Dương chủ dương kim, mang ý nghĩa tiến công, lấy thế chiều sâu, đột phá làm trọng. Mệnh cách tùy Kình Đà cát dụng chế hóa Sát cách. Với Đà La trong bố cục Linh Xương Đà Vũ Kỵ đa phần mang họa với việc nghe theo, dễ rơi vào tai họa, hạn chí đầu hà khi ứng Đà La. Kình Dương trong bố cục Cự Hỏa Kình đặc biệt khi có Không Kiếp chung thân ải tử, tức phẫn uất mà sai lầm khi ứng tính chất Kình. Kình Đà khi thành tựu mang ý nghĩa hoạch phát rất lớn, tăng mạnh vị thế, khí hình của mệnh cách. Một Kình Dương nhập mệnh chế hóa Sát thành công với quyết định táo bạo, quyết đoán tấn công trong quan cách hay tài cách. Một Đà La nhập mệnh chế hóa Sát thành công với quyết định tính toán, bày mưu tính kế, chờ đợi thời cơ trong thế chủ động. Câu chuyện phát triển của Viettel mang ý nghĩa ứng hợp với sức phát triển mở rộng, mang tính chất của Đà La ngay ở hiện tại. Thành đi liền với Bại. Với Sát cách hoạch phát đi liền với hoạch phá do thời vận. Dễ biến hóa theo chiều hướng cực đoan nên luận có tính Sát. Tính hoạch phát rất lớn, đặc biệt nếu có Không Kiếp tới mức độ không ngờ mà được. 




Kình Dương và Đà La luận từ vận thiên hạ, vận nước tới trong cơ thể. Bệnh tật là thứ nguy hiểm. Mệnh có Kình Tang giao hội Sát cách ứng hợp nội ngoại. Nếu bên ngoài cuộc sống khó khăn, chống lại hoàn cảnh, bế tắc. Cách cục Kình Tang chính là Kình Mã. Phú luận " Kình tứ mộ, Mã triều lai biên cương ắt hẳn trổ tài võ công". Hoặc bố cục Kình Phượng hay chính là Kình Khốc câu phú " Đồng Âm Kình Dương phùng Phượng Các nhất thế uy danh". Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương với thế Đồng Âm và Cơ Lương. Bố cục Cơ Lương chủ thời cơ, cơ may. Đồng Âm chủ âm tính, phối hợp chung. Đồng Âm chủ âm nhu, với Kình táo bạo, tại đây là Kình Khốc luôn có Phượng chủ táo bạo được thời vận mà thành tựu. Hai cung độ Tí Ngọ chỉ hình thành được bố cục Kình Tang Khốc. Bố cục Tuế Hổ Phù không giao hội Phượng Khốc tại đây. Cách cục Đồng Âm ngộ Kình Phượng là bố cục Đồng Âm Tang Kình Mã Khốc Khách. Bố cục Đồng Âm có Tang Môn là cách cục chủ hình thành phe phái đồng lòng, với Kình Khốc đứng đầu. Câu phú thứ hai là bố cục trợ tinh giao hội của Kình Mã. Các câu phú cần rõ tính chất của bố cục tránh sai lầm khi luận. Nếu bố cục Đồng Âm Kình Phượng hội Tả Hữu tối hỉ. Kình Dương các câu phú luận đều rõ ý nghĩa cơ bản chủ táo bạo, dương công của sát tinh này. Phân biệt rõ Kình Dương giao hội Tang Hư Mã, Tuế Hổ Phù. Trong hai cách cục trên có thể gặp Phượng Khốc với sao Thiên Khốc hỉ ngộ Kình Dương tăng dương tính và thành tựu của bố cục. 



Với sao Đà La phú thường luận mang ý nghĩa không mấy hay do Đà có tính ám, chủ âm tính thuộc âm kim tính Sát tức sát tinh. Do âm ám, chủ mưu kế. Thời Nho Giáo lấy nhân trí tín lễ nghĩa làm trọng, thường Sát tinh với Đà La mang ý nghĩa mưu kế thủ đoạn, dẫn tới định cách ý nghĩa xấu với sao này. Đà La bố cục phức tạp hơn Kình Dương và khó thành cách hơn Kình do Đà chủ bị động, bố cục chế hóa Đà La chủ mang ý nghĩa định đoạt, có tính chủ động tranh đoạt. Đà La thường luận trong cách cục Cự Đà Kỵ với câu phú thường gặp " Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung". 
Đà La và Kình Dương đều có tính dồn nén, bộc phát. Đà La chủ chịu đựng lớn và phản kháng tính Sát khi bộc phát rất mạnh. Trường hợp thứ hai chủ chờ thời cơ dụng mưu kế. Kình Dương chủ thẳng, Đà La chủ vòng. Với Kình Tuế chủ quan điểm, bày tỏ rõ ràng. Cách cục Đà Tuế chủ lời nói vòng vo, phối hợp chính tinh chủ ngôn ngữ như Cự Môn và Thiên Phủ tính chất tăng mạnh. " Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung 
Cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày".

Đà La do không phù hợp với Tuế Hổ Phù ở tính chất quan điểm. Khi giao hội với Tang Hư Mã hình thành cách cục Đà Hư chủ ưa nói sai sự thật, chủ che giấu nên khó đắc cách hơn với Kình Dương. Với bố cục Đà La thành tựu đa phần tính thâm trầm, ít nói. Đà La do âm kim khi hóa Quyền cách thành uy quyền do Sát, cơ mưu lớn. Tuy nhiên đa phần mệnh cách Đà La thường là bố cục bị động, tác họa do Đà La chủ nghe theo. Hoặc cách cục Âm Ám gồm Diêu Đà Kỵ tức Tam Ám giao hội. Đà La khi tốt chủ cơ mưu tính toán hơn người, mở rộng bành trướng. Thường mang ý nghĩa trái biệt, phi thường như cách Cự phùng Đà La sinh dị chí. Đà La thường gặp trong các bố cục bộc phát khi dồn nén, chủ loạn trí nên khi giao hội hình thành cách Đà Hỏa hay Linh Đà khó cát hóa. Với cách Linh Đà Kỵ Khốc chủ ác tâm do dồn nén mà ra tay làm hại mang ý nghĩa âm ám. Bố cục tốt của Đà La giao hội Văn Cách. Đà La tối hỉ ngộ Khoa, Xương Khúc. Đà La giao hội Phượng Khốc đồng độ với Phượng tốt hơn với Thiên Khốc. Với cách Đà Khốc khi tác họa thường bản thân gặp oan khốc. Bố cục Đà Hao cát hóa phức tạp hơn với Kình Dương. Tuy nhiên thành tựu đa phần lớn hơn do tính bộc phát rất mạnh. 

Friday, February 2, 2018

Trung thực và giả dối



Trung thực tính chất cơ bản gắn với ổn định. Giả dối tính chất cơ bản gắn với thay đổi, bất ổn. Thường ở thời đại hiện nay chữ trung thực khó được giữ như trước đây, do tác động của văn hóa bên ngoài và việc giao tiếp xã hội nên việc dùng từ nói dối trở thành ngôn ngữ giao tiếp. Trong tử vi cũng có cách cục tính cách ưa trung thực và tính chất xã giao ở hai nhóm sao đối nghịch an theo Địa Chi là nhóm Tuế Long Hổ Phù và Tang Hư Mã Khách. Ở hai bố cục này đều có thể giao hội với Phượng Khốc hình thành hai cách cục đều được ngưỡng mộ bởi hai tính cách. Nhóm Tuế Long Hổ Phù hay nhóm Thái Tuế tương ứng với chữ thực, lập luận, quan điểm thể hiện ra bên ngoài là ý nghĩa toàn bộ tổ hợp. Bạch Hổ mang dương tính, chủ lộ ra ngoài. Trong khi đó Tang Môn ở đối cung chủ ẩn vào trong. Thái Tuế tức chữ Thái là thực, Thiên Hư ở đối cung là chữ Hư tức giả. Cái dễ gặp là không phải mọi lúc thực đều tốt và giả đều xấu, do đó Tuế và Hư đều có thể được ngưỡng mộ, quần chúng đi theo. Nhóm sao an theo Địa Chi là cách nhìn dựa trên quan điểm. Có bốn nhóm sao chính là Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Đào Hồng Hỉ và Cô Quả. Các nhóm sao này đều nhấn mạnh ở tính chất cách nhìn. Với Tuế Hổ Phù là thật, nhưng sự thực với kẻ này có thể là giả dối với kẻ khác. Tang Hư Mã ngược lại, cái này là giả nhưng dựa trên sự thực. Thực và hư rất khó phân biệt. Hôm nay trái đất hình vuông là chân lý tất cả mọi người đều rõ nhưng tới ngày mai trái đất trở nên hình tròn. Cặp Đào Hồng tức sắc đẹp cũng là cái nhìn mỗi người, mỗi người xét vẻ đẹp riêng, có khuynh hướng riêng. Cặp Cô Quả tức cặp nhân quả cũng như vậy, mỗi cái nguyên nhân này là kết quả của việc khác. 



Nhóm sao an theo Địa Chi rất quan trọng trong việc phối hợp cách, nếu không rõ dễ gặp cảnh thấy Tuế Hổ Phù giao hội Xương Khúc Tam Hóa luận tốt đẹp trong khi Kình Mã Không Kiếp Hỏa Linh luận xấu là sai lầm cơ bản khi luận giải. Mỗi cách cá tính có khuynh hướng tổ hợp hữu tình riêng, tức hợp hóa hữu lý. Ở đây xét tới chữ danh thì nhóm Tuế Hổ Phù được Phượng Khốc là bố cục tốt đẹp phát danh, cũng các sách hay luận được bộ Tứ Linh gồm Cái Hổ Phượng Long. Xét về chữ lợi tức chữ tài thì nhóm Tang Hư Mã Khách là bố cục tốt về tài cách, phát tài, thường luận phối hợp với Lộc thành cách Lộc Mã giao trì. Ở đây có sự khác biệt về khuynh hướng biến hóa và dụng cách với nhóm sao an theo Địa Chi. Cách cục Tuế Hổ Phù chủ dương tính, công khai, quan điểm tới bên ngoài của cá nhân, tính bản thân lớn. Trong khi đó cách Tang Hư Mã thiên về âm cách, chủ sự ẩn chứa, ẩn tàng bên trong, tính cộng đồng lớn hơn, do đó với cách Đồng Tang là cách cục tốt đẹp chủ âm thầm từ thiện, cống hiến cho xã hội, biến Tang Môn mang ý nghĩa tang tóc, buồn thương thành cách cục thông cảm. Mệnh cách có Tang Môn thường khuôn mặt có nét khắc khổ, nội tâm thuở nhỏ thường chịu cảnh trái nghịch. Bố cục Tuế Hổ Phù mang tính ổn định tức khiến nội tâm ổn định, với cách cục Tang Hư Mã Khách mang tính động, có phần nội tâm biến động, Tang Môn mang ý nghĩa nghịch cảnh, khó khăn làm động tổ hợp này với Thiên Mã là thay đổi cho phù hợp. Trong hai nhóm sao này đều có thể thành tựu, xét về danh chính và ngôn ngữ là cách cục Tuế Hổ Phù, trong khi đó Tang Hư Mã giỏi về khả năng đối phó với khó khăn. 


Tang Hư Mã chỉ xét bố cục mang tính hư, giả nhiều hơn thực, đặc biệt ở vị trí của Thiên Hư. Trong khi đó mệnh cách vị trí của Thái Tuế thường tính cách ưa sự thực hơn. Tất nhiên hai nhóm sao này đều biến đổi khi gặp Sát Kỵ tác động, đặc biệt là Không Kiếp, Kỵ. Bản chất của hai nhóm sao này nằm ở tính chủ động và bị động. Tang Hư Mã là cách cục nội âm, mang tính chất che dấu, mạnh ở vị trí Tang Môn. Cách cục này chữa Điếu Khách có tính xã giao, do đó nội tâm thường bất ổn, thể hiện tính cách khác ra bên ngoài, trong đó Tang Môn thường gặp nghịch cảnh, đối phó. Cả nhóm sao Tang Hư Mã Khách xét chung tùy theo giao hội Sát Kỵ hay Trợ Tinh mà biến hóa. Bố cục này khi xấu dễ bị đánh giá tính cách giả dối. Với cách cục Tuế Hổ Phù mang tính chủ động, ở đây chủ ngoại dương, bố cục chủ đưa quan điểm, tính cách ra bên ngoài. Đây là hai nhóm sao cơ bản quan trọng, biến hóa khi đồng độ với các nhóm chính tinh hay bàng tinh ý nghĩa khác nhau. Cung an THÂN và cung Mệnh có hai nhóm sao này mang ý nghĩa khác nhau, cần phân biệt rõ mệnh và thân. Với cách cục Mệnh Thân ở hai nhóm sao khác nhau, như việc mệnh cách với nhóm Tang Hư Mã, cung an Thân cách cục Tuế Hổ Phù đắc cách, tính cách trong các hoàn cảnh vô thức, tức bản tính mang ý nghĩa của Tang Hư Mã. Khi trưởng thành, qua các đại vận thì đương số chịu tác động mạnh của Tuế Hổ Phù. Nói dễ hiểu hơn mệnh cách như trong vô thức, nằm sâu trong hành. Cung an Thân mang ý thức, sự tự chủ xây dựng bản thân, trưởng thành. Phân biệt ý nghĩa cách mệnh thân rất rõ ở các nhóm sao cơ bản khi Thân Mệnh nằm ở hai nhóm khác nhau. 



Trong trường hợp này là Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tang Hư Mã cần xét các bố cục cát hóa, nếu ngộ Sát Kỵ bất dụng mang tính tranh đoạt, hiểm trá do hoàn cảnh khó khăn tác động. Nếu Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tuế Hổ Phù có phần tốt hơn nếu giao hội cát, nhược kiến Sát Kỵ luận mệnh đa mưu xảo ngôn. Đặc biệt cách cục Thái Tuế ngộ Kiếp Kỵ dễ phá cách. Ở cách cục Quan cách nếu mệnh tạo không được chữ trung thực thì khó đạt thành tựu ổn định, dù bố cục khí hình vượng. Trung thực là ổn định, nội tâm ổn định thì Sát được hóa thành Quyền. Nhiều lá số mệnh cách bất trung thực vẫn là mệnh tốt, do bố cục Sát cách được hóa Quyền bởi nỗ lực qua khó khăn. Xã hội không công bằng là điều tất yếu. Trong đa phần trường hợp mệnh cách trung tín đạt được chữ Danh. Với cách cục giả dối dễ đạt được chữ Lợi. Quan trọng có dụng được Sát tinh hay gặp tác họa. Một kẻ có thể giả dối nhưng tất cả đều ưa những người trung thực. Cách cục Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù đắc cách chính là đắc Tứ Linh, thu nhỏ của bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với đường lối và đạo đức. Cách cục Tuế Hổ Phù thường được trợ lực mà thành.  Trong khi đó cách cục Tang Hư Mã ngộ Phượng Khốc hình thành cách cục Mã Khốc Khách cũng như thu nhỏ của nhóm Sát Phá Tham về tính chất Sát. Dụng tới bố cục Sát là được và mất. Cách cục này đa phần do nỗ lực của bản thân tạo nên thành tựu. Với bố cục thành tựu do Sát cách là cách cục đánh đổi. Với mệnh Tang Hư Mã sau thành công là nỗ lực khó khăn, thường dụng bằng tự lực, do hoàn cảnh khó khăn tác động để thành tựu. Mệnh cách luôn nỗ lực vững chắc với mục tiêu là thành tựu cách chung của nhóm sao này. Sát cách có thể chế hóa, nhưng khó khăn khi không hợp mệnh cách. Như việc một kẻ với mệnh ưa an nhàn, ổn định như cách Tồn Xương Khúc, hướng thành tựu chịu khổ cực, áp lực thay đổi để phù hợp thì khó có thể dụng. Phàm là vạn vật đều phải có thịnh suy. Lộc Tồn chủ giữ,  tốt ứng với thế thịnh, nếu suy không đổi dẫn tới diệt, khi đó Kình Hao và Đà Hao luận tuy sắp xếp là Sát Tinh nhưng cát do cần thiết. Ngũ hành hợp hóa hữu tình thì thành, khắc phạt thì bế tắc. Một đất nước Mông Cổ hùng mạnh không thay đổi cũng phải suy tàn. Thời nay kẻ mạnh không phải là kẻ thắng mà kẻ nhanh là kẻ thắng, sự vượt mặt của những nền kinh tế hay công ty đổi mới trước sự lạc hậu là điều dễ gặp. Thời vận là điểm quan trọng nếu khí hình bất vượng, mệnh cách xấu nhưng nắm được thời vận cũng được thành tựu lớn. 

Sunday, March 12, 2017

Cách cục xấu gây tai họa của Kình Dương



Cách cục xấu gây tai họa của Kình Dương


Kình Dương thuộc một trong Tứ Sát nên hình thành nhiều cách cục gây tai họa. An tại một số Thiên Can tạo một số bố cục xấu.
" Dương cư Đoài Chấn, Lục mật Lục Giáp phúc nan toàn".
Tuổi Giáp thuộc Thiên Can dương có Kình cư Mão.  Trong này có cách Kình cư Tí Ngọ Mão Dậu. Ở tuổi Giáp do Thiên Can dương luôn giao hội với Đào Hồng Cô Quả Kiếp Sát ở các cung Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi.  Luôn có cách Kình Việt có Lưu Hà xung.
" Thốn kim khuyết Kình Dương phản hiềm tao khốn".
Cách này về Kình Dương cư tại Dậu của tuổi Canh. Xét về Thiên Can được bộ Kình Việt có Lưu Hà xung. Tuổi Canh cũng thuộc Thiên Can dương luôn gặp Đào Hồng Cô Quả Kiếp Sát tại cung Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi. Kình Dương cư Tí Ngọ Mão Dậu thường luận là xấu.
" Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, Tuế diệt Dương Đà Canh mệnh hung".
Kình Dương cư Mão Dậu xét về các sao cố định của Can Chi luôn có bộ Kình Việt và Lưu Hà xung. Cách Kình Việt chủ sự phát sinh tranh đoạt, tranh đấu. Tuy nhiên sao Lưu Hà ở đối cung là yếu tố quan trọng hình thành cách Kình Dương hung của tuổi Giáp, Canh. Lưu Hà xung tính chất tranh đoạt của Kình Dương có mâu thuẫn tăng lên. Bên ngoài chủ cướp đoạt, bên trong tranh đấu đẩy xung đột lên cao. Cung xung chiếu được luận sao bộ sao tam hợp. Một số trường hợp rất quan trọng quyết định cả phần lớn cách cục. Cách Kình Dương có Lưu Hà xung là cách cục xấu. Như việc Thiên Phủ có Thất Sát ngộ Kiếp ở đối cung nếu bên trong không vững thì bên ngoài cướp đoạt, có thể nguy hiểm đến tính mạng. Cách Kình Việt bên trong phản kháng, bên ngoài tranh đấu mang tính sát khá lớn. Nếu gia Sát Kỵ luận hung. Ở đây việc tranh đoạt không mang tính chất tốt do không được bộ Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách và Phượng Khốc giao hội. Kình Dương cần thiết có Phượng Khốc là được ủng hộ, có Tuế Hổ Phù là theo chính đạo, gặp Tang Hư Khách là chống lại khó khăn. Ở đây Kình Việt rất dễ đi liền với Đào Hồng chủ ưa thích mà tranh đoạt, gặp Kiếp Sát tăng tính sát. Có thể hình thành bộ Lưu Hà Kiếp Sát xấu. Xét Kình Dương ở cung Tí Ngọ cho tuổi Nhâm và Mậu. Kình Dương cho hai tuổi này đều thuộc Thiên Can Dương tức chỉ có thể giao hội với Tang Hư Khách, Tuế Hổ Phù, Phượng Khốc. Cách tuổi Mậu và Nhâm không luận hung nên mới có câu phú.
" Kình ngộ Đồng Âm nhị phùng Phượng Giải nhất thế uy danh".
Cách Kình Dương có Phượng Khốc là cách cục hay. Ở cung Ngọ bộ Đồng Âm lạc hãm xấu nhưng ngộ Kình Phượng chủ sự vươn lên, được ngưỡng mộ. Đây là cách may mắn vì đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương.
" Kình cư Tứ Mộ, Mã triều lai biên cương ắt hẳn ra ngoài võ công".
Kình Dương cư Tứ Mộ Thìn Tuất Sửu Mùi ở tuổi Ât Tân Quý Đinh Kỷ. Ở tuổi Ất có Kình Dương cư Thìn. Do Thiên can âm không có Thiên Mã tại đây. Với tuổi Tân có Kình Dương tại Tuất không thể có Thiên Mã vì Thiên can âm. Với tuổi Quý có Kình cư Sửu. Thiên Mã cư Tị cho Địa chi Hợi Mão Mùi. Tuổi Đinh, Kỷ có cách Kình Mã cho tuổi Tị Dậu Sửu. Ở hai tuổi này Kình Mã không có Phượng Khốc. Ở đây chỉ có Kình Mã ngộ Tang Hư Khách. Với Thiên Can Dương thì Kình Dương ở vị trí  Đế Vượng của vòng Trường Sinh.  Với Thiên Can âm thì Kình Dương ở vị trí Quan Đới. Vì Đế Vượng đến Suy chủ giảm đi, Quan Đới khí đi lên, phát triển. Kình Dương có đặc tính tiến lên, phát triển vì vậy các Thiên Can dương thì Kình hãm, Thiên Can âm thì Kình nhập đắc. Vì vậy cách Kình Mã không cần thiết được Phượng Khốc vẫn là cách chủ về võ nghiệp. Kình Mã là cách tranh đoạt, tấn công bằng tay chân, chuyển động phát triển. Tuy nhiên không mang hàm ý hay, nếu gia Sát Tinh tai họa lớn.

Saturday, March 4, 2017

Bài 2 : Luận sao Kình Dương thủ Mệnh



Luận sao Kình Dương thủ Mệnh p2


Kình Dương thủ Mệnh và tam hợp có tính chất khác với chiếu Mệnh. Nếu gặp trường hợp này tức luận bộ ngoại Kình, nội Đà. Có cả bộ Kình Đà phức tạp hơn một sao. Một số cách cục nhắc đến cả bộ Kình Đà.
" Dương Đà kỵ ngộ Âm Dương, ắt sinh đới tật hình thương nan phòng".
Bộ Kình Đà rất độc cho Âm Dương, với một sao đỡ xấu nhưng vẫn mang đặc tính bộc phát thái quá. Kình Đà khiến Âm Dương trở nên hỗn loạn vì tính chất của hai sao này. Bộ Dương Kình và Âm Đà khiến rối loạn cho cơ thể, thuộc cách dễ gặp hình tật do các yếu tố.
" Dương Hỏa đồng cung oai quyền yểm chúng".
Bộ Hỏa Kình là bộ sao có hai chiều hướng tích cực hoặc cực đoan rất rõ rệt. Tùy thuộc vào các Chính Tinh hay bàng tinh đi theo.
" Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử".
Mệnh có cách Hỏa Tinh ngộ Kình Dương tối kỵ gặp Cự Môn khi tính chất ban đầu của Cự Môn chủ sự phản kháng, bất mãn càng gia tăng tai họa cho cách xông xáo, phản kháng, tranh đoạt Hỏa Kình. Trong trường hợp gặp Tử Vi hoặc Thiên Phủ là cách rất tốt chủ sớm được sự thành công. Kình Dương có tính Dương Kim, chủ sự tiến công, tấn công, gặp sao Linh Tinh chủ tăng sự lạnh, quyết đoán, chống chế của cách Kình Linh. Mệnh có sao này thường khó nắm bắt được tâm lí của người cấp trên, hay chống đối tìm ra lỗi sai nên khó khăn trên con đường quan lộc.
"Dương Linh tọa Mệnh, lưu niên Bạch Hổ tai ương".
Sao Bạch Hổ có tính Kim, chủ sự mạnh bạo, trong sạch. Khi đi với Kình Linh hình thành cách cục xấu do tính sát phạt lớn, Bạch Hổ tại cung Lưu Niên tính chất hiển hiện rõ ràng. Sao Bạch Hổ chủ sự bộc lộ, khó kiềm chế khi gặp Kình Linh.
" Thốn Kim khuyết Kình Dương phản quyền tao khốn".
Sao Kình Dương cư cung Dậu rất xấu, thuộc cách tai họa. Tuổi Canh có cách Kình Dương cư Dậu.
" Dương cư Đoài Chấn lục mật lục giáp phúc nan toàn".
Tuổi Giáp có cách Kình Dương cư Mão. Sao Kình Dương các sách đều luận cư Mão Dậu đều là cách cục xấu. Thực chất do sự tác động của sao Lưu Hà. Sao này có tính Sát, thuộc tính Kim. Lưu Hà có tính dịch chuyển, tuy nhiên cũng là sự hấp thu. Kình Dương ngộ Bạch Hổ xấu vì tăng tính phản kháng, ương ngạnh. Với Lưu Hà ta có cách Kình Dương ngộ Lưu Hà xấu do Lưu Hà chứa đựng tính Sát của sự hấp thụ và chuyển động lưu lại không cho sụ thoát ra. Các sao chủ mưu kế, quyền biến ngộ Lưu Hà như Thanh Long, Cự Môn là cách cục hay. Lưu Hà thường có mặt trong những cách chết đuối, tức chuyển động vùng vẫy bị lưu lại ở dưới nước mà vong mạng. Tuổo Canh có bộ Kình Dương đồng cung với sao Lưu Hà, đây là cách rất độc mang tai họa bộc phát cho Kình Dương. Thường các sách vẫn luận Lưu Hà có tính Sát nhưng không giải thích.

Wednesday, March 1, 2017

Luận về sao Đà La ( phần 2 )



Luận về sao Đà La ( phần 2 )


Đà La có tính Ám, được gọi là Ám Tinh và là một trong bộ tam ám Diêu Đà Kỵ. Bộ sao này gồm hàng loạt các sao có đặc tính chung là âm ám, bế tắc. Với Hóa Kỵ chủ ngăn chặn, nghi ngờ, cản trở và thể hiện mặt khuyết điểm của Chính Tinh hóa khí. Với Thiên Diêu thuộc bộ sao Hình Diêu Y chủ tin tưởng với phương pháp, cách thức mà gây ra sự mù quáng. Với Đà La có tính chất che đậy, nhẫn nhịn và phản kháng âm thầm trái ngược với Kình Dương. Bộ Tam Ám ba sao này tác động xấu cho nhau khiến đương số tối tăm mặt mũi, hạn đến có cảm giác như trống rỗng xung quanh mờ mịt, không có niềm vui. Chính xác tư tưởng sẽ xảy ra như vậy nếu hạn tới. Cách cục này tác động nặng tới các Chính Tinh. Tùy theo các nhóm chính tinh mà có thể hợp hay bất hợp, lại phân ra trường hợp xấu nhất. Với bộ Nhật Nguyệt hay Sát Phá, Cơ Đồng ngộ cách này rất xấu. Nếu có Phủ Tướng ngộ Tam Ám lại đỡ xấu, trong trường hợp có bàng tinh như Thanh Long hoặc Hóa Quyền, Quốc Ấn lại chuyển hung vi cát, trở thành tốt đẹp biến đổi tính chất của Mệnh chủ thâm trầm, kín đáo, giỏi việc đối nhân xử thế mà đem lợi cho bản thân. Thiên Phủ luôn có Thái Dương nhị hợp để công khai nhằm che giấu thứ tại bản cung. Bên ngoài có Thất Sát nên hỉ gặp Đà La, nếu có Đà Kỵ cũng là cách tốt không luận là xấu. Ngoài việc đi liền với tam ám, cách cục Cự Đà Kỵ cũng nổi tiếng gây ra tai họa.
" Thiên Đồng ngộ Không Kiếp bất cát
Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung".
Đà La cần thiết gặp các sao có tính bộc phát, khi thành cách chủ phú quý đến bền vững do trải qua khó khăn mà gây dựng. Cách Đà La ngộ Hỏa Tinh có Hóa Lộc là cách chủ phát phú nhanh chóng, nếu chính tinh là Cự Môn càng tốt đẹp tương tự như cách Hỏa Tham đồng độ. Mệnh có Đà La hạn đến sao Kình Dương tính hấp thụ và bộc phát xảy ra. Đà La cần thiết có Trường Sinh đồng cung, gia tăng tính chất tốt đẹp cho thu vào mà có. Khi có Đà La thủ Mệnh không thể gặp bộ Lộc Tồn Ấn Bệnh hay Phi Phục Thanh và Kình Hao. Bốn tổ hợp sao này tượng trưng cho bốn tính cách lớn của hạng người ngoài thực tế. Phối hợp với các Chính Tinh và Bàng Tinh thành cá tính của con người. Nhìn chung người có bộ Đà Hao thường là nhóm người nhường nhịn, chấp nhận thua thiệt về phần mình. Tuy nhiên nhóm này nếu đắc cách thành công rất lớn vì mang tính chất bám trụ, quyết tâm gan góc của Đà La. Đà La phát triển theo chiều rộng và Kình Dương phát triển theo chiều sâu. Đà La mang tính xấm lấn, mở rộng như mở rộng lãnh thổ, mở rộng cửa hàng, mở rộng sức ảnh hưởng. Xấu là bị lấn chiếm, chèn ép vì Đà La là hấp thụ rồi phản kháng.
" Đà La Địa Kiếp chiếu phương, gặp Linh Tinh nạn bất tường chẳng sai".
Một Đà La đắc ý cần có Phượng Các ở tam hợp hoặc đồng cung. Cách này chủ sự mở rộng được ủng hộ, ngưỡng mộ. Ngoài ra hình thành bộ Đà Khốc là điểm nhấn. Bộ sao này rất hay do đặc tính hai sao kết hợp lại, cũng tương tự như cách Quyền Khốc được gọi là Minh danh quán thế.

Tổng luận sao Đà La ( phần 1 )


Tổng Luận sao Đà La ( Phần 1 )


Đà La có tính Kim đối nghịch về tính chất với sao Kình Dương. Đà La thuộc âm Kim, Kình Dương thuộc dương Kim. Hai sao này an trước và ngay sau Lộc Tồn vì vậy không thể có trường hợp cả bộ Kình Đà đầy đủ tam hợp hay đồng cung mà chỉ xuất hiện trường hợp củng chiếu, tức một sao xung chiếu, một sao tam hợp chiếu. Đà La là một trong lục sát tinh, có tính âm nhu nhưng mang tính Sát và được coi là ấm Tinh. Đà La có tính chất thái quá, tương tự như sao Kình Dương. Khi xấu tai họa không kém cạnh việc Kình bộc phát và khi tốt đẹp cũng trở nên thành tựu như Kình nhưng theo chiều hướng thành công khác nhau. Đà La có đặc tính hấp thụ, tuy nhiên không phải tích trữ, thu trữ như sao Lộc Tồn mà do Đà La thuộc trục Song Hao luôn có một sao Hao hội họp nên thuộc tính đè nén tích trữ sau đó bộc phát ra bên ngoài. Với Kình Dương cũng mang tính bộc phát. Đây là điểm khác biệt giữa trục Lộc - Phi và trục  Song Hao. Cũng vì tính chất này Cự Môn đi với Đà La hình thành cách Cự Đà Hao có ý nghĩa hay. Nếu sự tích lũy, dồn nén bất mãn, phản đối của tính chất cơ bản Cự Môn khi gặp Lộc Tồn khác với việc bộc phát ra bên ngoài của Đà La.
" Cự Môn ngộ Đà La ắt sinh dị chí".
Đà La cũng do tính chất này tạo ra cách cục nổi tiếng Linh Xương Đà Vũ. Cách Cự Đà là ý chí phi thường do sự dồn ép, đè nén mà tạo ra suy nghĩ khác lạ, cũng chứa sự quyết tâm lớn. Cách Linh Xương Đà Vũ là mặt khuyết điểm của tính chất sao Đà La. Sao này tượng là cái lưới cũng từ tính chất hấp thụ rồi bộc phát mà ra.
" Chu Du mỹ mạo tài hùng hạn Cự Sát Đà Linh căm hận mạng vong".
Chu Du mệnh có Tử Phủ Hình Ấn Hồng Khôi Xương Phụ Bật, tới hạn của Cự Môn gia hội Không Kiếp do Mệnh đã có Xương Khúc và Cự Môn lệch pha với Tử Vi. Hình thành cách Cự Sát Đà Linh ở đây chính là Cự Đà Linh ngộ Không Kiếp mà tạo nên kết cục căm hận mà chết. Nhìn kỹ cách Cự Sát Đà Linh có tính chất căn bản của Cự Môn ban đầu mới xét tới bàng tinh ở phía sau. Cự Môn chủ sự phản kháng, bất mãn. Tính chất này biến đổi theo chiều hướng xấu do bố cục của bàng tinh tạo nên. Trường hợp này nếu không có sao Đà La ắt không dẫn tới kết quả phải vong mạng. Như ở trên đã luận Cự Môn ngộ Đà La là cách cục tốt đẹp, tuy nhiên ở dưới đây là tâm của cách cục xấu này. Cách này do sự tin tưởng, nghe theo mù quáng mà mắc phải cái bẫy Đà La ngộ Linh Kiếp. Nếu ở đây có thêm Kỵ Hình ắt sự cố ý tạo ra, bằng không có thể mắc sai lầm bởi một ý kiến không cố ý. Việc kết quả của cách Sát là chết nhưng đi rõ của nguồn gốc thì rất nhiều nguồn gốc khác nhau. Khi có Đà La tham gia cách cục này đa phần do mắc phải âm mưu hoặc do sai lầm khi tin tưởng làm theo mà gây nên.