Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Cự Nhật. Show all posts
Showing posts with label Cự Nhật. Show all posts

Friday, December 10, 2021

Cự Hỏa Kình Dương, chung thân ải tử

 Vạn vật đều có tính chiêu cảm, có thể luận như lực hấp dẫn tác động qua lại. Suy cho cùng, tâm tướng cũng vậy. Hạn hành chẳng qua là nơi lưu mệnh trong thời gian ngắn Nhật hạn, Nguyệt hạn, Tiểu hạn, hoặc lưu mệnh trong thời gian dài Đại hạn. Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử, tuy nhiên khi xét thực tế, rất nhiều cách cục này chủ gặp nhiều điểm tốt đẹp, phát tài quan song mỹ rất hay. Điểm khi xét đến tại phú luận tại một tính chất nguyên thủy của cách cục. Có thể hiểu trường hợp xảy ra như việc tất cả Mệnh, Thân, Đại Hạn, Tiểu Hạn đều gặp cách cục Cự Hỏa Kình Dương, bất hội trợ cách như Hóa Quyền, Thai Tọa, Hóa Lộc, Hóa Khoa, Xương Khúc, Tả Hữu, Thiên Khôi, Phượng Các, Đào Hoa,... cách cục trên sẽ thành cách chung thân ải tử. Hoặc kể như hội trợ tinh, thêm Sát Kỵ tinh cũng là mang ý nghĩa hung họa. Tính chất chính của cách Cự Hỏa Kình mang ý nghĩa không thể đương cự, không thể chống đỡ dẫn tới trầm uất trước biến cố nặng nề, mạng vong. Cũng vậy, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Hóa Kỵ biến hóa thành nhiều ý nghĩa theo dòng cách cục, tuy nhiên vẫn mang ý nghĩa chính là hóa khí ra tính chất riêng biệt. Có sách luận, Hóa Lộc gặp Không Kiếp thành cách nghèo hèn. Hay Hóa Khoa gặp Không Kiếp thành khoa nạn. Hóa Kỵ gặp Thanh Long trở thành rất tốt đẹp, rồng ẩn trong mây. Cần rất cẩn trọng khi suy xét định cách của hóa khí. 




Có một điểm cách hay khi xét định khí hóa của vận. Ở mức độ cơ bản tuy nhiên khi nghiên cứu luận định cách cục có thể không chú ý tới là điểm vận của Sát cách. Tại điểm vận Sát cách khí hóa dồn ép bởi cách cục Kiếp Kỵ, Kỵ Hỏa, Hỏa Kình, Kình Kỵ Khốc, Tức Sát cách tính dương, đương vượng bộc phát. Hành vận trải qua áp lực khủng kiến, tuy nhiên nếu đại vận kế tiếp, cách cục thời cơ phát khởi, hoặc duy như các cách cục cát, hoặc đắc cách, khí số đại vận này sức thành tựu không thể xem thường. Thăng phát rất mạnh. Hai hành vận tiếp chuyển, ắt nếu một hành vận trải qua cách cục Không Kiếp, hành vận tiếp theo sẽ tránh được bố cục này, nếu hội họp Xương Khúc thành cách được đánh giá hay. Sát cách đắc chế hóa, điểm vận khí vượng, lưu tới hành vận quyền cách, như Binh Hình Tướng Ấn, Quyền Khốc, Quyền Tuế, luận tương thông Quyền Sát. Thực tế điểm hóa khí vận của Sát cục là nguyên tắc cơ bản. Thí như việc khi đặt nhân mệnh thực hiện nhiệm vụ công tác ngoài đảo xa hoặc biên giới, sẽ hình thành tư tưởng quý trọng ở vị trí giao thông thuận tiện, đô thị tấp nập nhiều người đông vui. Cũng vậy, nếu nhân mệnh trải qua được giai đoạn nợ số tiền rất lớn, sẽ cảm thấy việc không có khoản nợ là điều rất quý. Phàm ở trong lao tù mới thấy thời gian tự do quý giá. Người bị bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, phổi tắc nghẽn thấy giá trị của sức khỏe. Sự kích phát điểm vận sau khi qua giai đoạn Sát Kỵ trùng phùng có tính chất phát triển đột biến nếu thành cách. Trong các Sát tinh, dễ thành cách nhất khi hợp hóa là Kình Dương, Hỏa Tinh. Cũng là Sát tinh dễ mang lại thất bại, nguy hiểm, thương tật. Kình Dương là ngôi sao cần có nếu nhân mệnh khởi phát điểm thấp, thường diện tướng luận định cách Kình ngộ Long Trì được đánh giá là hay về tướng mũi. Xét cách cục thực tế, vị trí của Hỏa Tinh gặp Lộc hay Quyền là cách tốt đẹp, do tính chất bạo phát nhanh chóng đặc biệt khi đắc địa. Một lá số nhân mệnh Thiên Tướng người viết có luận gần đây cuộc đời nghèo khổ, tới hạn hành Hỏa Khốc Kình Lộc, giao hội Tuế Phượng cách trong thế Sát Phá Tham, mười năm làm nên tài sản rất lớn, đất đai rất nhiều. Khi xét định cách cục, rất cần lưu ý tới các trường hợp đặc biệt, do bản chất thực tế ngoài xã hội người thành tựu lớn không nhiều, việc chiếm đa số là người bình thường, hoặc làm công ăn lương, hoặc buôn bán nhỏ. 




Để xét định nhân mệnh quý hiển, điểm thứ nhất cách cục hoặc đắc cách hợp hóa, hoặc phản cách thành quý, thứ tới khả năng điểm hóa Sát rất mạnh. Một số kinh sách luận về định cách của Kình Dương và Hỏa Tinh có điểm cần tránh hiểu theo nghĩa của từ ngữ. Do có phần ý nghĩa phú luận bởi biệt cách tức cách cục thể hiện rõ tính chất theo hung tính của tinh đẩu. Thực tế nhiều câu phú khiến người nghiên cứu tử vi rất khó khăn trong việc định hình tính chất, ý nghĩa của cách cục. Một lá số đắc cách tức đảm bảo yếu tố Sát vượng không hóa thành sự nguy hiểm với chính bản thân nhân mệnh. Sức phản kháng của nhân mệnh tương ứng với những lựa chọn mang tính bước ngoặt cuộc đời. Thường nghe thấy tính chất nhận định về con đường sự nghiệp là tươi sáng hoặc trắc trở. Trong bản chất của biến động này là sự thăng tiến liên tục, hoặc sự thăng giáng tuần hoàn. Một số nhân mệnh đường sự nghiệp nằm ngang, bình ổn không có tiến triển nhiều trong các hạn hành. Lá số ổn định trong thời điểm thế giới hiện tại thực tế không còn ứng hợp như trong thời kỳ lịch sử. Các truyền thống văn hóa và định hướng phát triển xã hội, ngành nghề, quan tước, phú cách về ý nghĩa và quyền lệnh đã phát sinh biến hóa thay đổi nhiều. Điểm quan trọng khi xét định các lá số gặp cách cục ổn định, tránh Sát Kỵ hội mệnh về vận trình phát triển rất khó khăn, thường chấp nhận với thực tại. Có lá số nhân mệnh làm công ăn lương trong nhà nước có bất mãn do cảm thấy không phù hợp với Tài Bạch tức về lương tiền. Thực tế vấn đề thời thế xã hội mỗi thời điểm nhân mệnh sinh sống, tồn tại tại lịch sử phân hóa những ngành nghề với cuộc đời bó buộc rất khác nhau. Đây là điểm rất quan trọng để xét định cách cục, do nghề nghiệp là đặc trưng không thường thay đổi nhiều của các cách cục ổn định hoặc ngay bố cục Sát cách. Trong thực tế, nếu lựa chọn một khuynh hướng làm việc công, viên chức trong nhà nước, hoặc ngành nghề nhà giáo, bác sĩ, y tá, đầu bếp,... là sự ứng hợp của cách cục hội cách của nhân mệnh hướng tới ngành nghề này. Ở quốc gia Mexico, xuất hiện chiến tranh ma túy là thế lực ngầm rất lớn và hàng trăm nghìn người mất tích tại đây. Thực tế đã xuất hiện thêm rất nhiều nghề nghiệp khi lợi nhuận, hay lộc được phát sinh. Từ thể chế lịch sử mở rộng lãnh thổ, tới giai đoạn hiện nay. Lộc là hóa khí đứng đầu, phát khởi tới Quyền và Khoa. Nơi có Lộc sẽ sinh khởi nghề nghiệp mới, sinh khởi uy tín, hay quyền và nghiên cứu Khoa về vấn đề phát sinh. 




Thí như Cơ Lương Diêu Y Tướng Ân Quý thường hành nghề y đạo, hoặc liên quan tới y học. Hoặc cách Phá Quân hội Binh Tướng Quyền Khốc thường theo khuynh hướng binh nghiệp, võ cách. Ngành nghề gắn liền với rất nhiều về thông tin một nhân mệnh, thường khi ghi chép thông tin cơ bản một người, phân định tới nghề nghiệp, công việc đảm nhiệm. Có người theo đường quan chức, có nhân mệnh theo đường kinh thương, hai phân định chính này là Tài Bạch, Quan Lộc mối quan tâm thường trực của đời người. Do vậy, Tài Bạch và Quan Lộc tam hợp chiếu với Mệnh cung. Mệnh là tổng thể một nhân mệnh, Tài Quan là thứ bên ngoài tuy nhiên là thiết yếu của nhân mệnh. Như một đặc điểm để nhận định một người, áo khoác Tài Bạch tức tiền bạc, và Quan Lộc là vị trí công việc, địa vị trong hệ thống xã hội là gốc rễ xét các đối đãi với một nhân mệnh, chi phối các yếu tố khác của nhân mệnh. Sự tác động này nhìn ở vấn đề thực tế tác động qua lại lẫn nhau, thí như tài sản lớn sẽ dẫn tới địa vị xã hội cao, cũng đánh giá về thân phận. Hoặc về chức vụ, quyền lực lớn sẽ có những chế độ về vật chất tốt hơn. Hoặc như năng lực, bản tính của nhân mệnh tác động mạnh tới tài sản, địa vị của nhân mệnh. Sự tác động liên hệ này là tam giác Mệnh, Tài, Quan. Luận về Sát tinh, biến hóa phức tạp. Phú luận "Dương cung gặp cách Hỏa Kình, một là phát lớn hai là hình thương". Với bố cục Hỏa Kình hội cách, đặc biệt Hình Kỵ lai xâm nơi hạn hành, rất nhiều nhân mệnh gặp tai nạn hoặc nguyên cục tại Mệnh cách có thường tật yểm li với xã hội. Ngược lại, có một số nhân mệnh kích phát thành cách cục mang tính hoạch phát. Sự biến hóa của cách cục này mang tính hai cực, có thể hóa cực đoan hoặc may mắn kích phát. Xét về cách cục Hỏa Kình kích phát cách ứng câu "Hung tinh đắc địa phát dã như lôi", bất kỳ nghề nghiệp đều ứng hợp thăng phát mạnh do nhiệt hỏa nhiệt huyết của Hỏa Tinh dẫn động Kình Dương táo bạo. Tuy nhiên với những môi trường công việc có tính đặt bẫy, cạnh tranh âm ám, bố cục này rất dễ ứng cách bị loại trừ. 




Để thành kẻ có quyền cần thêm Quyền tinh do không thể gặp Ấn tinh trong bộ Tồn Tướng Ấn tại đây. Thiên Không Địa Kiếp là thiên tai họa nạn, như động đất, sóng thần, lũ lụt, hỏa hoạn,.. những thiên tai ứng bất ngờ, khó có thể trở tay kịp là tính chất cơ bản của Không Kiếp. Tuy nhiên khi gặp thiên tai họa nạn, một số kẻ lại là thời điểm đắc lợi, được vận hội tới kiếm ra tiền bạc. Điểm chung có sự sắt đá trong nội tâm, tức thuộc cách ác bởi lợi dụng sự khó khăn, nguy cấp để đạt được lợi ích. Do vậy thực tế để dụng cách Không Kiếp cần bố cục có tính táo bạo, có thể hư giả như Thiên Hư, hoặc cách ác để thành tựu. Thời kỳ lịch sử, trước luận thổ phỉ có sơn, hải, thảo, mã tặc khởi nguồn trên tất cả quốc gia trong lịch sử, mọi nơi sinh chiếm đoạt. Tức gắn với bản tính của người. Tinh đẩu cũng mang ý nghĩa vậy, là nguyên thủy về bản tính diệu dụng của con người và sự hội họp mô tả tác hóa cát hung là sự biến định của tư tưởng, hành động của chư tinh diệu. Thổ phỉ, buôn lậu là nghề trái pháp luật, do vậy gặp Kỵ Hình trong nội cách. Hoặc bố cục Kỵ Kiếp, Tang Kỵ, Hỏa Kỵ,... sẽ có khuynh hướng biết hành động sai trái vẫn vi phạm. Nếu Kỵ Hình có Xương Khúc phát triển mạnh hơn, do Xương Khúc chủ sự hiểu biết, cũng là văn tinh chủ nho nhã, học vấn cách. Kẻ làm thổ phỉ có lý riêng để hành động, có toán cướp người giàu chia người nghèo, có toán thấy sự bất công của xã hội phong kiến, cũng như người đứng đầu cuộc khởi nghĩa, đắc thời có quần chúng ủng hộ là chính nghĩa, gặp thất bại là phản loạn tùy vào người thắng lợi sẽ viết lại lịch sử. Tượng ứng của Lộc Tồn là sự gìn giữ, tích trữ. Lộc Tồn mạnh do sự giúp sức của Tướng Quân, Quốc Ấn. Xét về Hóa Lộc là khí từ tổ hợp Chính Tinh mang ý nghĩa của tinh đẩu hóa khí. Lộc Tồn có tác động mang ý nghĩa riêng rẽ. Tổ hợp Lộc Tướng Ấn thành cách là sự tiết kiệm của Lộc Tồn, gìn giữ từ thế hệ trước Tồn Ấn với Tướng Quân là sao tình cảm, tình thương gia đình. Quốc Ấn còn là con dấu, sắc lệnh, với Tồn Ấn di sản thừa kế. Cách Tồn Ấn Tướng hay là có thêm Đào Hoa đồng cung với Lộc Tồn. Thể hiện ý nghĩa niềm vui với tài lộc, tức là cách phát tài. Khi mất mát tài sản khó có thể vui mừng, do vậy Đào Tồn cư Ngọ can Đinh được đánh giá rất hay. Ngay việc mệnh tại đối cung với cách Thái Dương tại Tí nhật trầm thủy bể, phản cách thành bố cục hay với can Đinh. "Thái Dương cư Tí, Bính Đinh phú quý trung lương". Can Đinh gặp 6 địa chi, Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu. Đào Hoa tại Tí và Ngọ. Cách cục Lộc Tồn xung chiếu Đào Hoa hoặc đồng cung Đào Hoa. Hai cách này phối hợp Mệnh cách có Hóa Kỵ hội về từ Cự Môn thành cách cơ hội, niềm vui tới từ bên ngoài. Trục Đào Phi có tính chất đặc biệt, mang tính bộc phát lớn. Thực tế cách cục Kình Hổ Khốc hay Đà Phượng được đánh giá hay khi hội nhóm Phượng Khốc an theo Địa Chi. Với cách cục Lộc Tướng Ấn và Phi Phục Thanh hội Đào Hồng Hỉ an theo Địa Chi cũng mang ý nghĩa hay. Nếu ưa tranh cướp gặp cách Kình Đào Hà, cạnh tranh là Kình Phượng. Thực tế Đào Kiếp có tính nhanh chóng. 


Sunday, July 22, 2018

Luận sát tinh ứng thành bại



Ngày thời nhỏ người viết thường bỏ việc học tập, ưa tới nhà thầy để được chỉ dạy về tử vi và thuyết âm dương ngũ hành của cổ nhân. Sau này cũng cố gắng tìm hiểu thêm kinh sách về tử vi. Tới nghiệm lý qua các lá số thực tế quả thực dụng biến hóa khó khăn với kinh sách. Qua mỗi thời giai đoạn, xã hội biến đổi ý nghĩa các cách cục biến hóa theo ý nghĩa có sai biệt.  Tính chất cơ bản tổ hợp không đổi nhưng ý nghĩa theo hoàn cảnh lại thay đổi. Quá trình này vẫn biến đổi trong thời đoạn nay do tư tưởng của xã hội thay đổi. Mệnh Thiên Cơ tốt vẫn giỏi tính toán. Mệnh Cự Môn tốt vẫn ưa bất mãn. Mệnh Thất Sát ưa tranh đoạt. Mệnh Phá Quân ưa thay đổi, phá cũ đổi mới. Mệnh Tham Lang chủ tham mưu. Mệnh Thiên Lương ưa bày tỏ. Mệnh Tử Vi ưa gánh vác, xây dựng. Mệnh Kình Dương ưa tiến công. Tư tưởng hay tính cách hình thành bởi Chính Tinh và Bàng Tinh không thay đổi. Tuy nhiên sở dụng và thành tựu do các bố cục có biến đổi trừ trường hợp định cách mạnh. Như mệnh tạo có Tham Hỏa ngộ Lưỡng Lộc Mã Khốc Khách tất cả mệnh cách vậy đều là mệnh phát phú. Tuy nhiên tính hoạch phát về phú cách có mức độ khác nhau tùy ứng hợp hoàn cảnh. Mệnh cách Tham Hỏa tham muốn phú cách tới thế giới do hoàn cảnh thành tựu khác với Tham Hỏa tham muốn giàu có tới làng xã ở lý tưởng ban đầu. Đó là ý nghĩa của môn Tử Vi, cũng chính ý nghĩa của sao Tử Vi. Với cách Tham Hỏa vậy thí như ứng hợp một mệnh tạo xuất thân gia đình phú hộ trong địa phương, tham muốn hướng tới kế là quốc gia. Mệnh tạo còn lại xuất thân nghèo khó tại vùng núi, tham muốn hướng tới kế là địa phương. Khi mệnh tạo xuất thân trước thuộc phong kiến trong dòng dõi vua. Tư tưởng ứng hợp ở mức lớn hơn. 



Cũng thí như việc nhận lương 10 triệu hiện nay ở nông thôn và thành thị với hai mệnh tạo khác nhau. Sức ảnh hưởng của hoàn cảnh tới biến hóa của tổ hợp sao tại mệnh cách rất lớn. Do vậy Sát cách được chế hóa thường thắng thế với trợ cách cát hóa do Sát cách không phụ thuộc vào khí hình gốc với xuất thân. Thường thời phong kiến luận mệnh vua tức mệnh trời là đế cách khi định lá số. Tuy nhiên đa phần chủ ứng hợp khí hình gốc mạnh tại hoàn cảnh bên ngoài, tổ hợp lá số tử vi nhiều mệnh tạo xấu. Do đó có vua lên ngôi đã vong mạng, do bệnh tật nan y, quốc gia bị xâm chiếm, ngoại xâm,... Nếu mệnh cách tốt đẹp thì không gặp tai kiếp lớn tới vong mạng. Tử Vi chỉ truyền đời không phổ biến do vậy. Do đó sau này thường người nghiên cứu luận mệnh cách Tử Vi cư Ngọ với Quần Thần Khánh Hội là đứng đầu trong các cách cục. Hội đủ Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt với Tam Hóa tránh được Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp là mệnh đại quý nên nghiệp lớn. Nếu khí hình gốc vượng, tức xuất thân dòng dõi thì mệnh cách đại phú là hợp cách. Tuy nhiên khi nghiên cứu kinh điển cổ nhân lưu thì có các lá số mệnh cách Tử Vi cư Ngọ hay Tử Phủ Dần Thân giao hội Khoa Quyền Lưỡng Lộc Xương Khúc Tả Hữu có thành tựu nhưng không phải mệnh đứng đầu. Về tính cách và tư tưởng ứng hợp với bố cục trên. Mệnh cách vậy có khả năng gánh vác, trách nhiệm lớn, nhân từ, chính nghĩa. Tham muốn xây dựng xã hội. Tuy nhiên không phải mệnh cách đứng đầu xã hội. Trước tới nay đều vậy. Lá số mệnh cách vậy trong quốc gia thời nào cũng gặp. Thực tế đều mệnh Sát cách chế hóa nắm lệnh do tính bạo phát công danh lớn, chủ nắm bắt thời cơ và có bản tính ứng hợp táo bạo, quyết đoán, tham vọng nên thành tựu đại nghiệp. 



Luận thành tựu với các lá số Tử Phủ Vũ Tướng Liêm giao hội Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt Khoa Quyền Lộc. Một số cách cục tàn bạo, bố cục Sát chế ngự khuynh hướng khởi tham vọng to lớn với dã tâm thành tựu rất lớn trong xã hội. Vua chúa cũng vậy. Trước nay đều có. Cổ nhân luận mệnh đại phú, đại quý vậy hướng tới lòng nhân khi định số mệnh nên thường luận cát tinh hội cách cục Chính Tinh cát hóa là mệnh tốt. Tuy nhiên Tử Vi Đông A trước nay dụng trợ cách đa phần dụng tới Sát cách. Người luận tử vi là luận cuộc đời của người khác. Có thể phân tính thiện ác, tính cách đặc điểm tốt xấu, tiểu nhân, quân tử. Tuy nhiên thành tựu, phú quý cần rõ ràng và nhiều phần không liên quan tới vậy. Tham Hỏa đứng đầu trong phú cách với mệnh khí hình thấp. Ngay cả mệnh Vũ Tham cũng luận vậy. Tham Lang khi đi với Sát tinh là Hỏa Tinh chủ tính cách tham lam, tham muốn nặng về vật chất. Lòng tham có Hỏa Tinh mang tính thường trực và tăng mạnh khi đạt được các thành tựu. Bố cục Sát Phá Tham cũng chủ thực hiện kế hoạch mới do Tham Lang khởi tạo. Do đó gặp mệnh Tham Hỏa mệnh tạo thường có các tư tưởng làm giàu, tham muốn lớn về tiền bạc, nhu cầu vật chất. Là ý nghĩa của Tham Hỏa đồng độ cách. Do bản chất Sát cách khởi phát bởi bố cục Sát là Sát Phá Tham và Hỏa Tinh nên tính chất đột biến, hoạch phát, không ngừng tham vọng rất lớn. Khí hình gốc xuất thân nghèo, chủ thấp khi thành tựu được 1 muốn 2, được 2 muốn 10 không thôi. Khí hình trở nên vượng tác hóa của SÁT khởi. Cũng từng mệnh số có khả năng hóa Sát sai biệt, không giống nhau dù lá số tử vi với hoàn cảnh gia đình tương tự. 



Chữ Sát khởi bởi chữ Tham. Đây là điều tối quan trọng nhất trong tử vi và tử vi đông a, cũng là nguồn gốc thành tựu của Sát cách. Lòng tham muốn được xã hội đánh giá tốt hay xấu, phù hợp đạo đức hay không. Bố cục Sát cát hóa lòng tham muốn cống hiến công sức cho xã hội, như một tỉ phú nước ta về xây dựng muốn xây dựng công trình lớn để đời cho Việt Nam là lòng tham lớn, tham muốn táo bạo. Khởi quyết tâm thực hiện do chế hóa Sát. Tham muốn thực hiện bởi Sát cách và thường tương hỗ. Người xem tử vi kinh sợ với Sát cách. Cũng sách tử vi man thư ưa luận Sát cách chủ tính cách xấu, tàn ác là sai lầm căn bản khi luận. Trở lại cách cục Tham Hỏa. Đặc biệt khi có thêm Lộc Tồn tại đây chủ tham muốn tích lũy tăng dần sau mỗi đạt được kế hoạch, cũng chủ hoạch phát bền vững. Nếu thêm Tồn Kỵ cần nhập vòng Trường Sinh để cát hóa tránh gặp họa lớn khi nhập vận xấu phá cách. Bố cục Tham Hỏa tối hỉ nhập vận Cự Cơ Đồng có Lộc Tồn hoạch phát lớn. Rất cần thiết có Xương Khúc, Khoa tránh chữ hoạch phá. Trợ tinh trợ lực cho Sát Tinh tốt hơn cho bố cục Chính Tinh cát. Người viết diễn đạt nội dung nên bài viết có phần dài hơn. Phần Tử Vi tới luận Sát Cách có phần phức tạp hơn để định trợ cách về sau. Vì vậy có những mệnh cách khi xem tướng số hoặc xem lá số tử vi định lá số thành tựu đại nghiệp.




Thứ tới là bất công. Đây là phần quan trọng khi luận Sát cách. Bởi khởi tham muốn dẫn tới bất công. Khi thuở sinh thành không biết tới tham muốn tiền bạc, trưởng thành thấy xã hội đều lấy tiền bạc làm thước đo nên khởi tâm tham muốn.  Mệnh Thiên Đồng cát hóa bất kiến Sát khó thành tựu là vậy. Xã hội tác động là vậy. Xã hội trọng người tài khác với xã hội trọng quan hệ. Xã hội trong thời chiến loạn khác thời bình.  Nhiều mệnh quý tiền nhân luận sinh bất phùng thời là vậy. Thời chính là hoàn cảnh, là chữ Hình trong khí hình, dẫn hóa ứng hợp bố cục tổ hợp sao. Người viết thường nghe thầy dạy về phần khí hóa. "Thời loạn cuộc lắm kẻ trộm cướp,  bất lương mà thành tựu tướng soái. Cổ kim nhiều kẻ giả dối mà đoạt được thiên hạ". Để luận về các cách cục về tính cách bất ứng với thành tựu như nhiều sách thời nho luận. Như sử sách của ta thường ghi nhiều tướng lĩnh địch phương Bắc tướng số diều hâu, miệng nhọn, mũi khoẻo thuộc ác tướng, tham lam, sợ chết lại thống lĩnh quân. Trong khi Trung Quốc dân số rất đông, bình quân sinh mệnh cách quý hiển, bố cục tốt đẹp không ít. Một mệnh cách gặp Sát tinh hội họp đa phần thường khó thoát được tai kiếp về một mặt tình cảm hoặc sự nghiệp, bệnh tật hay gia đình. Khó khăn và bế tắc do bố cục này tạo ra, mang tính bất ngờ và hoàn cảnh tác động. Do vậy người thành tựu ít, kẻ bại nhiều. Là sự đánh đổi. 

Tuesday, July 25, 2017

Sao Cự Môn và đại hạn Sát Phá Tham




Sao Cự Môn và đại hạn Sát Phá Tham



Sao Cự Môn thuộc ngũ hành Thủy, hóa khí là Ám Tinh chủ luôn có tâm trạng mang tính Âm, khi đi với Thái Dương thì Âm Dương đầy đủ nhưng khí Ám không mất đi, khiến cách cục Cự Nhật trừ trường Thái Dương đồng độ với Cự Môn là tốt đẹp còn lại các cách cục khác, đặc biệt là khi Dương nhập vị trí tối tăm, khiến cách cục Cự Nhật trở thành cách cục thị phi và chữ Ám của Cự Môn rất lớn. Cự Nhật là cách cục chủ bản thân luôn có một sự bất mãn, nếu Sát Tinh hóa vi Quyền thì Cự Môn tính Ám trở thành Quyền Ẩn, tức Quyền Ngầm có tác động rất tốt giảm thị phi cho cách Cự Nhật và Cự Môn khi tính Ám đắc dụng thì Cự trở thành kẻ tài năng và luôn cảm thấy bất mãn với cuộc đời. Cự Môn khi đi với Cơ Đồng trái lại hình thành cách Cự Cơ Đồng tính xung đột trong cách cục khá lớn, tuy nhiên nếu mệnh là sao Cự Môn thì được hưởng lợi vì đây là cách cục chủ tính Ám thường hóa thành chữ Quyền do Cự Môn trở thành ngôi sao đứng đầu, lãnh đạo nhóm Cơ Đồng trong cách cục này. Cự Môn rất giỏi trong việc sử dụng ngôn ngữ để khích động hay cổ vũ làm theo ngôi sao này. Đây là ngôi sao thành do cái miệng và bại cũng do cái miệng mà ra. Cự Môn tùy các trường hợp đồng cung với các Chính Tinh mà phối hợp ý nghĩa khác nhau. Trong đó xung đột lớn nhất là cách Cự Đồng cư Sửu Mùi. Cách thứ hai mà Cự Môn có thể đồng độ là Cự Cơ Mão Dậu, cách cục này hay hơn khi có Phá Quân nhị hợp với Thiên Cơ và bản thân Cự Môn ngộ Thiên Cơ chủ cơ hội và việc nắm bắt được, Cự Môn là ngôi sao chủ phản đối nên cần thiết  một ngôi sao lý luận, chủ đưa ra các câu hỏi, thắc mắc là sao Thiên Cơ để cách cục không bị đẩy cao về căng thẳng và khi đó Cự Môn dễ mang lấy thị phi mà cách Cự Cơ thường được luận theo ý tốt. Trường hợp thứ ba sao Cự Môn có thể đồng cung là cách Cự Nhật cư Dần Thân. Với cách cũ này ngôi sao Cự Môn được hưởng lợi lớn từ Thái Dương, cách cục này có dương tính lớn. Cự Môn và Thái Dương đều là hai sao táo bạo. Các trường hợp có Cự Môn đồng cung với một chính tinh đặc biệt là đồng cư với sao Thiên Cơ khi đó Phá Quân ở ngay tại vị trí cung Nhị Hợp hạn tới ngôi sao này mang ý nghĩa có phần khác. Sao Cự Môn ở cách Cự Nhật, Cự Đồng và Cự Cơ khi tới đại hạn Sát Phá Tham tính chất khác so với Cự Môn đơn thủ ở điểm sự tác động của cách cục Sát Phá Tham tới mệnh tạo khiến mệnh tạo chịu tác động lớn hơn. Như cách Cự Nhật hạn tới Sát Phá Tham luận theo cả hai sao phối hợp là cách Khởi tạo, Khởi phát. Cách cục này có tính bạo phát, Cự Nhật trong trường hợp này ngộ Phá Quân khá hay vì ở cung độ Cự Nhật đầy đủ nhóm sao, ý nghĩa của nhóm này luôn xung chiếu với Cơ Nguyệt Đồng Lương và chủ có khuynh hướng đứng đầu, tại ngay bản cung thì cung độ của Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm tạo thành cách Tử Sát, Liêm Phá, Vũ Tham. Mệnh tạo có thể đi tới cung độ Tử Sát hoặc cung độ Vũ Tham. Khi tới cung độ Tử Sát cả ba sao đứng đầu đều giao hội tại đây, thế của sao Tử Vi không lớn do Tử Vũ Liêm đi với Sát Phá Tham và Phá Quân đi với Liêm Trinh khiến Cự Nhật đắc cách làm chủ cách cục này, bằng cách phản đối và luôn tương trợ với Phá Quân nên đại hạn này tốt cho việc đề xuất thay đổi, thành lập hay mở rộng trong trường hợp Cự Nhật kinh thương. Trong trường hợp theo khuynh hướng công danh, quan lộc thì cách này dựa trên sự rối ren mà thành một phe. Trường hợp kế đến là việc Cự Cơ cư Mão Dậu tới đại hạn Sát Phá Tham. Có thể đi qua hạn Tham Lang hoặc đại hạn Thất Sát.





Ở đây cách cục Sát Phá Tham đầy đủ và cách cục Cự Nhật khuyết thiếu khi Cự Môn giao hội với Cơ Đồng. Cách cục này mang ý nghĩa ban đầu là mâu thuẫn của bộ Cự Cơ Đồng, khi nhập đại hạn Sát Phá Tham cái mâu thuẫn, xung đột đẩy mạnh hơn. Cự Môn tính lãnh đạo lớn do gặp bộ Cơ Đồng hiền hòa, trong trường hợp này do Cự có tài ăn nói và phản bác tranh luận tìm ra cái sai sót để sửa chữa. Cự Môn đưa ra bất mãn khi một hành động khởi lên, phản đối và tạo nên một ý kiến mới, thường là hướng đi khác, vị trí đứng đầu trong cách cục này do tính chất đột phá mang lại. Khi đáo hạn cung độ Sát Phá Tham thì Cự Môn khi đi với Thất Sát dễ thành thất vọng, lại có Thiên Cơ chủ suy nghĩ rất kỵ gặp Hỏa Linh, nếu có thì Cự Môn trở nên phù động mà gây ra quyết định sai lầm. Nhìn chung cách cục Cự Cơ Đồng tới đại hạn Sát Phá Tham dễ gây nên khủng hoảng cho Cự, đặc biệt với cách Cự Cơ mão dậu khi Thiên Cơ đi với Cự Môn không dụng được sát tinh, tính cát hóa yếu. Với Cự Môn đồng độ với Thiên Đồng hình thành cách Cự Đồng cư Sửu Mùi, cách cục này và Sát Phá Tham đều ở nơi hãm vì Tử Vi đầy đủ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và cách vị trí Vũ Tướng và Liêm Phủ đồng cư tăng tính chất ổn định cho nhóm sao này khiến Cự Phá không gây ra tác động lớn cho cách cục.Như việc làm hoàn chỉnh không có lỗi khiến Cự Môn không thể chỉ ra lỗi và Phá Quân không thể tìm ra những sai lầm để phá. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm trong tinh hệ Tử Vi tí ngọ, đặc biệt là Tử Vi cư Ngọ rất hoàn chỉnh, tùy vào bàng tinh quyết định mức độ mà ở vị trí đứng đầu tổ chức lớn hay nhỏ, đi liền với tổ chức đó,  lớn nhất là triều đình thời xưa và nhà nước ngày nay thì Cự Môn và Phá Quân cũng tương đương với vị trí như vậy. Nhiều người nhìn mệnh có cách Phá Quân cư Dần Thân hay Cự Đồng cư Sửu Mùi cách cục xấu luận lá số tầm thường là sai với bản chất. Cách Cự Đồng này tuy đứng ở vị trí thấp trong khi Tử Vi ở vị trí cao nhưng rất dễ gây ra phản vi kỳ cách khi chế hóa được Sát Tinh hóa Quyền. Cung hạn từ mệnh Cự Môn tới đại hạn của sao Phá Quân có thể phân biệt rõ rệt hai cách cục là Cự Môn đơn thủ và Cự Môn có chính tinh đồng độ. Với cách Cự Môn đơn thủ thì phân làm hai cách cục đi với Thái Dương thành bộ Cự Nhật và đi với Đồng Cơ thành bộ Cự Cơ Đồng. Sao Cự Môn đơn thủ khi luận đại hạn tới cung độ Sát Phá Tham cần lưu ý việc tính chất của Cự Môn độc toạ hoàn toàn không chịu tác động của chính tinh đồng cung nên ở đây luận theo tính chất cơ bản. Trường hợp Cự Môn đơn thủ đi tới hạn Sát Phá Tham khả năng hoạch phát lớn, khả năng chế hóa Sát Tinh lớn, đặc biệt khi Cự gặp Không Kiếp. Cự Môn thủ mệnh tới đại hạn Sát Phá Tham là đại hạn quan trọng cần lưu tâm khi luận đoán mệnh. Đặc biệt cần nắm rõ bố cục của tinh hệ Cự Môn tác động gồm Cự Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương. Tinh hệ Tử Vi gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Tinh hệ của Phá Quân. Cự gặp Phá là đồng minh, là khai sáng một ý tưởng mới, tính chuyển động tăng nên thích hợp với Cự Cơ Đồng hơn bộ Cự Nhật. Nếu trong trường hợp Cự gặp Phá có Lộc Tồn là trường hợp không hay, cần trọng giữa chữ Giữ và Buông.