Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, June 11, 2020

Khủng hoảng và tái tạo


Trong giai đoạn thời gian qua, cũng bước vào giai đoạn Lão Bệnh trải qua có phần khó khăn, dẫn tới sự chậm trễ phần luận tới các lá số luận giải. Người viết đã tổng hợp lại tất cả các lá số của nhân mệnh và luận giải gửi tới đương số. Kế tới là người nghiên cứu tử vi, người viết cũng chưa chia sẻ được các bài luận về tử vi mong được quý vị thông cảm. Cũng trong giai đoạn qua, một số đạo hữu gửi lời hỏi thăm tới người viết, trong giai đoạn này do biến chứng khá nặng nề của bệnh tật dẫn tới không thể mở mạng để hồi đáp. Lời viết này thay cảm ơn tới mọi người. 



Trong thời kỳ của thế giới luôn có những tác động rất lớn tới toàn bộ nhân loại, đặc biệt trong giai đoạn kết nối toàn cầu hiện nay. Sự giao thương giữa các quốc gia đã trở nên rất mạnh, dẫn tới vận thiên hạ hình thành có sức tác động càng lớn so với trong giai đoạn trước đây. Một trận dịch bệnh tác động lây lan rất mạnh, khiến toàn bộ thế giới gặp biến động lớn trên mọi mặt có thể phát khởi từ một quốc gia, qua giao thương tới tất cả mọi nơi. Thời vận bĩ và thái xoay vần, đương mệnh của vạn vật đều có tính chu kỳ, biến động theo dòng vượng suy. Cổ nhân luận " Phàm có nhân thì có quả, có nhân quả ắt có tuần hoàn". Vượng suy là điểm mấu chốt của vạn vật, cũng như sinh diệt là tứ biến Sinh Vượng Suy Tuyệt. Nhân mệnh lấy lẽ vậy làm tiên đoán từ vận nhà, vận làng, vận nước, vận thiên hạ không có sai biệt. Mỗi cuộc đời nhân mệnh cũng không nằm ngoài lý này, có giai đoạn khó khăn tưởng tuyệt đường, có giai đoạn hoạch phát lớn. Dẫn động bởi tham ý. Tham ý bất chuyển, là mệnh quý hiển. Nhân mệnh chịu tác động của dịch bệnh, bất kể mệnh phú quý hay bần cùng đều có thể tuyệt khí. Thiết lập lại các giai đoạn mới. Khi khí Sát tới vận thiên hạ tức vận thế giới, giai đoạn lịch sử trước đây có thời kỳ, trong một bài viết, người viết luận về bệnh dịch hạch dẫn tới tử vong khoảng 1/3 dân số Châu Âu bất phân biệt về mệnh quý tiện mà đa phần xét tại thời điểm tiếp xúc lây lan. Sát cách vẫn biến hóa theo những biến hóa của y học, là một mặt trong hai mặt của Lưỡng Cực âm dương. Thái Dương là sáng, Thái Âm là tối. Trong Dương có Âm và ngược lại. Trong tử vi thường luận số là xét tại một bản thể, tức lất mỗi nhân mệnh qua thai sinh của tứ trụ để xét đoán. Do vậy có tính chất biến hóa rất lớn qua từng giai đoạn nhân mệnh tạo ảnh hưởng tới xã hội. Thửa nhi đồng, tác động ở vận nhà. Tới giai đoạn Quan Đới, bắt đầu tác động tới vận làng. Bước tới giai đoạn Đế Vượng tác động tới vận nước. Tất yếu có sai biệt do dẫn hóa của tham ý mỗi nhân mệnh. Có nhân mệnh ở vị trí trụ cột một quốc gia, có nhân mệnh có tiếng nói lớn tại địa phương, hay thấp hơn là tại gia đình. Tính bình đẳng của mỗi nhân mệnh tức do khí hình vận thay đổi liên tục qua từng thời vận của cuộc đời, về vị trí, trách nhiệm, nhiệm vụ trong phân bố xã hội. Mỗi nhân mệnh khi gặp thời đều có thể hoạch phát rất lớn. Tuy nhiên, thường cần xét tới khí hình gốc, tức nguồn gốc phát sinh và ý nghĩa của tham ý mỗi nhân mệnh. Nếu mệnh cách có tham vọng và bất mãn liên tục với vị trí của bản thân trong xã hội sẽ thường đạt được địa vị cao. Trong giai đoạn khủng hoảng là khi thường thấy sự thay đổi rất lớn trong các giai tầng xã hội, khi cái cũ phá đi và thay bằng cái mới ứng với Phá Quân khai phá, biến động mạnh. 





Mỗi nhân mệnh đều có những cơ hội bình đẳng để phát triển, tuy nhiên thường bị giới hạn bởi khí hình gốc. Như cách Âm Dương Lương ở thế Âm Dương Sửu Mùi thường hướng tới vừa đủ, hưởng thụ thành quả nhỏ đạt được. Cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có tham muốn rất lớn, thiên về tính chất đóng góp, xây dựng một tổ chức vững mạnh, có tính bao phủ lớn. Trong thời kỳ khủng hoảng, nếu nhân mệnh gặp vận hành hay mệnh tạo ứng hiềm Phá Quân đắc vị, được trợ tinh hóa toàn bộ Sát cục, đây là dấu hiệu của thành công đột phá do táo bạo quyết đoán. Trong giai đoạn giữa tới cuối năm 90, người viết đã luận chứng những nhân mệnh thành tựu đột phá rất mạnh bởi bộ hung sát tinh đắc cách rất nhiều tại lĩnh vực kinh thương. Ứng hiềm " Hung tinh đắc địa, phát dã như lôi". Các bố cục kinh thương giai đoạn chiến tranh bất dụng do tác động của nhóm sao thuộc Quan cách và chính trị có khuynh hướng đứng đầu xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn rất ngắn của thể chế vận nước thay đổi, những nhân mệnh xuất phát điểm thấp trở nên hoạch phát rất lớn nhờ nắm bắt các cơ hội. Cũng trong giai đoạn này, những thay đổi về tư tưởng của xã hội ở các địa phương sai biệt rất lớn, không đồng đều, trong tổng quan thay đổi chung của thời kỳ sản xuất vật chất. Những hiện tượng mạng xã hội hiện nay có thể tạo ra tài sản rất lớn trong thời gian ngắn, từ việc kinh doanh phi pháp như đánh bạc qua mạng hoặc kinh doanh hợp pháp như buôn bán hàng hóa, trưng bày sản phẩm qua mạng internet không cần tới những rạp hàng, vị trí bán đắc địa cần đầu tư vốn lớn, vẫn có nhiều người biết tới, việc giao thương qua dịch vụ vận chuyển hàng cũng phát triển theo rất mạnh. Đa phần những mệnh tạo có cách cục kinh thương mạnh như Vũ Tham, Song Lộc, Vũ Phủ, Cự Cơ,.... sẽ chuyển dịch theo khuynh hướng này do tính chất lợi nhuận lớn so với vốn bỏ ra. "Phi thương bất phú", cách cục Tài cách chung quy là việc bỏ ra số vốn nhỏ hoặc có thể rất nhỏ để thu lại nguồn lời lớn. Có thể bỏ ra trí tuệ, cải tiến việc sản xuất và buôn bán. Vật có giá trị khi không phổ biến quá rộng rãi, tức không dễ dàng có thể tạo ra. Vạn vật sinh trưởng đều dựa vào cạnh tranh, xung đột, mâu thuẫn để tồn tại, liên kết để lớn mạnh chiếm ưu thế. Thực tế, người viết từng chứng kiến những nam mệnh có tuổi đời rất trẻ, chỉ khoảng hai mươi tới 30 tuổi đã có thể tạo nên thành tựu rất lớn khi cơ hội về phát triển do thời đại công nghệ tạo nên. So với kinh thương truyền thống có thể đạt được tích lũy trong một thời gian ngắn bằng cả nửa cuộc đời các thương nhân khác. Quan trọng là sự đột phá, và chế ngự Sát tinh dẫn nguyên cục theo tham muốn Tài Quan, giữ vững lập trường, tránh mất định hướng của Không Vong. Cùng một Thiên Không Không Vong, có cách cục nhân mệnh trở nên thất vọng, vô định, sa vào các tệ nạn xã hội. Có cách cục với tham muốn không tưởng, quyết chí với mục tiêu lựa chọn. Thành tựu là kết quả của tư tưởng khởi tạo và hành động. 




Thời cơ tức Thiên Cơ phát sinh chỉ khi có Phá Quân động, ở vị trí tĩnh tại, Thiên Cơ khó có thể tạo thời. Trong cám dỗ của rất nhiều thông tin phát triển đa dạng trên mạng, từ phim ảnh giải trí tới các trò chơi điện tử, hoặc những mối lương duyên, tìm hiểu qua mạng xã hội, chỉ một số cách cục kỳ cách có thể hướng tới chuyên nhất tới tham cầu sự nghiệp, tránh được những việc giải trí Đào Hoa, hay những thông tin giải trí Hồng Loan, hướng tới tham cầu về tri kiến Tham Xương, tham vọng kiếm tiền Tham Hỏa, tham muốn khai phá Phá Kình. Hóa khí rất quan trọng để tạo nên giá trị của mỗi nhân mệnh, bản thân có Hóa Quyền tại cung Mệnh, tư tưởng bản thân hướng tới có được sự nể trọng, uy tín của mọi người bên ngoài tố bản thân. Bản cung có Hóa Lộc tại Mệnh, tư tưởng bản thân có khuynh hướng tạo ra tài sản. Bản cung có Hóa Khoa tại mệnh, tư tưởng hướng tới bằng cấp, danh dự. Mệnh cách cũng có ưu khuyết sai biệt, cổ nhân luận " Biết số khó có thể tránh họa, không biết số không thể tránh họa". Khởi từ bản tính rất khó có thể sửa đổi. Như kẻ có máu cờ bạc rất khó có thể từ bỏ, kẻ có tham ái lớn ắt dễ gặp họa về tham ái. Cự Kỵ Diêu thừa ưa làm việc trong bóng tối. Nhật Hỏa Kình thường làm việc bộc trực. Tất cả các chủ tinh mang tính chất riêng biệt đều có thể mang lẫn phúc và họa. Cũng như có những công việc cần giữ kín bí mật, tránh kẻ khác dòm ngó. Có những công việc cần công khai ứng " Lô truyền đệ nhất danh". Thí như trong công việc điều tra những vụ án, cần giữ bí mật điều tra. Ngược lại, trong lĩnh vực giải trí việc nổi tiếng rất quan trọng ảnh hưởng tới thành tựu. Có những việc công khai để che giấu những việc làm khuất tất, bí mật như làm từ thiện, giúp đỡ xã hội công khai để tạo vỏ bọc che giấu việc buôn bán vật chất cấm. Do vậy cách Dương Lương cư Mão hội Thái Âm cư Hợi rất hay. Thái Âm phản chiếu dương tính từ Thái Dương, tại Hợi cung thuộc thuần âm, âm dương giao hòa, chủ thuộc nhân mệnh có tư tưởng rất sâu sắc, linh hoạt giải quyết các vấn đề. Phô trương thường gặp ở Thái Dương, ẩn tàng thường gặp tại Thái Âm. Trong đa phần các trường hợp, Tài sản nên ẩn tàng, danh vọng nên hiển lộ. Cơ hội tức Thiên Cơ nên ẩn tàng với mọi người để tránh tranh đoạt, nguy cơ cũng chính là Thiên Cơ nên hiển lộ để phòng tránh. Cách cục Cơ Tang thường đánh giá không mấy hay, khi đối cung là Bạch Hổ thuộc cách Tang Hổ. Trong tam hợp của Thiên Cơ gặp Cơ Tang Hư Khách. Cách Thiên Cơ hội Thiên Cơ ứng với sức khỏe, cách Cơ Tang là ẩn tàng, chủ ẩn chứa nguy cơ về tai họa thân thể, nếu hội thêm Không Kiếp chủ mang họa lớn. 




Phân định như vậy, nhân mệnh có thể suy xét thời cuộc phân định cát hung theo các thời điểm và quyết định. Như nhân mệnh cách Cự Cơ bất phá cách, đều tổ tông có điền sản, theo khuynh hướng kinh thương nhà đất ắt hoạch phát lớn, thành cách cục đại phú. Như nhân mệnh cách Vũ Tham hội Lộc, ắt khả năng kinh thương trời phú, linh hoạt cơ biến, thấy lợi không bỏ qua, có tính cẩn trọng và táo bạo, đa năng, mưu lược lớn. Như cách Tử Phủ gặp " Quần thần khánh hội" cách, đắc lệnh chúng tôn, tư tưởng lãnh đạo, ứng hiềm quan tước lộc vị hiển hách, tư chất chủ vị trí lãnh đạo một tổ chức. Cách cục càng lớn, Sát vượng lưỡng đầu, tức điểm đại cát và đại hung rất gần nhau. Phường bất nhân và thánh nhân khác nhau chữ đạo. Cách cục thành cách, Sát cường lực vượng, ắt chủ tranh đoạt mà thành. Cách cục thành cách, Cát cường hóa Sát, lấy thu phục lòng người mà thành. Cổ nhân xét luận, nhân mệnh bất đồng, phân định cao thấp. Cách cục là nhân nguyên, cũng phân định thượng, trung hạ cách. Trong giai đoạn xã hội hỗn loạn, ác nhân thường quý hiển. " Không Kiếp ác tinh, khủng kiến Hỏa Linh Kình, mệnh suy ắt tử, mệnh cường hiền hách". Với cách Hỏa Linh Kình Không Kiếp là mệnh có tính cuồng bạo, vị kỷ, bố cục này khi đắc dụng, là dụng cách Lục Sát hội họp, nhân mệnh có thể định đoạt bố cục này, là mệnh có tư chất hơn người, nếu không ắt chịu họa nạn tử mạng. Thái Dương cư Tị cung, có thể hóa cục thành đại quý, Cự Kình Hỏa tuy bất mãn, lại đứng lên phản đối, có Kình Dương ắt không gặp Lộc Tồn, Cự Kình khai mở, Dương Kình táo bạo, Không Kiếp có thể chớp thời cơ tạo nên thành tựu lớn, duy chỉ Hỏa Kình Cự lưu vận tới Lộc Tồn hội Sát Kỵ trùng phùng là vận tử nạn. Kẻ tài hoa bạc mệnh xưa nay cũng lắm. Sát cách thể tính âm ám ứng hợp hơn. Trong kinh thương hay quan trường, việc tranh đoạt, tiêu diệt lẫn nhau có thể xảy ra để tồn tại, phát triển. Khi khủng hoảng phát sinh, chữ tồn tại càng được chú trọng rất lớn, việc thay đổi lớn là cần thiết. Thí như việc xảy ra dịch bệnh giai đoạn vừa qua có thể khiến rất nhiều doanh nghiệp thiệt hại dẫn tới phá sản, sự tranh đoạt, cạnh tranh gay gắt trong cùng một ngành nghề sẽ suy yếu. Thay đổi không chỉ là việc làm của những nhân mệnh, còn là vấn đề liên quan tới sống còn của một tổ chức lớn, thậm chí là tồn vong quốc gia. Sự thay đổi dựa vào sự táo bạo, quyết đoán. Tới sinh mạng còn khó đoán định được bao lâu, huống tới việc khác. Thời định hiện tại, mệnh cách có Kình Dương thường ứng hợp với thành tựu lớn hơn Đà La, do tính chủ động của sao này. Trong giai đoạn này xã hội công nghệ điện tử, những người đi đầu sẽ đứng đầu, cũng như dịch bệnh có thể lan ra toàn thế giới, các doanh nghiệp lớn về công nghệ cũng có thể tác động tới rất nhiều quốc gia. 




Rất nhiều nhân mệnh thất bại trong giai đoạn đại vận thứ ba, trong đại vận này là vận then chốt để cách cục thay đổi do gặp tam hợp Phúc Phối Di, cung độ Phúc Đức và Thiên Di hợp cách với Mệnh sẽ là giai đoạn hanh thông của nhân mệnh. Trong đại vận thứ ba, tình duyên bắt đầu khởi phát mạnh, biến hóa theo ý nghĩa của hành vận này. Đây là đại vận để bộc phát về lý tưởng và tham muốn của bản thân. Trong đại vận thứ hai, nhân mệnh thực hiện lý tưởng vì phụ mẫu, hoặc chịu ảnh hưởng tới anh em ruột, đại vận thứ ba lưu tới hai cung Phúc Đức và Phối cung, hành động của bản thân hướng tới mục đích về tinh thần, hoặc hướng tới tham muốn để đạt được tình duyên tốt đẹp. Sang tới hành vận thứ tư chủ về bận tâm về nhà cửa tức Điền Trạch hoặc Tử Tức tức con cái. Mỗi cung độ đại vận trải qua chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cung chính, tức bản cung vận. Mỗi tiểu vận tiếp tục dịch chuyển khiến mối quan tâm chịu tác động thêm bởi chính cung độ tiểu vận hạn hành. Tham muốn của bản thân mệnh tạo là mục tiêu để phát triển hành động và hình thành nên kết quả trong mối quan hệ nhân quả. Trong giai đoạn hành vận thứ ba nhập cung Phối tốt đẹp, tức bản thân thường hướng tới mục đích, tư tưởng trong giai đoạn này để thành hôn phối với đối ngẫu phù hợp với bản thân, hoặc nếu có Hóa Lộc tức tham muốn tạo tài sản để có thể có mối nhân duyên tốt hơn, thuộc mục đích của nhân mệnh. Toàn bộ cách cục trong đại vận tạo nên ý nghĩa tùy vào nhóm sao phối hợp. " Duyên lành phò mã ngồi cao, Thái Âm đắc địa đóng vào Thê cung". Các cung vị trên lá số tử vi đều có vị trí lớn tới cuộc đời. Có người gặp họa vì điền sản như một số những người đầu tư về đất đai của các dự án, có người gặp họa lớn về tử tức, có người gặp họa do chính phối ngẫu, có người gặp họa bởi bạn bè,.... Các cung vị đều có ý nghĩa mạnh, tuy nhiên để hiểu rõ tính chất qua từng giai đoạn cần phối hợp với Mệnh, Thân, Vận để xét đoán. Trong hành vận cung Tử Tức, mục đích hướng tới của bản thân mệnh tạo đa phần do con cái, hướng tư tưởng, chú ý tới vấn đề này. Cung Tử Tức tam hợp chiếu với Phụ Mẫu và Nô Bộc, bản thân Lưu Phụ Mẫu hiện tại là bản thân nhân mệnh, Nô Bộc là bạn bè, cấp dưới, cấp trên của nhân mệnh. Cung độ thứ ba và thứ tư đều chịu tác động rất mạnh của mối quan hệ bên ngoài xã hội, tại Thiên Di cung và Nô Bộc cung. Với các cách cục, giáp cách với cát tinh mạnh tức xét tới tính chất của hai cung bên cạnh là Phụ Mẫu và Huynh Đệ của bản cung. Giáp Khôi Việt, Xương Khúc, Tả Hữu, Long Phượng đều được đánh giá tốt, tức bản cung Phụ Mẫu và bản cung Huynh Đệ cả hai đều mang ý nghĩa của sao trên. Trong giai đoạn hiện nay, khi tích lũy tài sản tại mỗi gia đình đã lớn, có nhiều gia đình có thể truyền tới đời sau bằng cả nỗ lực của đời người, thay bởi tập ấm trong giai đoạn phong kiến. Trong gia đình được giáo dục tốt, Không Kiếp có thể hóa thành tư tưởng táo bạo, đột phá. Trong môi trường xấu, Hỏa Linh có thể dẫn tới nghiện ngập cờ bạc,... Dự đoán thời vận là phần rất quan trọng trong tử vi. Nếu nhân mệnh Cự Môn trong thế đứng Cự Cơ Đồng lưu tới đại vận Sát Phá có Lộc Tồn, đặc biệt trong thế Tồn Không Đào, hoặc Tồn Đào Kiếp việc thành tựu trong giai đoạn này rất khó khăn, đặc biệt nếu đại tiểu vận trùng phùng rất đáng nguy khốn. Tượng của cách cục này chủ bất mãn rất lớn trong nội tâm, không thể thay đổi, phát triển do cách Sát Phá rất kỵ Lộc Tồn, đặc biệt nếu Lộc Tồn đồng độ Phá Quân chủ bế tắc. Tại đại vận tốt đẹp, tiểu vận lưu tới đây cũng có thể luận khó khăn trùng trùng.





 Cuộc đời là những giai đoạn thăng trầm, khi bế tắc tới cùng cực, khủng hoảng trong nội tâm, mất phương hướng cuộc đời. Cũng có giai đoạn hoạch phát lớn, hanh thông, may mắn tới miên trường. Việc quan trọng, nếu mệnh tạo tích lũy được tài sản lớn và sử dụng trong giai đoạn hành vận xấu ắt gặp tổn thất lớn, có thể đánh mất tài sản của giai đoạn dài tốt đẹp tích lũy được. Một số cách cục xung đột từ nội cách như Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tại 6 cung Tị Dâu Sửu, Hợi Mão Mùi. Hoặc Cự Môn giao hội nhóm Cơ Đồng thành cách Cự Cơ Đồng, hoặc Âm Dương lạc hãm khi tới hành vận hung ắt tạo thế bế tắc do hoàn cảnh bất ngờ tới mệnh tạo. Trong hành vận Sát Phá Tham hội Đào Hồng Không Ấn nhân mệnh lưu cung tới cung vị sao Đào Hoa thường khó có thể tránh việc bất mãn lớn trong nội tâm, cách cục thuộc Đào Hoa cách tính chất không chứa Sát tính mạnh như Sát cách, tuy nhiên có thể khiến nhân mệnh rơi vào thế vô định, cuộc đời trôi dạt, với nữ mệnh thuộc Phiếm Thủy Đào Hoa. Khoảng giai đoạn năm 2000, người viết khi đó đang lưu lại miền nam, có luận một lá số nữ mệnh cách cục cao viễn, thuộc cách nổi danh về tài sắc vẹn toàn. Bố cục Thiên Cơ độc tọa cư Tí hội Tam Hóa Tồn Ấn Đào Không, có danh tiếng ở vị thế quốc gia trong giai đoạn này, phối hợp tính cách sắc xảo của Thiên Cơ. Cách cục để Đào Hoa cách thực phát khi hội họp hung tú mới thuộc cách đắc vị. Bố cục hội Tam Kỳ có Song Lộc cách rất mạnh, Thiên Cơ tượng là đá, hội Tam Kỳ thành ngọc cách, Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc vị, đắc cách. Hiềm nỗi hội Không Vong, bất lợi với Lộc Tồn, khiến Đào Hoa cách tuy mạnh nhưng bất lợi trong tình cảm. Thiên Cơ tuy hiền hòa, đứng trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương là hay nhưng chủ mệnh tạo ưa tính toán, lợi ích nên cách cục thường thiếu bền vững, đặc biệt khi Cự Môn xung chiếu tại đối cung. Nữ mệnh do đắc dụng cả tài năng và sắc diện nên thành tựu sự nghiệp rất lớn, nắm quyền hành trong gia đình, phối ngẫu cách Cự Nhật yếu thế hơn, trong hành vận thứ tư, hội cách Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham, thành cách xung đột, ly tán do Kình Đà Hỏa Linh ám hợp. Trong hành vận này, nữ mệnh có tình cảm với người đàn ông thứ hai, có địa vị cao trong xã hội, chấp nhận không có danh phận, về sau bị phát hiện, danh tiếng đánh mất, ngoảnh mặt lại nhìn cuộc đời như ảo mộng, được mất thành bại hóa hư không. Với mệnh nữ, Đào Hoa cách hình thành khi hội Không Kiếp ắt có giai đoạn được mất, đặc biệt khi phối hợp Sát Phá Tham cách. Tác động bộc phát của Không Kiếp rất lớn, khiến nhân mệnh có thể một bước trở thành người được cả xã hội trọng vọng, phú quý dư thừa, tuy nhiên cũng trong một niệm đánh mất. Do vậy, cặp Không Kiếp cũng dễ gặp trong các cách cục tu hành, trái với cách Lộc Tồn thành cách, là sự tích lũy trong thời gian. Khi Lộc Tồn phối hợp với Không Kiếp thành cách đặc biệt, luận rất phức tạp.





 Nhật xuất lôi môn và Nguyệt lãng thiên môn cách là hai cách cục mang lại tinh thần rất lớn tới mệnh tạo. Trong thế đứng của Âm Dương Lương, khi Âm Dương Lương thành cách, dù lâm tuyệt xứ, khó khăn bế tắc nhân mệnh cũng không cảm thấy khổ cực. Với Âm Dương Lương hội họp Sát Kỵ, cách cục trở nên khủng hoảng về tinh thần. Ngay cả cách Thái Âm cư Hợi hoặc Thái Dương cư Tị nhập miếu, trong nội tâm cũng chịu áp lực lớn, cảm thấy bế tắc trong cuộc sống, nếu hội Xương Linh Đà Kỵ hoặc Hỏa Linh Kỵ Ấn có thể dẫn tới tuyệt mệnh. Bế tắc là giai đoạn mỗi mệnh tạo đều gặp phải, tuy nhiên tùy cách cục phối hợp tạo nên những khó khăn có thể không vượt qua. Có nhân mệnh chịu áp lực về tiền bạc, nợ nần. Có nhân mệnh chịu áp lực về tình cảm, hoặc về tư tưởng. Người viết có luận cho một số nhân mệnh gặp cách Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật chịu tác động rất lớn về tình cảm do định kiến xã hội về nam nữ. Như việc nam mệnh có khuynh hướng tình cảm với nam, nữ mệnh có khuynh hướng tình cảm với nữ. Tư tưởng của những mệnh tạo này bị đè nén, bế tắc, do chính bản thân tự trách và do lo sợ việc gia đình hoặc xã hội phân biệt, kỳ thị. Dù tiền bạc và địa vị ở vị trí rất cao trong xã hội, hoặc có nhân mệnh nổi tiếng trong lĩnh vực nghệ thuật, không tránh khỏi nội tâm biến động mạnh do phải tạo ra một lối sống khác với bản chất của mệnh tạo từ các mối quan hệ xã hội. Cổ nhân luận " Hoan, hỉ, bi, sầu do tâm tạo"'. Bản chất của nhân là tham ái, kéo nhân mệnh vào guồng quay của xã hội. Sao Thất Sát mang danh Sát tinh đứng đầu trong các Chính Tinh do tính thất vọng do đánh mất. Bản chất của vạn vật là dời đổi, nếu không thay đổi thích nghi dẫn tới diệt vong. Nhân mệnh cũng vậy, chấp vào những thứ đang có, như công việc. Không thỏa mãn khi đạt được và thất vọng khi đánh mất. Rất nhiều nhân mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương hội Tam Kỳ gia hội trong giai đoạn phong kiến ứng hợp có thể làm quan lớn, tuy nhiên trong xã hội hiện nay có phần hư danh nhiều hơn thực lộc. Trong mỗi bối cảnh xã hội phát sinh những khuynh hướng khác nhau. Trong giai đoạn này, có thể những phong trào giải trí trên mạng thu hút thế hệ trẻ quan tâm hơn nhiều lần những tri kiến về khoa học, định hướng có những vấn đề trở nên lệch lạc. Rồi dẫn tới tầng lớp trẻ than phiền, than vãn về không có cơ hội phát triển, thành tựu, trong khi có thể ngồi nửa ngày để xem các trang mục, thông tin giải trí. Xã hội vận hành cũng như tử vi phân định các cách cục. Nhân mệnh có chí lớn, kiên định lâu dài sớm muộn gặp vận ắt thành. Nhân mệnh chỉ có tư tưởng muốn thành tựu tuy nhiên đa phần thời gian để suy nghĩ than phiền, giải trí cũng như rút dao chém xuống nước, không thể khắc thành hình tượng. Có người cháu người viết có thể bỏ ra 3-4 triệu mua một đôi giày thời thượng, hay sử dụng cho mục đích giải trí, tuy nhiên nếu nói bỏ ra mua 1 cuốn sách tri kiến bằng một phần mười giá vậy cũng không muốn. 




Nhân mệnh cách cục cao viễn, quý cách phân tách với những mệnh tạo còn lại, cũng như người có ý chí trong xã hội có tư tưởng sai khác với người bình thường còn lại. Trong khủng hoảng, khó khăn chung của xã hội như trong dịch bệnh vừa qua, kẻ có chí cố gắng tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm giải pháp vượt qua, phát triển về sau, người bình thường lại cầu mong, chờ đợi thời kỳ này mau chóng qua đi. Những việc không thể lường trước xảy ra trong vận nước, vận thiên hạ lại vẫn thường xảy ra. Người viết có đọc một số bài báo về việc một số doanh nghiệp vận tải nhỏ hoặc hàng không trở nên khó khăn trong giai đoạn này do không có nhiều khách hàng, tuy nhiên trước khi có dịch bệnh xảy ra đã vay nợ ngân hàng để mở rộng phát triển, không kịp trở tay khi dịch bệnh tới. Những sự không ngờ tới có thể dẫn tới sụp đổ của cả quốc gia, huống chi tới một doanh nghiệp, một tổ chức, một gia đình hay một cá nhân. Cũng vậy, may mắn tới, mệnh tạo cũng phải nắm lấy để phát triển mạnh. Trong thời kỳ chiến tranh, Việt Minh chỉ vài chục người nhưng tư tưởng, lý tưởng cao viễn có thể phát triển thần tốc, lãnh đạo, thống nhất một quốc gia. Huống tới mệnh tạo chỉ phát triển thành tựu của bản thân cũng nghĩ không thể. Người viết gần nửa đời người luận tử vi cũng chưa thấy nhân mệnh ở vị trí cao trong xã hội từ xuất thân bình thường không có chí lớn, tham vọng lớn, chấp nhận đánh đổi để có được tài quan, nắm lấy chính số mệnh của bản thân. Người viết rất thường nghe việc quyết định lớn nhất cuộc đời của mỗi nhân mệnh, là quyết định rất khó khăn do ham muốn, thời vận giao hòa thôi thúc. Thời niên thiếu, thầy của người viết thường nhắc nhở " Thà đánh không còn mảnh giáp để sau này ngoảnh lại không còn hối tiếc với chính mình". Tự dồn bản thân vào thế tử tuyệt còn có thể có cơ hội sống. Dụng cách của Không Kiếp là cách cục khó chế ngự nhất tử vi mệnh lý do các tính chất vậy. Trong giai đoạn khủng hoảng, mệnh cách Không Kiếp dễ nhận ra thời cuộc, kế tới là Thiên Cơ và Kình Dương. Do vậy cách Cự Cơ Mão Dậu hội Kình Hao hay Đà Hao có thành cách Cự Đà sinh dị chí được đánh giá phù hợp với thời cuộc. Tuy nhiên phải gặp tại hạn, hoặc nhập Mệnh tránh hành vận Sát Phá Tham hội Lộc Tồn. Cự Cơ là mẫu người ưa thay đổi, dẫn tới can Đinh khi gặp Hóa Kỵ thành cách Cự Kỵ Khoa Việt Kình tại Mão cung thường bất lợi với tình duyên, do tính phù động của Thiên Cơ phối hợp Cự Đồng gặp Kỵ. Cũng giai đoạn khủng hoảng, cách cục " Cự Cơ Tí Ngọ cách thạch trung ẩn ngọc", hay cách cục Đồng Lương Việt Song Lộc Quyền dị đạt phú cường, Không Kiếp nhập miếu phát dã như lôi,... Hạn phát không thể thiếu Khôi Việt, hoặc Lưu Khôi Việt. Hạn hung thường gặp Kỵ hoặc Lưu Kỵ. 




Xét trên lá số, nếu hành vận đại vận tốt đẹp như Tử Phủ, Âm Dương, Cơ Lương đắc cách, tiểu vận gặp phá cách bởi Sát Phá Tham hội Tồn Đào Không Kiếp Ấn, hay Kỵ Hình, Hỏa Linh Hình Việt,... ắt khó thành được mong cầu. Hành vận hội Tham Hỏa Song Lộc hội cát nhập vận, không cầu cũng hoạch phát. Thời cuộc thay đổi rất nhanh, cũng là những cơ hội lớn có hạn trong cuộc đời. Nếu chịu tác động tư tưởng bởi những mặt như tình cảm, giải trí, tư tưởng an phận,... khó có thể nắm bắt. " Nhân định thắng thiên, đức năng thắng số". Nắm được thời vận, yếu cũng hóa mạnh. Thất thời mạnh hóa yếu, thắng hóa thành bại cục. Trong thời kỳ sốt đất, nhiều người có ruộng đất rộng rãi sẽ trở nên giàu có lớn bất ngờ. Trong thời kỳ kinh tế khó khăn, nhiều kẻ từ giàu có trở nên trắng tay. Mỗi thời kỳ, tầng lớp đứng đầu xã hội sẽ thay đổi hệ tư tưởng và các cơ hội của xã hội đó. Tinh hệ Tử Vi cư Ngọ có những rất chất rất đặc biệt khi đắc vj của toàn bộ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Tại vị trí cung Quan Lộc, Liêm Trinh cư Quan chủ xây dựng đường lối, Thiên Phủ tại đây mang ý nghĩa tình lý phù hợp xã hội. Vũ Tướng nhập Tài chính là Tài tinh. Tử Vi chủ lý tưởng, hệ tư tưởng của một xã hội. Nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm tại đây có ý nghĩa trở nên hoàn chỉnh. Nhiều khi bản thân con người chỉ cần sống cuộc sống bình lặng, không cầu cạnh, tham muốn, tranh đua, cũng chỉ hướng tới bình ổn của gia đạo, chung thủy. Tuy nhiên số kiếp của mỗi nhân mệnh bất kể đều có tư tưởng, tham ý thay đổi theo vận hành của độ số. Có những giai đoạn, nhân mệnh cảm thấy cuộc sống bế tắc, vô định khi bên ngoài đồng niên đều đạt được những sự nghiệp nhất định, hoặc cảm thấy áp lực với công việc hiện tại tuy nhiên không dám bỏ dở, theo đuổi đam mê của bản thân, khiến tư tưởng mãi trong vòng luẩn quẩn, không thể tiến lui, do gặp nhiều trói buộc vô hình. Cũng vì vậy, mệnh tạo chấp nhận ở cuộc sống bình thường, ngày qua ngày đều muốn thay đổi tuy nhiên bất lực với chính hoàn cảnh. Đây là điểm sai biệt của các nhân mệnh. Trói buộc, áp lực và vô định hình là những tác động tiêu cực của Sát tinh tại vị, khi cách cục bất phối hợp hoàn chỉnh, xung đột trong chính nội cách. Như Cự Môn gặp Lộc Tồn. Sát Phá Liêm Tham hội Sát khúc toàn cố quý, hoặc các cách cục giao hội Sát Kỵ Hình phá nguyên cục, đây thuộc mẫu người điển hình không thể thay đổi tình thế hiện tại do các ràng buộc tại các mối quan hệ, hoặc do chính tự thân. Sự đè nén này mang tới tính bị động cho chính tự thân, tính bị động của Sát Tinh là kết quả của mệnh tạo không thể chế ngự Sát cục. Có người hỏi người viết, tại sao có những nhân mệnh thành công lớn trong khi mệnh cách gặp Sát Kỵ trùng phùng như rất nhiều lá số người viết có đề cập tới. Điểm sai biệt là Sát Tinh dẫn hóa của mệnh tạo kia chính thuộc dẫn hóa Tài Quan cách. Kỵ Hình cách thuộc cách cục mang ý nghĩa về vi phạm, sai trái. 



Có người cách cục tác hóa dẫn tới sai phạm do nguyên căn là tình cảm, có người sai phạm do nguyên căn là kiếm tiền phi pháp, có kẻ do nguyên căn liên quan tới công việc. Tùy cách cục biến hóa không ngừng, do vậy mệnh chứa Sát, cách cục thấp tuy nhiên Sát ứng Tài Quan vẫn tạo hoạch phát rất lớn. Do vậy thường người luận tử vi xét tới hình khí của toàn bộ Sát cách hợp hóa qua các điểm vận. Nếu hành vận Tham Linh hội Lộc Kỵ Hình Ấn phát tài ắt thuộc Ám tài cách, do tính âm ám của Kỵ Hình tác động tới Tham Tồn. Khi luận giải, Ám Tài cách phát lớn hơn Song Lộc cách, do đặc tính của Sát Tinh phát mạnh, nhanh chóng trong thời gian ngắn. Trong hành vận này, tuy mệnh cách ứng hợp có thể phát sinh mang ý nghĩa khác nhau, nếu có Khoa Quyền hội Văn Tinh thuộc cách lách luật để tạo lợi ích, nếu hội Hỏa Linh Hình Việt bất kiến trợ tinh ắt thuộc cách gặp họa hình tù do thiếu hiểu biết về pháp luật, đặc biệt nếu Tam Ám hình thành là cách cục mang ý nghĩa hung họa, hội Liêm Hổ tính hình tù rất lớn. Kẻ đắc thời dễ được ngưỡng mộ, ngay cách Tam Ám tại đây nếu gặp Phượng Khốc vẫn được đánh giá giảm hung. Khi xét tổng quan nhân mệnh và vận hành độ số, có thể định về tài sản mệnh tạo tạo ra trong cuộc đời đa phần từ đâu, nếu gặp Song Hao hội Cự Cơ kiến Sát Kỵ, hành vận gặp Tham Hỏa phần đa do kinh thương buôn bán. Nếu gặp Vũ Phủ Kình Kiếp Phụ Bật, xuất phát từ vị trí quản lý của nhân mệnh. Trong tất cả các cách cục, Ám Tài cách hình thành hoạch phát lớn hơn Chính Tài rất nhiều. Do đặc tính bản chất ý nghĩa của cách cục tạo nên. Minh Lộc Ám Lộc được đánh giá hay hơn Song Lộc cách. Cũng như nguồn lương của một mệnh tạo là phụ, tài sản ở phần ám hợp tạo dựng là chính. Cũng vậy, Thái Âm hóa Lộc tại vị trí Thiên Môn tức Hợi cung, nếu gặp Ám Lộc tại Dần cung ám hợp, lại nội cách hội Không Kiếp trợ tinh, cổ nhân luận tài sản vạn kho. Tài cách khi hiển lộ dễ gặp tranh đoạt, khi tàng ẩn thường tạo tích lũy lớn. Đa phần mệnh tạo đại phú đều hưởng cách Lộc Ám cách. Nhân mệnh khởi niệm từ hành vận thứ nhất, tình cảm luôn tác động từ gia đình tới tình cảm hôn nhân, tử tức. Tình duyên là phần phức tạp khi luận giải, quan trọng thứ nhì sau Tài Quan với nam mệnh, và đứng đầu với nữ mệnh. Do khởi tình cảm từ nhóm Lộc Tướng Ấn là nhóm sao tác động để lại dấu ấn, hình ảnh của cuộc đời. Nhóm Lộc Tướng Ấn thực tế là ba vị trí Dưỡng, Lâm Quan, Tử của vòng Thiên Can, có tình cảm từ Dưỡng, phát triển dương lên bởi Lộc Tồn, suy vi bởi Bệnh Phù. Nhìn cách cục để lại dấu ấn bởi hành vận qua Lộc Tướng Ấn Bệnh, nếu gặp nhóm sao Âm Dương Lương tại Mệnh hoặc đại vận khởi là dấu ấn về thời gian, nếu có Đào Hồng tính tình cảm rất mạnh, tại tiểu vận hội đủ Đào Hồng Lộc Tướng Ấn càng mạnh. Vòng khí của Lộc Tồn là vòng khí của Thiên Can, sai khác vòng khí của Địa Chi. Nếu vòng khí Địa Chi biểu hiện tại vòng Thái Tuế, chính cách biểu hiện thái độ của bản thân với các vấn đề phát sinh và mối quan hệ xã hội, khi khởi phát tư tưởng từ người với người. Thí như khi giao tiếp thể hiện quan điểm và lập trường của bản thân, do đó khi hội Phượng Cái có tính chúng theo, tức được người bên ngoài hưởng ứng. 




Vòng khí của Thiên Can có tác động phát khởi từ ngay thiên khí, thuộc tính bản chất của sự vật. Khí của vòng Lộc Tồn khởi nguyên phát vô định hình, biến hóa dựa vào ý nghĩa tổ hợp Chính Tinh rất mạnh. Khởi tính của vòng Lộc Tồn ở ba vị trí ý thức, nhận thức, suy tưởng của nhân mệnh rõ nét, ở vị trí Dưỡng, Lâm Quan và Tử. Trong cùng một năm xét vận tức tại chính năm tiểu vận đó. Thí như năm Canh Tí tức năm 2020. Nếu mệnh tạo gặp cách Cự Môn hội Kỵ Hình Linh Việt Kình. Đại vận tại cách cục Âm Dương Lương. Tiểu vận tại cách Sát Đào Hồng Tồn Ấn. Cách cục tại bản cung năm tiểu vận có tác động rất lớn tới tư tưởng của nhân mệnh, thuộc về yếu tố thời. Đặc biệt cung tiểu vận, trong trường hợp này là năm Canh Tí ứng tới vị trí như Tật Ách ắt có bệnh mãn tính, nếu ứng vị trí Điền Trạch ắt điền cung động, chủ có tác động lớn tới nhà cửa, ruộng vườn. Tiểu vận lưu tới, tác động tới các mặt gồm cả Thiên Địa Nhân trên lá số tử vi của nhân mệnh. Đặc biệt khi đại vận bắt đầu hạn hành mới. Thiết nghĩ mỗi bản thân một nhân mệnh, khi tự suy xét chính lá số của mình đều nhìn rõ được ưu khuyết. " Nhân vô thập toàn". Cơ Lương hội Kỵ Hình Linh Việt Mã theo nghiệp nguy hiểm lái xe hay xây dựng dễ gặp tai họa vong mạng. Phục Binh Linh Hình Việt không nên theo nghiệp cảnh sát, liên quan tới chất nổ, điện. Nhìn vào số mệnh, xét đoán tới bản tính. "Dương Lương không ngại phơi bày, Đồng Âm sâu sắc, bụng đầy suy tư. Cơ Kỵ Kiếp Hỏa Đà Hư, hỏa vượng thiêu mộc tâm như cuồng loạn. Sát Quyền Khúc vốn tinh tường. Phá tọa nơi miếu danh dương bốn bề. Liêm Trinh đắc lệnh luận hay, nắm được chữ Chính, Liêm này mệnh quan. Vũ Phủ Tử Tướng cùng bày, lại thêm Song Lộc kẻ này quý nhân. Không Kiếp Hình Kỵ số bần, hội cát phản hóa mười phần tinh anh. Mệnh kiếp khởi từ chữ Thai. Ngoảnh đi ngoảnh chẳng ngoài Hư Vô. Được mất thành bại một đời. Cuối chặng nhìn lại thấy thời tiếc thân. Tự trách số phận xoay vần, nào đâu biết rõ tự thân tự cường. Vui khổ biết thấu cùng ai, trăm năm nuối tiếc không ngoài chữ Duyên". Mệnh tạo 12 cung địa bàn, đều có ưu khuyết. Người gặp họa do phối, kẻ gặp tai ương do tài, đều có khổ cực, hoan hỉ trong đời. Tài Quan lấy làm gốc, các môn mệnh lý đều vậy, lấy công danh, sự nghiệp đứng đầu. Hành vận tới phát, không cầu cũng được, hành vận tai ương, có tránh cũng không khỏi họa hại. Tuy nhiên mức độ có sai khác. Do chính môi trường, hoàn cảnh thực tế ứng với nội tâm của đương số. 




Trong vòng thập nhị nhân duyên, biểu hiện trên cung đồ của tử vi thành vòng tròn, biểu thị của các giai đoạn nối tiếp tương tục. Tiểu vận liên tục chuyển dịch nghịch hoặc thuận tới khi tới cuối đời. Đại vận chuyển dịch cũng vậy, điều người viết ngày còn nhi đồng có hỏi thầy việc tiểu vận dịch chuyển vòng tròn không có kết thúc, đại vận nếu sống tới quá đại vận thứ 11 sẽ phát sinh kế tiếp tại vị trí nào. Nhận được câu trả lời vòng đại vận cũng vậy, khởi phát từ Mệnh, nếu đi hết vận cũng quay lại đại vận ban đầu để dịch chuyển kế tiếp như một vòng luân hồi. Điểm kết thúc tưởng như hư vô, trong hư vô lại sinh vạn vật. Nguyên lý của tử vi hàm chứa rất nhiều kiến thức của triết học phương đông. Cũng như rất nhiều đồ vật trong thời kỳ xã hội cách đây khoảng 50 năm hiện nay đã tuyệt không thấy. Sự biến chuyển này cũng như nhân mệnh, hôm qua có thể hết sức vì một lý tưởng bản thân cho là đúng, ngày hôm nay có thể do một tác động khiến tư tưởng thay đổi hoàn toàn. Thí như vòng Trường Sinh từ vị trí Vượng tới Tuyệt trong thời gian rất ngắn được nhận định là biến mất, tan rã. Tuy nhiên nếu có thời gian dài trải qua đủ quá trình của vòng Trường Sinh người trải qua sẽ không thấy bất ngờ. Nhân mạng cũng vậy. Lớn như một quốc gia cũng vậy. Khủng hoảng là sự biến đổi nhanh trong vòng nhân duyên. Tái tạo là khởi đầu kế tiếp. Nếu xét về bản chất, khủng hoảng và tái tạo đều chỉ là quá trình thay đổi sinh và diệt tương tục. Một người quan trọng với kẻ khác khi gặp bệnh tật sẽ tạo nên cảm giác lo âu rất lớn, tuy nhiên với người không có mối quan hệ là sẽ không có cảm giác lớn. Nhân duyên kết nối nhân mệnh với nhau. Cùng chính nhân duyên sinh ra hoan hỉ hay khổ cực. Cũng chính nhân duyên khiến một người nắm được mệnh lý để thay đổi. Nếu tiếp tục tham muốn không mất với một kế hoạch, chữ Sinh luôn khởi phát sau quá trình Tuyệt. Cách cục này có thể chế ngự Sát tinh nặng ám hợp. Do tham muốn không tuyệt, tức tái tạo. Tham muốn sớm thay đổi, tức khủng hoảng. Khi Sát tinh đắc cách là quyết ý. Khi Sát tinh phá cách là loạn ý. Phàm là vạn vật, ắt có thời loạn, là thời Bĩ. Cũng có thời bình, là thời Thái. Nhân mệnh thực lực có thể chế ngự Sát cách không nhiều, cần sức quyết đoán và linh hoạt lớn. Do bản thân mỗi nhân mệnh đều khó chấp nhận sự thay đổi lớn, mạo hiểm với bản thân. Nhiều kẻ khác lại gặp mù quáng khi thay đổi theo một kế hoạch. Trong giai đoạn hiện nay, phát triển thêm rất nhiều phương thức tạo lập tài sản mới, với sức bạo phát lớn. Tuy vậy, với một nhân mệnh chịu áp lực lớn trong công việc hiện tại, với chức trách bản thân có đủ tinh tường và táo bạo để đưa ra quyết định đánh đổi vậy. Đặc biệt với những ràng buộc xung quanh nhân mệnh về gia đình, vị trí hiện tại xã hội, thời gian công sức bỏ ra để đạt vị trí vậy. Giữa tham muốn và hưởng thụ, giữa an toàn và mạo hiểm để thay đổi khai phá liên tục, giữa bị động và chủ động. 

Sunday, October 27, 2019

Tứ hóa phi tinh luận

Phàm luận vận hành lấy tứ hóa do chính tinh hóa khí kết hợp hai vòng Lộc Tồn và Thái Tuế làm trọng. Chính tinh biến dịch qua mỗi thời điểm lưu niên tác động bởi hành khí của ngũ hành thay đổi về điều dụng. Trong đó Hóa Kỵ có tác động lớn nhất. Cơ Nguyệt Đồng Lương có ba tinh đẩu hóa thành Kỵ. Cự Nhật gồm hai, nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm chỉ gặp Liêm Trinh và Sát Phá Tham là Tham Lang. Phụ tinh gồm Xương Khúc. Hóa Kỵ là hóa khí mang ý nghĩa cản trở, hội hung sát là họa tới. Các cách cục như Kỵ Hình, Kỵ Kiếp, Kỵ Hỏa, Kỵ Đà hay Kỵ Kình đều tăng tính hung họa cho Sát tinh. Hóa Kỵ trong cách Cự Kỵ, Lộc Kỵ, Kỵ Triệt, thường mang ý nghĩa hung. Chỉ gặp một số trường hợp thành cách hoạch phát do phá thế bế tắc. Trong tứ hóa, Hóa Kỵ khi lưu vận theo Thiên Can rất cần chú trọng, đặc biệt khi Mệnh Thân Hạn đều gặp Kỵ hoặc thành cách Lưỡng Kỵ là hạn có xung đột, phá tán, bế tắc, nếu hội Không Kiếp, Lộc Mã đảo, Diêu Đà Kỵ là hạn liên quan tới tang tóc, họa tới. Thực tế thông thường khi gốc đại vận tốt đẹp, gặp tiểu vận trùng phùng Nguyệt Vận lưu Kỵ xâm phá hội hung sát cần lưu ý tới nhóm sao mang tính bất ngờ, phát sinh, tính động như Phi Liêm, Thiên Mã, Thiên Việt hội trùng phùng lưu phi tinh có họa tới, nếu có Không Kiếp hội họp là tai họa lớn, có thể là kiếp nạn lớn của nhân mệnh. Nguyên cục luận với hóa khí, tính chất khi lưu hóa của Hóa Lộc và Hóa Kỵ lớn hơn Khoa Quyền. Lưu Hóa Khoa có tính giải trừ lớn, tuy nhiên trong vận Sát Kỵ trùng phùng bất khả cứu, thường luận tòng Sát, tăng họa nạn. Khi luận Hóa Khoa rất chú trọng điều hậu cách cục, với bố cục Hình Kỵ, hóa Khoa khả giải, nhược bằng hội Kiếp Không Kỵ Hình tăng cường khuyết điểm, hung tai. Lưu Hóa Khoa tính chất khác Hóa Khoa, khi chỗ khuyết thiếu điều hậu, tương đồng Khôi Việt, là cách Sát trọng, thành cách thanh thế gia tăng, phá cách đa tai, nhập nơi hiểm tử. Khôi Việt bất thành cách, hội Linh Hình hoặc Hỏa Kình đều phá cách nặng, trùng phùng Kiếp Không ắt là hạn kiếp số. 





Hóa Khoa khi luận cần cẩn trọng do thường xét luận " Đệ nhất giải thần", chế hóa được Hóa Kỵ và Thiên Hình thành cách cục mang ý nghĩa cẩn trọng, tránh tai họa và cản trở của Hóa Kỵ, tuy nhiên khi Không Kiếp hội họp cách cục biến hóa phản vi hung. Khi luận lưu vận, Chính Tinh và tứ trợ tinh biến hóa phức tạp, Can Chi của hành vận khiến cách cục trở nên chuyển động rõ nét của toàn bộ lá số. Lấy Chính Tinh và cách cục thủ mệnh làm gốc để luận định. Thí như đương số mệnh tạo Cự Môn độc tọa hay cách Cự Nhật, Cự Cơ, Cự Đồng đồng độ hội Kình Hao, Đà Hao là tốt. Trong trường hợp hội Kình Đà, bố cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh hội Lộc Tồn hình thành cách cục bất mãn, khó có thể thay đổi thành tựu trong hành vận này. Trường hợp đại vận tại cách Sát Phá Tham hội Lộc Tướng Ấn tại Dần Ngọ Tuất. Tiểu vận năm Kỷ Hợi tức Lộc Tướng Ấn bản cách hội Lộc Tướng Ấn do can Kỷ hóa với Lộc Tồn tại Ngọ cung là cách cục bất mãn trong nội tâm do khó có thể phá bỏ, thay đổi hoàn cảnh khó khăn thực tại. Lại nguyệt hạn Giáp Tuất tức tháng 8 hiện tại ắt sẽ phá sinh bất mãn, cách Cự Kình thuộc Mệnh ưa thay đổi, ngay cả cách Cự Cơ hội Song Hao tới giai đoạn này cũng sẽ rất khó khăn, bế tắc trong tư tưởng. Lại hội Không Kiếp hoặc Tham Hỏa ắt mang họa phá sản, tiêu tán, do Cự Môn kỵ tới vận Lộc Tồn lại niên nguyệt hạn có Lưu Lộc Tồn tại can Kỷ cư Ngọ và can Giáp cư Dần là cách cục bại cách. Lộc Tồn gặp Lưu Lộc Tồn tính chất hiển hiện, khi cường vượng đắc cách ắt đại phúc, cách cục phá cách chủ bại. Trong tháng này đương số tạo tác, tham vọng giàu có do đại vận Tham Hỏa Triệt Đào, tiểu vận bất luận ở các cung độ, khi lưu Lộc Tồn tại niên nguyệt hạn về Dần Ngọ Tuất gặp Sát Phá Tham là thế bế tắc, ứng hợp câu phú " Lộc phùng xung Phá, cát dã tàng hung" cách. Trường hợp lưu Kỵ hoặc Hóa Kỵ nguyên cục tại đây ắt sẽ phá sản. Mệnh Thân Hạn là thể thống nhất, dịch chuyển theo Lục Thập Hoa Giáp với các Can Chi dẫn tới hóa khí sai biệt, tác động tới từng giai đoạn cuộc đời của đương số. Do vậy tiền nhân thường luận " Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Vận hảo". 





Hành vận hợp hóa của cả đại vận, tiểu vận và nguyệt vận. Lưu Hóa Kỵ trùng phùng tại đại tiểu vận, hội Sát Kỵ trùng phùng của nguyên cục là vận khó có thể thành tựu. Cách cục Lưỡng Lộc dụng để luận Tài cách cục nhân mệnh. Cách cục Vũ Phủ đồng độ nhập vận là Tài vận, hội Song Lộc. Mệnh tạo sinh năm Giáp với Lộc Tồn cư Dần, bất luận mệnh cách tọa vị trí, hành vận tới Vũ Phủ cư Ngọ nhập vận ắt hội Song Lộc. Tiểu vận năm Giáp, Kỷ, nguyệt vận tháng Giáp Kỷ lộc trùng điệp, Tài cách cực vượng ắt phát tài, hanh thông, lại như năm Giáp Thìn hoặc Giáp Thân, Giáp Tí thành cách Lộc Mã giao trì, Tài càng thêm vượng. Hoặc nhân mệnh sinh năm Kỷ, gặp tinh hệ Vũ Phủ cư Tí. Can Kỷ với Vũ Khúc hóa Lộc, có Lộc Tồn xung chiếu. Tại nội cách hội Khôi Việt tại Thân Tí, đại tiểu vận trùng phùng tại đây, tiểu vận năm Canh, Kỷ phát tài, lại năm Canh Tuất hội Lộc Mã bội Ấn cách cục càng vượng, Tài phát rất mạnh. Tiền nhân luận tinh hệ Tử Tướng thường định bố cục Tài cách khi thành cách nguyên do hình thành hai cách cục Cự Cơ Mão Dậu và Vũ Phủ Tí Ngọ là hai cách cục chủ ý nghĩa tài sản lớn. Lưu Hóa Quyền khi hóa khí có tác động giải Kỵ Hình, có thể dụng Không Kiếp hoạch phát. Tuy nhiên tác động không mạnh tới nguyên cục, trừ trường hợp tại bản cung hành vận. Hóa Quyền lưu cần gặp thêm các tinh đẩu phát sinh hoặc tăng thêm giá trị cho cách cục. Có thuyết luận tứ hóa khí là cực hóa tượng của ngũ hành qua bốn giai đoạn gồm Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đây là quan điểm khá hay khi luận Hóa Lộc ứng Xuân, Hóa Quyền ứng Hạ, Hóa Khoa ứng Thu và Hóa Kỵ ứng Đông. Việc luận ngũ hành ứng hợp là bản nguyên khí hóa của các tinh đẩu hay hóa khí, tuy nhiên cần cẩn trọng tránh việc định cách khuyết thiếu với tinh đẩu. Với Lộc Tồn là vị trí Lâm Quan của vòng Trường Sinh theo Thiên Can, luận ngũ hành Thổ có phần khiên cưỡng, tính chất chủ tích lũy, tồn tại do giai đoạn Lâm Quan tiến khí của ngũ hành, tính tích lũy này không chỉ chứa tính ổn trọng tích lũy của ngũ hành Thổ, còn chứa tính đa năng, cường vượng, chủ động của vị trí Lâm Quan khi định cách. 




Khi luận cách cục đắc vòng Lộc Tồn sẽ tiến khí cho các hóa khí, lưu Hóa Khí tới cung độ Lộc Tồn tăng mạnh tính chất. Trong nhiều giai đoạn, nhiều nhân mệnh người viết về vận phát tài. Nhìn vào Lộc Tồn và Hóa Lộc trong cách cục Lộc trùng điệp lưu tới là tiền tài thuộc thiên lộc hay dịch lộc. Tài sản do bạo phát cách khởi từ nhân mệnh dụng Tài hình thành khi bản cách cục cần gặp cách cục Tài vượng cố định, hoặc quan sinh lộc hậu. Kế tới hành vận lưu tới Tài cách là bố cục phát lâu dài. Tiền tài có thể nhìn từ điền sản, tài sản lưu động, hoặc ám tài. Trong đó cách cục quan sinh tài là cách cục Tài Quan lưỡng vượng đứng đầu. Ám tài là thứ cách. Ám tài cách do Sát cách thành lập khả năng hoạch phát lớn, nhanh chóng do ứng hợp. Đặc biệt cách cục Đồng Lương hội Không Kiếp Song Lộc là bố cục thường thấy đắc trưng cho cách cục này do tính nhanh nhạy của Không Kiếp, cường vượng của Lộc Tồn. Tính chất của Lộc Tồn khác biệt với Hóa Lộc. Lộc Tồn là tích tụ, cường vượng, bản chất của Thiên Can tới địa bàn của lá số. Hóa Lộc là khởi lộc, phát triển khởi từ nguyên căn của Chính Tinh, mang tính chất của Chính Tinh. Tính chất của Lộc Tồn khởi từ Thiên Can bao gồm cả cách cục Lộc Tướng Ấn Bệnh, có tính chất tác động hiển lộ mạnh hơn Hóa Lộc. Khi Song Lộc hình thành không gặp phá cách tượng bố cục sinh khí cực vượng. Hội Thiên Mã tài động, là cách cục đứng đầu về Tài cách do tính chất luân chuyển thu được lợi lộc. Lộc là thăng tiến, phát triển, nghịch với suy bại. Trái với bố cục tài động của Cự Cơ ngộ Song Hao hoạch phát do thời vận, là thời cơ lớn đắc tài do khai thông thế bế tắc của Cự Cơ Đồng, Vũ Phủ hội Lộc Tồn hình thành tại ba can Đinh Kỷ Quý, Song Hao cư Mão Dậu ắt Lộc Tồn cư Tí Ngọ. Trong các cách cục Tam Kỳ gia hội, bố cục tại can Giáp kém hay hơn cả. "Thiên Đồng cư Tuất địa, Đinh nhân phản vi kỳ cách". 





Cách cục Thiên Đồng cư Tuất, đối cung có Cự Môn hóa thành Kỵ, nội cách hội Tam Hóa với Âm Đồng Cơ. Kích phát từ bất mãn bên ngoài, Sát cục hình thành, Cơ Nguyệt Đồng Lương hóa thành quyết chí vượt hơn người. Giáp Khôi Việt tại Dậu Hợi. Tại đây hay do gặp Lộc Tồn cư Ngọ hội tăng cường bố cục Tam Hóa, do vậy luận phản vi kỳ cách. Nếu Thiên Đồng cư Thìn không luận vậy. Cách cục Đồng Âm cư Ngọ gặp Âm Dương ở vị trí không mấy hay, cũng hội Tam Hóa Lộc Tồn tuy nhiên không bằng. Trường hợp cư Tí tuy ngộ Phi Liêm, có Lộc Tồn chiếu khá tốt. " Đồng Âm đồng cư Tí, tuổi Bính Đinh phú quý trung lương". Can Giáp chỉ gặp Tam Kỳ gia hội khi Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành cách cục xung đột, mâu thuẫn trong nội cách. Thực tế tại đây Khoa Quyền Lộc do Liêm Phá Vũ hóa thêm Khôi Việt cư Sửu Mùi tuy nhiên khó có thể thành tựu lớn như cách cục trên. Khi nghiệm lý, mệnh tạo cách cục này nếu xuất ngoại có thể hanh thông. Khi luận tứ hóa hay bố cục Sát cách, nếu lưu trùng Tứ Hóa tại niên và nguyệt vận tới cách cục sẽ tạo tác động rất lớn, cần chú ý tới Lưu Kỵ. Cách cục Kiếp Hỏa Việt tại bản cung đại vận hoặc tiểu vận khi lưu Hóa Kỵ nhập cung trùng phùng thiên can của tiểu vận và nguyệt vận ắt kích phát Việt Hỏa dẫn tới tai họa sẽ đến nhanh chóng, có Thiên Mã là tai nạn xe cộ, có Cơ Kiếp Hỏa là hỏa tai, có thêm Phi Linh Hình là vật kim khí hoặc điện sét tới người, trong đó cách Khôi Việt Linh Hình Kiếp Không nhập vận, có Lưu Kỵ và Phục Binh nhập cung, nguyệt hạn lưu tới bố cục này chắc chắn sẽ trúng họa tới thân thể.