Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Song Hao. Show all posts
Showing posts with label Song Hao. Show all posts

Friday, July 23, 2021

Nhóm sao chính an theo Thiên Can

 Tham muốn, nhu cầu thiết yếu chiếm một phần thời gian của bản thân mỗi đương số. Khi xét cách cục của các sao theo tổ hợp, cách cục tạo bởi Hình Diêu Y mang tính chất đặc trưng của hai tính chất nghịch phát, khởi từ một nguyên cục. Thiên Hình là sao an theo tháng, tức nguyệt vận, có tính chất uy áp, có tính chất của khắc phạt, hình khắc. Thiên Hình  nằm trong định cách bố cục Hình Diêu Y. Nếu Mệnh các ngộ Thiên Hình, ắt Quan Lộc gặp Diêu Y. Ngược lại nếu Mệnh cách ngộ Thiên Diêu và Thiên Y ắt Tài Bạch cung gặp Thiên Hình. Nếu không nắm rõ lý tính của sao này, rất dễ luận đoán sai lầm với cách cục tinh đầu khi giao hội với bộ Hình Diêu Y. Nhóm Hình Diêu Y nhập mệnh, đa phần mang lại khó khăn. Trên tinh bàn gồm 4 nhóm sao lớn an theo Thiên Can là Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Trong đó nhóm Lộc Tướng Ấn hợp cách Hình Diêu Y. Hành tướng của Lộc Tướng Ấn chủ vượng, hành tướng của Kình Hao là công phá, của Đà Hao là chờ đợi thời cơ tới. Bốn nhóm sao lớn an theo Thiên Can đại diện cho bốn mẫu người, bốn sự thành cũng bốn sự thất bại nếu hóa hung. Cách cục tử vi thực chất khi định cách chung mô tả những tính chất riêng hướng tới khi gặp tình cảnh bất chợt, là suy tưởng ban đầu giải quyết những vấn đề gặp phải. Thất Sát ngộ Kình Hao có thể hóa cuồng, cũng có thể hóa tinh tường mà công phá giành được. Thái Âm ngộ Đà Hao có thể hóa nhu nhược, cũng có thể là sự sắc bén khi nhìn nhận vấn đề, không hấp tấp vội vàng. Bốn nhóm sao trên đều có thể đạt tới đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc. Tuy nhiên sẽ biến chuyển theo tổ hợp Chính Tinh hợp hóa, cũng biến chuyển theo tinh đẩu còn lại khi hội họp. Kình Dương tượng là giáo mác, chủ công, Đà La là khiên đỡ, chủ phòng thủ. Thực tế mỗi nhân mệnh đều tồn tại tất cả tinh đẩu trong chính nội tâm, chỉ là hóa hiện với cường độ mạnh yếu sai khác. Cũng như nhân mệnh đều tồn tại âm dương ngũ hành trong nội thân. Phụ nữ thể hiện tính Âm, đàn ông thể hiện tính Dương mạnh hơn. Tử vi cũng vậy, xét định mệnh cát hung, còn nằm tại Nhân định, là quá trình học hỏi, tiếp kiến biến đổi một phần về bản tính. Kẻ theo đạo thường giữ được trung dung, không hành xử quá thiên kiến, biết tiến thoái kịp thời. Do vậy thực tế giáo dục rất quan trọng khi xét định một nhân mệnh. Tuy nhiên cá tính, bản tính của nhân mệnh lâu không tu dưỡng sẽ dễ thoái lui những phẩm chất rèn luyện được. 




Như việc người nhập mệnh Tang Môn có thêm Diêu Y Hỏa Linh, hội Kình Hao nếu nhập cách chủ theo nghiệp quân binh, ắt rèn tính nghiêm chỉnh, tuy nhiên bản tính nhân mệnh cũng sẽ luôn tồn tại tính chất xuề xòa, do cách cục chủ mệnh kiến là cá tính tồn tại từ khi thai sinh. Sự biến chuyển này chịu thêm tác động của hành vận, đại tiểu vận tác hóa, khiến mệnh cách có thời điểm nghiêm chỉnh, nghiêm trang, gọn gàng. Có thời điểm xuề xòa, không chú trọng tiểu tiết. Điểm định cách của bố cục và xét sự biến chuyển của nội tâm khi suy xét sẽ chịu tác động của biến cố hoàn cảnh hay hành vận cơ hữu có tính biến đổi hoàn toàn cuộc sống nhân mệnh về sau. Có kẻ sinh khởi tính hiền lương, có người sinh khởi từ thiếu niên ưa sát phạt, giết mổ. Đây là điểm cốt yếu thực khởi của bản tính. Có kẻ ưa đọc sách tri kiến, đọc sách thánh hiền, có người ưa làm những việc khác. Điểm cốt yếu của cách cục nằm tại tính khởi phát của nguyên cục tức Mệnh tạo có trợ hay phá, hình thành tính cách, thói quen hành vi có lợi hay bất lợi. Kẻ ưa đọc sách thánh hiền ắt tâm sở tương ứng, người ưa giết mổ, thu nhặt lợi ích ắt ưa thực tiễn. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can tác động mạnh tới tính cách của mỗi mệnh tạo, từ đó dự đoán tới cuộc đời của nhân mệnh. Người có trí ắt ít gặp họa, kẻ thiếu tri kiến dễ gặp tai họa. Cũng như phát sinh ra điện, nhiều trường hợp do thiếu tri kiến, tức ý định chủ quan dẫn tới tai họa tới bản thân. Người hiểu biết ưa tìm tòi, học hỏi ắt có lợi biết điều nguy hiểm, an toàn. Cũng vậy, tính cách cũng sẽ hội chiêu cảm những họa phúc, chỉ trừ trường hợp họa tới do đồng vận, như phát sinh đường xá, tai họa có thể tới tập thể như gặp nạn trên xe khách. Ảnh hưởng tương kiến của họa phúc cũng nằm tại chiêu cảm. Nếu vật ở vị trí cao, hay đặc tính có chứa kim loại dễ hút sét. Tai họa cũng vậy, nếu trong nội tâm hay nội thân chiêu cảm họa dễ gặp tai ương. Như chiêu cảm may mắn bởi cách Đồng Lương hội họp hội trợ tinh tương ngộ, hành vận tốt đẹp dễ tránh được các tai họa dù lớn. Như việc ra đường linh cảm tránh được các hiểm nguy, hay do một lý do tránh được chuyến đi tai nạn. Điều này thường xuất hiện thực trong đời sống thường ngày. Cũng như vậy, cổ nhân phân định có số mệnh, cũng luận rõ " Nhân định thắng thiên, đức năng thắng số". 




Hiện tương dịch bệnh có quốc gia tức vận nước gặp nguy cấp lớn, có quốc gia tránh được phần tai họa. Trong thời điểm một địa phương, một làng hay một xã có bệnh dịch, nếu nhân mệnh có cách cục ưa do chuyển, lại hội Sát Kỵ trùng phùng khi sinh sống tại đây dễ gặp bệnh dịch tới thân. Những khuyến cáo, thông tin được những người ưa tìm hiểu, đọc sách báo sẽ nhìn nhận được mức độ nguy hiểm và sự lây lan dễ dàng của dịch bệnh. Cũng có thể nhờ tri kiến, hiểu biết do nghiên cứu, nắm bắt sớm thông tin có thể tránh được tai họa ngay trước mắt. Như việc dịch bệnh bùng phát âm thầm chưa kiếm tra, nhân mệnh tự bảo vệ bản thân, tránh tiếp xúc, gặp gỡ người xung quanh sẽ tránh được tai họa gây ra. Tuy nhiên thực tế do tính cách hay bản tính mỗi nhân mệnh sẽ phát sinh những trường hợp khác nhau. Cũng như mỗi nhân mệnh đều rõ về pháp luật, hình sự tuy nhiên mỗi thời điểm, mỗi ngày đểu có người vi phạm pháp luật. Người nghiên cứu tử vi, cái cần rõ không chỉ là xét đoán, dự đoán những biến động vận hành cát hung, mệnh cách giàu sang phú quý hay bần hàn bệnh tật. Thứ cốt yếu của người nghiên cứu tử vi toán mệnh là rõ ưu khuyết, những tai họa do bản tính tạo nên. Nhân mệnh có Sát Kình Hình Kỵ Kiếp Hổ dễ gặp tai họa hình tù do vi phạm pháp luật. Cũng vậy các cách cục luận không sai khác. Chỉ luận dễ gặp tai họa, thực tế trong các thời điểm khác nhau sẽ có các yếu tố tác động sai biệt tạo nên kết quả. Thứ nắm được cốt tủy không ngoài xu cát tị hung, cũng là sửa nhân. " Buông đao xuống đất, chắp tay thành Phật " tức về thiện tính của con người nằm ngoài khống chế của số mệnh, tuy rất khó có thể thay đổi bản tính, như việc người nghiện rượu lâu năm rất khó bỏ, do vậy sinh ra dự đoán. Tuy nhiên kẻ nghiện rượu có được trí thấu rõ và quyết bỏ rượu cũng sẽ thành. Phàm nhân mệnh đa phần ắt phải có tham muốn vật dục, ưa lợi ích nhỏ trước mắt khó thấy lợi ích rộng mở về sau, Hóa Kỵ có thể chuyển hóa rất nhiều bố cục, cũng khiến rất nhiều cách cục phản tác vi hung do vậy. Với Không Kiếp càng có tính kích phát mạnh. Thí như người vay nợ rất nhiều sẽ chịu áp lực rất lớn tới tư tưởng, khó có thể ổn định tư tưởng nhìn ra những cơ hội để khai thông thế bế tắc, tạo nên hoạch phát. Không Kiếp cũng như khoản nợ lớn của nhân mệnh, tăng liên tục khiến mọi thứ làm ra không thể bù đắp được khoản lãi, chịu tác động rất lớn của cặp sao này khi nhập Mệnh, khiến mệnh tạo khó có thể chuyên nhất, tạo đột phá. Tuy nhiên một số nhân mệnh sẽ do áp lực của nợ lớn khiến tư tưởng luôn tìm thời cơ và quyết tâm tạo đột phá dẫn tới thành tựu đột biến. 




Ý nghĩa của Không Kiếp có tính Sát rất lớn, tượng cách như trên nên dẫn tới thường nhân mệnh gặp bố cục này tại Mệnh hay Hạn đều khó có thể chế hóa được toàn cục. Thường khi xét luận của lá số tử vi cũng vậy, người nghiên cứu định cách cục nắm được cốt tủy của tính chất tinh đầu khi riêng rẽ và khi giao hội là điều thứ nhất để xét định lá số tử vi. Thường cần xét tượng nghĩa cho từng tinh đầu để nắm khí hóa khi giao hội là điểm quan trọng cần lưu tâm. Có người khi có khoản nợ lớn, sinh tâm chán nản, có thể dẫn tới hành động tuyệt mệnh. Có người sinh ra tâm loạn, sẽ đi cướp, ăn trộm, phạm pháp để có tài sản trừ nợ. Có người có trí lợi dụng lách luật, tránh luật pháp để tạo ra tài sản. Có người dụng trí tạo dựng nắm thời cơ để phá thế bế tắc. Có kẻ buông bỏ, trốn chạy khỏi nhân thế. Những hướng định trên đểu có các cách cục tổ hợp tinh đẩu mang ý nghĩa biểu hiện tới cách cục này. Cũng như vậy, Không Kiếp nắm vai trò chính yếu định đoạt toàn bộ cách cục xoay quanh, do vậy cũng có sách luận sức tác hóa của Không Kiếp mạnh như chính tinh. Từ những cách giải quyết khác nhau khi lâm tình trạng nợ không thể trả lãi, chính là phản ứng của bản tính trước cách cục. Xét định lá số tử vi là tri kiến huyền học toán mệnh đã truyền từ thời cổ, có thể nghìn năm về tri kiến âm dương ngũ hành, dịch lý của tiền nhân, trải qua rất nhiều thế hệ tới hiện nay, là những thứ thực tiễn, không chủ phát huyền diệu, hư ảo, là nghiên cứu về bản tính, tri ngộ về thiên tính của nhân mệnh, xã hội, những tính cách dự đoán rõ ràng. Có thể tiền nhân kiến giải theo lập định sai biệt, tuy nhiên về dịch lý dụng Âm Dương Ngũ Hành của triết học phương Đông không thay đổi, chỉ kiến giải sai biệt dẫn tới hiểu theo ý nghĩa mù mờ sai biệt. Cũng như kinh điển của Không Tử, hậu thế có thể không bắt kịp. Thời kỳ của khoa học tây phương nắm ưu thế vẫn có giá trị rất lớn của tri kiến tiền nhân, đặc biệt trong những kinh điển về Âm Dương Ngũ Hành hay Phật giáo có thể đương đầu với khoa học hiện đại. Khởi nguyên của bản thân nhân mệnh thực tế không làm chủ hoàn toàn bản thân, không cảm nhận được ngũ tạng hoạt động, không biết rõ những sinh vật như giun sán trong cơ thể, thậm chí nếu không được học tập, dạy về hình tướng của ngũ tạng bên trong cơ thể cũng khó có thể biết hình dạng và chức năng của nội tạng. Cái bản thể của nhân mệnh khi xét định trong tử vi khởi phát dự đoán tính cách khi lập số từ thời điểm thai sinh có hoàn toàn do thân xác sinh khởi hay có tồn tại hồn phách hay không, việc trường thành, phát triển giữa thnâ xác và hồn tác động lẫn nhau tức dẫn hóa của tư tưởng, phần hồn khiến thể xác, hình tướng biến đổi theo và ngược lại có là điểm nghiệm lý hay không người viết không xét tới, chỉ xét khi nghiên cứu tử vi, phần Mệnh và Thân tác động tương tác của thế âm dương, điều nghiên cứu tập trung là định cách cục của tinh đẩu, các tổ hợp và hành vận phối hợp để xét cách cục cát hung, ý nghĩa toàn cục trên lá số tử vi. 


Sunday, December 10, 2017

Luận nữ mệnh cách Cự Cơ hóa Kỵ

Nữ mệnh thuộc ngũ hành Hỏa, mệnh cách gặp bố cục Cự Môn giao hội với Cơ Đồng hình thành cách cục Cự Cơ Đồng, bất hoàn chỉnh cách cục Cự Nhật do đó bố cục này cần giao hội cách cục tốt đẹp hoàn chỉnh ý nghĩa. Với cách Cự Cơ Đồng thì bố cục Cự Cơ cư Mão Dậu được đánh giá hay nhất của cách cục này do sự giao hội giữa Cự Môn và Thiên Cơ tạo thành các ý nghĩa khá tốt đẹp. Ở đây Thiên Cơ và Thiên Đồng là hai sao chủ hiền hòa, bố cục này mang tính chất ổn định, ít gặp sóng gió do tính chất bằng lòng, và sự ham muốn về hưởng thụ tinh thần của bố cục. Tuy nhiên khi giao hội với Cự Môn thì sao Cự Môn đinh chủ thị phi tác động lớn tới bố cục của mệnh cách. Cự Môn là sao tài năng của nhóm Cự Nhật, do đó nhóm sao này chỉ gồm hai sao hoàn chỉnh tác động mạnh như ba nhóm sao lớn còn lại. Cự Môn hỉ đồng độ với Thiên Cơ do sao Cự Môn chủ thị phi tuy nhiên là một trong ba sao đứng đầu, có khả năng khai sáng dẫn đầu do khả năng, tiềm năng của bản thân. Do đó mệnh cách có sao Cự Môn tọa thủ tuy biến hóa khác biệt nhưng vẫn có nét khác thường, đặc biệt là cách cục Cự Môn giao hội với các bàng tinh tăng tính chất quan trọng. Cự Cơ là sự giao hội của Cự Môn và Thiên Cơ có tính chất phối hợp khá tốt đẹp.


Sao Thiên Cơ chủ sự lễ phép, cũng chủ hỏi, nghi vấn, từ đó Thiên Cơ là khôi sao chủ bí mật, chủ thời cơ do đặc tính cơ bản tạo thành. Thiên Cơ chủ hiền, chủ lợi ích riêng, nhóm riêng khi phối hợp với Cự Môn. Do đó cách cục Cự Cơ có phần chế hóa thành hữu dụng nột số tính chất của Cự Môn thành tốt đẹp. Cự Cơ thủ mệnh cách cục này chủ biến đổi, thay đổi khi gặp thời cơ, lợi ích trước mặt. Cũng chủ nghiên cứu sâu về học thuật, hay khám phá nghiên cứu. Cự Môn hay chê bai khi luôn cảm thấy bất mãn, bất công và Thiên Cơ chủ sự suy nghĩ, câu hỏi tác động liên tục lẫn nhau nên mệnh cách có khả năng tốt về nghiên cứu chuyên sâu. Mệnh cách chọn khuynh hướng của Cự Môn và Thiên Cơ với các hướng đi khác nhau mang lại cuộc đời khác nhau. Mệnh cách khuynh hướng Cự Môn thường có khả năng đặc biệt khi tập trung chú ý sâu vào sự việc sẽ nhận ra được những khuyết thiếu hay đặc điểm chỉnh do luôn tự đặt câu hỏi và mâu thuẫn với bản thân. Do đó Cự Môn trở thành văn tinh, nếu giao hội với các sao Khoa, Khôi Việt, Xương Khúc hoàn toàn có thể theo khuynh hướng nghiên cứu học thuật. Cự Cơ ở đây gặp Khoa Quyền Kỵ, đặc biệt cách cục Khoa Kỵ Triệt Đại Tuế tại bản cung khiến mệnh tạo có khả năng sử dụng miệng lưỡi, tức khả năng ngôn luận tốt hơn người khác.


Tuế Hổ Phù ở đây là cách bày tỏ quan điểm của bản thân tới bên ngoài, và do có được Phượng Khốc là một điều may mắn khiến mệnh cách trở nên tạo được sự chú ý của bên ngoài cũng vì cái miệng của bản thân, ở đây thuộc cách cục nổi danh do hình thành bộ Kình Đại Việt Quyền Khốc. Nổi danh đi liền với thị phi là đặc điểm đặc trưng của bố cục này. Cách cục này cũng mang lại chữ to lớn, khả năng thành tựu cao khi Cự Môn có Kình Dương, đặc biệt là Kình Đại thì ưa khởi tạo, làm chủ, bản thân có thể giành thế chủ động. Trong khi cung an THÂN với Đà La thì nhiều khi hay nghe lời một cách mù quáng, không suy nghĩ cẩn trọng. Cách cục Cự Cơ ngộ Kình Đại tức hoàn toàn đắc cách Song Hao là bố cục hoạch phát tài danh, nữ mệnh có bố cục này cũng luận hay do cách Cự Cơ hợp với cả nam lẫn nữ. Ở đây bố cục xấu là cách Cự Kỵ Kình Hình Việt chữ thái quá là thích hợp cho tổ hợp này. Đương số dễ thực hiện một cách thiếu kỷ luật mà theo khuynh hướng tự do, cách cục này dẫn tới vượt quá thời gian, chữ thái quá này như việc cố gắng làm một việc, hay quá giờ, hoặc quá sức. Tuy nhiên cách cục này lại mang khuyết điểm của Âm Dương cư Sửu  ở cung an Thân và Cự Cơ tại đây thuộc cách cục khá trễ nải, lười biếng, thường việc sắp đến thời hạn mới thực hiện, khả năng sắp xếp kế hoạch, thực hiện theo khuynh hướng ổn định trước kém.



Như cách cục này tương tự việc trễ giờ làm, đến muộn do bản thân thường sai lầm khi đánh giá các công việc. Tuy nhiên cách cục Thế Hổ Phù tại đây tạo ra đường lối nên chế hóa một phần của tính chất do bố cục mệnh thân tạo nên. Bản cùn Mệnh có Thiên Khốc, cách cục Mã ngộ Tam Thai khi bản thân tính dương lớn, nữ mệnh ưa xông pha, cũng ưa chủ động, tính chất tò mò, khám phá. Ở đây mệnh cách có Thiên Cơ giảm tính dương, tuy nhiên không đủ và khiến mệnh tạo gặp bệnh tật về phổi. Cách cục này mang ý nghĩa táo bạo, ưa đứng đầu và chỉ đạo, cũng giỏi việc cạnh tranh, tranh giành lợi thế cho bản thân do đó nếu theo Tài Cách là hợp mệnh. Cự Cơ hiểu biết tốt do đó nhìn ra các cơ hội. Ở đây cách Cự Cơ Kỵ Việt Quyền chủ tìm ra hướng đi khác lạ, cũng ưa việc này nên thường đạt được mục tiêu nhanh hơn, tuy nhiên mệnh cách lại ưa danh hão, chủ cố gắng cầm chừng, được một không lấn tới hai mà có phần do dự, tự mãn nên ảnh hưởng lớn tới cách cục phát của Cự Cơ. Mệnh cách có Cự Cơ với cung an Thân tại cách Âm Dương Lương thường trong họa không lường sẽ gặp phát may do Cự Cơ chế hóa được một phần tính bất ngờ của Không Kiếp, tuy nhiên cung an Thân tại vị trí Vô Chính Diệu thì không mấy hay ảnh hưởng lớn tới sức khỏe do gặp Cự Kỵ xung, nội cách có Đà ngộ Tang Hư Mã Khách là bố cục sức khỏe không ổn định.


Thân gặp Khôi Vượng Hư thì sức khỏe tuổi trẻ cũng ổn định, tuổi già gặp nhiều vấn đề, tuy nhiên một Lương ngộ Trường Sinh thì trong cái nguy hiểm sẽ được cứu không tới mức gặp bệnh nan y. Nữ mệnh có Cự Cơ ngộ Triệt Kỵ Khoa Đồng Quyền thì nội tâm dễ xúc động, cũng có tính cách thương người do ảnh hưởng của Thiên Đồng, tuy nhiên nếu xét trên lợi ích thì xét bản thân trước mới tới người khác, do đó dễ gặp sự ghen ghét, mệnh cách cũng mang tính chủ động giỏi cạnh tranh càng tăng mức độ xung đột. Mệnh cách dụng Quyền do Thiên Đồng hóa để chế hóa Kình Hình, cách cục Kình Kỵ Hình rất dễ bị người khác ghét bỏ, khi chế hóa thành thì biến hóa tính chất trở thành uy tín, danh tiếng khiến kẻ khác nể phục, với bố cục Cự Cơ dương tính hoàn toàn có thể chế hóa được cách cục này, tuy nhiên nữ mệnh không luận trước tùy khuynh hướng của đương số đặt vấn đề gia đình hay vấn đề sự nghiệp lên trên. Cự Kỵ Khốc Hình có Quyền là bố cục nổi tiếng của Tào Tháo thuộc cách cục. " A Man xuất thế do hữu Cự Kỵ Khốc Hình Thìn Tuất". Ở cung độ Thìn Tuất âm hiểm nên tạo nên tính cách của Tào Tháo. Mệnh cách tại đây ưa việc khoa trương, do hóa Khoa được chế mà thành, đây là cách cục khá hay khi thành thương nghiệp cách do hình thành bố cục tài năng được thổi phồng khi nhập vận phát, chủ phát danh hơn tài cách.



Mệnh cách nữ mệnh tuổi Đinh không thích hợp với Cự Cơ mão dậu ở phần tình duyên và phẩm chất ở thời xưa do cách cục này chứa nhiều thị phi của Cự Môn và cung phu thê luôn gặp cách cục Âm Dương Lương bị Đà Hao xâm phạm, đặc biệt vị trí cung Phu Thê là Âm Dương cư Sửu Mùi luôn gặp phải bộ sao kỵ gặp là Kình Đà. Đường tình duyên ắt gặp trắc trở với nữ mệnh là đúng với cách cục này. Nữ mệnh có Cự Cơ thì hợp hơn các sao khác do Thiên Cơ gặp nữ cách hợp với tính cách. Sao Thiên Cơ chủ suy nghĩ khi gặp Kỵ Hình Kình thường suy nghĩ thái quá, hay lo âu, đây là ngôi sao của cơ hội. Cách cục này tốt ở phần điền sản, mệnh cách có bộ sao này luôn không lo lắng về vấn đề nhà đất, hợp với ngành nghề liên quan tới điền sản, chủ sự luân chuyển, buôn bán tạo ra lợi ích. Nhìn chung mệnh cách nữ với Cự Cơ cư Mão bố cục khá tốt, ngộ Song Hao và Khoa Quyền Việt Phượng tuy nhiên kiến Kình Kỵ Triệt Hình không được chế hóa nên có khuyết điểm lớn, cuộc đời thăng trầm, bất ổn định, dựa vào đại vận để thành tựu. Một chữ Kình Phượng Việt thì khởi đầu, khởi tạo dù gặp nhiều khó khăn nếu nắm bắt thời cơ sớm muộn sẽ thành tựu vì đây là cách được ngưỡng mộ.

Wednesday, March 29, 2017

Đại Hao và sự bộc phát


Đại Hao và sự bộc phát


Đại Hao là sao thuộc cách Kình Đại hoặc Đà Đại, an theo Thiên Can của năm sinh nên có tính chất đặc trưng thể hiện cho cách cục. Các sách thường chỉ bàn đến tính chất hao phí của bộ sao Đại Tiểu Hao mà không mấy đề cập tới toàn bộ cách cục khi luôn ở vị trí tam hợp với Kình Đà. Đại Hao có tính chất trái ngược với Tiểu Hao và hai sao luôn xung chiếu lẫn nhau. Mệnh có Đại Hao tọa thủ tính chất khác biệt lớn với việc ở vị trí tam hợp chiếu. Đại Hao chính xác có tính chất hao phí, nhưng tính chất quan trọng của sao này gắn liền với sự thay đổi. Đại Hao là sự thay đổi lớn và Tiểu Hao là sự thay đổi nhỏ. Sự thay đổi của Đại Hao có tính chất liên quan tới ý tưởng, nhiều phần liên quan tới vật chất, tài sản gắn liền, trong khi thay đổi của Phá Quân thường gắn liền với thay cũ đổi mới ở tư tưởng, đường lối vì Phá Quân gắn liền với lý tưởng của Tử Vi. Cũng vì thay đổi mang yếu tố vật chất nên Đại Hao cũng có tính chất đầu tư. Song Hao là trục cách của trục Tồn Phi. Tính chất Lộc Tồn trái ngược Phi Liêm và tính chất của Đại Hao trái liền với Tiểu Hao. Hay việc Hao Kình trái ngược với Hao Đà. Ở các bài viết về bộ sao Kình Đà đã bàn về tính chất của các sao này. Khi mệnh có Song Hao luận khác có Kình Dương hay Đà La. Nổi bật ở các Song Hao là sự thay đổi liên tục liên quan tới tài sản, khi cư tại Mão Dậu gặp hai sao Cự Cơ đồng cung mang ý nghĩa tốt đẹp.
" Mão Dậu Cự Cơ tốt thay, công danh vinh hiển lại tay hoang tàn, ngộ Song Hao là làng quán thế".
Cự Môn và Thiên Cơ có bộ Song Hao tính chất thay đổi do thời cơ lớn kết hợp sự bất mãn khiến phải thay đổi để thành công.


 Bộ Song Hao còn có tính chất trao đổi, ở đây cũng là cách trong kinh thương khi Song Hao trao đổi để có lợi ích cá nhân tức về phía Thiên Cơ, ngoài ra còn chủ chi phí để đầu tư thu lại lãi lớn hơn phí ban đầu bỏ ra. Ở bài viết này chủ yếu bàn tới cách Đại Hao thủ mệnh. Với Đại Hao thủ Mệnh thì Tiểu Hao tại cung Thiên Di. Bản chất của cách này là bên trong bản thân to lớn, bên ngoài trở thành nhỏ bé. Nếu xét về sự hao hụt, hao phí bản thân ta phung phí lớn, tiêu hao lớn. Xét về sự thay đổi thì bên trong suy nghĩ tư tưởng thay đổi lớn thì bên ngoài khiến ta trở lại ý nghĩ thay đổi nhỏ. Điều này cũng như việc Thái Tuế chủ Sự Thật và Thiên Hư bên ngoài chủ Cái Giả. Lộc Tồn chủ sự tích lũy và Phi Liêm chủ sự tan vỡ. Hai bên hoàn toàn có ý nghĩa trái ngược nhau biểu thị cho hai cách cục khác biệt về tính cách. Bên trong ý nghĩa thay đổi lớn và bên ngoài ý nghĩa thay đổi nhỏ. Tất nhiên do gọi quen là bộ Song Hao nên ta mặc định sự liên kết của hai sao này với nhau để luận đoán nên thường luận cả bộ mang ý nghĩa tương trợ nhau. Thực chất nên gọi bộ Song Hao về tên gọi riêng là Trục Song Hao. Ta lại có bộ Đại Kình mang ý nghĩa thay đổi lớn để tranh đoạt, tranh đấu, chống lại có tính tấn công, dương tính. Khi thực hiện tấn công phải chuyển động, Đại Hao là chuyển động lớn. Mệnh có Đại Hao tam hợp có Kình Dương tức ta thay đổi tư tưởng vì mục đích là sự tranh đấu. Trái ngược với bộ Kình Đại ta có bộ sao Đà Đại. Ở đây có tính thay đổi lớn để phòng thủ, đề phòng, tiếp thu. Vị trí Đại Hao của bộ Đại Kình hay Đại Đà đều mang tính bộc phát lớn do bản chất của cách cục Kình Đà Hao. Từ Đại Hao chủ sự thay đổi lớn ta tìm ra khi đi với các Chính Tinh ưa thay đổi hay cố định mà đưa ra các luận đoán chính xác về sao Đại Hao này.

Thursday, February 23, 2017

Luận về Đại Tiểu Hao



Luận về Đại Hao và Tiểu Hao


Đại Hao và Tiểu Hao là hai sao thuộc nhóm Bại Tinh. Thuộc vòng sao Bác Sĩ. Đại Tiểu Hao thường gọi chung là Song Hao nhưng thực chất tính chất khác nhau hoàn toàn của hai sao này, cần tách biệt ra để tránh khỏi việc nhầm lẫn khi luận đoán. Song Hao thường có mặt trong các cách chú Phú và Quý. Bộ sao này luôn có Kình Dương hoặc Đà La tam hợp nên gọi là cách Kình Hao hoặc Đà Hao. Từ đó ta lại chia nhỏ ra các cách Kình Đại, Kình Tiểu, Đà Đại, Đà Tiểu. Mệnh có Song Hao lưu ý khác chỉ một sao như Đại Hao hoặc Tiểu Hao tam hợp.
" Lưỡng Hao thiết Kỵ ư Tài cung".
Cách này đề cập tới việc Đại hoặc Tiểu Hao tọa thủ tại cung Tài thì tiền vào ra thất thường, khó tụ nên khó giàu. Có người luận rằng lấy tiền đi đầu tư xoay vòng nên ít có tiền mặt là hiểu sai tính chất của bộ Song Hao. Lưu ý trường hợp Mệnh có Song Hao và Tài cung có Song Hao. Ở cung Tài Bạch có bộ Song Hao là cách tiêu tiền không có sự suy nghĩ tiết kiệm. Trường hợp này gọi là tán tài. Tài sản chính là những vật chất có giá trị, tiền là thứ tài sản có thể hoán đổi. Như một cách Song Hao cư Tài Phúc tức trường hợp tốt ta kiếm được nhiều tiền thuộc tầng lớp cao nhưng chi phí cho sinh hoạt, mua sắm, ăn uống mất gần hết khoản tiền, hơn nữa đa phần chi phí ấy là tiêu thụ ( Song Hao ) cho việc hưởng thụ Phúc Đức nên khó giàu. Khác với việc đầu tư, tích trữ như mua đi bán lại để tăng thêm lại là cách khác.


Tuy nhiên chỉ Song Hao cư Tài Phúc biến đổi tính chất khi ngộ Bàng Tinh, tùy trường hợp luận đoán. Không phải như một số người luận rằng ngày nay việc buôn bán trao đổi, xã hội hiện đại nên Song Hao cư Điền Tài thay đổi tính chất. Thời Phong Kiến hay trước đó thương nhân, tiểu thương buôn bán cũng lấy tiền mua vật phẩm rồi kiếm lợi chẳng phải như bản chất mua đi bán lại như bây giờ sao?.
" Lưỡng Hao Cự Vũ Hỏa Quyền, chiếu sai trấn thủ một phương bên ngoài".
Cách Cự Môn hoặc Vũ Khúc ngộ Song Hao gia Hỏa Quyền thường được trấn ải xa xứ. Cự Môn tối hỉ ngộ Song Hao, Cự Môn chủ sự phản đối, kháng cự, bất mãn cần thiết có Song Hao để thay đổi nhận thức cho phù hợp, Cự Môn kỵ gặp Lộc Tồn có tính ổn định luôn trong tình trạng tồn tại bất mãn. Cách Cự Môn chủ xa, Cự Nhật chủ rời xa. Có Quyền tức dễ theo binh nghiệp do hình thành cách Kình Hao hoặc Đà Hao ngộ Quyền. Cự Môn thích hợp với cả Đà La và Kình Dương.
" Cự Cơ Mão Dậu hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế".
Cách này hay do Cự Cơ hay chủ thay đổi tốt, do Phá nhị hợp phá bỏ Tồn Tại xấu của Lộc Tồn ở bên ngoài, lại được Song Hao chủ thay đổi khiến Cự Môn giải quyết được bất mãn này đến bất mãn khác, thức đẩy sự tiến bộ, đây là cách thay đổi suy nghĩ để tạo chuyển biến tốt. Mệnh hoặc Hạn đến Cự Cơ ngộ Song Hao luôn có sự biến động lớn tại đây.