Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Cơ Nguyệt Đồng Lương. Show all posts
Showing posts with label Cơ Nguyệt Đồng Lương. Show all posts

Tuesday, October 22, 2019

Một lá số Khoa Quyền Song Lộc hội



Nam mệnh khởi hành vận từ đại vận thứ nhất thuộc cung mệnh. Đại vận hành tức sự chuyển dịch theo từng giai đoạn qua các cung độ hình thành sự biến động và tư tưởng, tính chất bố cục của nhân mệnh. Thái Âm độc tọa cư Tuất ngộ Hỏa Hình Lộc Quả là cách chủ Tài vượng, do Thái Âm chủ âm tính, Tài tàng ẩn tính chất rất vượng, luận là ám lộc. Trong Chính Tinh hóa Lộc, Vũ Khúc đứng đầu thuộc tài tinh, thứ tới là Thái Âm và Cự Môn. Đại vận thứ nhất nhập mệnh cách, bản cung nhân mệnh có Hỏa Hình chủ tính nguyên tắc và dễ bộc trực trong tính cách. Đại vận này hình thành phương pháp, năng lực của bản thân, Thái Âm tác động hình thành tính cách. Trong tính chất của cách Âm Hỏa Hình, nội cách mang tính âm nhu, hòa hợp, tuy nhiên có tính phản kháng mạnh từ Hỏa Tinh, tức tính bộc phát. Thái Âm hội Khoa Quyền Lưỡng Lộc Đào Không, cách Binh Hình Tướng Ấn, giáp Khôi Việt chủ cơ trí hơn người, cách cục tuu gặp Thiên Không Không Vong phá Lộc Tồn vẫn là cách rất hay. Cơ Nguyệt Đồng Lương với Thái Âm đắc địa có Đào Hồng Cô Quả là điểm tốt, lại hội Khoa Quyền Lộc và Hình Ấn báo hiệu sự thành công lớn trong cuộc đời do chính tư chất của mệnh tạo tạo nên. Vận Thái Âm tại Mệnh cách, cuộc sống ôn hòa, phát triển bình ổn do Cơ Nguyệt Đồng Lương thành cách, tuy có những bất ngờ do cách Tồn Không tạo ra mang ý nghĩa kết quả không như ý định của mệnh cách, tuy nhiên đây là cách cục rất tốt đẹp với mệnh Thái Âm khi gặp Hỏa Hình Quyền Ấn cát hóa, chủ phát khởi khả năng tính toán, cơ mưu do cách cục tạo ra. Đại vận thứ hai từ 14 tới 23 nhập cung độ Thiên Phủ độc tọa cư Thân trong cách cục Phủ Tướng đơn thủ. Thiên Phủ có khả năng phán đoán, xét đoán các sự việc xảy ra và nhận định, suy xét không vội vàng, thường được luận "Giao long vãn uyên" cách. Thiên Phủ ngộ Tuần Khôi Bật Khúc Hổ Đại Phượng tại bản cung, hội Đà Khốc Phụ Xương đắc vòng Trường Sinh, cách cục thành cách Phủ Tướng hội Tả Hữu Xương Khúc Đà Khốc Hổ Phượng Sinh Vượng là cách cục rất tốt đẹp, Phủ Tướng thành cách, chủ phát triển tài năng, được ngưỡng mộ, đánh giá cao về năng lực của bản thân và giúp đỡ, tương trợ của kẻ khác tới nhân mệnh. 





Thiên Phủ tuy ngộ Tuần dễ do bao bọc thái quá dẫn tới mệnh cách Hỏa Hình Âm khó có thể phát huy năng lực của bản thân. Bố cục Âm Hình Quyền Ấn trong thế Lưỡng Lộc có tính tự lực lớn, do đó trong hành vận Phủ Tướng Tả Hữu được trợ giúp đắc lực của bên ngoài. Trong đại vận này nam mệnh đang gặp cách cục phát triển tốt do được sự tương trợ, giúp đỡ để năng lực, kiến thức phát triển mạnh. Đại vận Thiên Phủ tăng cường tính cẩn trọng khi suy tính của nhân mệnh Thái Âm, cách cục khá tốt đẹp, do đó phương hướng trong đại vận này sẽ có tác động tốt tới các hành vận sau. Thiên Phủ trong nhóm Phủ Tướng đơn thủ là cách cục bình hòa, được trợ lực bởi Tả Hữu Xương Khúc Tuế Phượng là cách cục Văn cách cường vượng, có tính chất ổn định tránh tai họa tới trong hành vận này. Đại vận thứ hai bổ trợ mạnh chế hóa Hỏa Hình Ấn hóa Văn cách, tăng tính chất mưu tính, kiên nhẫn của nam mệnh, cũng hình thành lập trường quan điểm của bản thân do Tuế Phượng hình thành. Đây là lập trường đúng hướng, do " Tuế Hổ Phù hội Khúc Xương, có tài hùng biện văn chương hơn người". Tại đây có Hổ Khốc mang tính bày tỏ ra bên ngoài, đại vận thứ hai là vận tốt đối với nam mệnh, gặp đủ trợ tinh cát hóa mệnh Thái Âm, cách cục khí hình cường vượng. Lá số Thái Âm khi tốt đẹp chủ mệnh tạo có khả năng suy tính sâu xa, âm trầm, tại cách cục rất tốt mang ý nghĩa môi trường gia đình và hoàn cảnh sống tốt. Tuy nhiên tại đại vận thứ hai tốt đẹp sẽ kết thúc cuối năm Kỷ Hợi, nam mệnh nhập đại vận mới tại Thân cung, cách cục VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Lương từ 24 tới 33. Đại vận tại Phối cung là vận rất phức tạp, khi nội cách là bố cục Cự Nhật Kỵ Kiếp Tuần Tuyệt, ngoại cách Đồng Lương Quyền Hồng Triệt xung có phần tốt hơn. Đại vận tới Phối cung, đồng cư cung an Thân là vận then chốt có tính chất khó khăn, xung đột trong chính nội cách. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc cách, khi hành vận lưu tới cách cục Cự Nhật Kỵ Kiếp tính chất hung họa lớn, chủ xung đột, cự cãi và phản đối trong nội bộ. 



Trong đại vận thứ ba, bản cung vận VCD, chịu tác động của tổ hợp chính tinh bên trong tam hợp, bên ngoài xung chiếu. Tại vị trí Thái Dương cư Thìn là vị trí sáng của sao này, ngộ Kiếp Thanh Mộc, thực tế cách cục Thanh Long ngộ Mộc Dục tại can Đinh được đánh giá tốt chủ nổi danh. Tại can Đinh, Cự Môn hóa thành Kỵ, lại hội Địa Kiếp thành cách Kỵ Kiếp. Cách cục này mang ý nghĩa không mấy tốt, kỵ gặp Cự Nhật thành cách cục Cự Kỵ có tính cản trở lớn, bất lợi cho cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Mệnh cách Hỏa Hình tới vận này ắt phát sinh cự cãi, phát sinh xung đột trong nội bộ, Kỵ Thanh hình thành, càng về sau của đại vận, tính chất xung đột, thị phi của Cự Kỵ cát hóa theo khuynh hướng tốt do Văn cách hình thành tại hành vận thứ hai, phối hợp cách Kỵ Thanh. Cách cục Tài cách cực vượng, đây là mệnh chủ phú, tuy nhiên gặp họa về Tài. Thái Âm kỵ gặp Hỏa Hình Không mang tới số không với Lộc Tồn, tức nhân mệnh ít nhất gặp một lần phá tán, phá sản. Đây là điểm quan trọng cần lưu ý khi Hỏa Tồn mang tính chất quyết tâm thực hiện những dự tính, tính toán từ trước. Mệnh cách hữu Sát hội tổ hợp này ắt hành vận Sát cách gặp thăng trầm lớn. Nhân mệnh cách có tư chất tốt, hữu Tam Kỳ tuy nhiên khó tránh khỏi bất trắc do Đào Tồn Không Hỏa tức bản thân tạo ra khi bên ngoài hiển lộ Thái Dương ngộ Kiếp tượng là người đàn ông mang họa, Kiếp xung gây bất lợi hơn so với việc nằm trong tổ hợp Mệnh. Cách cục tiền vận rất khó khăn, vào trung vận hợp hóa từ Tử Phá khai thông, ẩn chứa Sát cục nặng tuy nhiên là giai đoạn Tam Hóa khai phá Tài cách, cầu được tài hơn quan, trong hành vận Tử Phá là vận then chốt dẫn vận Thiên Cơ thành hoặc bại. Nếu dẫn hóa từ đại vận hiện tại theo khuynh hướng ổn trọng tức lấy cách cục cẩn trọng hướng tới tư tưởng, cách cục về sau có thể tránh được một lần bại, tuy nhiên hoạch phát sẽ không lớn. 





Đây là cách cục hay trong tử vi, phân định hai khuynh hướng rất rõ ràng, về sau sẽ có tài sản lớn, đại phú cách do tư tưởng táo bạo, tham vọng lớn, mạo hiểm thành tựu, cũng phá tán bởi lý do này khi lưu vận tới Quan Lộc. Nhân mệnh có tài năng, tinh đẩu hợp hóa hữu tình, Lộc có khố, lại hình thành cách Lưỡng Lộc có Đồng Lương Triệt Không là bạo phát cách khi nhập Sát vận. Trong tử vi phân định rõ về Sát cách có các khuynh hướng khác nhau, cũng như ngũ hành tương sinh, tương khắc, khi khuyết thiếu hoặc thừa vượng quá độ tượng Sát cục, cũng khi hình thành Sát cục được bổ cứu thì phát phúc phi thường. Trong bố cục này ẩn chứa tai họa do Kiếp Không Tồn Đào, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khó có thể dụng bố cục này trừ trường hợp Đồng Lương cư Dần Thân nhập Mệnh hội Không Kiếp tại bản cung. Thái Âm có Hỏa Hình có khuyết điểm khi nhân mệnh gặp thất bại, bế tắc lớn sẽ khó có thể xây dựng lại, điểm khuyết thiếu này do thế đứng của Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo. Bản cục ban đầu đã hình thành thế Lưỡng Vượng, cát hung tương bán, không thể mong cầu việc nhân mệnh cuộc đời bình ổn, Không Kiếp Hỏa Hình sẽ tác hóa ngay khi tư tưởng không thể chế dụng. Cách cục này buộc nhân mệnh tự nỗ lực để thành hoặc bại, còn ứng hiềm với chữ Vong. Điểm tốt là Tam Kỳ có Hình Ấn, cái họa mang lại do Đào Hồng Không Kiếp Tồn Hình Diêu tạo ra, Khoa Hồng tăng cường độ của cát hung, nếu phản cục ắt họa không nhỏ, có thể dẫn tới sát thân. Khi luận tử vi, định khả năng chế hóa Sát cũng tương tự như việc đảm nhận Tài Quan của tứ trụ, khi nhân mệnh ở thế cường vượng, có thể gánh được Tài Quan, khi ở thế suy nhược gặp Tài Quan mạnh ắt đổ vỡ. Tại đây điểm tốt là cả hai lưỡng vượng, tức hành vận sẽ quyết định rất lớn tới kết quả. Lá số ắt phát đại phú, tức giai đoạn thịnh vượng sẽ có tài sản rất lớn, tuy nhiên có thể giữ vững, tăng cường hay suy bại với Sát vận phải xét qua từng đại vận. Thái Âm khi cường vượng, trong đa phần các trường hợp có thể lấy Không Kiếp chế dụng, kể cả Không Kiếp Tồn Đào, tuy nhiên lại tối kỵ Hỏa Linh hội do Hỏa Tinh phá tính âm ám, thâm trầm, suy xét của Thái Âm gây nên rối loạn trong nội cách. Trong trường hợp nhập Mệnh cung mang ý nghĩa càng. 





Hình Hỏa Lưỡng Lộc là cách tranh đoạt Tài, cũng do tiền tài sẽ khiến nhân mệnh khổ cực theo đuổi, Quan cách hình thành không mấy hay, khi Quan tàng họa, dụng Quan Cách thăng tiến nhanh cũng hóa thành không, đường quan lợi nếu theo càng khiến nhân mệnh do tham vọng lớn dẫn tới các quyết định sai lầm, đặc biệt khi theo quan lộ, chính trị làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Nhân mệnh thường có những tư tưởng, khuynh hướng khác biệt, trong nội tâm cũng rất nhanh nhạy trước các biến động của xã hội, biến động của thời vận. Thiên Cơ trong cách Cự Cơ Tí Ngọ nếu không gặp Đào Không sẽ mang ý nghĩa hay, tuy nhiên khi nhìn từ mệnh, cách Cơ Không Kiếp mang ý nghĩa chủ không lường trước được các biến động, do tính chủ quan của bản thân dẫn tới tai họa, lưu ý trong hai đại vận Tử Phá và Thiên Cơ. Trong hành vận then chốt, nên hóa khí khai tạo, khai phá của Phá Quân thành tính chất nghiên cứu học thuật, có thể bảo hộ Tài cách, tức khai phá tri kiến ứng hợp tránh một phần phá tán về tài sản. Phàm là nhân mệnh, đều có thể lấy tu tâm để tránh họa kiếp. Tuy nhiên tiền nhân cũng luận bản tính khó dời, tức về nhân tính chịu tác động của Âm Dương Ngũ Hành từ khi thai sinh, dẫn tới luận định về độ số, vận mệnh, tư tưởng là nhân chiêu cảm ứng bên ngoài hợp thành quả. Cách cục Âm Hỏa Hình Không Kiếp Tồn Lộc tạo bởi Hình Hỏa Kiếp trong cách Cơ Lương tượng là hỏa tai, ứng hợp bên ngoài là lửa lớn, bên trong nội tư tưởng là bộc trực, khó kiềm chế dẫn tới tai họa. Cũng như ngũ quan, khi khuyết thiếu nhãn quan tức mắt nhìn thì khó có thể xác định vạn vật chính xác, trong nội tướng là tầm nhìn, tư tưởng khi thiếu tầm nhìn sẽ dẫn tới những hành động chiêu cảm họa nạn. Do vậy Âm Dương tượng là nghe nhìn, hay Cơ Nguyệt Đồng Lương tức nhóm sao cơ hội, thời cơ rất kỵ gặp Hỏa Linh, khó có thể nhận định khách quan vấn đề dẫn tới sai lầm. Hỏa Tinh nhập Mệnh có Hình Ấn cũng mang phần ý nghĩa tốt, do Hình ngộ Khoa chung thân vô tai, tức Hóa Khoa là hóa khí mang ý nghĩa điều hậu, cũng như việc nghiên cứu tri kiến, tri thức, học vấn khiến nhân mệnh tránh được nhiều tai họa. Nếu mệnh cách có Xương Khúc hay Khoa thủ mệnh đã là một điểm hơn người, hoặc Khôi Việt không gặp phá cách mang ý nghĩa hiểu thấu sự việc từ nhỏ tới lớn, Tả Hữu là được lời khuyên, trợ giúp của kẻ khác tới bản thân. 





Tại đây không có Xương Khúc, Tả Hữu, được Khôi Việt giáp và Hóa Khoa cũng là một điểm may mắn. Một số người nghiên cứu tử vi luận Hóa Khoa mang ý nghĩa tăng thêm họa nạn khi cách cục phá cách, hội Sát Kỵ nặng nề là đúng, khi Hóa Khoa chủ điều hậu cách cục, thường được luận đệ nhất giải thần, tượng ngũ hành khuyết thiếu được bổ cứu, phá cách sẽ tạo tai họa lớn. Cũng như Âm, Dương quý nhân tức Khôi Việt phá cách tăng thêm họa như Việt Linh Hình, Khôi Hình. Với Hóa Khoa là hóa khí của Chính Tinh và bốn phụ tinh chịu tác động của Không Kiếp biến đổi bản chất của Chính Tinh hay các phụ tinh khiến nguyên cục phá vỡ. Chữ Khoa tại đây được Đồng Lương có Triệt Hồng tại Dần cung hội là điểm tốt, do Đồng Lương, Triệt và Khoa tăng cường tính chất ổn định bố cục. Trong bản thân đương số đã có tư tưởng đề phòng trước những nguy cơ do Cơ Không Kiếp tạo ra, tránh được phần rất lớn các tai họa. Thái Âm cư Tuất, đối cung là Thái Dương cư Thìn nhập La Võng, đây là cách Nhật Nguyệt xung chiếu, nội cách hình thành cách cục phức tạp, cứu giải bởi Đồng Lương Triệt hội Hình Ấn. Cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách, không mang ý nghĩa bản nguyên của tổ hợp, biến hóa mang tính chất động lớn, tàng ẩn cách cục có tính biến hóa theo vận mạnh. Nhìn chung nhân mệnh không phải mệnh thường, khi hoạch phát như lôi, khi suy bại ắt gặp một số không lớn. May mắn là Thái Âm thủ mệnh, nếu tại đây là vị trí của Thiên Lương hoặc Thiên Cơ khó có thể tránh được tai kiếp do cách cục tạo ra. Âm Hình Kiếp bản thân tự hình, tức có nguyên tắc, tự tạo áp lực tới chính tự thân, có Hỏa Tinh tại đây là điểm xấu, cần lưu ý. Nhân mệnh dụng Tài cách, bố cục cực vượng, Quan cách suy yếu khó có thể dụng. Cách cục về tiền vận phát triển khá tốt.

Sunday, August 26, 2018

Sao Thái Âm tổng luận





Thái Âm là tinh đẩu thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khi hoàn chỉnh. Trường hợp khi Thái Âm giao hội với nhóm Cự Nhật hình thành cách Âm Dương Lương. Sao Thái Âm và Thái Dương là hai sao tượng âm dương trong tử vi. Thái Âm luôn tam hợp với Thiên Lương. Khi luận cách cục giao hội luôn phối hợp bởi cách Âm Lương với các Chính Tinh. Luận tính chất Thái Âm thủ mệnh khi xét chung là luận tổ hợp Âm Lương. Thái Âm luôn nằm trong nhóm Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo tính chất riêng biệt cơ bản của hai bố cục. Đây là hai nhóm sao hiền hòa, ổn định, không hàm chứa Sát cách nên mệnh tạo Thái Âm hoặc Thiên Lương có bản tính đa phần âm nhu, hiền lương. Nữ mệnh cách nhập mệnh hai chính tinh này hợp cách. Thái Âm có âm tính. Trong vạn vật đều chứa âm dương. Mệnh cách có Thái Âm thủ mệnh tính âm nhu vượng, tuy nhiên không phải mệnh cách hoàn toàn không có dương tính. Chính tinh nhập mệnh chủ tính cách thường trực, qua vận hay tác động của hoàn cảnh biến đổi. Khi giao hội với bàng tinh, tính chất cơ bản chủ âm không thay đổi, tuy nhiên phối hợp định cách biến hóa phức tạp. Thái Âm nhập mệnh phân hai trường hợp độc tọa hay đồng độ với Chính Tinh khác. Trường hợp độc tọa tại cung Tị Hợi Thìn Tuất Mão Dậu. Giao hội với Thiên Cơ tại Dần Thân, với Thiên Đồng tại Tí Ngọ và Thái Dương tại Sửu Mùi hình thành tổ hợp Chính Tinh luận phối hợp tính chất cơ bản của tinh đẩu khác biệt với trường hợp độc tọa. Thái Âm có tính chất âm khi dụng thể chủ che dấu, âm ám, mưu tính, quyền ngầm. Trường hợp tăng tính chất suy nghĩ, tính toán khi giao hội với Thiên Cơ tại cách Cơ Âm. Với cách cục Cơ Âm cũng tăng mạnh tình ôn nhu, hiền lương tại tâm tính và tướng mạo của mệnh tạo.





 Trường hợp Thái Âm đồng độ Thiên Đồng hình thành cách Đồng Âm chủ ưa đóng góp lợi ích tập thể hơn bản thân, Đồng Âm cách có tính cách nhi đồng, chủ do phối hợp tính chất từ Thiên Đồng. Xét về cách cục Cơ Âm có phần sắc sảo, tính toán hơn với mệnh cách Đồng Âm. Với cách cục Đồng Âm ngộ Tang Môn với nữ mệnh đắc chính cách của Đồng Âm, thường luận phẩm chất tốt ưa đóng góp âm thầm tới cộng đồng. Trường hợp giao hội Sát cách không luận vậy, biến hóa theo Sát Kỵ. Mệnh tạo cách cục Đồng Âm ứng hợp chữ phúc hậu, được đánh giá tốt hơn với Cơ Âm. Tuy nhiên về tài năng, khả năng ứng biến mệnh cách Cơ Âm luận hay. Hai cách cục trên hình thành khi nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Trường hợp còn lại thuộc cách Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi. Ba cách cục đồng độ trên xét tính chất không xét tới vị trí sáng tối của Thái Âm. Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi tam hợp chiếu Thiên Lương và cung độ VCD ngoại Cự Cơ xung. Đây là cách cục có một phần thị phi do bản cung VCD chịu tác động của Cự Môn trong cách cục Cư Cơ Đồng. Âm Dương Lương tại đây có tính chất ưa thay đổi, chủ thời gian ổn định, là cách cục quan hệ xã hội. Do mang ý nghĩa ổn định, may mắn nên không gặp khó khăn bế tắc tạo kích phát tới bố cục. Âm Dương Lương chịu tác hóa của Thái Dương giao hội Thái Âm. Thái Dương có dương tính, ưa công khai, nhiệt huyết. Âm Dương đồng độ chịu tác động của hai chính tinh này nên có phần rối ren trong bố cục. Khuyết điểm thường chủ chóng thay đổi khi chưa thành tựu gặp khó khăn, không bền vững, bằng lòng với cuộc sống. 




Trường hợp Thái Âm độc tọa tại các cung Tị Hợi Mão Dậu Thìn Tuất phân hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương định cách toàn bố cục, các vị trí của Thái Âm nhập vượng hoặc hãm tác động tới sứ cát hóa của sao này. Thái Âm cát hóa mạnh khi nhập Hợi cung. Đây là cách cục Nguyệt Lãng Thiên Môn thuộc Âm Dương Lương cách với Thái Dương đồng độ Thiên Lương có tính hướng lên, phát triển. Thái Âm nhập mệnh bố cục này chủ hưởng thụ, thuộc cách cục ưa bình ổn, khó tiến nếu không Sát hóa toàn cục. Nếu nữ mệnh nhập cách cục này chủ tâm tính ưa việc an ổn, cuộc đời ít biến động lớn tuy nhiên cũng khó thành tựu. Với nam mệnh cách Thái Âm cư Hợi cần giao hội Sát cách chủ khó khăn hóa Âm thành Quyền cách luận tốt, thứ tới dụng Văn cách. Mệnh cách Thái Âm cư Hợi thường được luận tốt ở phẩm chất, luận sự nghiệp thành tựu không đắc trợ cách là mệnh thường. Cách cục Âm Dương Lương tại đây chủ mối quan hệ xã hội. Khi tốt là bản thân có các mối quan hệ tại tầng lớp cao của xã hội, gia đình xuất thân đa phần tốt đẹp do Phụ Mẫu định cách bởi Âm Dương. Khi Sát hóa mệnh cách Thái Âm tùy từng bố cục luận sai biệt chủ tính chất âm ám, tàn nhẫn, mưu mô, tranh đoạt. Đây là trường hợp Thái Âm giao hội Sát cách hóa Quyền. Khi Sát hóa được chữ bất lương. Thái Âm là sao chủ nội âm, thuộc âm thủy. Khi định cách Chính Tinh thực lý bên ngoài cuộc sống khi ứng hợp. Thái Âm hóa cạnh tranh ngầm, mối quan hệ ngầm. Thái Âm là những việc không bộc lộ, công khai. Do đó hàm chứa Tài Cách, bí mật kinh doanh không nên để lộ dễ bị phá hoại, trong kinh thương rất quan trọng việc tranh đoạt, cạnh tranh âm thẩm với nhau. Lợi ích bằng tiền không nên lộ ra dễ phá tán hoặc gặp cản trở. Tài vượng do hóa âm cách. Trái với Thái Dương chủ Quan cách, trong công danh sự nghiệp hay chính trị thường bộc lộ công khai bên ngoài nhiều hơn. Khi Thái Âm tốt đẹp chủ hiền hòa, hi sinh âm thầm, chịu đựng. Thái Âm chủ tiếp thu, lắng nghe, suy nghĩ. Thái Dương thường có Cự Môn chủ tiếng nói. Bố cục Âm Lương tam hợp luôn chịu tác động của Thiên Lương tại hoàn cảnh tới mệnh tạo, hướng tư tưởng ưa phân biệt phải trái, lý nghĩa. Thái Âm trong bố Âm Dương ưa hội Tang Hư Mã. Do tính chất giao tiếp, xã giao của nhóm sao này với nhóm Tang Hư Mã chủ khoa trương, đặc biệt khi hội Hóa Khoa. Tang Môn tăng tính âm cho Thái Âm chủ tài ngầm. Thiên Hư hợp với Âm Dương. Tuy nhiên cách Âm Dương Lương hội Tang Hư Mã dễ biến hóa theo khuynh hướng tác họa tới gia đình hoặc phụ mẫu khi hội Sát Kỵ với Lưu Sát Kỵ. 

Wednesday, July 19, 2017

Tính chất bố cục tổ hợp của sao Thiên Cơ




Tính chất bố cục tổ hợp của sao Thiên Cơ




Sao Thiên Cơ thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương, luôn đi với Thiên Đồng hình thành cách Cơ Đồng có thể phối hợp bới bộ Âm Lương hoặc Cự Môn hình thành cách cục Cự Cơ Đồng và Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn toàn khác nhau về tính chất của mỗi cách cục. Bộ Cự Cơ Đồng luôn có tính xung đột ngay trong chính bố cục, tức việc có cách cục này không có sự êm đềm mà dễ gặp phải chia rẽ trong nội bộ bởi lợi ích chung và lợi ích từng cá nhân. Sao Thiên Cơ ở đây do ý nghĩa là suy tính nên có tính chất thực dụng với bản thân, sao Thiên Đồng là tập thể, xã hội, số đông nên ở đây có sự mâu thuẫn về lợi ích, sao Cự Môn có tính Ám khiến cách cục này thường do Cự Môn đứng đầu. Ở cách Cự Cơ Đồng thì Thiên Cơ đi với Cự Môn tốt đẹp hơn Thiên Đồng đi với Cự Môn vì cách Cự Cơ giỏi việc sử dụng ngôn ngữ hay cái miệng để tạo lợi ích cho bản thân, tạo tiếng nói cho bản thân và cũng có khuynh hướng rất giỏi một lĩnh vực khiến tính thị phi của Cự Môn giảm thiểu thấp. Cách Cự Cơ thường hay nghe trong kinh thương  đa phần nếu tồn tại thêm bộ Kình Hao hay Đà Hao tức gặp Song Hao khiến Cơ Phá có Cự tăng tính trao đổi, chuyển dịch vì vậy lợi cho việc sử dụng đồng tiền liên tục. Trái lại nếu thuộc cách Cự Cơ thêm Khoa Quyền hay Văn Tinh đa phần theo con đường học vấn, học vị là đúng hướng vì Cự Môn và Thiên Cơ có khuynh hướng nghi ngờ, cách Cự Cơ cũng ưa khám phá, có tính chuyên sâu của một lĩnh vực. Đa phần các lá số đắc cách người viết luận về Cự Cơ thường theo con đường học vị, một số có Song Hao phải đại hạn đi thuận tới Tham Lang cần gặp Hỏa Linh, đặc biệt Hỏa Tinh đồng độ thì theo đường kinh thương. Thiên Cơ đặc biệt kỵ gặp Hỏa Linh trong mọi trường hợp, nếu có thêm Kỵ Hình sát tinh ngay chỉ ở cung độ đại hạn cũng thuộc cách tâm trí đầu óc gặp vấn đề, nặng thì có khuynh hướng loạn động. Cự Cơ Đồng tính động cao khác với các sao có tính ổn định không ngại kiến Sát Tinh hoặc dụng được Sát Tinh như cách Sát Phá Tham. Trong trường hợp này nếu gặp phải Kỵ Hình không xấu bằng Hỏa Linh, đặc biệt nếu có cách Việt Linh Hình Kỵ ngộ Thiên Cơ thì não bộ thường bị tổn thương do áp lực, hay căng thẳng thần kinh rất hay gặp, có một số trường hợp bị động kinh. Với Cự Cơ Đồng khi ở vị trí Cự Đồng tam hợp có Thiên Cơ nếu sao Thiên Cơ thủ mệnh thì đây là cách cục liên quan tới bất mãn ở số đông, sao Thiên Cơ lúc này không hay khi Cự Đồng gây rối loạn lớn, thường dễ lộ ở tính lợi ích nếu Thiên Cơ ngộ Triệt. Bố cục Cự Cơ Đồng với Thiên Cơ độc tọa và Cự Đồng đồng cư là cách cục mâu thuẫn lớn, là cách cục không hay. Trong trường hợp Cơ Đồng đi với Âm Lương hình thảnh nhóm sao Cơ Nguyệt Đồng Lương nhấn mạnh ở tính âm nhu, hiền lương. Thiên Cơ trong bố cục này được hưởng lợi ở phần tinh thần, cách cục này chứa nhiều may mắn và không gặp Cự Môn gây mâu thuẫn mà gặp bộ Âm Lương hiền lành khiến bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương có tính chất an phận, hưởng thụ cuộc sống, may mắn. Ở đây bản thân không cảm thấy bất mãn mà thường nhìn cuộc sống thoáng. Thay vì bản thân đang ở mức dưới rất nhiều người, ở mức trung lưu với Cự Cơ Đồng có tính vươn lên lớn thì cách Cơ Nguyệt Đồng Lương nhìn xuống phía dưới thấy bản thân mình còn may mắn hơn nhiều người. Ở đây xét về các mặt cơ bản là phần công danh và tinh thần thì được phần tinh thần an ổn, cuộc sống không gặp nhiều khó khăn ngay cả khi không dư dả, trong khi đi với Cự Môn dù được chữ Phú nhưng vẫn luôn tồn tại bất mãn khi nhìn lên và cố gắng lên tầng lớp cao hơn. Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương xét về mặt tinh thần nếu trường hợp đắc cách thường tin tưởng việc thiện ác, nhân quả nên ít làm việc táo bạo hay việc tàn phá vì lợi ích nên khí Sát không tạo tác lớn dẫn tới ít phải gặp những tai họa lớn. Chính bản thân cũng tự thấy không mắc lỗi lầm mà có phần rộng lượng như Tử Phủ. Tuy nhiên khi Cơ Nguyệt Đồng Lương xấu gặp phải Sát Kỵ trùng phùng lại là cách chịu tai họa, xấu nhất là vong mạng vì tai họa do chữ Sát do kẻ khác gây ra cho bản thân.



Thiên Cơ về gặp Sát Tinh một số sách luận là hạng trộm cắp vặt là sai lầm. Thực chất sao Thiên Cơ khi phá cách không hoàn toàn do Sát Tinh, thuộc dạng kém trí tuế, mưu kế nhìn thấy lợi nhỏ mà lấy ngay bỏ qua cái lợi lớn. Sao Thiên Cơ ý nghĩa cơ bản là lợi ích tuy nhiên giữa việc đắc cach và phá cách hoàn toàn khác nhau. Đặc biệt khi nhìn bên ngoài người viết đã nghiệm lý các lá số đắc cách và phá cách của sao Thiên Cơ hay bộ Không Kiếp đều có một đặc điểm chung. Với bộ Không Kiếp phá cách cái xấu là kẻ nhìn thấy lợi nhỏ mà làm việc không suy nghĩ, thuộc hạng trộm cắp vặt, bất tín đều thuộc cách này. Với Không Kiếp này cũng như Thiên Cơ ở đặc tính lợi ích nhỏ, ngoài ra còn nhiều tính chất có thể xác định mệnh đắc cách hay phá cách của Không Kiếp sẽ luận ở bài của cặp sao này. Với Thiên Cơ đắc cách khá khó tuy nhiên dụng được thì tính hoạch phát lớn vì ngôi sao này liên quan tới cơ hội của bản thân cần nắm bắt. Cách Cự Cơ Đồng là cơ hội do khám phá, cơ hội ra trong cái khó khăn, khi mà Cự Môn hay bất mãn trong khi cơ hội của cách Cơ Nguyệt Đồng Lương liên quan nhiều tới may mắn xuất hiện đột ngột không mang tính khám phá của bản thân như thời cơ của Cự C
Cơ Đồng. Sao Thiên Cơ rất cần Hóa Khoa để thành cách, Hóa Khoa khiến sao này có khả năng hóa Sát thành Quyền. Ở cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương có tính chất ổn định tránh gặp các sao Không Kiếp, Kỵ Hình cần thiết gặp Lộc Tướng Ấn, Đào Hồng, Cô Quả, các sao không mang tính hoạch phát hoạch phá thì Song Lộc là cách hay nhất vì hàm ý giữ được sự bền vững lâu dài, cũng mang hàm ý thịnh vượng vì vậy Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Cơ Nguyệt Đồng Lương ưa cách này, hai nhóm sao Cự Nhật và Sát Phá Tham tính động lớn không nên gặp, đặc biệt là tránh việc Cự Phá đồng cung Lộc Tồn. Sao Thiên Cơ nhị hợp Phá Quân nên tính động khá lớn. Cách cục Cơ Kình Hao hay Cơ Đà Hao đều hay hơn trường hợp Thiên Cơ đi với Lộc Tồn đồng độ, đặc biệt là Cự Cơ Mão Dậu lại thêm Lộc Tồn. Sao Phá Quân và Thiên Cơ lợi ích với nhau, cũng là cách dùng mưu kế để tư lợi khác với Tử Vi bằng lý tưởng. Vì vậy, Phá Quân thường hay bị cổ nhân đánh giá là xấu khi thời phong kiến Tử Vi tức là vua hành động theo ý trời, tức Thiên Tử. Tất nhiên là khi xảy ra xung đột tức Sát Phá Tham đi với Tử Vũ Liêm thì kẻ thắng lại là vua, lại là Thiên Tử, cứ thế luôn dời đổi không ngừng. Thiên Cơ cũng chính là thời cơ như vậy.




Friday, April 21, 2017

Cung Dần Thân và nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương



Cung Dần Thân và nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương


Nhóm sao Cơ Nguyệt Đồng Lương đầy đủ tại vị trí này hình thành các cách Đồng Lương, Cơ Âm cư tại đây. Khi đó cách Cự Nhật và Cơ Nguyệt Đồng Lương đều hoàn chỉnh ý nghĩa và ở tam hợp xung chiếu lẫn nhau. Cự Nhật cách mang ý nghĩa sự khám phá ra điều xấu trong cái tốt lành, mang thị phi cho cách cục yên bình do bất mãn. Mệnh có nhóm sao Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh hưởng thụ êm đềm, phúc hạnh luôn có Cự Nhật tức bên ngoài bất mãn. Cách này còn có ý nghĩa bên trong bản thân ta được hưởng sự yên bình hơn tất cả mọi người vì may mắn hay phúc đức vốn có. Cách Cơ Nguyệt Đồng Lương tại đây luôn có tính chất hưởng thụ nên sự phát triển do vượt qua khó khăn, mâu thuẫn cùng khả năng lãnh đạo bằng tài năng hô hào, phản đối của Cự Môn. Sao Cự Môn rất đa tài vì giỏi tìm ra sai lầm gây bất mãn và chủ thị phi nên bố cục này thường gây bất lợi cho cách Cơ Nguyệt Đồng Lương. Khi xét về Phúc Lộc Thọ thì nhóm sao này khi đầy đủ có tính chất hiển hiện. Chính sự ham muốn về quyền lực, tiền bạc, địa vị  hay hạnh phúc và bản tính của mỗi người ưa sự gánh vác trách nhiệm, ưa quản lý, ưa phá cũ xây dựng mới khiến các Chính Tinh đầy đủ với những đặc tính trên hoạt đồng. Với sao Thiên Đồng ưa các việc liên quan tới cộng đồng, thích giúp đỡ người khác. Với Thiên Lương ưa cho người khác của mình, che chở cho người khác. Bộ Đồng Lương cư Dần Thân mang ý nghĩa phối hợp giữa hai tính chất bổ sung cho nhau khiến mệnh tạo đầy đủ chữ Phúc và Ấm. Thực chất ở đây đầy đủ chữ Phúc Lộc Thọ vì bên trong của ta thêm hai sao Thiên Cơ và Thái Âm. Với cách Đồng Lương cho chữ Phúc và Thọ. Mệnh có cách cục này tại đây được luận là tối hỉ tức " Dần Thân tối hỉ Đồng Lương hội". Cách cục Đồng Lương dễ đoán vì nhiều câu phú bàn đến cái hay của cách này. Kế đến là cách cục Cơ Âm cư Dần Thân. Bộ Cơ Âm cư Dần Thân cũng đầy đủ bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương tuy nhiên thua xa cách Đồng Lương do khả năng chế hóa Sát Tinh của Cơ Âm không mạnh bằng Đồng Lương cũng như ý nghĩa của bộ Cơ Âm chỉ là thời cơ âm thầm, cũng mang ý nghĩa hiền lành, âm nhu cách. Thiên Cơ rất ưa gặp Kình Hao hay Đà Hao tuy nhiên bộ Kình Đà rất kỵ Thái Âm. Kế đến bộ Hỏa Linh đều kỵ gặp hai sao này. Bộ Không Kiếp mang lại tai họa cho toàn bộ cách Cơ Nguyệt Đồng Lương. Vì vậy cách này cần tránh Lục Sát Tinh cư tại bản cung Mệnh vì vậy khó có thể đắc cách mặc dù ý nghĩa ban đầu tốt đẹp. Đặc biệt với vị trí Thái Âm cư Thân tuy tốt nhưng không hoàn toàn sáng, khi cư Dần vào vị trí hãm tính chất bộc lộ khuyết điểm. Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương tại cung độ Dần Thân cũng là trường hợp khá hay nhất là cách Đồng Lương Dần Thân.