Tuesday, October 22, 2019

Một lá số Khoa Quyền Song Lộc hội



Nam mệnh khởi hành vận từ đại vận thứ nhất thuộc cung mệnh. Đại vận hành tức sự chuyển dịch theo từng giai đoạn qua các cung độ hình thành sự biến động và tư tưởng, tính chất bố cục của nhân mệnh. Thái Âm độc tọa cư Tuất ngộ Hỏa Hình Lộc Quả là cách chủ Tài vượng, do Thái Âm chủ âm tính, Tài tàng ẩn tính chất rất vượng, luận là ám lộc. Trong Chính Tinh hóa Lộc, Vũ Khúc đứng đầu thuộc tài tinh, thứ tới là Thái Âm và Cự Môn. Đại vận thứ nhất nhập mệnh cách, bản cung nhân mệnh có Hỏa Hình chủ tính nguyên tắc và dễ bộc trực trong tính cách. Đại vận này hình thành phương pháp, năng lực của bản thân, Thái Âm tác động hình thành tính cách. Trong tính chất của cách Âm Hỏa Hình, nội cách mang tính âm nhu, hòa hợp, tuy nhiên có tính phản kháng mạnh từ Hỏa Tinh, tức tính bộc phát. Thái Âm hội Khoa Quyền Lưỡng Lộc Đào Không, cách Binh Hình Tướng Ấn, giáp Khôi Việt chủ cơ trí hơn người, cách cục tuu gặp Thiên Không Không Vong phá Lộc Tồn vẫn là cách rất hay. Cơ Nguyệt Đồng Lương với Thái Âm đắc địa có Đào Hồng Cô Quả là điểm tốt, lại hội Khoa Quyền Lộc và Hình Ấn báo hiệu sự thành công lớn trong cuộc đời do chính tư chất của mệnh tạo tạo nên. Vận Thái Âm tại Mệnh cách, cuộc sống ôn hòa, phát triển bình ổn do Cơ Nguyệt Đồng Lương thành cách, tuy có những bất ngờ do cách Tồn Không tạo ra mang ý nghĩa kết quả không như ý định của mệnh cách, tuy nhiên đây là cách cục rất tốt đẹp với mệnh Thái Âm khi gặp Hỏa Hình Quyền Ấn cát hóa, chủ phát khởi khả năng tính toán, cơ mưu do cách cục tạo ra. Đại vận thứ hai từ 14 tới 23 nhập cung độ Thiên Phủ độc tọa cư Thân trong cách cục Phủ Tướng đơn thủ. Thiên Phủ có khả năng phán đoán, xét đoán các sự việc xảy ra và nhận định, suy xét không vội vàng, thường được luận "Giao long vãn uyên" cách. Thiên Phủ ngộ Tuần Khôi Bật Khúc Hổ Đại Phượng tại bản cung, hội Đà Khốc Phụ Xương đắc vòng Trường Sinh, cách cục thành cách Phủ Tướng hội Tả Hữu Xương Khúc Đà Khốc Hổ Phượng Sinh Vượng là cách cục rất tốt đẹp, Phủ Tướng thành cách, chủ phát triển tài năng, được ngưỡng mộ, đánh giá cao về năng lực của bản thân và giúp đỡ, tương trợ của kẻ khác tới nhân mệnh. 





Thiên Phủ tuy ngộ Tuần dễ do bao bọc thái quá dẫn tới mệnh cách Hỏa Hình Âm khó có thể phát huy năng lực của bản thân. Bố cục Âm Hình Quyền Ấn trong thế Lưỡng Lộc có tính tự lực lớn, do đó trong hành vận Phủ Tướng Tả Hữu được trợ giúp đắc lực của bên ngoài. Trong đại vận này nam mệnh đang gặp cách cục phát triển tốt do được sự tương trợ, giúp đỡ để năng lực, kiến thức phát triển mạnh. Đại vận Thiên Phủ tăng cường tính cẩn trọng khi suy tính của nhân mệnh Thái Âm, cách cục khá tốt đẹp, do đó phương hướng trong đại vận này sẽ có tác động tốt tới các hành vận sau. Thiên Phủ trong nhóm Phủ Tướng đơn thủ là cách cục bình hòa, được trợ lực bởi Tả Hữu Xương Khúc Tuế Phượng là cách cục Văn cách cường vượng, có tính chất ổn định tránh tai họa tới trong hành vận này. Đại vận thứ hai bổ trợ mạnh chế hóa Hỏa Hình Ấn hóa Văn cách, tăng tính chất mưu tính, kiên nhẫn của nam mệnh, cũng hình thành lập trường quan điểm của bản thân do Tuế Phượng hình thành. Đây là lập trường đúng hướng, do " Tuế Hổ Phù hội Khúc Xương, có tài hùng biện văn chương hơn người". Tại đây có Hổ Khốc mang tính bày tỏ ra bên ngoài, đại vận thứ hai là vận tốt đối với nam mệnh, gặp đủ trợ tinh cát hóa mệnh Thái Âm, cách cục khí hình cường vượng. Lá số Thái Âm khi tốt đẹp chủ mệnh tạo có khả năng suy tính sâu xa, âm trầm, tại cách cục rất tốt mang ý nghĩa môi trường gia đình và hoàn cảnh sống tốt. Tuy nhiên tại đại vận thứ hai tốt đẹp sẽ kết thúc cuối năm Kỷ Hợi, nam mệnh nhập đại vận mới tại Thân cung, cách cục VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Lương từ 24 tới 33. Đại vận tại Phối cung là vận rất phức tạp, khi nội cách là bố cục Cự Nhật Kỵ Kiếp Tuần Tuyệt, ngoại cách Đồng Lương Quyền Hồng Triệt xung có phần tốt hơn. Đại vận tới Phối cung, đồng cư cung an Thân là vận then chốt có tính chất khó khăn, xung đột trong chính nội cách. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc cách, khi hành vận lưu tới cách cục Cự Nhật Kỵ Kiếp tính chất hung họa lớn, chủ xung đột, cự cãi và phản đối trong nội bộ. 



Trong đại vận thứ ba, bản cung vận VCD, chịu tác động của tổ hợp chính tinh bên trong tam hợp, bên ngoài xung chiếu. Tại vị trí Thái Dương cư Thìn là vị trí sáng của sao này, ngộ Kiếp Thanh Mộc, thực tế cách cục Thanh Long ngộ Mộc Dục tại can Đinh được đánh giá tốt chủ nổi danh. Tại can Đinh, Cự Môn hóa thành Kỵ, lại hội Địa Kiếp thành cách Kỵ Kiếp. Cách cục này mang ý nghĩa không mấy tốt, kỵ gặp Cự Nhật thành cách cục Cự Kỵ có tính cản trở lớn, bất lợi cho cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Mệnh cách Hỏa Hình tới vận này ắt phát sinh cự cãi, phát sinh xung đột trong nội bộ, Kỵ Thanh hình thành, càng về sau của đại vận, tính chất xung đột, thị phi của Cự Kỵ cát hóa theo khuynh hướng tốt do Văn cách hình thành tại hành vận thứ hai, phối hợp cách Kỵ Thanh. Cách cục Tài cách cực vượng, đây là mệnh chủ phú, tuy nhiên gặp họa về Tài. Thái Âm kỵ gặp Hỏa Hình Không mang tới số không với Lộc Tồn, tức nhân mệnh ít nhất gặp một lần phá tán, phá sản. Đây là điểm quan trọng cần lưu ý khi Hỏa Tồn mang tính chất quyết tâm thực hiện những dự tính, tính toán từ trước. Mệnh cách hữu Sát hội tổ hợp này ắt hành vận Sát cách gặp thăng trầm lớn. Nhân mệnh cách có tư chất tốt, hữu Tam Kỳ tuy nhiên khó tránh khỏi bất trắc do Đào Tồn Không Hỏa tức bản thân tạo ra khi bên ngoài hiển lộ Thái Dương ngộ Kiếp tượng là người đàn ông mang họa, Kiếp xung gây bất lợi hơn so với việc nằm trong tổ hợp Mệnh. Cách cục tiền vận rất khó khăn, vào trung vận hợp hóa từ Tử Phá khai thông, ẩn chứa Sát cục nặng tuy nhiên là giai đoạn Tam Hóa khai phá Tài cách, cầu được tài hơn quan, trong hành vận Tử Phá là vận then chốt dẫn vận Thiên Cơ thành hoặc bại. Nếu dẫn hóa từ đại vận hiện tại theo khuynh hướng ổn trọng tức lấy cách cục cẩn trọng hướng tới tư tưởng, cách cục về sau có thể tránh được một lần bại, tuy nhiên hoạch phát sẽ không lớn. 





Đây là cách cục hay trong tử vi, phân định hai khuynh hướng rất rõ ràng, về sau sẽ có tài sản lớn, đại phú cách do tư tưởng táo bạo, tham vọng lớn, mạo hiểm thành tựu, cũng phá tán bởi lý do này khi lưu vận tới Quan Lộc. Nhân mệnh có tài năng, tinh đẩu hợp hóa hữu tình, Lộc có khố, lại hình thành cách Lưỡng Lộc có Đồng Lương Triệt Không là bạo phát cách khi nhập Sát vận. Trong tử vi phân định rõ về Sát cách có các khuynh hướng khác nhau, cũng như ngũ hành tương sinh, tương khắc, khi khuyết thiếu hoặc thừa vượng quá độ tượng Sát cục, cũng khi hình thành Sát cục được bổ cứu thì phát phúc phi thường. Trong bố cục này ẩn chứa tai họa do Kiếp Không Tồn Đào, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khó có thể dụng bố cục này trừ trường hợp Đồng Lương cư Dần Thân nhập Mệnh hội Không Kiếp tại bản cung. Thái Âm có Hỏa Hình có khuyết điểm khi nhân mệnh gặp thất bại, bế tắc lớn sẽ khó có thể xây dựng lại, điểm khuyết thiếu này do thế đứng của Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo. Bản cục ban đầu đã hình thành thế Lưỡng Vượng, cát hung tương bán, không thể mong cầu việc nhân mệnh cuộc đời bình ổn, Không Kiếp Hỏa Hình sẽ tác hóa ngay khi tư tưởng không thể chế dụng. Cách cục này buộc nhân mệnh tự nỗ lực để thành hoặc bại, còn ứng hiềm với chữ Vong. Điểm tốt là Tam Kỳ có Hình Ấn, cái họa mang lại do Đào Hồng Không Kiếp Tồn Hình Diêu tạo ra, Khoa Hồng tăng cường độ của cát hung, nếu phản cục ắt họa không nhỏ, có thể dẫn tới sát thân. Khi luận tử vi, định khả năng chế hóa Sát cũng tương tự như việc đảm nhận Tài Quan của tứ trụ, khi nhân mệnh ở thế cường vượng, có thể gánh được Tài Quan, khi ở thế suy nhược gặp Tài Quan mạnh ắt đổ vỡ. Tại đây điểm tốt là cả hai lưỡng vượng, tức hành vận sẽ quyết định rất lớn tới kết quả. Lá số ắt phát đại phú, tức giai đoạn thịnh vượng sẽ có tài sản rất lớn, tuy nhiên có thể giữ vững, tăng cường hay suy bại với Sát vận phải xét qua từng đại vận. Thái Âm khi cường vượng, trong đa phần các trường hợp có thể lấy Không Kiếp chế dụng, kể cả Không Kiếp Tồn Đào, tuy nhiên lại tối kỵ Hỏa Linh hội do Hỏa Tinh phá tính âm ám, thâm trầm, suy xét của Thái Âm gây nên rối loạn trong nội cách. Trong trường hợp nhập Mệnh cung mang ý nghĩa càng. 





Hình Hỏa Lưỡng Lộc là cách tranh đoạt Tài, cũng do tiền tài sẽ khiến nhân mệnh khổ cực theo đuổi, Quan cách hình thành không mấy hay, khi Quan tàng họa, dụng Quan Cách thăng tiến nhanh cũng hóa thành không, đường quan lợi nếu theo càng khiến nhân mệnh do tham vọng lớn dẫn tới các quyết định sai lầm, đặc biệt khi theo quan lộ, chính trị làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Nhân mệnh thường có những tư tưởng, khuynh hướng khác biệt, trong nội tâm cũng rất nhanh nhạy trước các biến động của xã hội, biến động của thời vận. Thiên Cơ trong cách Cự Cơ Tí Ngọ nếu không gặp Đào Không sẽ mang ý nghĩa hay, tuy nhiên khi nhìn từ mệnh, cách Cơ Không Kiếp mang ý nghĩa chủ không lường trước được các biến động, do tính chủ quan của bản thân dẫn tới tai họa, lưu ý trong hai đại vận Tử Phá và Thiên Cơ. Trong hành vận then chốt, nên hóa khí khai tạo, khai phá của Phá Quân thành tính chất nghiên cứu học thuật, có thể bảo hộ Tài cách, tức khai phá tri kiến ứng hợp tránh một phần phá tán về tài sản. Phàm là nhân mệnh, đều có thể lấy tu tâm để tránh họa kiếp. Tuy nhiên tiền nhân cũng luận bản tính khó dời, tức về nhân tính chịu tác động của Âm Dương Ngũ Hành từ khi thai sinh, dẫn tới luận định về độ số, vận mệnh, tư tưởng là nhân chiêu cảm ứng bên ngoài hợp thành quả. Cách cục Âm Hỏa Hình Không Kiếp Tồn Lộc tạo bởi Hình Hỏa Kiếp trong cách Cơ Lương tượng là hỏa tai, ứng hợp bên ngoài là lửa lớn, bên trong nội tư tưởng là bộc trực, khó kiềm chế dẫn tới tai họa. Cũng như ngũ quan, khi khuyết thiếu nhãn quan tức mắt nhìn thì khó có thể xác định vạn vật chính xác, trong nội tướng là tầm nhìn, tư tưởng khi thiếu tầm nhìn sẽ dẫn tới những hành động chiêu cảm họa nạn. Do vậy Âm Dương tượng là nghe nhìn, hay Cơ Nguyệt Đồng Lương tức nhóm sao cơ hội, thời cơ rất kỵ gặp Hỏa Linh, khó có thể nhận định khách quan vấn đề dẫn tới sai lầm. Hỏa Tinh nhập Mệnh có Hình Ấn cũng mang phần ý nghĩa tốt, do Hình ngộ Khoa chung thân vô tai, tức Hóa Khoa là hóa khí mang ý nghĩa điều hậu, cũng như việc nghiên cứu tri kiến, tri thức, học vấn khiến nhân mệnh tránh được nhiều tai họa. Nếu mệnh cách có Xương Khúc hay Khoa thủ mệnh đã là một điểm hơn người, hoặc Khôi Việt không gặp phá cách mang ý nghĩa hiểu thấu sự việc từ nhỏ tới lớn, Tả Hữu là được lời khuyên, trợ giúp của kẻ khác tới bản thân. 





Tại đây không có Xương Khúc, Tả Hữu, được Khôi Việt giáp và Hóa Khoa cũng là một điểm may mắn. Một số người nghiên cứu tử vi luận Hóa Khoa mang ý nghĩa tăng thêm họa nạn khi cách cục phá cách, hội Sát Kỵ nặng nề là đúng, khi Hóa Khoa chủ điều hậu cách cục, thường được luận đệ nhất giải thần, tượng ngũ hành khuyết thiếu được bổ cứu, phá cách sẽ tạo tai họa lớn. Cũng như Âm, Dương quý nhân tức Khôi Việt phá cách tăng thêm họa như Việt Linh Hình, Khôi Hình. Với Hóa Khoa là hóa khí của Chính Tinh và bốn phụ tinh chịu tác động của Không Kiếp biến đổi bản chất của Chính Tinh hay các phụ tinh khiến nguyên cục phá vỡ. Chữ Khoa tại đây được Đồng Lương có Triệt Hồng tại Dần cung hội là điểm tốt, do Đồng Lương, Triệt và Khoa tăng cường tính chất ổn định bố cục. Trong bản thân đương số đã có tư tưởng đề phòng trước những nguy cơ do Cơ Không Kiếp tạo ra, tránh được phần rất lớn các tai họa. Thái Âm cư Tuất, đối cung là Thái Dương cư Thìn nhập La Võng, đây là cách Nhật Nguyệt xung chiếu, nội cách hình thành cách cục phức tạp, cứu giải bởi Đồng Lương Triệt hội Hình Ấn. Cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách, không mang ý nghĩa bản nguyên của tổ hợp, biến hóa mang tính chất động lớn, tàng ẩn cách cục có tính biến hóa theo vận mạnh. Nhìn chung nhân mệnh không phải mệnh thường, khi hoạch phát như lôi, khi suy bại ắt gặp một số không lớn. May mắn là Thái Âm thủ mệnh, nếu tại đây là vị trí của Thiên Lương hoặc Thiên Cơ khó có thể tránh được tai kiếp do cách cục tạo ra. Âm Hình Kiếp bản thân tự hình, tức có nguyên tắc, tự tạo áp lực tới chính tự thân, có Hỏa Tinh tại đây là điểm xấu, cần lưu ý. Nhân mệnh dụng Tài cách, bố cục cực vượng, Quan cách suy yếu khó có thể dụng. Cách cục về tiền vận phát triển khá tốt.

0 comments: