Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Phủ. Show all posts
Showing posts with label Tinh Hệ Thiên Phủ. Show all posts

Wednesday, February 28, 2018

Luận đại vận cách cục Tử Phủ Triệt Tuyệt



Cách cục Tử Phủ Triệt Tuyệt nhập mệnh cũng chính là đại vận đầu tiên hình thành tính cách, mang ý nghĩa quan trọng làm gốc của vận số. Lá số tử vi luận nếu không ứng hợp bên ngoài tức thông tin bên ngoài thì chỉ xét được cát hung thăng trầm cơ bản, nếu luận sâu bố cục sẽ gặp sai lầm như man thư luận mệnh thượng cách hay mệnh yểu kết quả tự bịa ra chuyện lý thuyết phản vi kỳ cách mà gọt chân cho vừa giày. Lá số tử vi là động, vậy khi luận mệnh ở thế tĩnh ra được tổng quan cuộc đời phú quý thọ yểu thì đến cơ bản cũng không rõ. Nam mệnh Mộc nhập cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm phù hợp. Tuy nhiên cách cục này mang ý nghĩa hoàn toàn bất lợi về Quan Cách. Mệnh cách Tử Phủ ngộ Triệt là cách không hoàn thành nhiệm vụ, không thể gánh vác trách nhiệm khi được giao trọng trách. Thực chất bố cục này tác động mạnh khi mệnh cách có khuynh hướng đứng đầu, lãnh đạo một tổ chức. Tử Phủ ở đây được một điểm tốt với việc giao hội Thanh Phi Phục bất kiến Sát Kỵ Hình mạnh nên cách cục được bình ổn. Nam mệnh có cách cục này cũng dễ lộ bí mật, những việc trọng mật cần giữ kín. Đại vận Tử Phủ Triệt lại nhập Tuyệt khiến khuynh hướng tham vọng, định hướng và chính sự cống hiến cho lý tưởng không được định hình. Ở đây nằm tại cung Mệnh tức trong nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm gặp vấn đề về chính đường lối, tham muốn, hành động và quản lý, bảo mật của bản thân. Và cách cục này rất bất lợi khi theo Quan Cách. May mắn nhóm Vũ Phủ Lộc có Thanh Long không bị phá cách, chủ tài cách có điểm tựa, tức gốc Thiên Phủ ngộ Triệt khí suy nhưng gặp nhóm Thanh Phi Phục chủ tiếng nói có tác động giữ lại, cái kho được giữ lại. Cách cục Phủ Thanh như việc tài khố ta để bên ngoài đường, nhưng ta lên tiếng giữ lại nên không gặp việc mất mát. Ý nghĩa chính của Phủ Thanh chính là khẩu ngộ để Thiên Phủ đắc cách với Không Vong. Vũ Phủ Thanh nhập Tài Cách với Vũ Lộc Thanh cư Tài cung chính là cách Tài cư Tài vị. 




Với bố cục này mệnh cách nếu khuynh hướng ban đầu khí hình gốc vượng sẽ lấy lợi ích làm trọng, ở đại vận đầu tiên này hình thành cách cục ý nghĩa tính cách ưa việc linh hoạt, tạo ra lợi ích cho bản thân. Nếu nam mệnh đại vận đầu tiên tại cung Mệnh theo Quan Cách bố cục gặp Tuyệt cách, khó khăn trong nội tâm, ưa việc suy nghĩ trống rỗng, tính cách thực dụng của Tài Cách không phát huy thì các đại vận sau ắt sẽ theo Quan Cách dẫn tới bất hợp cách sau này. Với Tài Cách bố cục Vũ Phủ Thanh Lộc là cách cục nhạy bén, linh hoạt và nắm bắt với lợi ích, chủ nhìn rõ và đặt tham muốn với tiền bạc. Chữ Khôi tại Mệnh ngộ Triệt và Việt tại cung an Thân với cách Liêm Tướng. Ở đây cung Mệnh Thân được bộ Khôi Việt thì có khả năng hơn người. Đặc biệt cách cục Vũ Khúc ngộ Lộc Khôi Việt tăng giá trị cho Tài Cách. Lá số mệnh cách Tử Phủ ngộ Triệt tại vị trí Tuyệt là phá cách nhưng với khuynh hướng Tài Cách khá tốt đẹp, do đó nam mệnh khi theo Tài cách dễ gặp được hoạch phát. Mệnh cách nhập đại vận đầu tiên có tính chất dễ bỏ dở giữa chừng khi thực hiện công việc. Đại vận thứ hai vận hành nhập cung độ Thiên Cơ mang ý nghĩa tốt hơn. Vận thứ hai chủ bản thân hình thành tham muốn, định hướng cho cuộc đời. May mắn ở cách cục Đồng Cự Cơ không gặp Triệt tại bản cung. Thiên Cơ ngộ Kình Tang tức nhóm Kình Hao giao hội Tang Hư Mã là bố cục chống đỡ khó khăn, trong gia đình cũng gặp vấn đề. Với Thiên Cơ ưa gặp Kình Tang chủ thay đổi để thích hợp, Thiên Cơ có tính nhanh nhạy, chủ suy tính. Ở đây nếu Tài Cách là khuynh hướng ban đầu thì nam mệnh đã hình thành các phẩm chất nhạy bén với lợi ích, khả năng ứng biến với khó khăn. 




Nếu nam mệnh theo khuynh hướng Quan Cách tức ưa cống hiến và gánh vác trách nhiệm cũng trở nên tốt hơn với bố cục này. Cách cục Đồng Cự Cơ không gặp Sát Kỵ trùng phùng nên đại vận này có khó khăn cần tranh đoạt hay suy tính thực chất là vận tốt với Tài Cách. Bố cục này dễ tạo ra cách cục chia rẽ, cạnh tranh lẫn nhau. Qua đại vận Thiên Cơ sang vận Phá Quân độc tọa cư Ngọ. Đại vận này nam mệnh đang trải qua có thể dụng trợ cách chế hóa Sát cách. Người viết luận cách cục các đại vận sau sâu hơn với vận đã trải qua. Nam mệnh Tử Phủ Khôi Triệt là đứng đầu, nhập vận Phá Quân cư Ngọ tính chất khuynh hướng lãnh đạo trở nên rất mạnh. Đương số ưa việc khai sáng, chủ đề ra các quan điểm định hướng. Tuy nhiên ở đây khó thành. Phá Quân cư Ngọ trong cách cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh với bản cung cách Phá ngộ Tồn Kỵ Đào giao hội Tham Quyền Hồng Tuần. Bố cục này Tham Lang bố cục tham muốn lớn. Tuy nhiên Phá Quân gặp cách Lộc phùng Phá tàng hung, lại cách Kỵ Tồn chủ sự cản trở. Phá Quân ưa thay đổi phá bỏ xấu để phát triển tuy nhiên tính cản trở rất mạnh. Bản thân chủ động thay đổi nhưng Tồn Kỵ mang ý nghĩa gìn giữ khư khư. Trong cách cục này nội tâm rất mâu thuẫn. Trong cách cục này vấn đề tình cảm với cách cục Đào Kỵ Phá cần cẩn trọng hơn với các mối quan hệ nam nữ, dễ gây ảnh hưởng tới tâm trí ứng hợp với công việc. Với Phá Quân cư Ngọ, gặp bố cục mâu thuẫn này bất lợi cho việc định hướng về trách nhiệm hay nhiệm vụ của bản thân tới cuộc đời. Bản thân cũng là cách tự cố thay đổi để  phá bỏ bất mãn tồn tại do cách Tồn Phá Kỵ. Bố cục này có một điểm đặc biệt để chế hóa Sát. 



Với cách cục Phá Quân ưa khám phá, thay đổi, phá bỏ điều tồn tại. Tuy nhiên ở đây cũng chính là Văn cách. Phá Kỵ Tồn rất hay gặp ở các mệnh cách ưa nghiên cứu khoa học, hay công trình, học thuật và mâu thuẫn càng lớn như bố cục Cự Tồn Kỵ của Ngô Bảo Châu thì tính chất hiểu biết sâu vấn đề càng lớn. Với bố cục ứng hợp phát tài cách. Trong đại vận này nam mệnh biến khuynh hướng phá bỏ, tâm trạng mâu thuẫn trong nội tâm thành cách cục nghiên cứu, khám phá về lĩnh vực liên quan tới tài chính, về học thuật tới lợi ích tiền bạc, chủ nghiên cứu sâu với tài cách là ứng hợp với Sát Kỵ cách này. Trong trường hợp này tức dụng Văn Cách với Tài Cách, lấy Tài Cách làm trọng và Văn Cách bổ khuyết chế hóa Sát cách. Khi tìm hiểu sâu vấn đề bản thân thường gặp bế tắc và nghiên cứu phá bỏ và kiến thức trở nên sâu rộng hơn. Với Văn Cách trong tử vi ứng hợp rất mạnh với một số bố cục của Không Kiếp và Tồn Kỵ trở nên hoạch phát. Ý nghĩa cơ bản với cách cục này do hóa khí Sát thành ổn định và tính bất ngờ như việc mang ý nghĩa ngộ ra một việc, hay như việc nghiên cứu một bài toán bất ngờ ra kết quả khác lạ. Ở đây người viết nhấn mạnh ở việc nghiên cứu, khám phá sâu trong chuyên môn. Dụng văn cách với bố cục này không khó khăn do bản chất văn cách là ổn định, hóa Sát cách thành sự ổn định. Cũng như việc quan văn thì không hành động trực tiếp như quan võ. Ở văn cách là lý thuyết, học thuật. Ở võ cách là thực hiện, hành động. Với bối cảnh Phá Quân ứng hợp cách như vậy thì Văn Cách với khuynh hướng Tài Cách là hợp bố vục phối hợp. 




Trợ cách khi luận mang tính ngắn gọn và có phần dễ thực hiện nhưng thực chất là sự nghiệm lý và kinh sách truyền đời qua rất nhiều thực lý rõ được từng tính chất giao hội của các bố cục. Lá số tử vi luận mệnh không khó khăn do mang tính chất tĩnh bất động, nhưng thực lá số tử vi luôn chuyển động biến đổi, do đó luận cách cục vận hành của cuộc đời khó khăn hơn việc người mới luận hay không rõ luận hướng tới chỉ luận mệnh cách để định lá số mệnh quý tiện.  Mệnh Tử Vi tới vận Phá Quân ngộ Tồn Kỵ là trách nhiệm phá vỡ những sai lầm,  những điều mất định hướng trong nội tâm chưa thực hiện được, bố cục này tạo nên tham vọng lớn nhưng không tìm được hướng đi. Phá Quân ở đây nên theo khuynh hướng như vậy, các kiến thức trong sách vở nên được nghiên cứu để tạo định hướng cho Phá tại vận. Ý nghĩa cách cục bản tính là Tử Phủ tức gây dựng, trách nhiệm và đứng đầu, Phá Quân chỉ là sự biến hóa khiến ý nghĩa gốc biến thành sự phá bỏ những khó khăn. Phá Quân ở đây phúc họa đều do bản thân tạo ra, do hữu cách Đào Kỵ. Nhìn chung đại vận này không phải là vận tốt đẹp vì khó thay đổi, nếu gặp tiểu vận tốt thì tính tham vọng tăng cường, do đó có thể đạt được thành tựu lớn hơn. Tuy nhiên nếu ứng trợ cách thì đây là giai đoạn khó khăn đưa tới kiến thức, kinh nghiệm để biến chuyển các vận sau. Lưu ý vận này đa phần nam mệnh sẽ tạo ra tai họa, khó khăn bế tắc xoay quanh. Ở ngay tình cảm và sự nghiệp. Nên tích lũy kinh nghiệm và tham muốn rõ nghiên cứu tránh tạo tác quá lớn ở vận này. Thời cơ chưa tới, nếu cố gắng thì có thể vượt qua với sức bạo phát lớn nhưng thực chất rất khó khăn với bố cục này. 



Sát cách vượng, mệnh cách khí hình cần tương ứng, sức nỗ lực và thay đổi kịp thời cần có để biến hóa phù hợp. Tuy nhiên bố cục này không gặp cách thay đổi, chống đỡ khó khăn. Đại vận này cũng dễ xuất hiện bố cục xuất ngoại, nếu có khuynh hướng hợp văn cách nghiên cứu định hướng sang quốc gia khác thì hợp cách. Về bệnh tật cần lưu ý tới bệnh máu huyết, cách cục này dễ gặp bệnh mãn tính xuất hiện trong đại vận này. Năm nay bố cục khá ổn định, tuy nhiên với năm Kỷ Hợi bản cung đại vận Lưỡng Kỵ trùng hội với tiểu vận Thiên Lương ngộ Hỏa Kiếp Hổ Khốc có Khoa là cách cục phức tạp, mang ý nghĩa khó khăn hơn để phá bỏ, thay đổi. Trong vận năm sau tránh tạo tác sẽ tạo ra bế tắc cho bản thân. Với năm Canh Tí tức năm 2020 nhập cách cục Thất Sát trong bố cục Sát Ấn giao hội Phá Tồn Kỵ trong năm này có cơ hội xuất ngoại, cần nắm lấy trợ cách theo văn cách thì được thành tựu khởi đầu vận sau. Nhập vận Thái Dương cư Tị từ 34 tới 43 với bố cục Âm Dương Lương với cách Dương cư Tị tại bản cung Nhật vượng, tính chất dương tính hiển hiện. Bố cục này bản cung ngộ Đà Hình Phượng Tuế nhập vòng Trường Sinh, giao hội Hổ Khốc Kiếp Hỏa có Khoa. Cách cục này Sát cách đắc vận do hữu tình. Ở cách Thái Dương bản cung hữu tính chất dương tính, công khai. Bản cung cách Đà Phượng có Hình Hổ Khốc Khoa giao hội Kiếp Hỏa tính chất hoạch phát lớn. Tuế Phượng có Đà La hợp cách trong bối cảnh Âm Dương Lương. Vận này về tình cảm mang ý nghĩa xung đột, là cách cục xấu chủ hình khắc nhưng cách cục sự nghiệp rất tốt. Nam mệnh Tử Phủ tới vận Thái Dương chủ phát danh, tuy nhiên bố cục này nên theo khuynh hướng Tài Cách, chủ tạo dựng, gây dựng sự nghiệp với lợi ích đặt lên trên lý tưởng. 



Gốc đại vận này khó thành cách ứng hợp Sát cách, do đó khí hình vận phải vượng thì có thể đảm nhiệm cách cục không phá cách.  Nếu chịu bị động tức ứng hợp Sát cách tác họa là cách tai họa lớn. Do Thiên Lương hữu Hỏa Kiếp có tính chất tai họa bất ngờ, mang tính chất bộc lộ. Việc Sát Kỵ giao hội lớn là con dao hai lưỡi.  Lưu ý, đại vận này cần đặt tham vọng lớn và cẩn trọng với Thiên Lương tức ở hỏa tai. Hóa khí của Hỏa Khoa Kiếp trong sự nghiệp là cách hỏa vượng, chủ danh tiếng rộng. Nam mệnh nên tập trung tư tưởng cho sự nghiệp đại vận này, nếu cách cục mất định hướng bởi bản tính Tử Phủ Triệt ứng hợp thì có thể nguy hiểm tới bản thân. Do nhập vòng Trường Sinh nên tính chất cát hóa lớn, có thể dụng được Hỏa Kiếp Đà Hình Hổ Khốc là cách táo bạo và liều lĩnh khi đi với Thái Dương. Nếu không đắc vòng Trường Sinh họa nhiều hơn phúc, cũng khó nỗ lực có thành tựu lớn. Trong cách cục cũng tồn tại cách cục Hỏa Hình Kiếp khi xấu là tai họa tới đầu óc, căng thẳng thần kinh, áp lực. Sự cẩn trọng là rất cần thiết và quan trọng của đại vận này. Khi nhập vận Thái Dương nam mệnh có khuynh hướng táo bạo, mạnh dạn khởi tạo, kinh thương nhưng rõ cách cục không hoàn toàn thuận lợi, đặc biệt khi Âm Lương chủ bất ngờ mang tính tai họa thì cẩn trọng nắm thời cơ ứng hợp hóa Sát thành Quyền cách. Nếu vận này không gặp Địa Kiếp là cách cục tốt, nam mệnh ắt được phát tài danh do may mắn thay đổi và mạnh bạo cương quyết. Tuy nhiên khi có Không Kiếp tức cặp đại sát tinh trong tử vi ở tính bất thường, không ngờ nhưng cũng mang tới thay đổi khí hình cực vượng thì khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Thiên Tướng hay Phá Quân tại đây là cách hoạch phát công danh, Thái Dương có thể dụng một phần, nhưng Hỏa Hình tác họa khiến cách cục ở thế lưỡng Sát tranh đoạt. 





Đại vận này không có dấu hiệu của Tuyệt mệnh, do nhập vận Trường Sinh với Sát cách hữu tình. Nam mệnh nếu thất bại cũng không lâm đường cùng. Do tính chất táo bạo khó có thể thay đổi bởi phối hợp cách cục quyết định nên người viết vẫn nhắc nhở rất cẩn trọng trước quyết định ở đại vận này, đây là đại vận Sát cách cực vượng, lực chế hóa không hoàn toàn, bản thân mệnh cách Tử Phủ Triệt Tuyệt cần tự lực rất lớn, thành tựu trong khó khăn, bất ngờ. Lá số vận hành theo tài vận tốt đẹp. Qua vận Thái Dương nhập vận Vũ Khúc độc tọa cư Thìn từ 44 tới 53 bản cung cách Vũ Thanh Lộc Quả, giao hội Khôi Việt Linh. Đại vận Vũ Khúc đối cung Tham Lang ngộ Quyền Hồng Tuần, cách cục này mang ý nghĩa thời vận tốt, chủ sự linh hoạt. Vận này biến động không gặp bất ngờ như vận Thái Dương. Cung an Thân trợ lực mạnh trong đại vận. Cách cục Liêm Tướng ngộ Việt Lộc với vận Vũ Khúc là mối quan hệ, trong đại vận này tài cách tạo ra nhờ khả năng của Vũ Khúc và mối quan hệ. Mệnh Thân Vận ứng hợp Tài Cách. Do đó nam mệnh đắc cách Vũ Phủ Lộc Quả ngộ Khôi Việt chủ tiền bạc phát sinh tới to lớn là phú cách. Đại vận Vũ Khúc cũng phát danh, nhìn chung đây là vận khá ổn định không tăng vượng khí hình vận nhưng có thể tích lũy và gây dựng được tài sản lớn không gặp khó khăn cản trở. Nam mệnh Tử Phủ Triệt Tuyệt với khuynh hướng Quan Cách thì cuộc đời cũng có chữ danh do các đại vận biến đổi chủ danh nhưng là cách cục thăng trầm hư danh. Với khuynh hướng Văn Cách hay Tài Cách thì khuynh hướng Tài Cách bất ổn định, tính động lớn và vượt qua nhiều khó khăn. Tuy nhiên với khuynh hướng Tài Cách thì hoàn thành được lý tưởng cống hiến của Tử Phủ, không gặp cách cục đứt gánh giữa đường của Tử Vi. Với Tài cách nam mệnh hướng tiến thân và sự nghiệp tốt hơn với Văn cách. Đại vận Vũ Khúc nếu có cơ hội hay tham muốn kinh thương mở rộng thực hiện sẽ không gặp khó khăn cản trở như hai vận trước. Chủ do tính linh hoạt và nhạy bén của Vũ Khúc và linh tính lường trước kết quả tức cách Thanh Long ngộ Linh Tinh có Cô Quả. Vũ Lộc có Việt là phát sinh tài sản, tức phát tài cách. 

Sunday, January 7, 2018

Luận vận cách nam mệnh Liêm Phủ


Đại vận đầu tiên luôn nhập tại cung Mệnh. Đây là đại vận đánh dấu bước đầu của vòng vận hành chuyển động lá số. Những tư tưởng cá tính đầu hình thành tại đây và phát triển liên tục qua các đại vận cho tới khi tuyệt khí. Khi chồng chất các thói quen trưởng thành cung an THÂN sẽ càng mạnh tức ý thức bắt đầu kết hợp với bản chất hay tư chất của mệnh cách. Ở đại vận thứ nhất bắt đầu xuất hiện Mệnh Thân đồng tác động tuy nhiên tính chất chưa biểu hiện rõ ràng. Lý của tiền nhân khi luận cung an THÂN tác động từ 30 có phần nhỏ khiên cưỡng tuy nhiên nếu xét tại mức độ trưởng thành chịu phối hợp mệnh của Mệnh Thân thì không sai. Đại vận đầu tiên mệnh cách nhập Liêm Phủ cách cư Thìn có Phượng Khách Quả theo Địa Chi và Ấn theo Thiên Can. Đại vận đầu tiên đánh dấu sự ghi nhớ, lưu giữ khả năng, năng lực ngay của mệnh cách. Đây là một trong các lý do chính mà nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh ưa gặp Lộc Ấn Bệnh do các tính chất, lý tưởng định hướng được ổn định và để lại lưu giữ để hành vận tác hóa. Khuyết điểm bộc lộ tại đây là bố cục không có Sát Kỵ và khí hình mệnh cách bất vượng, không thể dung nạp bố cục tốt này mà hóa thành ổn định. Như một kẻ dân thường tự được ngồi trên ghế quan không thể thực hiện công việc.



Bố cục này với gốc ban đầu của mệnh cách không dụng được Phủ Tướng là kế tục, Phủ Tướng Ấn là thừa hưởng cách nhưng tổ tiên truyền lại tước vị hay lộc khố bất vượng. Quan trọng bố cục này thuộc Tử Vi cư Tí là tinh hệ tốt đẹp tuy nhiên không thể so sánh với Tử Vi cư Ngọ và quan trọng là các đại vận chuyển động gặp nhiều khó khăn cho tới đại vận Vũ Tướng. Lưu ý với mệnh cách Liêm Phủ và cung an Thân là Tử Vi đứng đầu và quan tròn nhất là lý tưởng, cũng là cách cục sử dụng tình cảm, tính chất tương trợ mà tạo nên thành tựu. Mệnh cách không có Sát Kỵ điểm hóa thì khả năng thu quần chúng không lớn, đặc điểm của Sát Kỵ là tính chất Quyền và khả năng hoạch phát khi khí hình ở mức độ thấp. Với mệnh Liêm Phủ cần thiết gặp Hỏa Linh hay Hình Việt hay Kỵ để cát hóa mệnh cách. Đại vận cung Mệnh mang lại tư chất, khả năng cho mệnh cách. Một điểm không hay là sao Tử Vi rất kỵ Không Vong và Thiên Hư, trong đó ngộ Thiên Hư phá cách hơn gặp Triệt. Tử Vi là lý tưởng, là sao chủ đứng đầu luôn đối đầu với Cự Phá. Khi Tử Vi ngộ Thiên Hư trong lúc đủ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thì Sát Phá Tham ngộ Thái Tuế. Mệnh cách Tử Hư là lý tưởng hão huyền, chủ tính chất định hướng bị mất phần lớn, tức nôm na từ vua quyền thật ta gặp vua hư quyền, lại có Ấn Quyền tức chỉ mang tính biểu tượng.



Như một số quốc gia hiện nay thì ta thường gặp chế độ quân chủ có tính hình tượng như Nhật hoàng, từ giả thành thật có thể được hay không là do bản thân có thể tăng mức độ khí hình biến hóa bố cục. Và nếu xét trên lá số cần thiết nắm trợ cách và các đại vận Sát Kỵ chính là đại vận khó khăn trùng trùng nhưng là nơi để hoạch phát. Một cung an Thân này là Thân gốc, phối hợp với Mệnh thành cái rễ ban đầu. Tiếp tục là khuynh hướng lựa chọn của đương số sẽ khiến các cách cục bắt đầu thực hiện ghép ứng với hoàn cảnh bên ngoài tạo ra tính chất. Nhìn Phụ Mẫu sẽ ra bố cục của Âm Dương Lương. Ở đây cách cục Âm Dương Lương trong toàn cục lạc hãm, không đắc lực, do đó các mối quan hệ xã hội sẽ gặp hạn chế. Mệnh cách thay đổi từ Quan Cách sang Tài Cách là hợp cách, do đó cách cục Tử Hư được chế hóa mang ý nghĩa khác, tức ở đây là bố cục Tử Vi ngộ Tang Hư Mã Khách, lấy Mã là gốc thì tốt, tính linh hoạt của Mã rất cần để xác định khả năng của Liêm Phủ. Ở đây bố cục mạnh là Lộc Mã giao trì có Phượng Khốc là Mã Khốc Khách Lộc có thể biến hóa cách cục để mệnh cách theo Quan Cách, tuy nhiên người viết đánh giá theo Tài Cách lấy Tử Vi làm lý tưởng thì tốt hơn, tránh được bố cục Tử Hư mang ý nghĩa thiếu tính thực quyền, trong khi Tài Cách dụng bố cục Vũ Phủ Lộc Mã Phượng giao huy, Liêm Phủ ở đây tính chất ổn định và linh hoạt với Tang Lộc là kho tiền.



Ý nghĩa tượng cách này rõ nét tài cách. Đại vận thứ hai, cung độ đại vận thứ hai nhập cung độ Thái Âm cư Tị. Bản cung có cách cục Âm Khoa Hỏa Đại nhập cung độ Trường Sinh, tam hợp chiếu gặp Kình Lộc Hồng Quang Quý. Đại vận thứ hai này Thái Âm nhập hãm tạo ra khó khăn và tinh thần, tuy nhiên tính phấn đấu, nỗ lực không kém. Dương Lương có Kình Lộc Hỏa Khoa thì tranh giành tốt, thường được hưởng lợi sớm, cũng sớm có được tài năng mọi người biết đến. Đại vận này hay vì tạo ra môi trường để Liêm Phủ tác hóa. Ở đây Hỏa Kình cũng không quá khắc kỵ với Liêm Phủ. Sao Thiên Phủ là sao chủ sự ổn trọng, khả năng cẩn trọng tốt, tuy nhiên Liêm Trinh tới đây thường lại kém suy xét mà ưa làm việc dựa vào nhiệt huyết, với sự bốc đồng của tuổi thiếu niên ở đại vận thứ hai thì Khoa Sinh cát hóa cách cục này khiến mệnh tạo chịu khổ về tinh thần nhưng sự quyết tâm tốt. Đại vận này thuộc Âm Dương Lương không đắc vị lại có Kình Hỏa thì chuyện tình cảm cả tình cảm gia đình và nam nữ rất khó tốt đẹp. Cách cục Âm Lương có Sinh trong cái họa tìm được cái may mắn. Thái Âm có Kình chủ sự phản kháng bên trong, là sự chống đối ngầm, do đó nội tâm gặp mâu thuẫn, khó có thể tạo định hướng tốt cho cách cục.



Ở đây sự hiểu biết được tăng cường, nếu Liêm Phủ theo tài cách thì ứng hợp cách Âm Lộc ngộ Trường Sinh khá tốt, đặc biệt có Hỏa dễ phát tài theo khuynh hướng chuyển động, tức nắm thời cơ may mắn, chù sự thay đổi do cách cục Âm Hỏa Lộc giao hội Kình Hao, đặc biệt là Kình Đại. Đại vận này sự thay đổi là quan trọng để định hướng cách cục, nếu Liêm Phủ hình thành cách cục tranh giành, ham muốn được bằng kẻ khác, đặc biệt ở đây mức độ của mong muốn thúc đẩy lực cát hóa của Kình Đại. Ở đại vận này sức khỏe không tốt đẹp, lại dễ gặp cách nhân ly tài tán, khắc kỵ với gia đình ảnh hưởng lớn tới cách cục tình cảm của Liêm Phủ. Do đã qua đại vận nên các cách cục đã thuộc quá khứ, một cách cục mâu thuẫn tình cảm, sự nóng nảy và bộc phát ảnh hưởng tới toàn diện bố cục mệnh tạo. Đại vận này là những sai lầm, hóa Khoa đã cứu giải cách cục tình cảm rất lớn, Thái Âm hóa thành Khoa sự âm thầm, im lặng có phần tốt hơn là chủ động, tranh cãi. Và cũng chính Thái Âm này, nơi cực hãm ngộ Kình Hỏa lại nhập Trường Sinh khiến năng lượng rất lớn, nếu trong quá khứ đã tạo những tai kiếp với con gái thì chắc chắn sẽ gặp phải tai họa sau này. Thái Âm ở trên lá số mọi vị trí đều ứng với tác động mệnh tạo.  Cách cục Âm Kình có Hỏa Sinh này khó chế hóa, do nơi phản cục nhập tại Tị cung rất tối, hỏa vượng thêm Hỏa Tinh khiến tính chất biến đổi mạnh, đặc biệt khi nhập đại vận tại bố cục Âm Dương Lương là trả nợ, ân tình hay oan khốc là Quang Quý.



Ở đại vận tiếp theo, nhập cung độ Tham Lang cư Ngọ ngộ Xương Tuế Triệt có Thất Sát có Lưỡng Long. Tham Lang là sao mạnh nhất của tham muốn. Nhập cung vận tới Tham Lang chủ sự tác động của các tham muốn, Tham Lang khi trong bố cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh thì tính chất tác động mang ý niệm của tham vọng, cũng bố cục này không có cách cục tình cảm, hay ổn định nên thực chất thuộc cách cục hành động. Bố cục Sát Phá Tham là sự định hướng không ổn định, tức khi nhập đại vận này thực hiện các hành động có tính đột phá, tùy thuộc vào bố cục giao hội với các bàng tinh, nếu có Khốc Hình Kình Hỏa chủ tác động mang tính bộc phát. Trong bố cục này với Tham Lang trong cách Tham Xương ngộ Triệt là cách cục hạ quyết tâm. Ở đây Thái Thế trong nhóm Tuế Hổ Phù là quan niệm cho Tham Lang. Phá Quân nhập Tuyệt có Phi Hổ là cách cục không lợi cho phá bỏ, thay đổi. May ở cung độ Thất Sát được cách Tuần ngộ Lưỡng Long. Bố cục Lưỡng Long chủ danh, cũng chủ sự linh hoạt tác động biến đổi Thất Sát trở nên linh hoạt, khả năng nhìn nhận vấn đề, hành động tốt hơn. Với Tham Xương Triệt, ứng hợp với Liêm Phủ là ham muốn được hạnh phúc về tình cảm và lý tưởng được xây dựng, phát triển ở hành động của cung an Thân. Đại vận Tham Lang này không mấy tốt với mệnh Thiên Phủ, đặc biệt tại đây gặp Nhị Không thì Tử Phủ mang ý nghĩa sự thật, tìm nguồn gốc của bản thân, bản mệnh.



Cách cục này đại vận có duyên với những việc liên quan tới huyền học, về mệnh lý do cách cục này thuộc cách Không Vong ngộ Tử Phủ. Tuy nhiên nếu xét về thành tựu thì cách cục Tham Xương Triệt ở đây không gặp các bố cục mạnh nên khó có thể thành tựu lớn trong vận này, lại Phá Quân nhập Tuyệt lý tưởng khó thực hiện. Cách cục Tham Lang tại đây khi Sát Phá Tham không mạnh như Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Đại vận tại đây gặp nhiều khó khăn, dễ thất bại, tham vọng không đạt được do tính chất của Sát Phá Tham không được chế hóa. Tuy nhiên đại vận này không mang tai họa, tai kiếp tới mà ở đại vận là đại vận xấu. Đại vận Tham Lang từ 24 tới 33 có thể dụng trợ cách trước khi nhập vận Cự Đồng. Ở đây cung độ Tham Lang và đại vận Cự Đồng ở vận sau có tính Sát lớn do hội đủ cách cục Sát Kỵ. Tham Lang có điểm mạnh là định hướng. Ở đại vận sau gặp bố cục Đồng Cự Tam Không Đào Kiếp có Tam Ám Diêu Đà Kỵ ngay tại bản cung là trả nghiệp, Đồng Cự ấy chính là đứa trẻ, và tam ám và Đào Kiếp Hình ngộ Tam Không là tác họa của quá khứ tai kiếp do bản thân tạo ra. Số mệnh đôi khi đơn giản là hướng ta tạo tác nhân và đại vận sau nhận lại quả. May mắn mệnh cách chưa qua đại vận sau nên còn có thể cứu vãn. Đại vận Cự Đồng đại hung, vận này ắt nếu không có trợ cách thì khó có thể giữ được mạng huống gì luận tới tài quan.


Bố cục Cự Đồng này gắn với kiếp nạn, cũng ứng với bố cục ám cách, chủ tác động tai họa cả về bệnh tật lẫn tai nạn bất ngờ khiến vong mạng. Thực chất chỉ cần cách cục Cự Đồng ngộ Kiếp Đào Hình đã mang ý nghĩa rất xấu. Thiên Đồng là chung, Cự Môn là phản, cách cục này mang tính phản rất mạnh, người viết luận các cách cục Sát thì  đây là cách cục ít gặp do hội tụ đa phần Sát Kỵ. Một chữ Triệt tại đây không ngăn chặn mà chủ bị loại trừ triệt để. Sát tính cách cục này hoàn toàn không thể chế hóa, chỉ có thể dụng cách một phần để giảm họa, tuy nhiên dụng cách cũng rất mạnh, khiến đương số phải gặp khó khăn lớn. Cách cục này trọng điểm là bố cục mang ý nghĩa của Cự Đồng giao hội Diêu Đà Kỵ Triệt tại bản cung vận và cách cục VCD ngộ Kiếp Hình Đào có Thiên Sứ tại Ách. Cự Đồng là sự bất đồng, tính mâu thuẫn có sẵn trong nội cách, do đó đại vận sau nên thu bản thân về nội tâm, cách cục Diêu Đà Kỵ có thể giải bằng âm ám cách, tức theo con đường tâm linh hay huyền học. Diêu Đà Kỵ tại đây gặp Không Kiếp Hình với bố cục Tam Không là kiếp nạn, chính cách cục này rất khó chế hóa, đặc biệt khi có Linh Cơ ở đây là vận kiếp. Đại vận này ngay khi nhập vận sẽ mang lại tai ách lập tức. Tam Không là bất ngờ, không thể phòng tránh là ý nghĩa của cách cục này. Cũng không may tại đây Tam Không thành Vong tối kỵ với mệnh Tử Phủ.


 Đại vận này lại có Đào Hoa dẫn cách tạo tác. Đương số nên học cách buông bỏ, hướng tới chữ Không trong bản thể, tuy nhiên do tác động của Sát cách dẫn nên khó có thể khiến tâm biến chuyển. Tác họa của Sát là dẫn dắt, trọng tâm của Sát cách là Hóa Kỵ và Cự Đồng làm chính cách, phụ cách bổ sung ý nghĩa của cách cục. Mệnh là Thiên Phủ, Thân là Tử Vi thì nguy khốn khi tới vận này, do ý nghĩa của vận là biến hóa của mệnh cách. Chữ không tồn tại, hay bị Sát trong âm ám là ý nghĩa cách cục tổng thể khi phối hợp, tất nhiên cần thiết tiểu vận trùng phùng mới có thể tác họa lớn. Ở đại vận hiện tại tức vận Tham Lang, cần rõ trợ cách là Không cách để chuẩn bị tới đại vận sau. Ở ngay năm đầu khi nhập đại vận sau cần rõ ràng nhìn toàn diện cách cục và ý nghĩa của tổ hợp tác họa để tránh. Dụng Không cách là quan trọng từ ngay hiện tại, tạo nên sự khởi đầu tức Tử Vi để tới vận sau bố cục vận ứng cách, tránh ứng với cách cục xấu của Cự Đồng. Cự Môn là khởi sự, là sao chủ thị phi do tính chất tò mò, ưa tìm hiểu và bất mãn của sao này.


Cự Tam Ám là khẩu nghiệp, nhìn chung cách cục ở đây là mâu thuẫn, khác biệt về nhận định khiến đương số dễ phải chịu tai họa từ đây. Đại vận này cũng là họa do bản thân tạo ra, cách cục này chữ Không giải được họa một phần lớn. Chữ Không khiến Tam Không mất đi chữ Vong. Trợ cách cho bố cục Sát nhiều để hướng theo Tài Cách hay Quan Cách. Tuy nhiên với Sát cách trùng trùng một chữ Không tạo tác là việc tốt nhất để tránh họa, cũng ứng hợp khi Tử Phủ ngộ Tam Không là không khởi sự. Tuy nhiên như người viết đã luận ở phần trước, ở đây đương số phải giành thế chủ động thì dụng được Sát, nếu ở vị trí bị động thì họa ập tới. Chủ động tức từ bỏ các hành động mà Đào Cự gây ra, âm thầm theo dõi, không tác động mà chủ động tránh động. Đại vận này thực chất dụng cách cục khó tránh khỏi tổn thất, về danh và tài nên theo Tài Cách, nếu theo Quan Cách thì khó tránh họa. Một điểm cứu giải bố cục là sao Thiên Đồng. Ở đây Thiên Đồng có thể cát hóa một phần của Tam Ám do có Linh Tinh hình thành cách cục Đồng Linh Kỵ. có cách Tọa Khôi hướng Việt nếu làm chuyện phúc thiện thì cứu được nửa phần họa, nếu động tới Cự Môn thì họa lập tức tới. Cách cục này tâm linh rất lớn, nhập vận sẽ nhận ra. Đại vận sau nhập cung độ Vũ Tướng cư Thân ở cung Quan Lộc ngộ Tang Quyền Mã Khúc với cách Lưỡng Khúc đại vận này thích hợp với chuyển động, thay đổi. Lộc Tồn tại đây hợp cách, chủ đắc được thời cơ, phát triển ổn định, bền vững. Đại vận Dương Lương cư Dậu có Kình bản cung,  Kiếp Hình xung. Cách cục này khá tốt đẹp, do nhập Vượng nên Thái Dương trở nên tốt đẹp, Dương Lương ở đây may mắn, chủ sự thành tựu về danh. Cách cục này tốt đẹp tuy có phần khó khăn tới mệnh tạo do hoàn cảnh của cách Âm Dương Lương tại đây là chuỗi ngày cố găng, quyết tâm, các bố cục được cát hóa bởi Khoa Sinh tạo thành tựu lớn khi quyết tâm, ở đại vận cần lưu ý tới sức khỏe là quan trọng.

Thursday, October 19, 2017

Thiên Phủ tinh yếu luận mệnh


Mệnh cách có sao Thiên Phủ thường được đánh giá cao trong các Chính Tinh của tử vi. Thiên Phủ là chính tính có tính chất tốt đẹp trong tử vi ở tất cả 12 cung độ. Tuy nhiên tùy các bố cục giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm hay đơn thủ mà tính chất khác nhau. Mệnh tạo có sao Thiên Phủ khó đắc cách, tự tài năng mà đa phần mang tính chất đứng đầu dụng khả năng của người khác để phục vụ cho lý tưởng của sao Tử Vi trong nhóm Tử Vũ Liêm hay mang tính tương trợ, giúp đỡ trong nhóm Phủ Tướng đơn thủ. Bố cục Phủ Tướng đặc biệt nhấn mạnh ở tính ổn định, nhóm sao này hoàn toàn không hóa khí và có thể chế hóa được đa phần các Sát Tinh duy chỉ Không Vong tối kỵ. Mệnh có sao Thiên Phủ thì thường ôn hòa, dễ gây được tình cảm của người khác, có phần như nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Tuy nhiên do Phủ Tướng bất hóa nên khó biến đổi theo chiều hướng cực đoan. Sao Thiên Phủ rất đặc trưng ở khả năng dụng tình cảm, nếu mệnh tốt thì là người có tình nghĩa, tâm tính tốt và cuộc sống có phần ổn định, ít biến động. Vì vậy Thiên Phủ thường được luận là sao có tinh thần tốt, nếu giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm ổn định cách cục, Phủ Tướng mang ý nghĩa sự phục vụ theo một lý tưởng. Thiên Phủ do mạnh tính chất tương trợ, tình cảm đặc biệt là sử dụng lời nói, ngôn ngữ nên cách cục Phủ Tường tối hỉ ngộ Tả Hữu.


Khi Tả Phụ đồng độ với Thiên Phủ và Hữu Bật đồng độ với Thiên Tướng là cách cục tốt đẹp của nhóm sao này. Thiên Phủ chứa Văn Cách, không nên gặp Sát Kỵ mà hỉ được Lộc Tồn tăng tính ổn định. Với nhóm Phủ Tướng đơn thủ hay đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm rất cần được vòng Lộc Tồn, đặc biệt ở vị trí Lộc Tồn và Quốc Ấn. Ở xã hội thời trước hay hiện tại cũng có thể phân quyền ở văn cách hay võ cách. Ngành liên quan tới quân sự hay công an, tòa án, hình pháp, thanh tra,... thuộc võ cách ứng với mệnh cách theo chiều hướng này. Mệnh tạo có sao Thiên Phủ đắc cách thủ mệnh đa phần được thừa hưởng tập ấm, đặc biệt là cách Thiên Phủ ngộ Lộc Tồn tính chất thừa hưởng, kế nghiệp từ tổ tiên càng lớn và có giá trị. Thiên Phủ gây dựng sự nghiệp đa phần nhờ các mối quan hệ và trợ lực, giúp đỡ lẫn nhau để thành tựu, vì vậy tính chất quản lý từ nhân lực hay tài sản đều thuộc cách cục này. Sao Thiên Phủ cũng là sao chủ che giấu, chủ cái kho như các sách tử vi thường luận. Sao này thuộc khả năng tương trơ, quan hệ tình cảm nên khi đắc cách cần các sao chủ linh hoạt như nhóm Thanh Phi Phục. Thiên Phủ có hai khuynh hướng ổn định hay bất ổn định. Với cách cục ổn định rất cần có Lộc Ấn Bệnh. Với cách cục bất ổn định, cần thiết gặp Thanh Long tránh sai lầm khi phát ngôn, sử dụng phủ dụ bằng lời nói, tình cảm.


Nhóm sao đặc trưng Thiên Can tác động rất mạnh tới mệnh Thiên Phủ vì nhóm Phủ Tướng không hóa nên bốn nhóm chính gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Ấn Bệnh, Phi Thanh Phục mang đặc trưng riêng khi giao hội. Phủ Tướng có Kình Hao thuộc cách cục bất ổn, với bố cục này dễ bất lợi về tình cảm, ảnh hưởng tới khả năng của Thiên Phủ ở mặt công danh. Thiên Phủ chủ ổn định, có tính tích trữ ngộ Hao thì dễ mâu thuẫn, khiến mệnh tạo khó tích lũy. Phủ Tướng có Kình Hao khi tốt là sự trợ giúp chủ động, cách Tướng Kình, đặc biệt là Đại Kình Tường khi đắc cách mang ý nghĩa hay chủ sự bảo vệ cho lẽ phải, tương trợ giúp đỡ cho kẻ yếu. Thiên Tướng thể hiện mạnh võ cách và nhóm Phủ Tường có khuynh hướng bất ổn định, vì vậy thường theo chiều hướng thay đổi, chủ động bên trong tuy nhiên ảnh hưởng tới tính chất khéo léo bên ngoài của Thiên Phủ khiến mệnh tạo dễ mâu thuẫn ngay chính nội tâm. Trường hợp này cần thiết có Hóa Khí tức Tam Hóa, Tả Hữu giao hội với Phủ Tướng để giảm xung đột của cách cục, hoặc giao hội với Từ Vũ Liêm hình thành đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm theo kinh thương hay quan cách đều hợp . Với cách Đà Hao ngộ Thiên Phủ có phần tốt đẹp hơn do Đà Hao chủ tính Ám hợp với tính chất của Thiên Phủ. Bố cục của Thiên Phủ ngộ Đà Hao có tính thay đổi tuy nhiên Đà La tăng tính chất bao phủ của sao này.


Thiên Phủ chủ khôn khéo, nhường nhịn thiệt hơn nên cách cục không gặp nhiều mâu thuẫn như ngộ Kình Hao. Ở đây tránh cách cục Đà Tuế khiến Thiên Phủ trở nên nói dông dài, do đây cách cục này mang ý nghĩa phơi bày các quan điểm, lập trường ra bên ngoài, tuy nhiên Đà La ngộ Thiên Phủ ưa lòng vòng, không như sao Kình Dương mang tính chủ động, ngắn gọn nên cách Phủ Đà Tuế đặc biệt khi không được giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm tức " Phủ phùng Đà Tuế Tị cung, cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày". Ở đây có Quyền luận khác, gặp Linh Quyền luận tốt đẹp, nếu đủ Linh Kỵ Quyền biến thành quyền cách. Khi luận cần lưu ý biến hóa tính chất khi tạo thành các tổ hợp hay giao hội với các bàng tinh khác. Thiên Phủ nhập mệnh cần gặp Khôi Việt tăng tính chất của cách cục, với Thiên Phủ ý nghĩa vị trí Chính Tinh khi giao hội như cách Vũ Phủ, Liêm Phủ, Tử Phủ tức giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm rất quan trọng, thứ đến là vận hành của mệnh tạo thuận ở đại vận hay gặp khó khăn. Kỵ gặp Triệt và Thiên Không, kế đến là Tuần. Trong đó cách Phủ Triệt mang nhiều ý nghĩa xấu, do Thiên Phủ chủ ẩn chứa, cũng chủ lời nói, che dấu, kho tàng, ở cơ thể là phủ tạng ngộ Triệt Lộ tính Kim khiến bố cục theo chiều hướng xấu. Ở đây nếu có Thanh Long hay Tả Phụ hoặc tổ hợp sao mang tính linh hoạt thì không luận xấu. Mệnh Thiên Phủ khó đắc cách, khi luận tránh đề cao thái quá các bố cục của sau này.

Monday, June 12, 2017

Tính chất biến đổi của bộ Phủ Tướng



Tính chất biến đổi của bộ Phủ Tướng


Thiên Phủ và Thiên Tướng nhiều khi bị nhầm lẫn một số tính chất quan trọng khiến việc luận đoán trở nên khó khăn hơn và dễ mắc sai lầm khi phối hợp các cách cục giao hội với Phủ Tướng. Sao Thiên Phủ và Thiên Tướng trong các câu phú thường luận ở dưới dạng Quyền Tinh với Thiên Phủ là đế tinh sau Tử Vi, thực chất cách viết của các câu phú đa phần khi Tử Vũ Liêm giao hội với Phủ Tướng, đặc biệt đề cao quá việc tính chất tốt đẹp của cách Phủ Tướng. Thiên Phủ và Thiên Tướng thủ mệnh phân ra hai trường hợp đơn thủ và giao hội với Tử  Vũ Liêm. Trong trường hợp bộ Phủ Tướng đơn thủ tính chất bình thường không có gì nổi trội. Tính chất cơ bản của bộ Phủ Tướng là sự giúp đỡ, hiền lương.
"Phủ Tướng Đồng Lương tính tất hảo, Sát Kiếp Không Tham tính bất thường".
Bộ Phủ Tướng thủ mệnh tính tình tốt đẹp hay tương trợ, giúp đỡ người khác. Ý nghĩa sự hiền lương tương tự như cách cục Đồng Lương, nếu thành công do nhờ sự giúp đỡ đắc lực của người khác, tức giỏi về việc xây dựng mối quan hệ tình cảm xã hội. Phủ Tướng thường hay được luận là cách ổn định vì không hóa khí, cũng do không hóa nên khi đơn thủ dễ là cách cục bình thường, không nổi trội nhưng được hưởng sự an ổn mà không bị tai họa nếu không phá cách nặng nề. Bộ Phủ Tướng đơn thủ có thể dụng được Không Kiếp, đặc biệt là vị trí của Thiên Tướng. Sao Thiên Phủ kỵ gặp Thiên Không ( Một số nơi gọi là Địa Không ), nếu chỉ gặp Địa Kiếp không xấu, gia cát tinh luận tốt đẹp. Thiên Tướng gặp cả hai sao Thiên Không và Địa Kiếp vẫn có thể dụng được hình thành cách hoạch phát. Phủ Tướng trong trường hợp đơn thủ gặp Tả Hữu là hỉ, thành cách. Tả Phụ và Hữu Bật cần thiết nhất cho Phủ Tướng hàm ý việc bộ sao này luôn được sự trợ giúp đắc lực từ người khác về hành động và lời nói. Phủ Tướng trong trường hợp này tính chất cơ bản hóa thành đắc lực, Thiên Phủ cũng trở nên được ủng hộ và Thiên Tướng trở nên chính nghĩa.
"Tả Phủ đồng cung tôn cư vạn thặng".
" Tả Phủ đồng cung nhất hô bách nặc".
" Thiên Tướng phùng Bật phúc lai lâm"
Quan trọng nhất luận mệnh Phủ Tướng đắc cách là bộ Tả Hữu, đặc biệt khi Tả Phụ đi với Thiên Phủ và Hữu Bật đi với Thiên Tướng. Trong trường hợp có cả Tả Hữu Không Kiếp nếu mệnh có Thiên Tướng là thượng cách, chủ giỏi việc dụng được các loại người khác nhau, mang tính xây dựng, bao phủ. Vì vậy Phủ Tướng có Tả Hữu không kỵ Lục Sát, tuy nhiên gặp Kình Đà có thể khiến cách cục biến chuyển theo chiều hướng xấu vì Kình Đà chủ việc khắc xung với người xung quanh, cũng dễ biến Thiên Tướng do thích trợ giúp mà chuyển thành sử dụng bạo lực dẫn tới tai họa cho bản thân.


Bằng chứng nhiều người tốt ưa thích hành hiệp trượng nghĩa tuy nhiên lại vướng vào ẩu đả khi giúp đỡ dẫn tới hiểu nhầm, gây thương tích hoặc xấu hơn là thiệt mạng. Trong trường hợp có Kình Đà không nên có thêm Không Kiếp. Vì vậy nếu gặp Không Kiếp thì còn hai trường hợp là giao hội với Lộc Tướng Ấn hoặc Thanh Phi Phục. Trong trường hợp có Thiên Tướng gặp Không Kiếp với Lộc Tướng Ấn cát hung tương bán, trường hợp này do hình thành bộ Tướng Ấn Không Kiếp hay tuy nhiên cách Lộc Không Kiếp mang ý nghĩa xấu. Cách Thanh Phi Phục gặp Không Kiếp khá hay. Với Thiên Phủ trong hai trường hợp đều mang ý nghĩa xấu. Gặp bộ Thanh Phi Phục đặc biệt khi đồng độ với sao Thanh Long có thể dụng được Không Kiếp, cần tránh thêm Sát Kỵ giao hội vẫn là cách cục hay đặc biệt với sao Thanh Long cư tại cung Thìn. Gặp Kình Đà có Không Kiếp đỡ xấu hơn Thiên Tướng. Lưu ý là Thiên Phủ rất kỵ Không Vong gồm Tuần, Triệt, Thiên Không, nếu có thể giải chỉ có Thanh Long và một phần Hóa Khoa hay Tả Hữu giảm họa. Phủ Tướng trường hợp đơn thủ tương đối dễ luận đoán hơn trường hợp giao hội với Tử Vũ Liêm. Phủ Tướng cần thiết các sao mang tính tăng trợ giúp, gặp Khôi Việt Xương Khúc rất tốt. Phủ Tướng trong bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh có ý nghĩa khác với trường hợp đơn thủ, ở đây Phủ Tướng mang tính chất phục vụ cho một tổ chức, một hệ thống rất lớn gồm các lý tưởng của Tử Vi. Vì vậy, Thiên Tướng tại đây là Ấn tinh phục vụ, giúp đỡ cho bộ Tử Vũ Liêm. Phủ Tướng ở đây chứa cả tính bạo lực của Tử Vũ Liêm. Cách cục này dễ thành công hơn Phủ Tướng đơn thủ tuy nhiên biến hóa phức tạp khi giao hội vì do có nhiều Chính Tinh. Tuy nhiên hay nhất vẫn là khi có bộ Tả Hữu hay Thanh Long đồng cung.

Thursday, April 13, 2017

Thiên Phủ đôc tọa cư Mão Dậu (phần 2)



Thiên Phủ độc tọa cư Mão Dậu (phần 2)


Thiên Phủ cư Mão Dậu gặp Tả Phụ đồng cung tối hỉ hình thành bộ Tả Phủ và Tướng Bật do Tả Hữu tam hợp tại đây nên đồng cung với Phủ Tướng.  Khác ý nghĩa so với việc sao Thiên Phủ tam hợp có sao này. Tả Phủ có tính chất hô hào kêu gọi sự đồng lòng trợ giúp lớn, thuộc cách tiền hô hậu ủng sử dụng và tác động bởi lời nói. Thiên Phủ có Tả Phụ còn có ý nghĩa là cách bao trùm của tiếng nói phủ rộng, lan tới khắp nơi, đặc biệt khi hình thành cách Thiên Phủ ngộ Thanh Long tính chất này càng rõ ràng. Thiên Phủ cư Mão Dậu trường hợp gặp Lộc Tướng Ấn là bộ sao hợp cách với Thiên Phủ và bộ Phủ Tướng tăng tính ổn định, quan trọng của cách cục và sự tích lũy của Thiên Phủ và hóa Tướng thành Ấn với lý do phục vụ lợi ích cho quốc gia nên Phủ Tướng mang ý nghĩa hay. Với Thiên Phủ cư Mão có một số trường hợp gặp như tuổi Ất có Lộc Tồn cư Mão, tuổi Nhâm có Lộc Tồn cư Hợi khi đó bản cung Mệnh có Bệnh Phù cách này không hay mang ý nghĩa xấu với bản thân. Với Thiên Phủ cư Dậu hình thành cách Thiên Phủ Lộc Tồn tại tuổi Tân. Với tuổi Bính có Lộc Triệt và Thiên Phủ gặp Bệnh Phù là cách cục xấu. Với tuổi Mậu bình thường. Tại vị trí này gặp Lộc Tướng Ấn với tuổi Ất, Tân hay nhất và không thể có được bộ Khôi Việt tại đây. Thiên Phủ cư Mão Dậu gặp Thanh Phi Phục chỉ hay trong trường hợp đồng cung với sao Thanh Long ở tuổi Bính mệnh an tại Mão và tuổi Nhâm mệnh an tại Dậu có được cách cục này. Phủ Thanh khiến Thiên Phủ khi thủ mệnh gặp Không Kiếp giảm tai họa của cách cục này khi Không Kiếp tam hợp chiếu đủ bộ.


Nếu ở vị trí có Thiên Không và Địa Kiếp đơn thủ như tại cung Thìn Tuất Tí Ngọ cách Phủ Thanh hoàn toàn biến đổi Thiên Không hoặc Địa Kiếp, đặc biệt là sao Thiên Không trở thành cách hay. Cung độ Mão Dậu do Không Kiếp một ở vị trí bản cung, một ở vị trí cung Sửu Mùi cư Quan Lộc mang ý nghĩa tai họa không ngờ mà gặp. Trường hộ thứ hai là cách Không Kiếp cư Tị Hợi tam hợp chiếu với Mệnh do tác động của hoàn cảnh tới bản thân. Ở cách Thiên Phủ cư Mão Dậu ngộ Không Kiếp cư Tị Hợi là cách hoạch phát công danh sự nghiệp vì Thiên Tướng đồng cung với Không Kiếp có tính bạo phát. Thiên Phủ gặp Kình Hao là cách xấu vì Kình có tính tranh đoạt, kỵ ở trường hợp tại bản cung ở tuổi Giáp, Canh có Kình Dương nặng tính Sát do gặp Lưu Hà. Trong trường hợp tại cung vị Thiên Tướng hay cung Sửu Mùi tuổi Đinh Kỷ Quý thích hợp với Kinh thương tranh giành, tính chất của Thiên Phủ mất tính ổn định vì tranh đoạt nhưng dễ thành tựu do Song Hao cư tại Mão Dậu ý nghĩa thay đổi tốt đi với Kình cư Tứ Mộ. Thiên Phủ ngộ Đà Hao cũng thuộc cách bộc phát tuy nhiên Đà La tính chất thu giữ tích lũy mới kích phát trái với Kình Dương, do vậy Đà La có tính Ám. Cách Phủ Đà là cách hay tuy mất ổn định của Thiên Phủ, Đà La chủ mở rộng, Thiên Phủ bao trùm vì vậy kỵ thêm các sao tăng tính ám. Thiên Phủ tại đây ngộ Đà Kỵ không nên gặp Thái Tuế hình thành cách cục che dấu và phô bày mâu thuẫn mà bị phê là cách cuồng ngôn, nói nhiều nhưng người khác không hiểu được mục đích vì Đà Phủ tính che dấu rất tốt.

Wednesday, April 12, 2017

Thiên Phủ độc tọa cư Mão Dậu



Thiên Phủ độc tọa cư Mão Dậu


Ở cung độ Mão Dậu thì Phủ Tướng đơn thủ và phía tam hợp đối cung là cách Tử Vũ Liêm giao hội với Sát Phá Tham. Phủ Tướng cư Mão Dậu thuộc cách cục không hoàn chỉnh khi thiếu Tử Vũ Liêm chủ đường lối, tiêu chuẩn đạo đức và tài năng trong khi Phủ Tướng giỏi việc đối nhân xử thế và khả năng dùng lời nói, thuộc cách khó có thể tạo được sự nghiệp lớn vì chỉ dùng lời nói phủ dụ và tình cảm là không đủ ý nghĩa tốt, đặc biệt với bộ Phủ Tướng không hóa khiến cách cục khó đạt được thành tựu. May thay tại cung độ Mão Dậu các phụ tinh và bàng tinh thường đắc lực tại đây, đặc biệt là bộ Xương Khúc Tả Hữu. Thiên Phủ cư Mão Dậu luôn nhị hợp với sao Thái Dương tại cung Thìn Tuất. Thiên Phủ có tính cẩn trọng, che giấu vì vậy Thái Dương ở cung độ nhị hợp tác động rất lớn tới bộ Phủ Tướng vì tính chất của bộ sao này. Thái Dương nhập La Võng cư Thìn ở vị trí sáng so với cư Tuất lạc hãm. Bộ Cự Nhật tại đây hoàn chỉnh có ý nghĩa thị phi, chủ công khai, công bố những thứ bất mãn hay phản đối cách. Và với Thiên Phủ tốt đẹp thì Thái Dương tác động bằng cách công khai những thứ Thiên Phủ cho bên ngoài thấy và bao phủ những điều bí mật. Trong trường hợp Thái Dương và Thiên Phủ đều hay là cách tương trợ lẫn nhau khiến Thiên Phủ có thêm tiếng nói. Với trường hợp Thái Dương xấu là cách bất mãn lên tiếng và sao Thiên Phủ bị lộ trở nên xấu theo. Ngược lại khi Thiên Phủ xấu sao Thái Dương công khai những bí mật, bất mãn xấu dẫn tới gặp tai họa thị phi tức cách Cự Nhật. Thiên Phủ cư tại Mão Dậu cần thiết gặp các sao có tính ẩn và tránh trường hợp ngộ Không Vong mang tới mất mát. Thiên Phủ tại đây có đặc tính ổn trọng, có khả năng quản lý, sử dụng tài năng của người khác nhờ vào tình cảm. Vấn đề của Phủ Tướng là sự tương trợ ngầm ẩn, chính vì vậy cách Phủ Tướng dù không có hóa khí nếu được bàng tinh mng ý nghĩa tốt vẫn là cách cục đầy đủ tài danh. Thiên Phủ khi độc tọa cần thiết có các sao có tính chất trợ giúp, giúp đỡ và các sao tăng tính ổn định cho cách cục vì Thiên Phủ không có sức đề kháng mạnh với sát tinh như nhóm Sát Phá Tham hay Tử Vũ Liêm. Thiên Phủ tại vị trí này khi phá cách thường tai họa lớn tới mệnh tạo, có thể nguy hiểm tới tính mạng nếu hạn trùng phùng Sát Kỵ. Thiên Phủ khi nhập Mệnh nổi bật ở khuôn mặt thường phúc hậu có từ tâm và suy nghĩ sâu xa, kín đáo. Mệnh Thiên Phủ đơn thủ thường không có tính cương quyết, định hướng lý tưởng và cách thực hiện mà cuộc sống thường ưa ổn định ít biến động.

Monday, April 3, 2017

Liêm Phủ đồng cư La Võng (phần 2)



Liêm Phủ đồng cư La Võng (phần 2)


Liêm Trinh và Thiên Phủ đồng cung thủ mệnh như đã luận ở bài trước về việc cần thiết gặp Tả Hữu vì Thiên Phủ hoàn toàn không có tính chất bạo lực và khả năng như Sát Phá Tham mà hoàn toàn dựa vào lời nói phủ dụ để có được sự phục vụ, tương trợ của người khác. Thiên Phủ gặp Tả Phụ tính chất hóa thành Quyền vì luôn có người sẵn sàng phục vụ cho bản thân. Liêm Phủ dựa vào lý tưởng của Tử Vi cư Tí Ngọ để làm việc và tạo nên công danh lợi lộc. Việc chính đáng ở bên cung nhị hợp tức với sao Thái Dương. Thái Dương nhị hợp với Thiên Phủ một bên cần công khai trong khi để giữ bí mật và ngược lại. Trong cuộc sống thực tế có vô số thứ cần giữ bí mật và công khai vì lợi ích của cá nhân hay cộng đồng. Như trong kinh thương khi các cách để thu lại lợi nhuận lộ ra tức có mục đích ẩn sâu bên trong, như việc một cách hay gọi là Dương đông, kích tây để giấu một thứ quan trọng hơn. Vì vậy bản thân sao Thiên Phủ có tính chất quan trọng, bảo mật biến hóa thành tính chất quản lí và cẩn trọng của sao này. Liêm Trinh đi với Thiên Phủ rất hợp cách vì sao Liêm Trinh chủ sự dò tìm, khám phá nếu ở vị trí tam hợp tức bên hoàn cảnh khám phá ta nếu xấu, nhưng khi ở vị trí đồng cung thì Liêm Trinh chính bổ sung cho Thiên Phủ khiến sao này tăng tính bảo mật. Liêm Trinh dò xét việc bí mật có được bảo đảm trước Thất Sát bên ngoài, nhập cung độ La Võng khiến việc che giấu thông tin trở nên dễ dàng hơn và cũng chỉ cách Liêm Phủ cư tại vị trí Thìn Tuất khi xét với Chính Tinh là hợp với La Võng, thứ đến là cách Cơ Lương và Tử Tướng.


Liêm Phủ có tính chất hóa giải Sát Kỵ khá yếu mà hầu hết dựa vào bộ Vũ Tướng ở cung độ tam hợp chiếu nên kỵ đồng cung với Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp mà có thể giải được ở trường hợp tam hợp, đặc biệt với cách  Không Kiếp tại Dần Thân có thể trở thành tốt đẹp. Cách Liêm Phủ đặc biệt ưa gặp Lộc Tướng Ấn và trường hợp tốt nhất là đồng cung với Lộc Tồn hoặc Quốc Ấn. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có Lộc Tướng Ấn tượng là đủ một hệ thống quản lí mang tính quốc gia. Tử Vi đưa ra lý tưởng và Liêm Phủ suy xét kế đến Vũ Tướng thực hiện và Lộc Tướng Ấn là sự tích lũy, trường tồn của cách cục. Liêm Phủ ở đây hay bị gặp cách Linh Xương Đà Vũ là cách cục xấu cần thiết có Quyền Khoa để tranh tác họa tới bố cục. Liêm Phủ tại vị trí La Võng gặp Kình Hao là cách xấu chủ chống đỡ khó khăn và giảm đi tính bảo mật của cách cục. Đối với cách Đà Hao tưởng như tốt hơn nhưng hình thành cách La Võng ngộ Đà có tính cản trở lớn. Với bộ sao Thanh Phi Phục sao Tử Vi cần thiết gặp Thanh Long nhưng khó gặp, tuổi Quý có Thanh Long cư Tí sao Tử Vi tại đây là cách hay. Liêm Phủ gặp Thanh Long cư Thìn tại tuổi Đinh Kỷ khiến cách cục trở nên tốt hơn tuy nhiên sao Tử Vi dễ chuyển biến ý nghĩa thành xấu. Liêm Phủ có thể tạo được công danh lớn nhờ sự mạnh dạn và soi xét kỹ của Liêm Trinh và tính chất dùng lời nói thuyết phục của Thiên Phủ. Ở đây vận hạn trải khá đẹp đặc biệt với cách Liêm Phủ cư Tuất khi đó tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là tinh hệ đẹp nhất trong tử vi khi xét chính tinh.




Tuesday, February 28, 2017

Phủ Tướng đơn thủ ( Phần 2 )



Phủ Tướng đơn thủ ( Phần 2 )


Trường hợp lí tưởng là cách Phủ Tướng ngộ Lộc Tồn Ấn Tả Hữu gia Xương Khúc Khôi Việt Tuế Phượng Khoa. Trường hợp có Hóa Khoa tại tuổi Tân, Nhâm, Bính, Mậu với Lộc Tồn an tại Dậu, Hợi, Tỵ, Tỵ. Xét tới bộ Tuế Phượng chỉ có tuổi Tân có khả năng có trong tam hợp Mệnh, các tuổi Bính, Mậu, Nhâm đi với địa chi là Dần Ngọ Tuất Thân Tí Thìn không có Tuế Phượng ở các cung Tị Dậu Sửu. Cũng vì tứ hóa của tuổi Tân là Xương Khúc hóa thành Khoa Kỵ. Để được cả Lộc Tồn, Tuế Phượng và Khoa thì có thêm Kỵ. Phối hợp các sao an theo tháng như Tả Hữu, Xương Khúc ta được cách Phủ Tướng ngộ Lộc Ấn Tả Hữu Xương Khúc Tuế Phượng Khoa Kỵ thủ Mệnh. Lưu ý không thể có bộ Khôi Việt vì ở tam hợp Dần Ngọ Tuất. Nhìn chung đây cũng là cách khá hay, cát tinh vây chiếu. Thế nhưng để được cách cục này là lý tưởng với Phủ Tướng đơn thủ là khó khăn. Tất cả các mức độ tốt xấu cần so sánh nên lấy mốc để đo, cái tí lệ để đạt được một bộ Xương Khúc Tả Hữu bất kỳ là khó khăn. Với Xương Khúc chỉ 1/4 số người đạt, thêm Tả Hữu khoảng 10 người trên 100 người tức hơn 90 người còn lại. Nếu có Không Kiếp ta lại vào 1/4 xui xẻo nhất, thêm bộ Hình Kỵ chắc chỉ khoảng 3 người trên 100 người có cách này. Trên cơ sở là như vậy, khi gia thêm hợp cách hay bất hợp cách phúc hóa đều tăng theo số nhân. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng Cát Tinh hay Sát Tinh cũng chỉ là tên gọi của sự giao khí ngũ hành âm dương mà tạo thành. Do đó, xảy ra cách khi Cát Tinh đi với Hung Tinh tai họa lớn hơn cả hai hung tinh giao hội. Điều này khiến Tử Vi luận khó khăn hơn rất nhiều.



 Như cách Hỏa Không Kiếp không độc bằng Đào Hoa ngộ Không Kiếp. Vì một bên là yểu cách và tai họa cách. Vì vậy việc nắm bắt tính chất cơ bản của Chính Tinh hay Bàng Tinh là việc quan trọng hơn. Phủ Tướng quan trọng nhất ở tính cơ bản là sự tác động tình cảm. Luận đoán hợp cách nếu tăng cường tính chất này theo chiều hướng tốt để có thành tựu. Nếu không hợp cách thể hiện rõ mặt khuyết điểm của tính chất cơ bản. Như việc có sự giúp đỡ, tình cảm với người khác rất dễ khiến họ làm việc sức lực cho bản thân. Đôi khi chỉ cần lời động viên, lời hứa khả là rất đủ dùng. Thiên Phủ là sao thuộc tính ẩn, luôn có Thái Dương nhị hợp để thể hiện ra mặt bên ngoài. Thiên Phủ vì vậy được Mệnh danh là " Giao Long vãn uyên" do tính chất che giấu là chủ yếu. Thiên Tướng hiền hòa hơn sao Thiên Phủ nên đặc biệt bộ Phủ Tưởng nhấn mạnh tính chất của Phủ. Thiên Phủ thường có sự suy xét kỹ lưỡng để tránh việc gây tác động tình cảm xấu tới kẻ khác, vì có mục đích nên rất ngại bị Triệt Tuần, gặp Thiên Hư cũng là cách cục xấu vì hình thành cách giả tạo khiến kẻ khác cảm thấy thứ tình cảm lợi ích quá lộ liễu. Phủ Tướng không cần Hóa Khí nhưng tính chất có đủ ở mặt công danh, tài lộc nhưng khó thục hiện nếu đơn thủ. Cách này rất kỵ gặp bộ Không Kiếp tuy không gây nên cách xấu như đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm nhưng khiến cách cục trở nên thấp hơn bình thường, nếu trường hợp Không Kiếp cư Tị Hợi có phần khả quan, đặc biệt với Thiên Tướng thủ mệnh là cách cục hay hơn việc có Khôi Việt vì " Không Kiếp tị hợi lưỡng nghi". Cách Thiên Tướng ngộ Không Kiếp thực chất không phải sao Thiên Tướng ngăn được Không Kiếp mà cách Phủ Tướng dụng được Không Kiếp. Tuy nhiên ở vị trí Thiên Phủ rất độc do Thất Sát xung. Ở vị trí Thiên Tướng và tính chất của sao này khi Thiên Phủ phối hợp ở tam hợp tốt hơn.

Monday, February 27, 2017

Phủ Tướng đơn thủ ( phần 1 )


Phủ Tướng đơn thủ ( Phần 1 )


Thiên Phủ và Thiên Tướng luôn tam hợp với nhau tạo thành nhóm Phủ Tướng. Nhóm sao này không có tính chất đặc biệt, rất bình thường về các mặt. Sách viết thường đề cao quá mức sao Thiên Phủ và cách Phủ Tướng. Cách này chỉ có giá trị đặc biệt trong trường hợp Thiên Phủ và Thiên Tướng giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm hình thành bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm đầy đủ. Cách Phủ Tướng đơn thủ tại cung Mão Dậu, Tị Hợi, Sửu Mùi. Thiên Phủ cư tại các vị trí này thường tính chất không đầy đủ và chịu tác động mạnh của bố cục Thất Sát. Với Thiên Phủ cư Mão Dậu thì Vũ Sát cư Dậu Mão. Với cung Tị Hợi gặp bộ Tử Sát và cư Sửu Mùi gặp cách Liêm Sát. Vô hình chung cả bộ Tử Vũ Liêm đi với Thất Sát khi bộ Phủ  Tướng đơn thủ. Thiên Phủ rất quan trọng tính chất sao đối cung, vì đây thuộc cách Phủ Tướng ít bị ảnh hưởng bởi các cách cục khác. Dù Thất Sát độc tọa hãm tại Thìn Tuất hay đắc tại Tí Ngọ Dần Thân, nếu độc tọa thì Phủ Tướng giao hội Tử Vũ Liêm đều là cách cục tốt đẹp. Phủ Tướng nhấn mạnh tại tính ổn định. Nếu xấu xảy ra sự mất ổn, cũng không kiềm chế chuyển hóa được Sát Tinh khiến Mệnh tạo phải vất vả, khổ sở gánh chịu tai họa. Với Phủ Tướng đơn thủ nếu đắc cách cũng khó mang lại thành tựu lớn. Sở dĩ cách này phúc họa trung bình vì không có thêm Chính Tinh tại tam hợp gây thay đổi biến hóa tính chất dẫn tới hai chiều cực đoan. Cũng không gặp Hóa Khí tại bản cung hoặc tam hợp do Chính Tinh hóa ra mà chỉ gồm phụ tinh Tả Hữu Xương Khúc nếu có.


Ngay cả bên ngoài sao Thất Sát cũng không hóa khí mà chỉ đi kèm với nhóm Tử Vũ Liêm hóa. Không chỉ cách Phủ Tướng đơn thủ là bình hòa cách mà trong Tử Vi còn nhiều cách cục khác như Thiên Cư Sửu Mùi, Thiên Lương Sửu Mùi... Phân ra những cách cục tốt đẹp ắt phải có cách cục bình thường và xấu. Sao Thiên Phủ trong trường hợp này không đầy đủ tính chất, đặc biệt về tính tài lộc. Cần thiết được Lộc Tồn thủ Mệnh hoặc có bộ Lộc Tồn Ấn tại tam hợp Mệnh. Đây là cách tích lũy tài sản cho bản thân, cũng là cách tạo tình cảm, kỷ niệm gắn bó để bộ Phủ Tướng tăng tính chất tình cảm của cách cục. Thứ đến là bộ sao Tả Hữu, hinh thành cách trợ giúp và được trợ giúp. Thiên Phủ đắc cách là khiến Thất Sát bên ngoài trở thành người phục vụ. Tuy nhiên để kẻ như Thất Sát trong trường hợp này có thêm cả tính chất khác do Tử Vũ Liêm giao hội không như Sát độc tọa cống hiến cho bản thân thì Phủ Tướng rất cần cách tình cảm trở nên tốt đẹp hơn. Thiên Phủ thiên về lời nói và Thiên Tướng thiên về hành vi. Vì vậy sao Thiên Phủ cần Tả Phụ để nói, hiệu triệu và Thiên Tướng cần thiết có Hữu Bật. Ở đây trường hợp đồng cung là tốt nhất, tam hợp không tốt đẹp bằng.
" Tả Phủ đồng cung tôn cư vạn thặng".
" Thiên Tướng Hữu Bật phúc lai lâm".

Tuesday, February 14, 2017

Liêm Phủ đồng cư La Võng



Liêm Trinh Thiên Phủ đồng độ luận


Liêm Trinh thuộc Tử Vũ Liêm, Thiên Phủ thuộc nhóm Phủ Tướng. Đây là bố cục đầy đủ nhóm sao lớn Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với Tử Vi độc tọa tại Tí Ngọ, Vũ Tướng đồng cung Thìn Tuất và Liêm Phủ tại Thìn Tuất. Bố trí tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là cách tốt nhất của Tử Vi khi đầy đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Liêm Phủ và Vũ Tướng đều tương sinh. Thiên Phủ chủ Thổ được Hỏa của Liêm sinh. Thiên Tướng thủy được Kim của Vũ Khúc sinh. Căn bản phối hợp rất chặt chẽ. Mệnh có cách Liêm Phủ tại Thìn Tuất luận thượng cách. Ý nghĩa của việc sắp xếp Chính Tịn mang tính đại cát, tiếp theo còn lại của Bàng Tinh quyết định. Liêm Phủ thuộc tổ hợp bảo thủ, phân biệt hai chiều hướng Ổn Định và Phù Trầm. Liêm Trinh tính hỏa, có hung tính, chủ làm tù tinh, là đạo đức, liêm chính, liêm khiết, cũng chủ dài lâu. Thiên Phủ có tính bao bọc, bảo mật, chứa đựng. Thực chất khi gia Sát Kỵ do Thiên Phủ có tính Ám khả năng dụng Sát Tinh thực tế. Thiên Phủ luôn đứng trước Thái Âm và nhị hợp với Thái Dương, ưa được bao phủ và bao phủ. Khi có điều kiện thuận lợi kiến Sát làm việc mờ ám, tuy nhiên khả năng quản lý, phủ dụ bằng lời nói khiến mâu thuẫn với tính chất của Liêm Trinh và đặc biệt là lý tưởng của Tử Vi độc tọa. Xét đến từng cung và chính tinh phải chú ý đến sức mạnh của toàn bộ Tinh Hệ. Với Tinh Hệ Tử Vi cư Tí Ngọ không xét tới bàng tinh, lí tưởng của Tử Vi cư Ngọ rất lớn, vì vậy Đế Tinh chứa đựng đầy đủ bộ Khoa Quyền Lộc trong tính chất. Không chỉ ngộ Tuần Triệt hay nếu thiếu Tả Hữu trở thành cô quân, bộ Liêm Phủ cũng ảnh hưởng rất lớn tới toàn bộ cách cục, có thể thay đổi ý định, định hướng của chủ tinh Tử Vi. Nếu sao Tử Vi có tại Mệnh Tài Quan hay cung an Thân đều có giá trị gần như ở Mệnh. Liêm Phủ đối cung là Thất Sát hãm. Trong trường hợp này Thất Sát chủ mất, yếu thế hơn Thiên Phủ. Mệnh có Liêm Phủ kỵ ngộ Không Kiếp hình thành các nhiều tai ương họa hại, hình thành cách Đế ngộ Hung Đồ. Liêm Phủ cư tại Thìn Tuất tức nhập La Võng tuy có lợi cho Thiên Phủ, khiến khả năng bao phủ của sao này lớn hơn, tính cẩn trọng và mưu kế cũng linh hoạt hơn. Tuy nhiên bất lợi với Liêm Trinh tính cương. Bộ La Võng kỵ gặp thêm các sao Đà Không Kiếp Hỏa Linh, đặc biệt cách Lưỡng La, hoặc La Võng có Không Kiếp. Bộ sao này có tính chất kiểm tra, kiểm nghiệm vì Liêm Trinh chủ suy xét, liêm chính. Thiên Phủ chủ quản lý. Đây là cách thanh tra, kiểm soát.



Một Liêm Trinh dù nhập miếu khó có thể tránh sai lầm của chính mình, cũng khó phòng vệ với tác động xung quanh để đạt cách thanh dạn viễn bá nhưng có Thiên Phủ trở nên dễ dàng hơn, giảm tính xung phong, cương cường mà trở nên suy xét nhiều hơn. Nhìn chung, Mệnh có cách Liêm Phủ là cách khá hay, chỉ sợ bị phá cách trở nên hiểm nguy còn hơn các cách xấu. Bộ Liêm Phủ cư Thìn Tuất hợp với trục Tồn-Phi và cả trục Tuế- Hư. Cần tránh gặp Không Vong và Kỵ Hình, Không Kiếp. Tuy nhiên thường những lá số nhờ xem tử vi đa phần bị các cách này, nếu không thì khó có duyên với huyền học khi cuộc sống thường nhật đang vui vẻ, được chở che, bao bọc. Thường khi gặp hạn xấu mới tìm đến tử vi là điều tương đối chính xác. Liêm Phủ Thìn Tuất tối hỉ đồng cung với Thanh Long, thứ đến tam hợp vì hình thành bộ Phủ Thanh mưu lược biến hóa, phản kháng được các tình huống bất ngờ của Thiên Không, ngộ Không Kiếp cũng không trở nên quá xấu tới nỗi mất mạng. Kế đến mới là Tả Phụ cách tiền hô hậu ủng. Còn lại các cát tinh khác như Xương Khúc tránh được Không Kiếp, Khôi Việt, Tứ Linh,.. đến các sát tinh Hỏa Linh, Kình Đà đều có thể dung nạp tuy nhiên cũng mắc tai họa về mặt nào đó. Cách này có thể gặp các bộ sao Việt Linh Hình, Kỵ Hình, Linh Xương La Vũ đều là các cách xấu, kỵ gặp.

Tổng luận về sao Thiên Phủ



Tổng luận về sao Thiên Phủ

Thiên Phủ là ngôi sao thứ nhất của chòm Nam Đẩu, dẫn đầu một nhóm sao gồm 8 chính tinh. Thiên Phủ do tính dẫn đầu nên thường gọi là Đế Tinh sau Tử Vi. Tính chất của Thiên Phủ là bao trùm, khả năng lãnh đạo do sức quản lý, thu góp, cẩn trọng tạo nên. Thiên Phủ và Tử Vi đều có tính bao phủ, đặc tính ẩn. Trong thực tế những người càng giàu có hoặc địa vị cao càng ẩn kín với người xung quanh. Có thể ngăn cách bằng bức tường cao cổng ở nhà, bằng việc ít gặp người thường, bằng việc được bảo vệ bằng các lực lượng,... Số lượng người giàu công khai chỉ bằng một phần nhỏ so với người giàu kín tiếng. Có thể vì lý do an toàn, nhưng chủ yếu do tính cách của họ.
" Nam Thiên Phủ giao long vãn uyên".
Thiên Phủ có tính bảo thủ, cổ hủ khác với Tử Vi ưa khai sáng, cải tiến. Thiên Phủ thường thích sự ổn định, an phận, bình tĩnh phán xét tình huống nên có khả năng giải quyết công việc, nhìn về chiều sâu, có khả năng chuyên môn tốt. Thiên Phủ giỏi ở việc giữ. Bộ sao Phủ Tướng gồm hai Chính Tinh tác động chựt chẽ tới nhau. Thiên Phủ và Thiên Tướng phối hợp với nhau rất tài tình trong việc động viên, khích lệ người khác làm việc. Thiên Phủ do có đặc tính giữ lại thiếu mất sự cải tiến, lại chỉ là cái kho để trông coi nếu độc tọa nên nếu tốt thì giữ kho vàng của chính mình, xấu là giữ kho thuốc nổ, chất độc không biết lúc nào nổ. Thiên Phủ xấu là phải trông nom như bảo vệ, trông xe. Thường có sách luận Thiên Phủ là Tài Tinh ý chỉ cách tích lũy mọi thứ của Thiên Phủ. Bộ Phủ Tướng có tính ổn định vì không hóa khí, tức không có tình trạng biến đổi tốt hoặc theo chiều hướng tai họa.


Thiên Phủ quan trọng tại Thiên Tướng và Thái Dương tại cung nhị hợp. Với Thái Dương là sự công khai trước để Thiên Phủ giữ sau. Thiên Phủ đi với Chính Tinh thường tốt hơn so với độc tọa. Như cách Vũ Phủ, Tử Phủ, Liêm Phủ đều là các cách hay. Thiên Phủ thành kho tiền, thu hút tiền về bản thân khi ở đồng cung với sao này có Tài Tinh như Lộc Tồn, Hóa Lộc, Vũ Khúc, hay cư cung Tài Bạch.
" Thiên Phủ Lộc Tồn Xương Khúc cự vạn chi tư".
Thiên Phủ có Lộc Tồn thành cách cục hay chủ dài lâu. Thiên Phủ rất kỵ Không Tinh, đặc biệt là Triệt, Thiên Không. Nếu có sao Thanh Long lại là phản vi cát tường. Thiên Phủ là ngôi sao yếu cần được sự trợ lực của Tả Hữu, cũng là cách tình cảm khi cũng bộ Phủ Tướng. Tả Phủ đồng cung với Thiên Phủ hình thành cách Tả Phủ tôn cư vạn thặng. Thiên Phủ do đặc tính bình hòa có thể chống lại với khó khăn tốt, dụng được sát tinh mà trở nên có lợi. Tả Phụ cần thiết hội với Thiên Phủ vì Phủ chủ kêu gọi tương trợ, trợ giúp, sử dụng tình cảm để khiến người khác giúp sức cho bản thân. Thiên Phủ tốt đẹp có thể mở rộng bao trùm khắp nơi nhưng có nền gốc vững chắc bền chặt bởi tình cảm. Cũng vì vậy, khi ngộ Triệt thì bao nhiêu ý định sau việc đối nhân xử thế lộ ra. Sao Thái Dương lúc này không phô bày thứ muốn mà phô bày tính chất lạm dụng. Nhìn chung, sao Thiên Phủ nói riêng và Phủ Tướng nói chung có khả năng làm người khác tín phục vì sự tương trợ, lời nói đi vào lòng người, Thiên Tướng chính là tình yêu thương. Mệnh có Phủ Tướng thường chủ ôn hòa, khó trở nên tàn bạo để bị ghét bỏ như nhóm Sát Phá.



Monday, October 10, 2016

Thiên Phủ Sửu Mùi thủ mệnh




Thiên Phủ độc tọa tại vị trí Sửu Mùi

Thiên Phủ thuộc bộ Phủ Tướng là một trong các chính tinh có nhiều đặc điểm tốt trong tử vi. Thiên Phủ thường được gọi là Đế Tinh cùng sao Tử Vi vì dẫn đầu một nhóm sao gọi là chòm Thiên Phủ. Thiên Phủ và Thiên Tướng luôn tam hợp dẫn đến tính chất đặc biệt của tổ hợp này. Thiên Phủ không giao hội với bộ Tử Vũ Liêm, trong khi đó Sát Phá Tham xâm phạm Tử Vi hình thành cách TỬ THAM không mấy hay đi cùng với Liêm Sát và Vũ Phá. Thiên Tướng độc tọa ở cung Tị Hợi, cung còn lại VCD có Tử Tham xung. Cách cục Thiên Phủ cư Sửu Mùi không mấy hay vì không hình thành các tổ hợp về tiền bạc và cả địa vị. Thiên Phủ và Thiên Tướng đều không hóa khí, cung còn lại VCD khiến Mệnh khó nổi danh. Nói chung nếu tại vị trí này Thiên Phủ không gặp các cách tối kỵ đều đa số chủ thọ, đặc biệt khi Thân và Mệnh đồng cung. Thiên Phủ là ngôi sao chủ quản lý, mệnh có Thiên Phủ hợp các vị trí giám sát, quản lý. Thiên Phủ là bao phủ, được gọi là cái kho. Mệnh có Thiên Phủ hỉ gặp tài tinh Lộc Tồn, Hỏa Lộc hoặc Vũ Khúc là cách phát phú ông. Thiên Phủ nhập Mệnh đa phần có tính cách cẩn thận, ổn trọng.
" Nam Thiên Phủ giao long vãn uyên".
Đây là câu phú thường gặp khi nhắc đến ngôi sao này. Thiên Phủ là ngôi sao quản lí, luôn có Thiên Tướng chủ hỗ trợ ở tam hợp. Cách Phủ Tướng cần thêm bộ Tả Hữu để gia tăng tính thực trong công việc quản lí. Hai sao Tử Vi và Thiên Phủ rất cần có Tả Hữu giúp sức, nếu không khó thành tựu. Ở cung VCD có Tử Tham xung là cung hạn mang tính quan trọng của cách cục. Cách Thiên Phủ độc tọa ở Sửu Mùi là cách cục khá dễ luận giải vì không có sự giao hội của các chính tinh mà chỉ có hai chính tinh. Thiên Phủ như tất cả các sách đều viết tối kỵ gặp Triệt, thứ đến là Thiên Không và Tuần. Ngộ Nhị Không hay Tam Không mức độ nguy lớn vì Thiên Phủ tối kỵ gặp Không Vong, khi đó chữ Thọ của cách này khó đạt được. Thiên Phủ là ngôi sao hợp với Tứ Sát Kình Đà Hỏa Linh, các hung tinh này tạo lực kích phát để Thiên Phủ trở nên quan trọng hơn. Thiên Phủ tại vị trí này giáp bộ Nhật Nguyệt nên cư Sửu tốt hơn ở vị trí cung Mùi vì được bộ Âm Dương sáng. Thiên Phủ được bộ Nhật Nguyệt giáp nên có được tính phòng bị cao, bản tính cũng là ngôi sao chủ ẩn nên tối kỵ bị Triệt án ngữ. Thiên Phủ tượng là ngôi nhà lớn, dinh thự, ở cung Điền Trạch luôn có CỰ MÔN là ngôi sao chủ nhà đất. Thiên Phủ là ngôi sao chủ nói, gặp Thiên Tướng là cách tương trợ, nâng đỡ, cũng là cách dùng lời nói tạo tình cảm để che giấu mục đích, do vậy Thiên Phủ là ngôi sao có tính lãnh đạo vì giỏi sử dụng lời nói để thu phục, vì vậy cần Tả Hữu phụ họa làm tay chân đắc lực. Thiên Phủ là ngôi sao chủ nói, cũng như Cự Môn nhưng Cự Môn thiên về Ám Tinh, chủ phản đối, bài bác thì Thiên Phủ chủ khéo lấy lòng người bằng tình cảm lời nói. Cách Cự Thanh là cách hay nhưng không bằng Phủ Thanh. Thiên Phủ ngộ Thanh Long là cách rất tốt vì chủ sự sống ngay cả khi bị Triệt án ngữ. Thiên Phủ ngộ Thanh Long là cách lên tiếng nói, đây là ngôi sao rất cần thiết với Thiên Phủ ngộ các cách xấu.
" Phủ ngộ Không Vong phùng Thanh Long phản vi cát tường".
Không chỉ giảm tính xấu của cách PHỦ ngộ Không Vong còn khiến cách này trở nên tốt đẹp. Mỗi Chính Tinh đều có một bàng tinh rất cần thiết để hóa giải các cách xấu. Trong đây còn chứa cách Binh Tướng cũng là cách hay để chế ngự Thiên Không. Thiên Phủ có tính che dấu nên có Thái Dương ở cung Nhị hợp, ngộ Thiên Không là cách không che giấu nổi, khi có Thanh Long là cách khi bị lộ trước Thất Sát ở đối cung vẫn lên tiếng được, nếu im lặng tức là cách chịu tội hoặc đã chết.


Thiên Phủ tọa Mệnh hỉ gặp Khôi Việt để tăng tính quý, cũng mang đến thêm danh vọng và địa vị cho Thiên Phủ. Bộ Khôi Việt Xương Khúc Tả Hữu được gọi là lục cát tinh vì ít biểu hiện các đặc tính xấu mà chủ giúp Chính Tinh về các mặt công danh. Do cách Phủ Tướng không có hóa khí nên cần thiết có các sao mang tính quan trọng, gặp Thanh Long, đến Tả Hữu là cần thiết nhất, cần gặp Lộc Tồn để tăng tài cách và được sao Quốc Ấn mang tính quốc gia. Gặp Đào Hồng chủ nói lớn, Hồng Loan cũng hợp với Thiên Tướng thành cách TƯỚNG HỒNG chủ dung mạo đẹp. Nếu có Hóa Khoa rất tốt, đặc biệt là cách TẢ HỮU hóa thành Khoa. Thiên Phủ đã mang sẵn tính Quyền trong bản chất của Chính Tinh này, ngộ Hỏa Linh không nguy hại tăng thêm quyền uy, có Kình Dương hợp với Kinh Thương. Thiên Phù đồng cung với Thái Tuế hoặc trong tam hợp Tuế Hổ Phù cũng là cách hay, đặc biệt có Phượng Các tức bộ Tuế Phượng. Đại hạn đầu tiên của Thiên Phủ tới Thái Âm hoặc Thái Dương mang các tính cách khác nhau, tới Thái Dương có tính công khai, Thái Âm có tính che giấu bộc lộ. Hạn đến tam hợp Phúc Phối là cung hạn then chốt. Mệnh Thiên Phủ tối kỵ cung an Thân là sao Thất Sát, đặc biệt là khi Thất SÁT xấu như bị Kỵ Hình hoặc Bạch Hổ xâm phạm rất dễ yểu mệnh nếu bản Mệnh và đại hạn thuở nhỏ không tốt.



Thursday, September 1, 2016

Tinh Hệ Tử Phủ Dần Thân






Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung tại vị trí Dần Thân



Tử Vi đứng đầu chòm sao Bắc Đẩu và Thiên Phủ dẫn đầu chòm Nam Đẩu. Thực ra đây là cách cổ nhân nhấn mạnh tầm quan trọng của hai chính tinh này trong lá số tử vi. Chỉ cần biết vị trí của sao Tử  Vi có thể an tất cả 13 chính tinh còn lại. Tử Vi là ngôi sao quan trọng nhất của món này, thuộc nhóm sao Tử Vũ Liêm. Thiên Phủ thuộc nhóm sao Phủ Tướng. Hai nhóm này giao hội thành bộ sao lớn Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh cách cục. Tử Vi có khuynh hướng cầm đầu bằng lời nói và sử dụng sức mạnh tài sản, tài năng của Vũ Khúc va sự liêm chính, binh quyền của Liêm Trinh, Thiên Phủ có khuynh hướng sử dụng lời nói và tình cảm của Thiên Tướng nên tính uy lực không bằng Tử Vi. Khi Tử Vi và Thiên Phủ đồng độ bổ khuyết rất hoàn chỉnh chưa cần tính đến bàng tinh đã mang rất nhiều ý nghĩa hay. Vì vậy sách đều luận cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là thượng cách khi có Tử Vi hoặc Thiên Phủ thủ mệnh. Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung thủ mệnh tọa Dần Thân là thượng cách chỉ đứng sau cách Tử Vi cư Ngọ.
" Tử Phủ đồng cung tối vi phúc hậu"
Để hiểu câu phú này cần phải nhận biết rõ cách Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung khác hoàn toàn Tử Vi độc tọa và Thiên Phủ độc tọa. Cung mệnh có Tử Phủ đóng khác Tử Vi tại mệnh và Thiên Phủ tại Quan Lộc như cách Tử Vi Tý Ngọ. Cách Tử Vi cư Ngọ đẹp bởi cung trải Nhật Nguyệt rất sáng và Tham Lang ở đối cung hợp lý, trường hợp Tử Vi cư Tý vẫn kém hơn cách này. Tử Vi và Thiên Phủ tọa mệnh là phần tính cách, bản tính ảnh hưởng của cả hai sao này rất mạnh. Như việc " Khoa Quyền tọa thủ bất như chiếu mệnh". Bộ Khoa Quyền  thủ mệnh hay hơn cách chiếu mệnh. Vì tọa thủ cung Mệnh tức Tài Quan đều ảnh hưởng, tính cách của chính bản thân dễ được áp dụng vào công việc và cách liên quan đến tiền bạc. Vì vậy cách Vũ Tướng Dần Thân thủ mệnh khác Tử Vi Tý Ngọ thủ mệnh rất lớn. Điều này nếu rõ lý Tam Hợp của các cung địa chi và vòng Sinh Vượng ngũ hành để hiểu hơn. Tử Vi và Thiên Phủ thủ mệnh hình thành tính cách của hai chính tinh này phối hợp bổ khuyết rất tốt vì nếu thành cách đều là thượng cách. Vì vậy khi gặp bàng tinh kỵ gặp càng kỵ. Tử Phủ Dần Thân tối kỵ gặp Tuần, Triệt Đáo đầu và bộ Không Kiếp hội họp. Vì bộ Phủ Tướng không hoá khí nên khó có đủ tam hoá. Vì vậy ưa gặp Lộc Tồn đồng độ hình thành cách Vũ Phủ Lộc là cách toàn sao tài tinh tam hợp thủ mệnh. Bộ Tồn Ấn Bệnh trừ vị trí Bệnh Phù không mấy hay về tính cách, Lộc Tồn và Quốc Ấn thủ mệnh đều có tính chất tốt riêng. Cách Tử Phủ Dần Thân cần thiết đồng cung với Trường Sinh được phê là " Quảng đại chi nhân", chủ ý chí cao viễn, là người quảng đại rộng lượng. Bộ Tử Phủ gặp Hoá Kỵ đứng một mình vô hại, kỵ gặp thêm Thiên Hình thành bộ Kỵ Hình tối kỵ cho Tử Vi.



Ở cách Tử Phủ Dần Thân đối cung là Thất Sát là một điểm không mấy hay khi nếu xấu thuộc cách bị bên ngoài đoạt lấy địa vị đến tính mạng. Thân an tại sao Thất Sát là tối kỵ kể cả khi Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hợp cách vẫn mang cảnh dễ bị đè ép. Lực của bộ Sát Phá Tham cũng rất mạnh trong bố cục này. Mệnh Tử Phủ nên tránh cả đại hạn qua Tuần Triệt tại bản cung, nếu gặp hạn ấy không mấy tốt đẹp vì Tử Phủ kỵ hạn Triệt Tuần. Bộ sao này gặp Tuần không nguy hại bằng Triệt, gặp Triệt không nguy hại bằng Không Kiếp, gặp Không Kiếp không nguy hại bằng Tam Không. Nếu có sao Thanh Long ngay cả trong tam hợp vẫn luận là không tuyệt mạng. Bộ Tử Phủ đồng cung tối kỵ Tam Không, cũng như Nhật Nguyệt gặp Tam Không cũng bộc lộ thuộc tính vong, bất ngờ rất kỵ gặp. Chỉ sao Tử Vi hoặc Thiên Phủ tại mệnh dễ bị phá cách, gặp hai sao đồng cung khó đắc cách hơn nữa. Cung hạn của bộ sao này cũng kém hơn cách Tử Vi cư Ngọ khi có bộ  Liêm Phủ cư Tuất, Vũ Tướng ở Dần, Thái Âm cư Hợi, Dương Lương cư Mão, hai cung Vô Chính Diệu đều đẹp. Với cách Tử Phủ Dần Thân, phân biệt ở cung Dần và Thân với bộ Âm Dương đắc hãm, cung hạn Sát Phá, Tham Vũ Thìn Tuất, Dương Tỵ và Âm Dậu đều là cung hạn tốt. Khi Tử Phủ tổt là địa vị bao trùm toàn bộ Thiên Hạ, tức nếu thời phong kiến là vua, vì Tử Vi là trách nhiệm, là hành dộng, là gánh vác và là kẻ đứng đầu. Thiên Phủ là bao trùm, là tình cảm đối nhân xử thế. Trong cuộc sống kẻ dùng miệng thu phục người khác là kẻ thường có địa vị lớn, sao Cự Môn tốt là kẻ đứng đầu về chống đối để cải tiến xã hội tốt hơn, Thiên Phủ tốt là kẻ giỏi dùng lời nói thu phục lòng người. Và vì vậy, Thiên Phủ phải là kẻ cẩn thận nên được phê là Giao Long Vãng Vực. Gặp Thanh Long thành cách Phủ Thanh dùng lời nói để tạo nên danh tiếng là Thanh Long. Tính chất của Thiên Phủ dùng sách Đẩu Số đọc các câu phú của cổ nhân dễ nhận ra được tính chất của riêng sao này. Các sao giao hội tốt xấu hiển hiện rất rõ khi hiểu tính chất riêng của từng sao, trừ một số trường hợp đặc biệt không thể luận phải dựa vào nghiệm lí để xác định đúng sai.



Nhiều câu phú trong Tử Vi Đẩu Số Phú Giải giải thích mang tính lý luận không có nghiệm lí nên giải thích không sát với nghĩa. Trong đó có rất nhiều câu phú chỉ cách đặc biệt để người sau biết rõ cách cục do các sao tác động mà luận tốt xấu. Ví như có những trường hợp nhầm bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham thành Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Liêm Tham. Cách Sát Phá Liêm Tham trường hợp này chỉ bộ Sát Phá Tham có Liêm Trinh xung, chỉ đơn giản vậy mà lắm kẻ nhầm lẫn và nhiều câu phú chỉ rõ cách cục với các tuổi như " Vũ Phủ Tý cung, Giáp Đinh nhân sinh phúc hậu trường tồn, hung lai Tuần Kiếp danh sú nhân khi, ư Canh Nhâm Tuế phúc thọ trường hành. Vũ Khúc và Thiên Phủ là bộ sao chủ tài, đồng cung hợp cách, tuổi Giáp và Đinh phúc hậu. Ở đây có bộ Tồn Ấn Bệnh và Phi Thanh Phục là cố định và hai tuổi này đều được sao Thanh Long. Sao này liên quan đến danh tiếng qua các câu phú khác, câu phú này chứng minh cách Phủ Thanh rất mạnh, ngay cả khi Thanh Long đồng cung tuổi Giáp hay chỉ ở tam hợp ở tuổi Đinh khi cư Thìn. Cách cục này gặp bộ Tuần Kiếp danh sú, nhưng không phải với cả hai tuổi mà chỉ là tuổi Giáp có Tuần Kiếp. Trước hết với
tuổi Giáp, ta chỉ có Tuần tại Tý với tuổi Giáp Dần, vô hình chung tại đây hình thành cách Vũ Phủ Thanh Long ngộ Khoa Kiếp Tuần và có thêm bộ Tang La Khốc. Các sao chủ danh tiếng như Vũ Thanh là cách hay, Khoa chủ danh, gặp bộ Kiếp La Khốc Tuần tức có tính oan khiến lớn ở đây, bộ sao này có Khoa Tuần Kiếp Khốc khá độc, càng kỵ sao Thiên Phủ bị Tuần Kiếp, nếu không có Thanh Long tính oan rất lớn, vì vậy càng thấy rõ cách Thiên Phủ có Thanh Long rất tốt đẹp, tính cứu giải lớn, tức ý câu phú bản than ta chưa chết do Trúng kiếp nạn lớn Khoa Tuần Kiếp do La Võng đưa đến khó thoát vì gặp bộ Tang Khốc La Vũ Tuần mà chỉ bị lưu danh xú uế lại. Vì vậy cách cục " Phủ ngộ Không Vong nhị ngộ Thanh Long phản vi cát tường" cứu giải rất mạnh khi Phủ ngộ Không Vong và thêm một số sát tinh hạng nặng. Trường hợp Tử Phủ đồng cung ngộ Không Vong có Thanh Long luận      không mấy xấu nếu chỉ hội họp Không Vong, vẫn có thể được địa vị nếu hạn tốt.






Sunday, August 28, 2016

Vũ Phủ Tý Ngọ thủ mệnh






Luận về bộ sao Vũ Khúc Thiên Phủ đồng độ tại Tý Ngọ cung


Vũ Khúc và Thiên Phủ là hai chính tinh thuộc nhóm sao Tử Vũ Liêm và Phủ Tướng, do có sự giao hội hình thành bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh với Thất Sát ở đối cung. Đây là cách cục Sát xung nên không hay bằng cách Tử Vi cư Tý Ngọ có Tham Lang xung. Vũ Phủ đồng độ thuộc Tinh hệ Tử Vi cư Thìn Tuất, tại vị trí Vũ Phủ là tốt đẹp hơn của cách này. Vũ Khúc là ngôi sao chủ tiền bạc, là tài tinh đi với Thiên Phủ là tài cư kho, trường hợp Lộc Tồn ngộ Thiên Phủ cũng luận vậy. Vũ Phủ Tý Ngọ có Liêm đắc cách, đắc lợi ở vị trí Dần Thân là nơi tốt đẹp của Liêm Trinh. Vũ Khúc là ngôi sao chủ tài năng, Thiên Phủ là ngôi sao cẩn thận, bảo mật nhất trong các chính tinh, vì vậy đây là cách nhân tài có tính cẩn thận nên hợp cả đường công danh và tài lộc. Đặc tính đặc biệt của Vũ Khúc có hai kết cấu quan trọng là khả năng biến đổi sự việc theo hướng có lợi, ở trường hợp đồng độ với Thiên Phủ khả năng phân tích tránh họa rất mạnh, cũng chủ biết lợi dụng vào điểm sơ hở của luật pháp để làm giàu, bộ sao này gặp Hình không đáng ngại, gặp Kỵ Hình thì Tử Vi bị ảnh hưởng vì Tử Vi là hành động, là ngôi sao quan trọng nhất trong tử vi, ngộ Kỵ Hình thành cách vi phạm.
" Tử Vi cư ngọ vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ thỏa chí bình sinh.".
Vì vậy nên luận trường hợp mệnh Vũ Phủ ngộ Kỵ Hình dễ sử dụng sơ hở pháp luật để thực hiện hành vi vi phạm không bị định tội. Vũ Khúc có tính kích động, lôi kéo. Vì vậy nên cách Vũ Tham Tứ Mộ luận là hay khi Tham Lang vì ham muốn kết hợp với Vũ Khúc kích động, ở Thìn Tuất Vũ Khúc kích động Tham Lang bên ngoài ý nghĩa khác ở Sửu Mùi chính bộ Vũ Tham đồng cung tính thống nhất cao. Chính vì tính chất kích động bộ Tử Vũ Liêm có Vũ Khúc và Liêm Trinh nên hợp với quân sự, chính trị vì Liêm Trinh và Vũ Khúc tạo thành bộ lý tưởng, lập trường kích động kẻ khác noi theo. Cũng do tính chất này xuất hiện câu phú:
" Linh Xương Đà Vũ hạn chí đầu hà". Dịch là hạn gặp Linh Xương Đà Vũ dễ tự tử ở dưới sông. Phân tích câu phú thấy rõ ràng Văn Xương, Đà La, đều là các sao chủ nghe theo, Vũ Khúc chủ kích động và cách Vũ Linh là xấu vì Vũ Khúc sợ Hỏa Linh hình thành cách kẻ có tài gặp nạn do nghe lời xui giúc mà kết quả thất bại đến mức tự sát. Phú Tử Vi chia ra rất rõ các cách cục và việc tìm hiểu mổ xẻ từng bàng tinh ra cho thấy rõ tính chất từng sao. Như một bộ sao tiếp theo là " Tướng Binh Tử Tuyệt" cho thấy sự quan trọng của vòng Trường Sinh, muốn tách bạch ta xem câu phú " Thiên Lương ngộ Trường Sinh ư Phúc địa, thân thượng hữu kỳ tài". Hoặc " Mã ngộ Trường Sinh thanh vân đắc lộ", " Tử Phủ Dần Thân ngộ Trường Sinh quảng đại chi nhân", " Tham Lang gia cát tọa Trường Sinh thọ khảo như Bành Tổ". Hoặc các câu phú về Phúc Đức trong cuốn Tử Vi Đẩu Số Phú Giải. Mệnh lập Dần Thân Tị Hợi hỉ gặp Trường Sinh và kỵ gặp Tuyệt. Trường Sinh là vòng sao chỉ sự Sinh Vượng Suy của Cục. Cục có hai tính quan trọng là cho biết Đại Hạn và vòng Trường Sinh, ở vòng Trường Sinh là sự phát triển của dòng khí, chính là vòng đời của con người, đắc khí thì vượng, là sự Thiên Lệch về mạnh yếu của các cung trong lá số, các sao ở vị trí Trường Sinh biểu hiện rõ nét tính mạnh của sao. Ở vòng Trường Sinh của Thiên Can, Lộc Tồn ở vị trí Lâm Quan, là nơi đắc khí sắp đến Vượng lúc đó sự phát triển xu hướng đi xuống, vì vậy Lộc Tồn có tính tích lũy. Vũ Phủ cư Tý Ngọ là cách giáp Nhật Nguyệt, đây là lý do lớn khiến Mệnh tại đây trở nên đẹp đẽ. Cách giâp cả hai sao Nhật Nguyệt là cách hay chỉ một số thế đứng của chính tinh mới có cách này. Chủ được trợ giúp lớn từ cung giáp. Trường hợp này là hay nhất vì vừa giáp vừa nhị hợp nên tính trợ giúp càng lớn hơn rất nhiều.

Khi xuất hiện Vũ Khúc và Thiên Phủ ở tam hợp hoặc đồng cung tức đủ bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm cần Hoá để đánh gia sự nỗ lực của chính tinh, nói cách khác bộ sao này nếu có thêm Hoá là rất tốt vì khó gặp khi Phủ Tướng không hoá, trường hợp này Thất Sát xung không hoá nên việc đầy đủ tam hoá là rát khó, vì vậy cung độ Vũ Phủ thích hợp theo hướng tài hơn quan. Trưởng hợp chính tinh hoá khí tại cung mệnh là đẹp nhất, vì thủ mệnh khác tam hợp mệnh vì Khoa Quyền chính hơn chiếu. Tuổi Kỷ có Tứ Hoá an theo Vũ Tham Lương Khúc ở vị trí Tý Ngọ hình thành đủ bộ Song Lộc tài vận rất lớn. Cách cục này không ngại Địa Kiếp đơn thủ vì Song Lộc là cách cục đa năng, đi với Vũ Khúc rất tốt. Tuy nhiên lưu ý các trường hợp Không Kiếp như ở các vị trí hãm gặp thêm sát tinh và bàng tinh
không hợp cách gây nên tình trạng khó khăn do Địa Kiếp gây kiếp nạn lớn về tiền bạc. Từ xưa tới nay nhiều kẻ nghe theo tiếng gọi của đồng tiền mà phải bán mạng cho tiền là chuyện thường gặp.  Vũ   Khúc hỉ gặp Xương Khúc hoặc chỉ Khúc hình thành cách Lưỡng Khúc tướng tướng chi tài cách . khi Hoá Khoa tăng tính định hướng và tính hoạch định cho bộ sao này. Cách cục Vũ Hoá Khoa cũng có ở tuổi Giáp với tứ hoá Liêm Phá Vũ Dương có Vũ Khúc Hoá Khoa và Liêm Hoá Lộc. Nếu ở vị trí Ngọ hình thành bộ Lưỡng Lộc có Khoa. Mệnh an tại Tý cũng rất tốt kho Thiên Phủ gặp Thanh Long hình thành bộ Phủ Thanh tính động của Thiên Phủ tăng, bộ Vũ Thanh và Binh Liêm chủ vũ lực. Trường hợp gặp Hoá Kỵ tức tuổi Ất khi hình thành cách Quyền Kỵ có tính uy quyền lớn của cách Vũ Kỵ.


Bộ Vũ Phủ hợp cả bộ Đào  Hồng và bộ Khôi Việt thì bộ Khôi Việt mạnh hơn. Khỏi Việt chủ tính bộc phát và tính quý nhân của hai sao này là lớn. Với Tả Hữu rất cần thiết để đánh giá thành công khi tam hoá khó xuất hiện. Nếu có Kinh tốt hơn Đà, có Linh không kỵ với Vũ Khúc bằng Hoả . Tối kỵ có Thiên Không xâm phạm và hội họp.