Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Luận Đại Vận. Show all posts
Showing posts with label Luận Đại Vận. Show all posts

Tuesday, October 12, 2021

Chọn lựa và các kết quả

 Mỗi một lựa chọn, đưa ra quyết định trước một vấn để có thể khiến nhân mệnh thành tựu lớn hoặc đưa đến những bế tắc xuất hiện. Có những lựa chọn được khởi phát bởi bản tính và một số do sự huân đúc những tri kiến, tích lũy những thất bại. Trên tử vi xuất hiện các tổ hợp xuất phát từ bản tính. Người ưa việc mạo hiểm, kẻ muốn sự an toàn. Điểm quan trọng là nhận định của nhân mệnh về bản chất của sự việc có thấu. Có một số nhân mệnh có chia sẻ với người viết về tiền của tích lũy mua nhà đất tuy nhiên không cẩn trọng dẫn tới bất cẩn khi lựa chọn một mảnh đất như một đương số vướng mắc khi mua đất tại Alibaba. Một số nhân mệnh khi đưa tài sản tích góp và có thể vay nợ thêm để cho vay với lãi suất cao và không thể thu lại nguồn vốn là tài sản tích lũy trong thời gian rất dài. Có những lựa chọn có thể khiến nhân mệnh trở nên giàu có, những lựa chọn dẫn tới suy tán. Một số đầu tư theo việc cầu may tới cờ bạc. Trên tử vi, có một số cách cục chủ tham muốn phấn phát là Tham Hỏa và Đào Hoa Kiếp Sát. Điểm quan trọng là các cách cục này khi thành cách có thể khiến nhân mệnh thăng phát rất lớn. Tượng cách của Đào Sát là tham muốn từ Đào Hoa, chủ động nắm lấy và thực hiện hành động Kiếp Sát. Sao Kiếp Sát thường ít luận định trong tử vi. Kiếp Sát có đặc tính chủ tranh đoạt, khởi từ niềm tin của Đào Hoa tới những điều tươi sáng kế tiếp. Đào Sát là một trong các cách cục cơ bản khi xét nhóm sao an theo Địa Chi. Khi xét bốn cách cục cơ bản Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã Khách, Đào Kiếp Sát và Hồng Hỉ. Thường phú luận "Mệnh trung Hồng ngộ Kiếp Không mạc đàm phú quý". Với cách Hồng Kiếp có giá trị tác họa lớn hơn bố cục Đào Sát. Do thực tế Hồng Loan thường tại vị thế bị động khi hội Kiếp Không. Do Thiên Hỉ luôn bên ngoài kích phát khiến Hồng Loan ở thế bị động trước niềm vui Thiên Hỉ tại đối cung. Niềm vui đắc tài lộc, tình duyên, do vậy thường luận "Niềm vui ngắn chẳng tày gang". Bên trong còn mối họa Không Kiếp thường trực không được chế hóa. Cách cục Đào Sát chứa Sát tính, trong trường hợp đơn thủ không hội Hồng Loan, khi hội cách Đào Sát Kiếp Không, tính hung có thể bị Kiếp Sát hóa. Phát ngoài thực tế là những kẻ chiếm đoạt, như việc lừa đảo về đất đai thu lợi cho người bất chính. Nhóm sao Đào Hồng Hỉ được gọi là Tam Minh, do những niềm tin về điều tốt đẹp tới mệnh cách. 



Trong thời điểm khó khăn, bế tắc lớn, nhân mệnh xuất hiện niềm tin là động lực để có thể vượt qua. Chờ đợi thời cơ khác tính chất của trễ nải. Quan trọng là trong nội tâm phân biệt hai tính chất này rất khó khăn. Dẫn tới việc có người chờ thời vận tới tuy nhiên thời gian luôn dịch chuyển theo chiều hướng tới, không xuất hiện quyết định trong thời gian dài, lưỡng lự trong những lựa chọn được gọi là do dự. Thời cơ tức Thiên Cơ có thể tới do sự khai phá triệt để của Phá Quân, phá cũ làm mới, đôi khi việc cũ tốt đẹp, Phá Quân vẫn phá bỏ để tiến lên. 




Thiên địa tuần hoàn, vận bĩ tới thái, nhật nguyệt hối lại minh trong các thời kỳ là thuận lý tự nhiên. Đời người cũng vậy, khi thuận nước xuôi dòng, nghịch nước gặp cản cần quyết tâm vượt qua. Ý nghĩa của cách Đào Hồng Hỉ mang lại sự lạc quan tới nhân mệnh. Điểm cách của Đào Hồng Hỉ đắc cách thường được luận tối hỉ với Thái Dương, do Thái Dương là ngày mới, gặp Tam Minh là cách cục hay, nếu đủ cách Âm Dương không gặp Sát Kỵ là ngày tháng hưởng thụ vui vẻ. Việc niềm vui có thể xuất phát từ nhiều nguyên do, tai hại là niềm vui giải trí do những thứ gây nghiện, niềm vui sắc dục quá đà. Xét về tham muốn, cách cục mang lại vui vẻ của đời người khi đạt được danh vọng, tiền bạc, hoặc lý tưởng được thực hiện. Có những niềm vui do giúp đỡ người yếu thế, có niềm vui do tự chủ chính cuộc đời bản thân, niềm vui được tự do. Cũng vậy, Đào Sát và Hồng Hỉ phát triển tham muốn. Hồng Hỉ còn tượng là sắc diện, người có ngoại hình tốt cũng là niềm vui, cũng như gặp người bần cùng sa lỡ, hay hình thương bệnh tật phát sinh tâm thương xót. Trong cuộc chiến trường kỳ, nếu có niềm tin thắng lợi sẽ tạo động lực mạnh để hành động, như năng lượng để khởi phát những ý tưởng, giải pháp vượt qua tình thế. Thực tế bốn nhóm sao Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã Khách, Đào Sát và Hồng Hỉ là bốn nhóm sao đại diện đặc trưng về tính cách của nhân mệnh. Trên tử vi cũng gặp cách Tam Ám, tức Diêu Đà Kỵ. Hội vận Âm Dương gặp Diêu Đà Kỵ, hay cách Cự Môn hội Tam Ám hành vận trải qua ắt như mây dông kéo đến, mệnh cách vững có thể hóa làm trợ dụng với khả năng cơ biến. Cũng do Tam Ám hay Diêu Đà Kỵ thực tế còn tồn tại cách Kỵ Hình chủ dễ sai phạm, vượt quá những quy định. Trong các nhóm sao chính an theo Địa Chi, bố cục Tang Hư Mã Khách thường gặp đánh giá khó khăn hơn. Tang Môn, Thiên Hư là sự hư hao, còn chủ tang tóc, biến đoạn. Lý âm có dương, dương chứa âm, trong thế bĩ là nơi rèn dũi khả năng cơ biến tại Thiên Mã nghị lực. Tuế Hổ Phù là lý tưởng, quan điểm của bản thân, được đắc chữ chính khi có chữ Thái tại Tuế, có Bạch Hổ ứng chữ liêm chính, gặp Long Trì, gặp Hoa Cái, một số địa chi năm gặp thêm Phượng Các là bộ tứ linh Cái Hổ Phượng Long. Thiên Địa tuần hoàn bất phân chính, bất chính. Cũng vậy không phân xét người tụ tài, tán tài, do sở tác của lòng nhân phân định. Cũng vậy, sinh thời người thể trạng tốt, kẻ sức yếu, người bệnh tật nan y, kẻ vô lo vô bệnh. 




Người tư chất thông minh, người trí kém. Lá số tử vi phân định vậy, chỉ xét nguyên cục gặp cách Tang Hư Mã là khởi phát khó khăn so với cách Tuế Hổ Phù. Địa lý cũng vậy, nơi gặp hiểm nguy cận kề, nơi có những cơ hội phát triển tốt hơn tới nhân mệnh. Sự lựa chọn trong cuộc đời mỗi nhân mệnh có tính cá nhân, kết quả trực tiếp tới cuộc đời của nhân mệnh. Việc từ bỏ những hướng đi sai lầm là khó khăn, cần tới quyết chí đoạn tuyệt, phân định sai lầm và tri kiến của nhân mệnh. Chỉ yếu tố lựa chọn, cơ bản, là quá trình tư duy, tri kiến của mệnh số. Phàm như vật được thuần hóa như giống chó mèo nuôi nhốt, khó có thể có sự nhạy bén như loài hoang dã, nơi tồn tại giữa các nguy hiểm, sinh mạng. Tuy nhiên, nếu được huấn luyện có thể trở nên sắc bén, khả năng kích phát năng lực lớn, như huấn luyện nghiệp vụ. Cũng vậy, mỗi thế mạnh không hẳn đặt ở vị trí nguy khốn có thể tạo thành tựu đột biến, có những sự tích lũy an toàn nhờ vào năng lực nội tại. Điều quan trọng như nội tại được phát triển theo đúng khuynh hướng. Nhân mệnh khi khởi phát tính cách, có người tính cách ưa cương trấn, có người nhu nhược, có người gan góc. Có cách cục gặp nguy khốn rèn luyện được bản lĩnh, năng lực phát sinh mạnh. Có cách cục cần sự khích lệ, hướng dẫn đúng phương hướng nếu không sẽ dẫn tới suy bại, thất bại cuộc đời. Như một nữ mệnh có người con sa vào nghiện chất ma túy, muốn thoát ra tuy nhiên rất khó khăn. Nếu sa vào tham cầu về tài danh, theo con đường kinh thương nhân mệnh có thể đã được sự ngưỡng mộ. Điều quan trọng đặt sự tham muốn ở vị trí nào. Vấn đề nghiện về chất kích thích, hay ma túy ắt liên quan tới điều cấm, vượt quá hành vi cho phép, là trái pháp luật. Trên tử vi hình thành các nhóm sao mô tả bố cục này. Thế Ám hình thành, cũng là chất kích thích tuy nhiên thuốc lá được xã hội chấp thuận, bản chất của ma túy sẽ khởi phát khí Ám, tức phát sinh từ bóng tối, tượng cách âm. Cũng như bố cục Kỵ Hình, là nòng cốt của Nhị Ám. Kỵ Hình tam hợp có thêm Thiên Diêu, tức tượng cách Thiên Hình là pháp, luật, Kỵ Diêu là điều ám, chủ trong tối, việc ám muội, không công khai. Có thể Kỵ Diêu tác hóa hóa thành tính dục, tuy nhiên cũng có thể hóa thành việc mờ ám. Liên quan tới bộ Kỵ Hình là một cách cục lớn trong tử vi. Địa Kiếp khởi bởi cuồng. Kỵ Hình khởi từ phạm. 




Thiên Cơ hội Kỵ Hình tức Cơ Diêu có thể là hay, do chính yếu ý nghĩa là sự tiếp xúc âm ám với cơ thể. Cách Cơ Kỵ Hình và Đồng Kỵ Hình được đánh giá tốt hơn bố cục Sát Phá Kỵ Hình. Hoặc thí như cách Vũ Kỵ Hình là khả năng lách trước luật khi hội Song Lộc là bố cục có tính hoạch phát mạnh, Vũ Khúc là tài tinh, có năng lực linh hoạt, tuy nhiên khi hội vận Sát Kỵ cũng sẽ mang tính hình pháp dễ bị tai họa. Tính chất của Kỵ Hình trên lá số tử vi động tương ứng bên ngoài thực tế xã hội. Khi phát sinh những điều cấm mới bởi luật pháp, Kỵ Hình cũng biến dịch thay đổi tính chất. Cách cục là nguyên gốc, phản ánh ra bên ngoài và tác động nghịch lại với bố cục. Với một quốc gia được xét việc mại dâm là hợp pháp, tức bố cục Kỵ Hình biến chuyển khiến một số cách cục trở thành không vi phạm. Một số quốc gia, việc phụ nữ gặp những bất lợi trước quyền cơ bản, được coi phạm pháp luật ở một số quốc gia. Việc luật định thay đổi cũng hóa cách Kỵ Hình thay đổi. Tác động của lá số tử vi mỗi nhân mệnh là hoàn cảnh và nội tư tưởng của mệnh cách. Mối liên kết giữa lá số tử vi với vận làng, vận nước xuất phát từ hóa khí bên ngoài. Không có thế vững bền trường tồn, ngay cả sự ổn định của một quốc gia thịnh vượng, vạn vật đều tuần hoàn biến dịch, đời người cũng vậy, lấy chấp để cầu thành tựu, chấp niệm quy căn nguyên về tham muốn khởi như Tham Lang, hay sâu hơn là sao Tử Vi, khi hóa thành hành khí, ắt có biến dịch, thăng trầm, điều thay đổi là cần thiết để tiến lên phía trước.

Friday, October 8, 2021

Quá trình phấn đấu của mỗi nhân mệnh

 Nhân mệnh thai sinh, trưởng thành và theo guồng quay của nghề nghiệp công việc đang làm, để mục đích kiếm ra nguồn thu nhập, nguồn tiền lương cho cuộc sống, thụ hưởng của mỗi người. Một số nhân mệnh muốn thoát ra những vòng tròn lặp lại để tạo nên đổi mới trong cuộc đời, khi ngành nghề không phù hợp, hoặc hướng tới công việc tốt hơn, thay đổi số phận thường như đã được lập định để tìm kiếm tự do về kinh tế, đáp ứng nhu cầu về vật chất hoặc tinh thần. Một loạt các quy tắc chuẩn mực của xã hội, trong công việc khiến mệnh cách có những áp lực tới chính bản thân. Điều này cần xét về tính chất thông minh và xoay chuyển tình thế của nhân mệnh. Trong chuỗi ngày nghề nghiệp tác động ngược lại bản thân do kết quả là lương tiền Thiên Lương tới nhân số. Liên quan tới tử vi đẩu số, là phương pháp toán mệnh trên khí hóa của mệnh tạo khi thai sinh. Phàm thời khắc khai tạo một nhân mệnh là thời điểm cốt gieo nhân quả tới thiên địa. Khi thai sinh, nhân mệnh chịu sự tác động tương tục của xã hội tới nhân mệnh. Chính tinh chủ nghiệp nối tiếp quá trình nhân quả sẽ theo nhân mệnh tới khi hết chu kỳ sinh lão bệnh tử. Do vậy, luận cách cục tối quan trọng là Chính tinh thủ mệnh và các tinh đẩu tại bản cung mệnh. 12 chính tinh và giao hội, VCD khắc họa bản tính nguyên thủy của nhân mệnh. Điểm trọng chính là điểm xét cách cục tạo tại mệnh nguyên để xét năng lực, khả năng, thiên tính của nhân mệnh. Cuộc đời gắn với tinh đẩu là tính cách tồn tại của nhân mệnh phản ánh từ vô thức, gắn với cát hung thịnh suy khi luận đoán. Cũng vậy, xuất hiện nhiều tổ hợp Mệnh có thể khiến đương số khó có thể vực dậy sau những sai lầm biến cố cuộc đời. Dự đoán vận cát hung là vấn để cơ bản khi nghiên cứu tử vi, là điều nhập môn người nghiên cứu có thể nắm rõ. Vận sinh tử là phần tương đối phức tạp để định cách. Dựa vào cát vận hoặc đại hung vận cách không đủ xét định số phận tuyệt khí của mệnh tạo. Phàm vạn vật theo lý đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Khí linh ứng cảm giao tương ứng là tất yếu khi khí hóa của bố cục phát ra bên ngoài. Cách cục vận hạn đại hung ứng hóa với hoàn cảnh bên ngoài sẽ tạo nên tính chất hung hiểm tai kiếp nặng nề, tuy nhiên chưa xét tới họa sát thân. Sự thay đổi diễn ra có thể khiến nhân mệnh mất đi chỗ dựa của bản thân về chính công việc, thứ tạo ra nguồn thu nhập của mỗi mệnh tạo. Nghề nghiệp, chức vụ là quá trình khởi phát của công danh, tính chất của Hóa Kỵ là nỗi sợ, trong vòng Tang Hư Khách Mã là nhóm sao có tính chất khởi phát sự đương đầu của nhân mệnh trước những quyết định lớn trong cuộc đời. Nỗi sợ hiển hiện rất nhiều đặc trưng bởi đánh mất, mất mát của nhóm Sát Phá Tham, hay của mâu thuẫn, đè nén bởi Cự Cơ Đồng. Tại đây, có nhân mệnh chịu đựng để nghĩ tới ổn định trong cuộc sống, có nhân mệnh lựa chọn thay đổi để tìm phương hướng khác, chưa xét tới quá trình thành hay bại khi lựa chọn của chính bản thân đương số tới những điểm tác động của cuộc đời. Tuy nhiên dây buộc lại chính là việc lo sợ mất việc làm, lo sợ về không có lương tiền để duy trì cuộc sống. Đặc biệt với những nhân mệnh có những khoản nợ được trả bởi lương tiền hàng tháng. Điều này dẫn tới việc quan trọng là sự lựa chọn, quá trình lựa chọn của nhân mệnh trước những biến động của thời cuộc có sự tác động của chính tư tưởng, hay bản tính, tính cách của mệnh tạo tới. Trong nhiều thời điểm, xét mệnh cách gặp Khôi Việt Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc hội cách cục cát hóa mạnh, khi bản thân có thời gian ngẫm về tử vi giai đoạn còn thanh niên và sau này khi thời gian lập lại hòa bình của đất nước, khó để suy xét mệnh cách quý hiển bằng các tổ hợp sao cát trợ tinh, nhược lại có rất nhiều cách cục gặp bố cục trên khiến cuộc sống nhàn hạ, nhân mệnh bình thường không gặp các biến động lớn của thời thế tác động tới duy trì cuộc sống của nhân mệnh. Lương tiền, lương bổng là điểm cốt yếu có thể ảnh hưởng tới các quyết định cuộc đời của nhân mệnh. Có người do nghĩ tới gia đình, bản thân và nhiều lý do khác. Tính chất lo sợ, áp lực của những hoàn cảnh mang lại khiến nhiều đương số không thể phát triển thêm những tư duy, tư tưởng mới, khi vừa xuất hiện đã bị loại bỏ. Và có những tư tưởng đáng lý sẽ thay đổi toàn bộ cuộc đời của nhân mệnh. Trong quá trình chịu áp lực lớn, cũng là thời điểm kích phát của cục số. Tính chất này do tính chất phát tác của hung sát và cách cục tới nhân mệnh. 





Những nhân mệnh thành tựu sẽ đưa ra các quyết định mang tính quan trọng trong một số lần trong cuộc đời sau những thử nghiệm, cố gắng tồn tại trong chính tính cách của mệnh tạo. Điều này dẫn tới các tín hiệu của hành vận tạo bởi một số sự kiện do nhân mệnh đưa ra quyết định tiên quyết. Thí như một trường hợp người viết có luận với lá số một thanh niên có sự nghiệp ổn định tại ngân hàng nhà nước và khi thời điểm Lộc Kỵ Kiếp Tướng bỏ công việc và khởi đầu với kinh thương qua mạng internet. Sau gần một năm loay hoay với những khoản tiết kiệm đã dùng hết và lương tiền không còn được bảo lãnh bởi công việc làm. Nhân mệnh rơi vào thế áp lực khủng kiến, vay mượn của gia đình người thân. Gặp thời cuộc đã có tài sản rất lớn, có thể bằng đời người tích lũy. Sự thay đổi mang tính mạo hiểm và quyết định có thể khiến nhân mệnh bế tắc trong cuộc sống hoặc khiến cuộc đời mở ra bước ngoặt mới. Phàm quá trình xây dựng sự nghiệp của mỗi nhân mệnh có đích tới nằm tại quyết định những thời điểm quan trọng của nhân mệnh. Như việc đặt cược sự thay đổi có thể dẫn tới thành tựu hay trượt dài trên những quyết định hối hận. Quá trình phấn đấu của mỗi người chịu tác động bởi cả hoàn cảnh vận làng, vận nước. Trong giai đoạn dịch bệnh này có thể khiến nhiều đương số rơi vào tình cảnh nợ nần, khủng hoảng về tư tưởng do áp lực của tài sản hao hụt hay không thể kinh doanh buôn bán. Thời điểm này thương nghiệp chịu ảnh hưởng nặng, quan lộc cách có thể ít gặp biến động hơn. Phép luận định khi hoàn cảnh vận nước sẽ thay đổi thích nghi với dịch bệnh để khôi phục phát triển kinh tế, tạo ra nguồn tài sản từ những thiệt hại do ngưng trệ giao thương. Nhiều nhân mệnh sẽ rơi vào tình trạng khó khăn, cũng như mỗi thời trong giai đoạn chiến loạn mệnh cách đắc sẽ bạo phát. Giai đoạn này là thời điểm của thay đổi thích nghi. Như trong tự nhiên việc sinh tồn dựa vào quá trình thích nghi liên quan tới tính mệnh. Trong thời kỳ vận bĩ, khai thông, lật đổ bĩ sẽ tới giai đoạn thái. Trong thời điểm này, sẽ có nhiều nhân mệnh đánh mất toàn bộ tích góp của cuộc đời tính tới giai đoạn này, lâm vào cảnh nợ nần bế tắc. Một số kẻ tiếc nuối về những quyết định của bản thân. Rất nhiều mệnh cách quý hiển rơi vào thế khó khăn, cũng là thời cơ cho sự thay thế của trật tự xã hội. Trong quá trình phấn đấu này, thành bại nằm tại tính cương cường, vững chắc. Tuy nhiên điểm cốt yếu là khả năng linh hoạt xoay sở, khi dồn vào thế chân tường. 





Mất mát là cách cục thường hiện diện trên lá số tử vi, vào các hạn hành hung sát trùng phùng, hội họp cách cục phá tán. Đánh mất gia nghiệp là việc khổ tâm của mệnh cách, đặc biệt nếu nhân mệnh đã trải qua quá bốn hạn hành tức vào thời trung niên. Việc gây dựng lại sẽ khó khăn, bĩ cực thái lai, phàm sự thoái lui là quá trình sai giảm để hướng tới cơ hội mới của vạn vật, nếu không nhanh thay đổi ắt sẽ tụt hậu hoặc phá tán mạnh như quá trình từ Đà La tới Lộc Tồn, tới Kình Dương. Con người gặp giới hạn bởi thời gian, tức mỗi giai đoạn sống phân định hữu hạn về quá trình phấn đấu. Nếu chậm trễ khi chuyển vận về sau càng suy giảm thời gian sống. Thực tế, khó có thể luận định được cơ hội sống của mỗi người trong thời gian cuộc đời, chỉ xét tới tính chất bệnh tật, yếu tố tai nạn, họa hoạn đã tạo nên những mối nhân quả sai biệt giữa các mệnh cách. Người viết thường thấy rõ việc nhân mệnh thành tựu sự nghiệp quý trọng thời gian hơn những vấn đề lo nghĩ, lo sợ về quá trình thực hiện công việc hay nghề nghiệp. Điều này là sự tinh tường rất lớn của những nhân mệnh này. Mối quan hệ chặt chẽ này gắn với tính khởi phát quan trọng nhất trên lá số tử vi mà thường người luận định không chú trọng tới, chỉ tập trung vào luận đoán bố cục và tính chất của tinh đẩu. Thời gian là điều kiện tiên quyết của mệnh cách để xét định toàn bộ lá số tử vi. Thời và vận là những điều cần nhìn rõ để xác định khả năng và tiến trình vận cuộc đời của một người. Thí như nghiệp quan gắn với thời gian đắc lệnh thường tầm trung niên. Theo nghiệp kinh thương xét tới tính chất hoạch phát lớn hơn tức giai đoạn nhân mệnh bước vào tiền vận đã có thể tạo nên sự nghiệp kinh doanh lớn. Tuy nhiên khi xét yếu tố thời gian, mục tiêu của nhân mệnh đạt được cuộc sống chính là giai đoạn tiền vận và khởi đầu của trung vận. Mười năm thiếu niên đắc thời không bằng 1 năm trung niên đắc vận. Quá trình sinh phát tương kiến của vật theo khuynh hướng phát triển sẽ hội tụ điểm kích phát cần chú trọng tại thời gian sau. Do giai đoạn tiền vận thường tích lũy kinh nghiệm sống, nguồn lực không mạnh như giai đoạn về sau. Tuy nhiên tại giai đoạn trung vận sẽ ảnh hưởng thêm tác động tật bệnh và suy yếu của thể trạng. Nhân mệnh cách được thừa hưởng, kế tục từ phụ mẫu là điểm cát khi thời gian phát triển rút ngắn. Tính chất này cũng khiến nhân mệnh nếu khởi sự từ bạch thủ hưng gia, tay trắng nên nghiệp bắt buộc khuynh hướng rất táo bạo, đánh đổi, đánh cược với những tư tưởng đổi mới khác. Cũng vậy, quá trình biến động của vật chất không như quá trình suy giảm của sinh lực.  Tài vận có thể thăng giáng, ở mức âm do nợ tài sản, tuy nhiên sức khỏe chỉ theo chiều hướng suy yếu theo thời gian và ngưỡng số Không tức Vong.  




Sức tác hóa của thời gian và hiểu rõ tính chất quan trọng của thời gian tạo ra các thời vận, cơ hội là điều mệnh cách thành tựu đại nghiệp nắm rất rõ. Phân phối và lược bỏ những vấn đề tác động không cần thiết là nguyên tắc cho quá trình phát triển mạnh về sau. Điều này thường không nhiều đương số xét tới, do vậy mệnh cách thành tựu không nhiều trên tổng thể. Vận trinh của cuộc đời là các giai đoạn trải qua, càng về giai đoạn sau cuộc đời nhân mệnh sẽ có khuynh hướng sự an toàn, ổn trọng, do vậy nếu tích lũy năng lực và khả năng thay đổi nắm thời thế nằm tại giai đoạn hành vận thứ 3,4. Hai đại vận này có tính chất quan trọng do chịu tác động của thời gian tại lá số tử vi. Nếu hai hành vận này phối hợp Mệnh tốt đẹp, lá số luận cát. Sát tinh sẽ chế hóa điểm chủ tại hai đại vận này. Rất nhiều lá số nhân mạng khởi sự lại từ đầu khi giai đoạn trung niên, có những mệnh cách còn nợ số tài sản lớn tại giai đoạn này. Thứ cần thiết của mệnh tạo lúc này là thời gian gây dựng lại. Do vậy những điều tiêu hao như sức khỏe và thời gian ứng quy luật vòng Trường Sinh khởi phát sẽ tác động phần lớn tới độ số của mọi mệnh cách. Tri kiến và tích lũy kinh nghiệm từ giai đoạn tiền vận là điểm quan trọng để mệnh cách có thể phát triển tương đối an toàn về sau. Có thể đánh đổi tức Thất Sát, trao đổi bằng thời gian giải trí Vũ Khúc, Đào Hồng, Diêu Y, hay thậm chí thời gian sinh hoạt của mỗi nhân mệnh để lấy tri kiến trong giai đoạn này. Người viết có luận giải những mệnh số giai đoạn khó khăn trong cuộc sống, phân định thời gian dành cho giải trí hay thú vui nhiều hơn dẫn tới tích lũy về kinh nghiệm có phần khuyết. Khi Sát Kỵ tác động nhập vận tác hóa tới gặp biến động như bị lừa đảo, hay kinh thương thất bại, hoặc gặp biến cố trong công việc, hoặc mắc vào tệ nạn, cờ bạc... dẫn tới khủng hoảng của bản thân và gia đình. Khi lập thế vững chắc của tri kiến tức Xương Khúc có thể khắc phục vấn đề này. Lựa chọn tạo bởi chính nhân mệnh, về việc tạo sự chuẩn bị trước những biến cố là điều cần thiết. Lựa chọn cũng chính là Đào Hoa. Tinh đẩu biến hóa theo đích là chủ thể tức nguyên mệnh. Phần phân định này là khán hạn sẽ phân định được rất nhiều cách cục chính yếu gắn với độ số của mệnh tạo. Khi suy xét về khả năng tham muốn về tri kiến, học thuật ở phương diện sách vở và kinh nghiệm, có giá trị hơn thời điểm giải trí, hoặc thí như đặt quá nhiều thời gian cho những mối quan hệ và chịu tác động của các tư tưởng hưởng thụ khi thế của nhân mệnh chưa thực mạnh. 




Phòng vệ, lường trước những biến cố cuộc đời là điều cần thiết, ở mức cao hơn là lập định kế hoạch tức Tham Lang để hướng tới, như Tham Lang cần có Hỏa Tinh tức nhiệt huyết là cách cục quý. Kế đến là sức khai phá, làm chủ của Phá Quân, Tử Vi và Cự Môn tới cuộc đời nhân mệnh. Một lá thư của một đương số bắt đầu tới giai đoạn hành vận trung niên đề cập tới người viết về sự khó khăn đột biến khi dịch bệnh xảy ra khiến đương số trở về số không khi thời kỳ trước có một doanh nghiệp tương đối lớn về dịch vụ. Cũng rơi vào trong điểm vận Phá Không Tồn Kiếp Ấn Đào ứng với hai thời kỳ hành vận của nhân mệnh và thời vận của vận thiên hạ bất lợi với một số ngành nghề liên quan tới dịch vụ. Thực tế nhân mệnh có thể khởi phát cơ nghiệp khi nhập vận Khoa Quyền Lộc hội trợ tinh mạnh trong thế đứng của Chính Tinh vững hợp cách mệnh. Tuy nhiên khi lưu chuyển trên 12 cung độ ắt sẽ có giai đoạn gặp Sát Kỵ dẫn tới bại cách. Điều này cũng thường gặp tại nhiều lá số trên kinh thương và các quan trường. Tới giai đoạn hậu vận, có thể gặp phá tán nặng nề. Phân định ngày tháng ý nghĩa là một trong những yếu tố để định số trong tử vi. Tạo bởi tổ hợp Âm Dương khi định cách. Nếu trên thiên bàn, bộ Âm Dương nhập miếu gia cát là cách thời gian sử dụng tốt. Sự tác động của khí hóa khiến nhân mệnh lo sợ rất nhiều vấn đề, là lo lắng đánh mất sự ổn định tuy nhiên thực tế vạn vật luôn vận hành, biến chuyển không ngừng, những ý tưởng, tư tưởng hay bị phá bỏ bởi hoàn cảnh trước khi được khởi tạo là thường gặp. Vì vậy mới thường ca ngợi cách cục Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế, là sự thay đổi của Cự Môn khi bất mãn. Hay cách cục Sát Phá Kình Đại sẵn sàng phá lề lói cũ đổi mới. Tử Phủ Lộc Tồn với hệ tư tưởng vững chắc trước thời cuộc, có tính tích lũy lớn và linh hoạt của Vũ Khúc. Nhân mệnh hành trình của cuộc đời là tìm lại cuộc sống của bản thân, hướng tới điều hoan hỉ, an ổn, thỏa được vật dục và sắc thọ ấm. Số và phận gắn liền với nhau, mệnh cách an phận thì số không biến động mạnh, mệnh cách hướng lên trên, không an phận thì số biến động, có thể thành bại thăng trầm. Có lẽ cuộc đời nên thử một vài lần. Cổ nhân luận định, mệnh quý là mệnh hoan hỉ trước những khó khăn và lo lắng khi đạt được thành tựu lớn. Việc tư tưởng và hoàn cảnh tác động mạnh tới khuynh hướng nghề nghiệp, hai lá số cùng tứ trụ, khởi sinh cùng thời điểm, một thăng vận Sát Kình Tuế Phượng Khôi Quyền Kiếp, giữ vị trí quan trọng trong quốc phòng, một theo nghiệp kinh thương xuất ngoại đạt được sự nghiệp lớn trong ngành công nghiệp bên Hoa Kỳ, cả hai đều nhập đại vận phát dã như lôi. Phàm nhân mệnh, xét thời là quan trọng, vận bĩ mệnh quý là thời khắc thử thách vận bĩ là trui rèn cho năng lực của mệnh tạo. Cả hai lá số một người phụ thân mất sớm khi thiếu niên, một người mồ côi, cũng là điểm tác họa của Sát tinh. Nhiều lá số khác tại vị trí cao trong xã hội trong trích lục của Tử Vi Đông A, khởi phát khi hoàn cảnh thế cùng cực, thắp lên ý chí cao viễn để có thành tựu về sau. Cũng ở mệnh lý của nhân mệnh đương nhiệm, Tử Vi Đông A chỉ bàn luận về cách cục, không xét về cụ thể. Điều nghiệm lý nhiều mệnh cách gốc mệnh bình hòa, toàn bộ tổ hợp đắc chế hóa lưu tại hành vận trung niên, nhập vận bất ngờ đắc thời trong giai đoạn rất ngắn giữ vị trí quan trọng trong xã hội. Đây là điểm huyền nghiệm của mệnh lý. Ứng tiền nhân luận "Mệnh hảo bất như Thân hảo, Thân hảo bất như Hạn hảo". 




Mệnh quý cũng có thể luận là mệnh tri kiến sâu rộng, năng lực suy xét nhạy bén, giải quyết vấn đề. Cuộc đời nhân mệnh có thể dài hoặc ngắn, trường đoạn có người rời khỏi nhân thế khi đầu xanh, có mệnh số vừa chào đời đã không thể tiếp tục sinh mệnh. Vật vô thường vậy khiến suy xét về tính phát khởi của nhân mệnh cần chú tâm. Người bệnh tật, hình pháp, tới thương tật chỉ tham cầu sự sống hay tham cầu đầy đủ tứ chi, vô bệnh tật. Việc bế tắc, áp lực tồn tại do vấn đề khác là tác hóa dư khí của Sát Kỵ tới nhân mệnh. Rất nhiều nhân mệnh có khả năng nắm bắt thời cơ để tạo ra khối tài sản khổng lồ trong thời gian ngắn, cũng có nhân mệnh biến hóa, linh hoạt tìm ra những bí mật, sơ hở của luật pháp các quốc gia để tạo nên cơ nghiệp của bản thân. Tuy nhiên nếu có Kỵ Hình Phi thì cẩn thận bị bắt, nếu có Khôi Hình Kỵ Hổ khó có thể thoát nạn. Nhiều trường hợp ở vị trí cao trong xã hội cũng khó thoát ách nạn này. Giai đoạn từ khi thai sinh tới lão bệnh là quá trình tiếp nối của thời gian, không thể quay lại và càng về vận trình sau của cuộc đời sẽ có cảm nhận rõ về thay đổi của thời khắc, điều cần lưu tâm là chế ngự được hung sát tinh tác động tạo áp lực, đè nén, xung đột tới mệnh cách. Thiên Cơ tương kiến là linh động, chủ dùng trí phân tích. Phá Quân dùng lực và tính khai phá. Thiên Phủ dùng tình cảm. Thiên Lương dùng đạo. Thất Sát dùng dũng. Tử Vi dùng lý tưởng. Thiên Đồng dùng cộng. Cự Môn dùng khẩu. Tinh đẩu khi đạt khí hóa cao nhất như việc nhân mệnh học hỏi ở mức độ tinh thông. Đại diện cho các vị trí tài giỏi, nổi danh. Phàm tử vi không có tinh đẩu đại hung, chỉ có bất hợp. Như thuyết ngũ hành, năm hành đều quý, miễn là tương hợp chế hóa hữu tình. Tử Vi xét chính tinh chủ mệnh là bản thể, khi xét cách hóa ra bên ngoài tượng nghĩa, là bản thân nhân mệnh, tú khí thì thành tựu. Kể hung sát ám tinh, tú khí là nhân mệnh tài giỏi, như Tào Tháo đa nghi cũng là mệnh vương. Tần Thủy Hoàng thường bị người đời luận định ác nhân lưu truyền tài trong sử ghi. Một cung đường cuộc đời, tới trăm năm cũng thành cổ nhân, hà tất lo sợ việc thay đổi có thể phần mạo hiểm để mưu cầu điều tốt hơn cho năm tháng còn lại. 

Monday, August 2, 2021

Tướng trạng của tinh đẩu trạng thái hóa khí

 Tướng do tâm sinh. Thực tế khi xét đoán tướng số là giai đoạn tương ứng hành khí của tinh đẩu. Lộ tướng và ẩn tướng do tư tưởng sinh khởi của nhân mệnh phát sinh cũng dự đoán một phần giai đoạn hoặc cuộc đời của đương số. Luận đoán tử vi hay tứ trụ cũng thường xét sắc tướng để định về vượng suy của nhân mệnh qua thời kỳ và tính cách của nhân mệnh. Người nghiên cứu tử vi thời gian dài thường thấy tương quan của diện tướng và năng lực, khả năng hoạch tài hay phát quan vị của nhân mệnh trong thời điểm xét đoán. Hành vận thay đổi tương tục, diện tướng cũng xoay dịch theo thời vận không sai khác. Có những ẩn tướng khi hiện lên báo hiệu tai họa tới rất gần, có thể hạn sinh tử của mệnh cách. Qua cử chỉ, phong thái, diện tướng cũng xét khởi một phần tính cách hay bản tính của mỗi người. Tương kiến khi nhìn người, chọn người và dự đoán về năng lực, trình độ, khả năng hoàn thành công việc. Dự đoán về nhân tướng có tương quan rất lớn với tử vi. Tướng trạng các sao trong tử vi tương ứng mà tạo nên sự tương hợp của định hành vận và xét diện tướng. Thường người nghiên cứu tử vi hiểu được Thiên Lương là "Ấm", Thiên Đồng là "Phúc". Chữ Ấm có các đặc tính cơ bản bởi tính nhân quả lành. Tập ấm, thừa ấm. Tính chất tập ấm cao là ấm thọ, thứ tới ấm sinh của tử tức quan lại trong triều đình. Thiên Lương do đặc tính cơ bản trên, đắc cách thường chủ được thừa hưởng, tiếp quản công sức của phụ mẫu, gia tộc. Chữ "Ấm" chủ mang lại rất nhiều ý nghĩa hay. Với chữ Phúc có đặc tính chủ được hưởng, thừa hưởng từ nội lực của bản thân và xét tới may mắn gặp thời vận nhiều hơn thừa hưởng từ phụ mẫu tổ tiên. Thiên Đồng luôn ở vị trí tam hợp chiếu với Thiên Cơ càng rõ tính chất may mắn, phúc phận gắn với thời cơ. Thiên Lương có thể giao hội với Âm Dương hoặc giao hội với Cơ Nguyệt Đồng thành cách Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương và Thái Âm luôn tam hợp chiếu, bên cạnh Thiên Lương sẽ có tính âm thầm che chở của Thái Âm. Do bố cục của tinh bàn, thế đứng của Thiên Lương sẽ tránh được sao Cự Môn. Thiên Đồng trong trường hợp Cự Cơ Đồng sẽ hội Cự Môn. " Công danh đợi tuổi tác cao, giáp Liêm giáp Sát một hào chẳng sai" là cách của Thiên Lương Sửu Mùi. " Lương tại Tị tắt tật du" xét Thiên Lương tại vị trí Tị. 




Thực tế khi xét định phú luận không nằm ngoài tính chất cơ bản khi phát sinh biến hóa của Thiên Lương. Trong cách Âm Dương Lương, đặc biệt khi Âm Dương lạc hãm hoặc đồng cư tại Sửu Mùi. Nếu mệnh cách ở vị trí Thiên Lương sẽ dễ tăng thêm khuyết điểm bởi tính thụ động, hưởng thành quả từ nhân quả lành trước mang lại. Ấm giám là công ơn của quan phụ mẫu được học Quốc Tử Giám. Chữ Ấm khi phát sinh biến cục sẽ khiến nhân mệnh khởi cách giải đãi, dễ hoàn cảnh mang lại tốt, hoặc nội tâm không đặt tham vọng lớn lao khiến giai đoạn tiền vận khó khăn trắc trở. Trong thời loạn lạc, hay thời vận bĩ cực của vận thiên hạ như chiến tranh, bệnh dịch. Cách cục của Thiên Lương và Thiên Đồng càng thể hiện rõ tính phúc ấm của nhân mệnh gặp may mắn. "Phúc ấm tọa Mệnh Thân bất phạ tai ương". Khi nghiệm lý về các cách cục của Thiên Lương hay Thiên Đồng nhập mệnh cung, hội họp Sát Kỵ giao hóa đều có những tai ách và giải cứu vô hình, may mắn tới phù trợ giúp nhân mệnh thoát khỏi hiểm nguy. Xét về diện tướng, Thiên Lương nhập mệnh phân trường hợp độc tọa và đồng độ. Với cách Cơ Lương chủ tướng mạo có phần hiền hòa, nhìn Cơ xét tới lông mày, ắt chủ cong, đặc biệt tại đầu chân mày, Lương chủ hạ đình có phần rộng, tướng mạo thường có nét vuông. Với cách Dương Lương cư Mão chủ mắt có thần sắc, tướng mạo chủ dương. Khi nghiên cứu nghiệm lý lá số tử vi, cần lưu ý tính chất quan trọng của Chính Tinh phối hợp định cách tại Mệnh, cũng tức diện tướng khởi của mệnh tạo. Dẫn tới một kết quả tương đối có ý nghĩa khi người nghiên cứu tử vi thường có khả năng xét đoán tới nhân tướng. Tướng pháp của nhân mệnh còn có thể sử dụng khi xét về chức năng ngũ tạng trong nội thân, bệnh tật tương ứng phát ra bên ngoài. Dịch bệnh gọi là covid-19 lây lan qua các biến chủng mới xuất hiện càng có tác động biến hóa mạnh, tiến hóa về đột biến. Thứ phát triển đột biến cũng chính là ý nghĩa tác hóa của Sát cục. Biến hóa thay đổi triệt để là tác động không hay đối với con người, tuy nhiên với bản thể virus mang ý nghĩa có lợi khi thích nghi và lây lan nhanh hơn. Sự thay đổi và đột biến của những điều tai họa, tai kiếp là điều đáng lo ngại nhất, tương ứng với tính chất của chính lục sát tinh Kình Đà Không Kiếp Hỏa Linh với đột biến không ngờ Thiên Không Địa Kiêp dẫn hóa. 




Tính chất thay đổi là tính chất quan trọng của Sát tinh, dẫn hóa bởi Kình Hao và Đà Hao. Tính chất linh hoạt hay cường động là nguyên căn cho sự thay đổi đột biến dẫn hóa hởi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Nếu căn bệnh do virus này không phát khởi biến thể đột biến nhanh chóng, hoặc không có tính lây lan, tấn công đa dạng nhiều nguồn lây thì không là mỗi tai họa lớn. Bằng chính bản chất hoạt động của virus, ta nói virus có khả năng đột biến, biến hóa nhanh. Bằng chính bản tính của một người, ta nói người đó có khả năng hoạch phát mạnh. Thời kỳ của Lộc Tồn hay Lộc Tướng Ấn có tính chất đã biến hóa sai biệt rất nhiều so với thời kỳ lịch sử giai đoạn phong kiến, quân chủ chuyên chế. Thời kỳ hiện tại là giai đoạn của sự thay đổi, dời đổi nhanh chóng. Sự đột biến của một nhân mệnh có thể tới rất nhanh và tạo ra tài sản khổng lồ qua internet kết nối vạn vật so với kinh thương truyền thống, điều này qua nghiệm lý cũng xuất hiện rất rõ qua các lá số nhân mệnh có tuổi đời rất trẻ . Sự táo bạo của Sát tinh tạo ra thời cơ rất lớn cho nhân mệnh trong giai đoạn lịch sử hiện tại so với nhiều thời điểm trong quá khứ bị hạn chế bởi quyền lực trong hệ thống địa vị xã hội. Cơ hội vẫn nằm ở đó, rất nhiều trong một không gian rộng lớn mà mỗi người tiếp cận rất nhanh gọi là không gian mạng. Nơi tập hợp cơ hội rất nhiều, và người mệnh số gặp thời vận, cách cục hành vận hoạch phát vẫn nắm được thời cơ tại đây để tạo đột biến kích phát, người vận bình hòa vẫn không nắm được một cơ hội. Cự Môn hội Lưỡng Lộc vẫn luôn tìm kiếm những tri kiến, kiến thức chuyên sâu từ internet và dễ có thêm khả năng học thêm ngôn ngữ mới là tiếng anh do nghiên cứu chuyên sâu của quốc tế sử dụng ngôn ngữ này là phổ biến. Tính chất thích nghi là yếu tố cốt lõi để định cách tổ hợp Sát của thiên bàn. Không Kiếp là thế bĩ của thời vận, nếu ứng hiềm cách cục thích nghi ắt là thượng cách, có tính chất cát hóa biến hóa vô cùng. Thuộc kỳ cách. Kình Dương và Đà La rất quan trọng. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can gồm Lộc Tướng Ấn, Kình Hao, Đà Hao, Thanh Phi Phục tượng cách như tổ hợp phân bố của Chính Tinh tới 12 cung độ. Không xét tính chất khuyết thiếu của tinh đẩu, đều có khả năng tạo hoạch lực đứng đầu xã hội tùy dụng thể hay bất dụng. 




Sự biến đổi phù hợp với thời vận không chỉ là cách Kình Hao, còn chính là cách Đà Hao. Khi rất đông số người đầu cơ nhà đất giai đoạn 2007 đến 2008 sau đó kinh tế suy yếu đã có nhiều gia đình rơi vào cảnh khủng hoảng, vỡ nợ. Trong thời điểm đó. Nếu Đà Hao suy tính cặn kẽ, có tính chờ đợi không táo bạo cướp thời cơ như Kình Hao, có lẽ giai đoạn về sau khi kinh tế phục hồi sẽ tạo nên khối tài sản lớn mang ý nghĩa hay hơn Kình Hao. Bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can đều có đặc tính cát hóa hoặc hung hóa phù thuộc vào bố cục tinh đẩu hội họp. Trạng thái của nhóm sao này khi gặp Hóa Khí sẽ hình thành nên tổ hợp sao có tác động kích phát mạnh khi bộc lộ ưu điểm hoặc khuyết điểm của cách cục. Trong trường hợp nhóm Lộc Tướng Ấn, Hóa Lộc hội họp tác động trực tiếp tăng cường tính chất tích lũy, phát sinh lộc tại trong nội tính chất, do vậy cách cục Lưỡng Lộc hay Song Lộc có tính chất lớn mạnh. Với Đà La, khi Hóa Kỵ hội cách trực tiếp tăng cường tính chất âm tàng, thu ám và hình thành tính chất lớn mạnh. Với Kình Dương, khi Hóa Quyền hội cách tăng cường tính quyền biến, uy áp, quyết đoán của Kình Dương khiến cách cũ ý nghĩa tăng mạnh khi hợp hóa. Với nhóm Thanh Phi Phục, tính chất điều hòa, phục khí khởi từ tan rã tức Phi Liêm tới hoàn lại Phục Binh và tiến khí Thanh Long hội cách Hóa Khoa ứng hợp tính chất mạnh. Thanh Long đứng đầu nhóm sao này chủ thanh danh, danh tiếng. Phân định sâu bên trong của bốn cách cục này là cả một nghiên cứu dài. Khi hóa khí hội cách cùng nguyên cục nhóm sao riêng rẽ này sức tác hóa sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều. Trong đó nhóm Lưỡng Lộc sẽ thường mang ý nghĩa tốt chủ phát phú, đắc danh lợi, khả năng tích lũy, thịnh vượng. Đà Kỵ sẽ thường mang ý nghĩa không mấy hay chủ cản trở, khi tốt đẹp hưởng chữ kỳ tài, ẩn sĩ, mưu lược. Khi người nghiên cứu nghiệm lý tiếp theo về các vị trí hình thành Lưỡng Lộc hay Đà Kỵ của các thiên can sẽ xét định từng Thiên Can với các vị trí đặc biệt hình thành cách cục này. Với can Giáp, Lưỡng Lộc chỉ xuất hiện khi Liêm Trinh cư tại ba cung Dần Ngọ Tuất. Tại bố cục này, Song Lộc hội nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có thêm Khoa. Cách cục Khoa hội Lưỡng Lộc có lợi với can Giáp rất lớn. Tại can Ất, cách cục Song Lộc hóa khí từ Thiên Cơ hình thành khi mệnh cách gặp nhóm Cự Cơ Đồng tại Hợi Mão Mùi. 




Trong trường hợp này, cách cục thường theo khuynh hướng chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ sinh ra tài lộc. Thường gặp mệnh tốt tại cách Cự Cơ cư Mão ngộ Lưỡng Lộc. Cách cục Kỵ Đà hình thành bởi Thái Âm cư tại Dần Ngọ Tuất. Trừ tại Tuất cung có phần tốt các cách cục còn lại mang ý nghĩa không mấy hay. Xét định gốc niên can sẽ hình thành nên các thế đứng cơ bản của tinh bàn dựa trên hóa khí phối hợp chính tinh và nhóm sao an theo Thiên Can. Phàm khi hội Lưỡng Lộc thường là vị trí đắc thời, tại cách Đà Kỵ dễ có cản trở, khó khăn. Đây là điểm cần chú trọng khi xét định cách cục theo nguyên cục. Nếu hội Không Kiếp hay Hình Sát tại cách cục đều là cách chủ hung. Trong trường hợp này, hành vận sẽ có tác động cát hóa nguyên cục, nếu vận hung thì mệnh khó thành tựu, hạn hành trùng phùng Sát Kỵ, dễ tuyệt mệnh. Trong giai đoạn dịch bệnh lan truyền nhanh, việc hiểu biết và phòng tránh tức Hóa Khoa hay Xương Khúc và Tuần Triệt là điểm quan trọng. Luận khán sinh tử vận là phần luận thường sai biệt rất lớn khi định số. Người viết có cơ may được tiếp cận với một số thai nhi sinh khởi ở tại bệnh viện mắc bệnh di truyền bẩm sinh hoặc một số bệnh tật nặng khác khiến nhân mệnh không thọ trường, tuyệt khí. Cũng trong thời điểm này, các thai sinh khác cùng giờ sinh bình thường. Khai thị vấn đề này, khởi vận cổ nhân truyền lại tính nhân duyên với phụ mẫu. Đa phần các trường hợp sinh khởi bình thường khi xét định lá số tử vi sẽ khán được hạn quá khứ và dự đoán nguyên cục cát hung xét phú, quý, bần, tật, thọ, yểu. Như cách cục Sát Kỵ trùng khởi mệnh và niên vận thứ nhất, xét hạn sinh tử khảo cứu cũng không có tác dụng rõ nét do những sự cố sau khi sinh được y thuật tiên tiến hỗ trợ rất nhiều trường hợp tránh được hạn tử tuyệt. Cổ nhân xét định phần định cách tính chất sao thường luận "Phi yểu tắc bần". Tức mệnh số khí hóa gốc cường vượng không gặp yểu cách thì sẽ bần hàn. Không nên nhầm lẫn bởi Sát cục có thể tạo đột phá lớn tới sự nghiệp, cuộc sống của nhân mệnh tuy nhiên tính Sát liên quan tới bổn mệnh luôn tương động rất rõ. Người viết có người họ hàng ham mê về cờ bạc, dẫn tới tham gia trên mạng thua hết gia sản, số tiền có thể tham gia chơi rất lớn và cách thức chơi không quá khó khăn. Rất nhiều nhân mệnh có khuynh hướng tuyệt mệnh khi mắc phải khoản nợ lớn khi tham gia đỏ đen dẫn tới cuộc sống về sau chuyển hướng hoàn toàn. Không gian kết nối mạng có thể phát sinh những tri kiến, những công việc kinh thương tạo giá trị tài sản rất lớn, cũng có những điều mạo hiểm khiến nhân mệnh có thể thất bại hoàn toàn. Lâm "tứ đổ tường" rất phức tạp, đặc biệt về cờ bạc có thể khiến mệnh cách tiêu tán sản nghiệp nhanh chóng. Trong những vấn đề trên, thường hình thành tại mệnh cách có Thiên Diêu hội nhóm Tang Hư Khách, hoặc hội Hỏa Linh trong cách cục Diêu Kỵ hay Diêu Đà. Tác hóa của tham muốn trở nên loạn động lớn khi tham gia cờ bạc, khiến đa phần mệnh tạo dần trở nên mạnh bạo, mạo hiểm đặt cược số tiền rất lớn sau một thời gian và tạo nên khoản nợ rất lớn. Tướng trạng cách cục Diêu Hỏa Linh có thể gây ra tai kiếp với Tài cách nhiều hơn cách cục Kỵ Kiếp Hình. Đây là điểm rất quan trọng khi luận cách cục định Sát cách. Tại một địa điểm đặc biệt, thí như chịu áp bức lớn, cách cục Khoa Quyền Xương Khúc có thể không tốt đẹp bằng Kình Hổ. Cũng vậy, khi xét định khí hình vận tức tướng trạng thực điểm của tinh đẩu trong thời điểm xét định là điểm quan trọng để định cách cục. Bản chất của tổ hợp cần xét đắc dụng với thời hay không, nếu đắc dụng như vị thế của cung Điền Trạch trong giai đoạn đất đai tăng giá mạnh, cũng là cách Tài vượng. 

Saturday, September 14, 2019

Bố cục chính tinh luận tổng quan độ số




" A man xuất thế do hữu Cự Kỵ Khốc Hình Thìn Tuất". Tức Tào Tháo thành tựu đại nghiệp do cách cục này. Phú thường luận " Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận kỵ tương phùng". Xét về cách cục chủ đạo đức, Cự Môn nhập La Võng tức hình thành cách Cự Nhật, theo quan điểm của phong kiến, bố cục này mang ý nghĩa bất mãn, nghi kỵ, phản đối và làm phản. Điểm bất lợi của phú luận là đánh giá rất lớn tính chất Chính, Trung, Lễ,... theo tiêu chuẩn của Nho giáo. Chính sự tác động của thời thế dẫn tới các câu phú trong từng giai đoạn lịch sử sẽ mang ý nghĩa khác nhau về đánh giá của tiền nhân tới phú quý. Cự Kỵ Khốc Hình tức là cách cục Cự Nhật Kỵ Khốc Hình là cách cục có tính độc đoán, mưu lược, quyền biến và đa nghi. Trong giai đoạn thời phân cắt đất nước, tình hình giai đoạn này có rối ren, người chú, là một người thầy của người viết về nghiên cứu dịch lý. Luận bàn truyền đạt lần đầu về ý nghĩa của nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Trong giai đoạn khi cả ba thể Tử, Phá, Cự hoạt động mạnh chính là giai đoạn bất ổn nhất, ba cách cục trên luôn hình thành thế cục đặc biệt trên tử vi. Khi Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thành cách, Sát Phá Tham tại đối cung hoàn chỉnh, Cự Môn giao hội với Cơ Đồng ở thế lục hợp luôn âm thầm tạo nguy cơ bất ổn, rối ren trong nội bộ. Đặc biệt với thế đứng Tử Tướng đồng độ, Cự Cơ hình thành tại lục hợp, Phá Quân xung chiếu với Tử Tướng là cách cục bất ổn lớn do thế đứng của Cự Cơ cũng rất mạnh chủ tàng ẩn lợi ích bên trong, cũng mang ý nghĩa đắc thời để khởi binh, tạo phản. Phá Quân xung chiếu trong nhóm Sát Phá Tham với Sát cư Tí Ngọ rất đắc lực. Nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với Vũ Phủ đồng độ có tính bạo lực. Toàn thế đứng của Tử Tướng là thế đứng của bất ổn, khi tất cả các tinh đẩu đứng đầu nhóm sao đều cường vượng, nghịch với bố cục Tử Vi cư Ngọ với Tử Vi cực vượng, Sát Phá Tham và Cự Đồng đều ở thế bất lợi, phá cách trước Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. 






Các thế đứng của Tử Vi sắp xếp theo dịch lý, là quy luật biến đổi của vạn vật, cũng như việc phân định vạn vật theo Âm Dương, thể âm có tính chất nhu, thể dương là cương. Người nghiên cứu tử vi thời nay lao vào các lý thuyết hỗn độn quên mất cái cơ bản, những vấn đề cốt tủy của tử vi. Bất kể mệnh cách tại các bố cục tốt đẹp, độ số xét khởi đầu tiên khi luận tử vi là định cách thế đứng của tinh hệ, chính là toàn bộ cục diện của đương số, là nét tổng quan về cuộc đời nhân mệnh trên thiên bàn. Bản chất của tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là quyền lực tập trung bởi nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm nắm lệnh. Nếu mệnh cách tại các bố cục còn lại tương ứng với tính chất của tổ hợp trên trong toàn tinh hệ để luận mệnh khí. Bố cục của tinh hệ là tổng quả của cách cục nhóm sao trong Mệnh Tài Quan, tính tổng quát lớn hơn và có ý nghĩa về tổng quan cuộc đời. Như việc phân định Mệnh Tài Quan thuộc Cự Cơ Đồng. Bản xung Mệnh là Cự Cơ, tam hợp chiếu Thiên Đồng. Ý nghĩa của toàn tổ hợp là sự bế tắc, ồn ào, tìm thấy cơ hội để khai phá trong khó khăn. Mệnh cách gặp Cự Cơ tức bản thân ta, bản tính đương số là Cự Cơ, cách cục tổng quát là Cự Cơ Đồng. Khi xét toàn bộ thế đứng của tinh hệ Chính Tinh cũng vậy, tinh hệ Cự Cơ Đồng là bản thân ta, trong cách cục tổng quát tạo bởi tinh hệ Tử Tướng cư Thìn Tuất hình thành ý nghĩa cả ba nhóm sao Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cự Cơ Đồng đều rất mạnh, xung đột lớn, biến động mạnh. Mệnh cung cho biết về tồng quan bản tính trong hoàn cảnh toàn tổ hợp Mệnh Tài Quan. Tổ hợp Mệnh Tài Quan cho biết về tổng quan vị trí hoàn cảnh bản thân trong hoàn cảnh xã hội, thế giới quan quanh tư tưởng nhân mệnh hình thành, chịu tác động. Một vấn đề thường người nghiên cứu tử vi không lưu ý tới là việc khi nhìn toàn bộ cục diện lá số, thường chú trọng rất lớn tới các Sát Tinh gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình, đặc biệt với Không Kiếp, Kỵ Hình mà quên đi sự biến hóa của các Chính Tinh bởi sự hình thành các Sát tinh là Chính Tinh là tối quan trọng, phần quan trọng nhất trong tử vi là định cách bố cục Sát, tức bố cục Chính Tinh và thế đứng xung đột, mâu thuẫn của  Chính Tinh tác động mạnh hơn các tinh đẩu Lục Sát rất nhiều, do thế đứng của Chính Tinh là thế đứng cuộc đời, của các sao chính trong tử vi để định ý nghĩa với các phụ tinh còn lại, ngay cả Sát tinh. 





Nhân mệnh sinh nguyệt lệnh tháng Hợi luôn gặp mệnh Thiên Không, khả năng gặp bộ Không Kiếp hợp chiếu là 2/3. Tuy nhiên khó có thể luận về được mất, thành bại do yếu tố Chính Tinh thành cách quyết định tới độ số. Tuy nhiên nếu nhân mệnh gặp bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành thế đứng của Tử Phá ắt cả cuộc đời có sự thăng trầm, khó khăn rất lớn. " Vũ Sát Liêm Tham hội khúc toàn cố quý cách". Ngay can Giáp hội Tam Hóa tức Khoa Quyền Lộc bởi tứ hóa Liêm Phá Vũ Dương, lại có Khôi Việt tại Mùi Sửu thuộc tổ hợp, không gặp Lộc Tồn tại đây phá do Lộc Tồn an tại Dần. Bố cục được cát hóa toàn cục tuy nhiên cuộc sống nhân mệnh có cách cục này vẫn rất khó khăn, biến động thăng trầm cuộc đời lớn. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hay do Phủ Tướng hỗ trợ nhóm Tử Vũ Liêm. Tử Vi cư Ngọ hay do Liêm Phủ đồng độ và Vũ Tướng đồng độ tạo tính chất đặc biệt. Khi luận tử vi cần nắm vững tính chất của các Chính Tinh, thứ tới là các phụ tinh còn lại và ý nghĩa hóa khí khi từng Chính Tinh và trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc hóa thành đều khác nhau. Thiên Phủ bản tính, hay tính chất cơ bản là đánh giá, nhận định, nhận xét và phán xét, có tính bảo mật, che đậy bí mật quan trọng. Do vậy khi đồng độ với Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc tính chất phối hợp rất khác biệt. Đồng độ với Liêm Trinh được luận tốt do luôn nhập cung Thìn Tuất có La Võng, thứ tới với Thiên Phủ ưa phán xét cần gặp tinh đẩu chủ dò xét, điều tra. Khi nhận xét luôn cần tính chất trong sạch, liêm chính để nắm lệnh. Phần thông tin Thiên Phủ che giấu, bí mật quan trọng khi gặp Liêm Trinh dò xét, điều tra lưu lại bên trong. Thiên Phủ là khố. Liêm Phủ đồng độ là lấy thế danh nghĩa, chính nghĩa do Liêm Trinh nắm lệnh từ Tử Vi cư Ngọ, cách Liêm Phủ mang rất nhiều ý nghĩa hay, ở vị trí quan trọng trong tổ chức. Do tính chất cơ bản, khi Thiên Phủ ngộ Không Vong, đặc biệt là Triệt Lộ, phá tính chất lưu giữ thông tin bí mật, như việc âm mưu, tính toán bị lộ, các sai sót che giấu lộ ra bên ngoài, có phần nguy hiểm khi thế đứng Cư Đồng và Sát Phá Tham đều mang hung tính. Tại hai Chính Tinh gồm Thiên Phủ và Cự Môn đều tối hỉ đồng độ Thanh Long. 





Bản chất của Thanh Long là tiếng nói, khi Thiên Phủ gặp Thanh Long tính chất thay đổi, cơ biến rất linh hoạt, thường luận là ứng biến theo tình hình. Với Cự Môn gặp Thanh Long là cách " Lão bạng sanh châu", tức nhấn mạnh về kinh nghiệm đối định, đối chất hay giao thiệp, giao tiếp rất tốt. Trong lịch sử nước ta chỉ mới ổn định thời gian rất ngắn, người nghiên cứu tử vi nếu sống trong các thời kỳ vận nước thay đổi lớn sẽ nhận thấy sự biến dịch, các cơ hội lớn theo thời vận cũng thay đổi. Hóa khí của các tinh đẩu cũng biến đổi về tính chất khi ứng hợp với từng chính tinh. Chính tinh hay chủ tinh với các thế đứng quyết định về ý nghĩa cục diện, khi giao hội các phụ tinh sẽ biến hóa ra kết quả cát hung, thành bại. Tuần Triệt và Thiên Không mang tính Không Vong thường được luận với tính chất rất đặc biệt như " Tuần Triệt đương đầu thiếu niên tân khổ". Triệt, Tuần, Thiên Không ( Địa Không ) đều hàm chứa tính Không và tính Vong. Chữ Không là nghịch của Có, tuy nhiên Không Vong mang ý nghĩa sai khác, chủ mất đi, tổn thất nhiều hơn được lợi. " Tuần Triệt bất khả ngộ Lộc Tồn tư cơ phá hoại". Cách cục của cả Tuần và Triệt đều bất lợi với các bố cục ổn định, tích lũy. Đó là cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh, Lộc Tồn, Cơ Nguyệt Đồng Lương. Khi đồng độ tại bản cung với từng Chính Tinh sẽ mang ý nghĩa sai khác. Với các thế xung đột như Cự Cơ Đồng, Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, Cự Nhật gặp Tuần Triệt mang ý nghĩa tốt hơn xấu. Tính chất của Triệt Lộ, Tuần Trung và Thiên Không sai khác hoàn toàn với nhau. Trong trường hợp cách cục hội Tam Không, thường nhiều sách cho rằng đây là bố cục tai họa, thực tế trong các trường hợp để luận định. Với bố cục Cự Cơ Đồng, Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham hỉ kiến Tam Không. Lưu ý Không Vong tọa thủ bản cung tính chất khác với tam hợp chiếu. Tuần và Triệt sẽ tác động trực tiếp ý nghĩa của toàn cách cục Chính Tinh phân tách. Trong thế Cự Cơ Đồng với cách Cự Cơ Mão Dậu hội Thiên Đồng tại Hợi Tị. Nếu Triệt Lộ tại bản cung Cự Cơ, tức cách cục Cự Cơ chủ lộ mưu tính, lộ về tính toán của bản thân, cũng là cách Cự Triệt dễ gặp thị phi, đặc biệt khi có Hóa Kỵ. Nếu Triệt tại vị trí Thiên Đồng tức tại cung Tài Bạch thành cách Đồng Triệt nội cách Đồng Cự Cơ ý nghĩa vẫn chủ thế bế tắc, xung đột được thay đổi, Đồng Triệt khai thông, Thiên Đồng chủ thay đổi, tăng tính chất biến đổi toàn diện. Nếu Cự Cơ Đồng tại đây hội Tam Không chủ mệnh tạo thường tính cách thường hay quên, tư tưởng hư không, nếu đắc vòng Trường Sinh khí vượng có thể thành tựu lớn. 




Cách cục Cự Cơ cư Mão Dậu này nếu có Song Hao tại bản cung và cung xung chiếu là cách cục bạo phát về Tài Danh. Thực tế tại đây không chỉ do bản chất của Cự Cơ Song Hao. Thực tế chỉ trong ba can Đinh Kỷ Quý có Song Hao cư Mão Dậu, đây là ban can tuổi âm nam, hành vận lưu tới cung độ Tham Lang, Âm Dương, Vũ Phủ, Thiên Đồng và Phá Quân. Trong đó hai hành vận Tham Lang và vận Vũ Phủ định cách Cự Cơ bạo phát, do Tham Lang nhập vận thứ hai phát khởi tham muốn, tham vọng ở thế đứng Thất Sát cư Tí Ngọ hội chiếu rất hay. Hành vận Âm Dương tăng tính giao tiếp xã hội, cung vận Vũ Phủ là hành vận then chốt luôn hội Tồn Tướng Ấn hoặc Thanh Phi Phục. Cự Cơ cư Mão, với Đinh Kỷ có Lộc Tồn tại đối cung, với can Quý với Lộc Tồn tại ngay bản cung. Cự Cơ cư Dậu, can Đinh Kỷ tại bản cung và can Quý có Lộc Tồn tại đối cung. " Cự Cơ Mão Dậu tốt thay, công danh vinh hiển lại tay hoang tàn, ngộ Song Hao là làng quán thế". " Cự Cơ Mão Dậu hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế". " Cự Cơ đồng lâm công khanh chi vị". Tiền nhân khi lưu lại các câu phú có nhiều trường hợp tổng hợp toàn bộ độ số của cách cục, người nghiên cứu tử vi nếu không suy xét cẩn trọng có thể gặp sai lầm khi định cách cục và tính chất của các tổ hợp Mệnh cách. 

Wednesday, August 21, 2019

Một lá số nữ mệnh cách cục Tử Phủ cư Dần

Khi luận hành vận của lá số tử vi điểm quan trọng là phân định cách cục của Mệnh khởi ban đầu và cung an Thân tác động biến dịch qua các hành vận, do đó nếu không luận cách cục theo tiến trình từng đại vận người luận sẽ gặp sai lầm khi xét một đại vận riêng rẽ. Đại vận thứ nhất chính là vận nhập Mệnh cung, khởi phát bản tính nguyên căn và bố cục toàn bộ tinh đẩu chịu ảnh hưởng của khí hình gốc phát khởi, qua các đại vận tính chất của các tổ hợp sẽ thay đổi liên tục khi ứng hợp với từng giai đoạn thực tế vượt qua của cuộc đời, thường người nghiên cứu tử vi luận số dụng Thần Khê Định Số xét khí hình ứng bởi tướng số. Bởi tướng số của nhân mệnh chính là lưu khí hình từ giai đoạn khởi phát sinh mệnh quá khứ tới giai đoạn hiện tại biểu hiện. Tử Vi Đông A xét khởi khí hình gốc bởi định bố cục Sát ban đầu và ứng hợp bởi các hạn quá khứ tương ứng các tổ hợp tác hóa. Tử Phủ nhập vận, ngộ Khoa Hồng Đà Diêu Bệnh hội Vũ Không Hình Tuần và Liêm Tướng Đào Triệt. Tử Phủ có Khoa Hồng bản cung sắc diện tốt đẹp, đặc biệt khi hội Đào Triệt Tướng tức sắc diện mang ý nghĩa lộ ra bên ngoài, có khả năng thu hút. Tử Phủ bản cung bất ngộ Không Vong tuy nhiên hội chiếu Tam Không thành cách, chủ cuộc đời gặp nhiều thăng trầm, tuy nhiên cách cục thành cách, có phần khuyết điểm chủ bất ổn trọng, cũng mang ý nghĩa họa khó quan phòng. Tính chất của nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm giao hội bởi Tử Vũ Liêm và Phủ Tướng, cách cục Tam Không cản trở bố cục Phủ Tướng chủ khó có thể kế thừa, cũng chủ bên trong nội bộ lộ bí mật, tức Tử Phủ cách cục được bảo hộ, là cách cục khai sáng mạnh thành đứt đoạn, gặp nhiều biến cố không ngờ mang ý nghĩa xấu do Vong tinh kỵ gặp Tử Vi và Thiên Phủ. Cung an Thân cách cục Tham Hỏa Kình trong thế Tham Vũ Thìn Tuất hội Phá Kiếp Khôi Việt đắc vòng Trường Sinh là cách cục mang ý nghĩa khá tốt đẹp, chủ cát hóa tới bản tính, tức mệnh cách. 





 Cung an Thân là khí hóa của tư tưởng, suy nghĩ thành hành động, khác với Mệnh cách chủ bản nguyên của tư tưởng, khởi phát từ vô thức, luôn tồn tại trong mọi hoàn cảnh, thường luận là tiềm năng, tính ẩn. Tử Phủ Đà Hồng Khoa có khả năng kiềm chế tốt, Khoa Hồng tăng tính chất, năng lực khai sáng cho Tử Phủ, cũng chủ là cách cục mang ý nghĩa chủ to lớn, khi hành vận kích phát chủ lý tưởng lớn, tuy nhiên với mệnh nữ đa phần chịu tác động của Liêm Tướng Đào Hồng, chủ tình duyên cách hơn về tham muốn Tài Danh như nam mệnh. Cách cục tại cung an Thân Tham Hỏa Kình Kiếp Sinh Vượng là cách cục rất tốt đẹp, nữ mệnh đắc Tài cách, hành vận cũng lưu qua bố cục này mà khí hình vận trở nên cường vượng, Kình Kiếp thành bạo phát cách. Nếu lá số này là nam mệnh ắt phát đại phú. Đà Khoa chủ khả năng mô phạm, Tử Phủ có tính chất quản lý, khả năng giải quyết công việc do sự giao hội của hai nhóm sao chỉ huy, quyết đoán, có khả năng phán đoán, dò xét do Tử Vũ Liêm và chủ dụng tình cảm, tính tương trợ của Phủ Tướng. Cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là bố cục cân bằng, Sát tính không lớn như Sát Phá Tham thiếu khả năng dụng tình cảm trong nội bộ để giải quyết công việc. Tử Phủ cách cầm thiết gặp Tả Hữu là hai trung tinh mạnh có sức phò tá đắc lực, tuy nhiên tại bố cục thiếu cặp Tả Hữu lại hội Tam Không Đào Hồng nên có khuyết điểm. May mắn cung an Thân cách cục Tài cách rất vượng cát hóa. Đại vận thứ nhất qua cách cục Tử Phủ, gặp nhiều việc không ngờ với dự tính, năng lực Tử Phủ khá tốt, tuy nhiên bố cục biến hóa theo khuynh hướng tình duyên, Khoa Hồng Tuần gặp Tử Phủ khi gặp đại vận hoạch phát ắt thành tựu rất lớn, gặp vận xấu họa cũng gia tăng. Do đó luận cách cục bất ổn định. Đại vận thứ nhất có Khoa Đà thiên tính hinh thành chủ ưa việc lý lẽ, có khả năng kiên nhẫn, không vội vàng phán xét. Nhập cung vận thứ hai tại Mão cung, cách cục Thái Âm độc tọa cư Mão trong bố cục Âm Dương Lương với Âm Dương lạc hãm khi Dương cư Hợi, Âm cư Mão, chủ phát triển sẽ có phần chậm trễ. Bản cung Thái Âm ngộ Kỵ Cáo Tồn Tang hội Dương Ấn Mã Tuần và Lương Quyền Triệt, Âm Dương Lương hình thành, hội Lộc Mã bội Ấn cách, Thái Dương nhập Hợi cung có Tuần cát hóa khiến Âm Dương Lương có phần tốt đẹp, hiềm nỗi cách Kỵ Tồn hội Âm Dương lạc hãm khó khăn, cản trở tới thường nhiều khi nhập vận thứ hai. 




Lộc Mã giao trì hình thành kích phát bởi Tham Hỏa Kình có tham muốn về Tài cách là cách cục tốt. Đại vận thứ hai, cách cục chủ bình hòa, nữ mệnh nhập vận Thái Âm chủ âm nhu, cũng chủ tình duyên tới trong vận này. Đại vận Âm Dương Lương có bất mãn trong nội tâm và các mối quan hệ xã hội do Tồn Kỵ Tang hình thành, tuy nhiên cũng là đại vận chủ tăng khả năng giao tiếp rất cần thiết với Tử Phủ cách để thành tựu khi không gặp trợ tinh phò tá. Sự giúp đỡ do mối quan hệ và khả năng giao tiếp rất quan trọng, tuy Âm Dương tại vị trí không mấy sáng, dẫn tới cuộc sống, ngày tháng khó có thể vui vẻ, tươi sáng, đa phần chủ chống lại các khó khăn khiến bố cục tăng tính trầm ngâm, Đà La tác hóa mạnh trong bố cục, chủ mang tính chịu đựng nhiều hơn với giải quyết các khó khăn. Bố cục này do chỉ gặp bố cục Kỵ Tồn, Lộc Tồn gặp Thiên Mã thành cách cục tốt chủ tính linh hoạt, khả năng giải quyết công việc, nghị lực vượt qua bế tắc. Đại vận Thái Âm là vận âm thầm vươn lên vượt qua khó khăn. Qua hành vận Thái Âm, nữ mệnh nhập vận Tham Lang độc tọa cư Thìn từ 25 tới 34. Đây là đại vận hoạch phát do cách cục Sát thành cách. Tham Lang độc tọa cư Thìn, đối cung là Vũ Khúc cư Tuất, Thất Sát cư Thân và Phá Quân cư Tí hội chiếu là các vị trí tốt đẹp của Sát Phá Tham. Tham Lang nhập vận Sát tính không lớn, do đó sẽ gặp ít tai họa tới bản thân, bản cung ngộ Tham Hỏa Kình hội Khôi Việt Kiếp Đại đại đắc vòng Trường Sinh, Phúc cung lưu vận nhập Mộ địa, đồng cư cung an Thân tức hưởng phúc từ dòng họ, chính cách cục này có sức bạo phát lớn. Hiềm nỗi mệnh cách Tử Phủ Đà Khoa hội Đào Hồng có tính chất chủ âm tính lớn, lại hình thành Đào Hoa cách, mệnh cách là mệnh nữ, khi đại vận tới cung độ Tham Lang tính chất Đào Hoa kích phát, khiến bố cục chỉ thành tựu một phần. Đà La từ thế bị động chống đỡ khó khăn trong vận Thái Âm độc tọa cư Mão khi lưu tới hành vận Tham Hỏa Kình tuy tham muốn Tài cách lớn nhưng không đủ táo bạo, quyết tâm khởi tạo, khai sáng. Tuy nhiên trong hành vận Thái Âm, nữ mệnh thành cách Lộc Mã giao trì có tính linh hoạt, đại vận Tham Lang ắt có thành tựu, trợ lực từ Phúc cung là cách cục cực vượng, chủ không gặp tai ương họa hại tới thân. Mệnh cách Tử Phủ hội Tam Không bản chất bố cục mang ý nghĩa khó có thể quyết tâm với một lý tưởng, do chính Tam Không là những vấn đề không ngờ bất ngờ vượt quá dự đoán, khả năng của bản thân. Tam Không cách là sự giao hội của Triệt, Tuần, Thiên Không. Bản cung Tử Phủ lại là Đà Khoa, tuy có tính mô phạm, khả năng hiểu biết sâu về vấn đề khám phá, tuy nhiên tại đây lại là những nhận định có phần khiên cưỡng, có khuyết điểm. Tử Phủ gặp Đà La, không có Tả Hữu tức là cách cục cô quân. Đa phần mệnh cách Tử Vi đều gặp khuyết điểm này. Tổ chức của Tử Phủ là kế thừa, kế tục từ Phủ Tướng tức mang ý nghĩa nối tiếp chức vị, nếu không ắt cần có kẻ phò tá đắc lực do chính Tử Phủ thường ưa suy nghĩ, không cương quyết như Sát Phá Tham hay Cự Nhật. Cũng Tử Phủ khi hội Tam Không có Đà Hao càng gia tăng khuyết điểm này. Trong hành vận Tham Lang chỉ có thể chế hóa một phần do bản chất Hỏa Kình Kiếp sát tính rất mạnh, với mệnh nữ khó có thể dụng. Tử Phủ gặp một khuyết điểm thứ hai  dẫn tới yếu thế hơn vị trí Tử Vi độc tọa cư Tí Ngọ do tính chất của Thiên Phủ tuy tăng tính cẩn trọng, cũng tăng tính phán xét, xét đoán cẩn thận. Tuy nhiên tính chất  này trở nên phần bất lợi khi không gặp Phụ Bật để thành cách " Tả Phủ đồng cung nhất hô bách nặc". Tham Kình Hỏa Kiếp trong hành vận này mang khuyết điểm do Tử Phủ Đà khó có thể khai phá lớn do tham muốn bản thân, ảnh hưởng từ thế chống đỡ khó khăn từ vận Thái Âm. Trong đại vận Cự Môn với bố cục Cự Thanh ắt sẽ khởi tạo cái mới, đây là vận thành tựu lớn của nữ mệnh do tất cả bố cục Sát đã cát hóa. 





Trong hành vận Tham Lang gặp cách Sát Phá Hỏa Hao có Kình Kiếp là cách cục chịu nhiều áp lực khi hướng tới Tài Danh, đè nén. Tham Lang khởi vận kích phát lý tưởng của Tử Phủ, trong cách cục Tử Phủ tại Mệnh cách hướng tới tình cảm gia đình nhiều hơn Tài Danh, bố cục này cản trở Tài cách, nữ mệnh gặp bất lợi với tình duyên. " Hỏa Tham tương ngộ danh trấn chư bang". Do Hỏa Tinh ở vị trí sáng, ngộ Kình Dương trong cách Kình Đại càng tăng tính chất quyết đoán trong công việc với nữ mệnh. Với nữ mệnh lại là khuyết điểm, do Sát Phá Hỏa Hao có tính phẫn uất, nhập cung độ La Võng khiến Tham Lang với Tài thì tương đối ổn trọng, với tình cảm bất lợi. Nhóm Sát Phá Tham hoàn chỉnh khi hội Sát Kỵ có khuyết điểm là tính bộc phát của Hỏa Hao, khi thành cách với Quan Cách và Tài Cách đều mang ý nghĩa nhiệt huyết tuy nhiên thiếu cẩn trọng, mệnh cách Tử Phủ Đà Khoa bổ khuyết, sức chịu đựng lớn, tuy nhiên tính thận trọng khó có thể duy trì do bản chất Tam Không hội chiếu Tử Phủ khiến cuộc đời gặp những bước ngoặt không ngờ tới, có hoạch phát công danh, tuy nhiên cũng có những tai họa trong cả công danh và tình cảm, với cách cục tình cảm Sát Phá Hỏa Kình có tính cương quyết lớn, bố cục Sát Phá bất lợi cho tình cảm do một phần bản thân trong hành vận tính cách chịu tác động của Hỏa Kình khi nóng nảy kích phát, dẫn tới cự cãi. " Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử" cũng do Cự Môn là thị phi tinh, chủ cự cãi. Bố cục Tham Lang nhẹ hơn khi Tham Hỏa thành cách, tuy nhiên lại hội Hỏa Kiếp Kình hàm chứa tai kiếp, tai họa tại đây. Tai họa liên quan tới cả Thiên Di tức bên ngoài, liên quan tới Phúc cung tức dòng họ. Phối cung Phá Kiếp Đại Hao là cách thay đổi, dễ phá bỏ, thay đổi tình cảm, Tử Phủ tại mệnh nếu ổn trọng có thể phá thế cục này, tuy nhiên mệnh cách cũng rơi vào thế bất ổn do Tam Không hội họp, nếu kết hôn muộn thì tránh được một phần hình thành do đã qua hành vận. 







Khi qua đại vận Tham Lang cư Thìn, nữ mệnh lưu tới cung vận Cự Môn độc tọa cư Tị trong cách cục Cự Cơ Đồng tại hành vận từ 35 tới 44. Khí hóa của hành vận Tham Hỏa Kình thay đổi rất lớn trong tư tưởng và lý tưởng của cuộc đời, tham muốn Tài cách kích phát hành vận Cự Môn. Mệnh cách Tử Phủ nhập đại vận này ắt sẽ khởi tạo, thành lập một tổ chức là hợp cách. Cự Môn ngộ Thanh Long trong cách cục Cự Cơ Đồng hội Tả Hữu Xương Khúc Tuế Phượng Lộc. Cự Thanh và Đồng Linh đồng độ có Tả Hữu Xương Khúc Lộc, trợ cách rất mạnh với bố cục Cự Cơ Đồng. Nữ mệnh cách Tử Phủ đồng độ khi lưu tới hành vận Tả Hữu Xương Khúc rất cần thiết, lại có Thai Tọa, hiềm nỗi nhập Tuyệt địa, lại cách cục Cự Cơ Đồng ở vị trí không mấy hay giảm độ số một phần. Đại vận này là vận đắc cách, hành vận nữ mệnh qua hai vận đều đắc Tài Quan cách, trong vận này hoạch phát công danh. Cự Cơ Đồng bản chất là mâu thuẫn nội bộ, xung đột, khi tốt khai thông thế bế tắc. Tại đây hình thành cách Quế Sứ Hoa Thương tuy nhiên không đáng ngại. Cự Môn nhập vận ắt có thị phi, tuy nhiên được trợ giúp rất đắc lực của Lưỡng Long và Phụ Bật, hợp cách khởi tạo cái mới. Thiên Cơ hóa thành Lộc, Tuế Hổ Phù hội Khúc Xương là quan điểm, Tham Hỏa Kình cư cung an Thân là kế hoạch và hành động. Cự Môn nhập vận phát danh trước tới tài sau. Nữ mệnh trong hành vận này lưu tâm tới công việc, khai thông thế bế tắc trong nội bộ ắt đạt được công danh lớn. Tiểu vận năm Kỷ Hợi, đại tiểu vận tại bố cục Cự Cơ Đồng, tiểu vận tại Đồng Linh Phi Phượng là cách linh ứng, do Đồng Linh cách là cách cục đặc biệt trong tử vi, có sự giúp đỡ do Tả Hữu. Tuy nhiên do Văn Khúc hóa thành Kỵ hình thành bố cục Cự Kỵ Phi Liêm mang tính thị phi, Tam Hóa không lưu tới bố cục Cự Cơ Đồng, thực tế năm này có thể tăng xung đột, khi hình thành cách Đồng Linh Phượng là khai thông, năm này hướng tới thờ phượng là phù hợp, ắt có linh ứng. Tiểu vận năm Canh Tí gặp cách cục Thất Sát ngộ Trường Sinh trong bố cục Tham Hỏa Kình và Phá Kiếp hội, đây là cách cục khá tốt đẹp, chủ đoạt được, tranh đoạt có lợi, Thất Sát nhập Trường Sinh khí hóa cực vượng, đại vận Tuyệt xứ phùng Sinh là tốt. Tiểu vận năm Mão Ngọ Mùi phát danh, đặc biệt năm Mão, trong năm Ngọ chủ vui vẻ. Tiểu vận năm Thìn trong đại vận này rất quan trọng là vận thành tựu về Tài cách, đây là năm hoạch phát của nữ mệnh. Với năm Tị gặp vận Âm Dương Lương Tồn Tang Kỵ bất lợi với hành vận Cự Môn, chủ nhiều bất mãn, khó khăn với mối quan hệ xã hội trong năm này

Wednesday, April 24, 2019

Luận bố cục mệnh cách Thiên Tướng độc tọa cư Mùi



Luận cách cục hành vận của mệnh cách Thiên Tướng độc tọa cư Mùi do học trò luận định cách từ tinh hệ thiên bàn đặc tính chung của độ số dẫn hóa tới Mệnh Thân Vận. Khi định cách cục hành vận của thiên bàn. Xét định tinh hệ Tử Phá cư Sửu là cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham giao hội bất hoàn chỉnh, cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật hoàn chỉnh. Lá số Mệnh cung Thiên Tướng cư Mùi, xét Sát tinh là Không Kiếp Hỏa Linh không tụ tập, duy ở cung độ Thái Âm cư Thìn thì hình thành thứ cách của bộ Tam Không gia Hỏa Tinh do có Tuần xung. Bố cục nhìn từ cung độ Thái Âm là CNĐL ngộ Phi Phục Thanh và Cô Quả có Khôi Khoa Việt Hỏa Không Triệt nhập Sinh Vượng. Đây là bố cục khá tốt với Cơ Nguyệt Đồng Lương nhưng Sát cách không thực vượng mà bị chế hóa thành tốt đẹp. Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Phi Phục Thanh với cách Âm Thanh là cách tốt, tăng tính mưu trí, quyền ngầm, giải quyết được tính ám khá lớn của Thái Âm nơi La Võng. Ở đây cung độ Thái Âm được Vũ Khúc tài năng, giải pháp Nhị hợp làm tăng khả năng linh hoạt, có các sao Khoa Khôi Việt hội họp, cung độ này đắc Tam Không, vòng Trường Sinh khá tốt đẹp. Đây là cung độ đạt được nhiều thành tựu nhưng cần đề phòng áp lực, tinh thần mệt mỏi do có tính thái quá trong công việc, không xong thì không nghỉ ngơi. Mệnh cách Thiên Tướng đến đây chắc chắn có thành tựu.




Một cung độ khác là cung Dần Ngọ Tuất với cách Cự Nhật ngộ Tồn Tướng Ấn có Đào Hồng Kiếp Tuần, cung này thì tổ hợp Sát vượng hơn, mang nghĩa trúng họa, cũng mang nghĩa dấu ấn về một tai họa nào đó khá lớn, lưu lại trong tâm trí. Tuy nhiên với gốc tích gia đình kỹ thuật và bản mệnh có thể chế hóa tốt theo hướng nghiên cứu. Ở đây chuyện rời xa Tổ quốc vào Đại vận Cự Môn có thể nhìn ra. Đương số sinh ra trong gia đình có truyền thống, bố làm nghề kỹ thuật sửa ô tô, máy công trình nên gốc tích gia đình đi theo hướng nghiên cứu kỹ thuật, cũng phù hợp với Đại vận thứ hai hoạch định hướng đi cho đương số, cũng khiến cung độ này tốt đẹp hơn, Sát cách bị chế hóa theo hướng khó khăn trong nghiên cứu tức Địa Kiếp, bố cục này dĩ nhiên khi không nghiên cứu sẽ tác họa nhưng không lớn, chủ bất mãn trong vận này.




Đương số Mệnh Mộc thuộc Thổ Ngũ Cục, Mộc khắc Thổ, hành bản Mệnh khắc hành Cục, tức mệnh cách tác động lớn tới đại vận. Bố cục chung Mệnh cách cũng là Đại vận đầu tiên là Phủ Tướng ngộ Kình Tiểu và Tang Hư Mã Tuyệt và Xương Khúc Tuần Kỵ Thai Tọa. Bố cục Phủ Tướng đơn thủ nhấn mạnh ở tính ổn định, mang tính phúc họa trung bình, khó có thành tựu lớn, có tính giúp đỡ, hiền lương. Ở đây có Kình Hao theo Thiên can chủ tranh đoạt, tăng tính Quyền cho sao Thiên Tướng, hợp với binh nghiệp chủ phục vụ cho quốc gia, đất nước, bản tính là người sử dụng hành động hơn là lời nói, nhưng tiếc là chỉ có Tiểu Hao mà không có các sao tăng mức độ, làm giảm vị thế của Mệnh tạo. Ở đây có Tang Hư Mã càng nhấn mạnh tính chất tay chân, công việc liên quan đến kỹ thuật tuy nhiên về tình cảm thì luận bất lợi, Bộ Phủ Tướng đơn thủ khi đi với Tang Hư Khách chủ lời nói yêu thương không thật, sự tương trợ mang tính lợi ích đằng sau, có mục đích đằng sau, ở đây là mục đích tốt, mang tính quyền biến. Cách Phủ Tướng ngộ Kình Hao là cách cục bất ổn về tình cảm, ảnh hưởng đến công danh của Thiên Phủ và sự mâu thuẫn ngay trong nội tâm đương số. Bản thân đương số có tính tình cảm, cũng có ý nghĩa tương trợ, bảo vệ lẽ phải, giúp đỡ kẻ yếu, là con người có danh dự, có học vấn. Bố cục mang ý nghĩa chống lại khó khăn, bế tắc tức Mã Tuyệt cùng đường, lại thiếu Phượng Khốc để cát hóa, chỉ có lợi cho Võ cách tức Kình Mã. Mệnh tạo trong bố cục Kình Hao ngộ Xương Khúc Kỵ cũng là người đa nghi, trong bản thân có tính nghi kỵ lớn, điểm tốt là kiến thức chuyên môn, công việc phát triển theo chiều sâu, tức hiểu sâu, kinh nghiệm lâu năm trong một vấn đề.




Mệnh cách Thiên Tướng ngộ Kình Kỵ Tang Xương Khúc Dục gia Phủ Khách và VCD ngộ Tuần Hư Mã Tuyệt. Mệnh cách Tướng Kình Tang cư Mùi là Mộ cung, là cách Kình Tứ Mộ Mã triều lai, đây là Võ cách, tính cách đương số ưa chống đối, ưa tranh đoạt, cũng ưa bảo vệ lẽ phải. Kình Dương mang tính Kim Sát, là ngôi sao chủ sự cương quyết, không kiềm chế, chủ động trước khó khăn, cũng là sao mang chí khí lớn, ưa chống đối người khác, quan trọng việc thắng thua. Ở đây đương số thể hiện sự chống đỡ với nghịch cảnh, hình thành tính cách cứng rắn, ương ngạnh, trầm tĩnh, ẩn chứa bên trong là nghị lực, là khó khăn nghịch cảnh phải trải qua ngay từ thời thơ ấu, là vượt qua nghịch cảnh để thành công. Mệnh tạo là người trưởng thành qua nghịch cảnh, tài năng đến từ kinh nghiệm, từ những đau thương vất vả trong quá khứ, hợp với Võ cách tức Kình Mã Thai Tọa cư Mộ cung, cũng tượng là người quân tử. Mệnh tạo trên gương mặt có nét buồn, khắc khổ. Trong công việc của đương số có tính bí mật, quan trọng nhằm thực hiện che giấu mục đích nào đó không nên nói ra, hoặc nói điều không thật để che giấu bí mật trong công việc.




Đương số sinh giờ Mão, cung an Thân an tại Di, tượng là đi lại, di chuyển nhiều dù bản thân không muốn. Cung an Thân có nhiều cách hay như giáp Tả Hữu, là cách Tử Phá trong bố cục TVL giao hội SPT ngộ Đà Đại và Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc gia Lộc Hình Linh Quang Quý Cáo Phụ, trong công việc được nhiều người giúp đỡ, bản thân hành vi tức hành động của bản thân có tính táo bạo, được ngưỡng mộ, ủng hộ. Cung an Thân ở đây luận tốt, phù hợp với sự huấn luyện, kỷ luật nghiêm khắc trong quân đội. Đại vận thứ hai nhập cung độ Cự Môn ngộ Đào Tồn gia Tướng Ấn Hồng Kiếp, như trên đã luận là bố cục mang tính trúng họa, để lại dấu ấn nơi tâm trí ở Hạn này. Đương số khí hình gốc thấp, đến đây Khí Hình hóa vượng. Cự Môn ngộ Tồn Ấn là cách rời xa quê hương, bản quán để tới một quốc gia khác, cũng là cách tích tụ sự bất mãn, cái phải đấu tranh cũng thường phải nhẫn nhịn, dễ bất cẩn trong cách nói chuyện. Bố cục chung là Cự Nhật ngộ Đào Hồng Tồn Kiếp Tuần. Cự Nhật là hình ảnh người đàn ông đi xây dựng sự nghiệp, cũng chủ rời xa, có tính bất mãn, phản kháng. Thái Dương trong bố cục nhập hãm chủ khó khăn, có sự ham vui, sự muộn trễ về tinh thần. Ở đây có cách Cự Tuần Kiếp, sao Cự Môn không ngại gặp Địa Kiếp chủ sự phản kháng trong khó khăn nhưng ở đây có Lộc Tồn chủ tồn tại tai kiếp. Cách này tai họa không tránh khỏi, đặc biệt về mặt khẩu ngôn, là do ta gây ra. Bức tranh chung tại Vận tức cách Cự Nhật gặp họa, bất mãn nuốt vào trong cộng với bản tính Tướng Kình mà biến đổi tính chất, tăng tính phản kháng của bố cục, hợp với Văn cách, có tính chế hóa Sát mạnh khi thiên về con đường học thuật, học tập. Cũng may ứng hợp gốc tích gia đình nghiên cứu, hóa hợp Địa Kiếp thành khó khăn trong tìm hiểu với Cự Tồn càng đào sâu càng bất mãn, Khí Hình trở nên vượng. Một sao Quốc Ấn chủ đất nước đi với Cự Môn chủ rời xa Tổ quốc. Đại vận này và các Tiểu vận qua đây mang tính định hướng rất quan trọng về khả năng chế hóa Sát tinh và mức độ Khí Hình của Mệnh tạo cũng như hướng đi của đương số hóa Văn cách, hợp cách.





Đại vận thứ ba nhập cung độ Liêm Tham ngộ Tuế Đà Phượng Quyền Hình giao lai Tử Phá ngộ Linh Hổ Khốc và Vũ Sát Đại Hao Hóa Lộc. Bố cục chung là TVL giao hội SPT ngộ Đà Đại và Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc giao lai Linh Hình Quyền Lộc. Cách TVL khi giao hội SPT là bố cục tranh giành, mâu thuẫn ngay trong nội tâm, đường lối, gặp nhiều khó khăn trắc trở, tuy nhiên cũng là cách bộc phát rất mạnh. Một điểm lưu ý là bố cục cung Hạn này khá tốt đẹp, lại vừa trải qua một cung độ khó khăn trước đó khiến mâu thuẫn giữa hai nhóm sao này hóa thành sức mạnh mà thành công. Ở đây có hai chiều hướng rõ ràng đó là Tham Dục và Tham Vọng. Nếu hướng đi đương số đắc cách thuộc loại Tham Vọng thì tốt, chủ thành công lớn. Bố cục với Đà Hao đắc cách mang tính mưu kế, quyết tâm lớn và kiên trì, gan góc. Một cách Đà Tuế tức Đà Hao giao hội Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc về chuyên môn có sự mở rộng, tiếp thu kiến thức, có mưu kế, thích hợp cho vị trí tham mưu. Đại vận này có đường lối, thái độ rõ ràng trong công việc cũng được sự ủng hộ của Phượng Khốc tuy nhiên cũng chủ nói nhiều, cần có sự nhường nhịn lẫn nhau ở trong nội bộ, vận này bất lợi về tình cảm và cũng đề phòng áp lực từ công việc. Ở đây có cách Linh Hình Quyền hóa Sát cách của SPT thành Quyền cách, trong công việc có được sự uy tín. Với bản cung Liêm Tham có Đồng Lương nhị hợp đắc cách giúp giảm thiểu nhiều tai họa, đôi khi tự cảm thấy may mắn không ngờ trong vận này do cách Lương Sinh có Cô Thần có sức cát hóa rất lớn đến kỳ lạ. Bộ Liêm Tham có Hình bản cung mang tính hình khắc, gây bất lợi tình cảm, may có Hóa Quyền hóa giải thành tính kỷ luật trong quân đội, cũng biến Thất Sát thành tinh tường, bố cục hợp cách. Đại vận là nhân quả, vận sau là quả của vận trước, bản thân Khí Hình đã hóa vượng ở vận Cự Môn, đến đây có thể tăng cường bằng việc mở rộng con đường nghiên cứu, tìm hiểu, biến Sát Phá thành khám phá làm giảm tính Sát cho bố cục. Đại vận này luận tốt cho Tài, Danh nhưng bất lợi cho tình cảm, khí tiến, cường vượng, tượng là sự phát triển.




Đại vận thứ tư nhập cung độ Thái Âm trong bố cục CNĐL ngộ Phi Phục Thanh và Cô Quả có Khôi Khoa Việt Hỏa Không Triệt nhập Sinh Vượng. Vị trí Thái Âm có Tuần xung, là thứ cách của Tam Hóa, đắc cả Tam Không và Sinh Vượng. Khí Hình vượng, đến đây thành tựu và cũng bớt được những khó khăn trong tình cảm, cũng là do tự biết điều chỉnh chính mình. Cách Khoa Hỏa giúp tình cảm ổn định hơn nhưng cần chú ý tâm trí tránh để quá sức, căng thẳng thần kinh, ảnh hưởng đến suy nghĩ. Bố cục đắc cách biến Thanh Phi Phục là thanh bình, lợi cho chữ Danh. Một sao Thanh Long cư Thìn trong cách Âm Thanh mang nghĩa danh tiếng vang xa, cũng tăng tính mưu trí, linh hoạt, là cách Long cư Long vị. Sao Thái Âm ở đây lạc hãm, có Không Triệt sáng trở lại, tăng cường tính Kim để dụng sự may mắn của Thiên Lương. Bố cục CNĐL không mạnh, nay có thêm Khôi Khoa Sinh Vượng Tam Không giúp cải thiện tính bằng lòng với cuộc sống mà ý chí được cao hơn, ở đây là sự đào sâu kiến thức theo Văn cách, chủ nghiên cứu sâu trong khoa học. Một cách Đồng Lương ngộ Khoa Sinh Việt Triệt giúp cát hóa bố cục, hoàn cảnh ở đây là may mắn cũng tượng là người hiền lành, nhân hậu, phát may, phát phúc ưa âm thầm làm việc, cũng đồng cảm với kẻ khác tức Đồng Binh. Ở đây hình thành bố cục Tam Không, khi nhập vận Tam Không hình thành hai khuynh hướng. Thứ nhất là tham muốn vô cực, cát hóa toàn bộ các cách cục, thứ tới là khuynh hướng tư tưởng vô định. Khuynh hướng này lại phân làm hai chi đoạn. Tư tưởng vô định, dụng hướng lấy tham muốn lớn, tức trong nội tâm trụ tại Không, lý tưởng Không cách, tuy nhiên hoạt động, hành động hướng tới quan điểm, ưa giúp đỡ ĐỒNG VIỆT, từ thiện kẻ khác, cuối cùng gặp tiểu vận đại phát, không ngờ mà được. Thứ tới chi đoạn thứ hai là cách cục Sát hóa, KHÔNG hóa thành VONG ứng vận TUYỆT địa, lưng trời gãy cánh. Đương số Khí hình đã cực vượng ứng với dụng tham vọng lớn, ở Vượng địa chứ không phải Tuyệt địa, nâng cao bố cục của Thái Âm âm thầm bám nắm với tham vọng, lại có từ tâm trong lòng, đến đây ta đã là quý nhân của người khác, ưa giúp đỡ người khác. Mệnh cách THIÊN TƯỚNG đến đây gặp KHÔI KHOA HỎA VIỆT có Tam Không Cô Quả là cách đứng đầu, nhiệt huyết trong cuộc sống, đến đây ắt gặp thành tựu lớn, bố cục đắc cách, khí tiến, vượng, nên tiếp tục dụng Văn cách nghiên cứu cũng được Đồng Lương ngộ Khoa Sinh Việt Triệt ở tam hợp giúp cát hóa bố cục, hoàn cảnh ở đây là may mắn cũng tượng là người hiền lành, nhân hậu, phát may, phát phúc ưa âm thầm làm việc, cũng đồng cảm với kẻ khác tức Đồng Binh. Tính chất cơ bản của Mệnh tạo là tình cảm, trợ giúp, cần tăng cường tính chất này để thành tựu, cũng là để chế hóa vận 55-64 tại Tật ách cung.






Đại vận thứ năm, từ 45-54 tuổi, nhập cung độ Phủ Khách Thai Tọa ở cung Tài bạch. Sao Thiên Phủ nói riêng hay cả bộ Phủ Tướng mạnh ở tính tình cảm, ở vị trí Thiên Phủ có tính ổn trọng, cẩn thận. Với Đại vận trước thành tựu đến vận này tính chất tính cảm đã nổi bật, có khả năng quản lý, dụng tài năng của người khác nhờ tình nghĩa và khả năng ổn định, với cách Phủ Hao không có lợi cho tích lũy tiền bạc mà ưa dùng tiền để giúp đỡ người khác, cũng có lợi cho kinh thương. Bố cục ở đây mang tính bình ổn, ít xáo động, tuy nhiên vẫn cần đi sâu, quan tâm đến Văn cách, nghiên cứu để phù hợp với vận sau. Đại vận thứ sáu, từ 55-64 tuổi, nhập cung độ Tật Ách là cung VCD ngộ Tướng Ấn Bật Kiếp giao lai Cự Đào Tồn và Dương Tuần Hồng. Mệnh Thiên Tướng đến đây ắt gặp tai họa với cách Đào Hồng Tồn Kiếp, chủ bệnh về máu huyết, lưu thông máu trong cơ thể cũng chủ tồn tại một tai họa lâu dài, do ta gây ra nhưng hoàn toàn có thể chế hóa. Bản cung VCD xung Đồng Lương ngộ Khoa Sinh, là cách khí hóa rất lớn, chế hóa được tai họa. Mệnh cách Thiên Tướng cũng không ngại Không Kiếp, chủ dụng được Không Kiếp bằng tình cảm, nên cần trau dồi tình cảm từ những hạn trước là điều đặc biệt chú ý. Bản thân bố cục Cự Nhật cũng không ngại Kiếp nhưng chủ bất mãn tích tụ trong lúc này mà gây tai họa bất cẩn ngôn. Đại vận này với Khí Hình từ các Đại vận trước chế hóa Sát tinh tốt nên có phần vui vẻ, những ngày vui vẻ, tai họa cũng không lớn do sao CỰ MÔN hỉ gặp ĐÀO HỒNG là cách tốt, giảm khuyết điểm trong tính cách lo âu của sao này, do có THÁI DƯƠNG tam hợp cũng là cách ngày vui vẻ.