Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Âm Dương Lương. Show all posts
Showing posts with label Âm Dương Lương. Show all posts

Friday, March 1, 2019

Lá số Cự Cơ xung của một mệnh cách tốt.





Cách cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ xung thường được luận thượng cách khi đắc cách. Thực tế bố cục do khắc chế khuyết điểm của Cự Cơ so với mệnh Cự Cơ Mão Dậu tuy tài năng nhưng có phần xét lợi ích và thế xung đột của Cự Cơ Đồng gây khó khăn trong bố cục. Với nội cách Âm Dương Lương tăng tính chất chính nghĩa, chủ ổn định không xung đột mạnh trong nội cách, ngoại Cự Cơ xung là mặt bên ngoài, tức khả năng hiểu biết sâu, tài năng của mệnh tạo. Nghiệm lý với các cách mệnh VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ nếu phá cách cũng là cách cục chủ có độ số cao. Khi đắc cách là cách cục thường đứng đầu một tổ chức. Khi xét bố cục mệnh cách của một vụ phó thành tựu khá sớm bởi tài năng. Nam mệnh ngũ hành Mộc. Cục thuộc Mộc cục tức tương trợ. Hành vận phối hợp Mệnh cách theo khuynh hướng bố trợ. Cách cục mệnh thuộc VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ với mệnh cung an tại Mão. Đây là cách cục được đánh giá tốt do hội giữa khả năng chuyên môn của bản thân và khả năng xã giao, bày tỏ mối quan hệ xã hội ra bên ngoài tốt. Mệnh cách VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ nếu đắc cách ắt là mệnh đứng đầu một tổ chức, do khắc phục được tính chất tự lực không ưa quan hệ xã hội của Cự Cơ mà thành. Thế cục Âm Dương Lương nội và Cự Cơ ngoại là thế cục bổ trợ khuyết thiếu. Cách cục này có khả năng dung hòa giữa hai cách cục, tuy mang thị phi và ắt có bất lợi về mặt tình cảm gia đình nhưng định Tài Danh luận tốt. Mệnh cách VCD cư Mão bản cung có Hư Phá Phi Tả hội Âm Dương Quyền Thanh Thai Tọa và Lương Mã Sinh Bật. Mệnh cách đắc vòng Trường Sinh ở nội cách lại hội Mã hội Thanh Phi Phục trong cách cục Âm Dương Lương chủ khả năng tạo mối quan hệ, được trợ giúp do có Phụ Bật hội Tang Mã, có khả năng linh hoạt là Mã Sinh Vượng đắc cách. Mệnh cách có Hư Phi tại cách cục Âm Dương hỉ được Thanh Long có Thiên Hư là những vấn đề giao tiếp xã giao. Thiên Hư nhập mệnh trong cung độ VCD mang tính hư vọng, trái với Thái Tuế ưa việc bày tỏ quan điểm lập trường của bản thân. Tang Hư Mã về thể cách linh hoạt, có thể tùy biến. Mã Sinh là cách cục cường vượng, tính động thay đổi tuy nhiên Mã nhập Hợi cung có phần không mấy hay, được Mã Thai Tọa tăng tốt đẹp tuy nhiên cũng không thích hợp thay đổi nhiều dẫn tới phù động. Thiên Hư tại Mệnh có dụng và bất dụng, tốt do Thiên Hư hợp với Âm Dương Lương tại việc xã giao, có thể dụng trong giao tiếp. Tuy nhiên Thiên Hư có khuyết điểm ở tính chất bất thực, ở vị trí Tang Môn hay Thiên Mã phù hợp với Âm Dương hơn Thiên Hư. Thiên Hư trong bố cục Phi Liêm ngộ Thiên Hư có ảnh hưởng một phần tới Tài cách. 





Mệnh cách thuộc cục Cự Cơ xung là mệnh tạo có tính chất phù hợp với việc quảng giao, tạo mối quan hệ, có thể đứng đầu xã hội hoặc một tổ chức bên trong hoặc bên ngoài nhà nước. Tuy nhiên nên lưu ý trong cách cục này có hàm chứa bố cục đa nghi, nghi kỵ của Cự Cơ đối cung. Mặt tốt là khả năng nhìn nhận về sâu bên trong các mối quan hệ, cũng là cách tránh tự gặp tai họa do tin tưởng của bản thân. Khi thái quá hay trong bố cục tác hóa của Sát cách chủ ở thái cực khuynh hướng bất mãn, tạo mâu thuẫn trong nội bộ khi Cự Môn đinh chủ thị phi, cách cục này có đặc điểm quan trọng là tư tưởng có tính biến động, lấy thay đổi để thành tựu, không phải bố cục ổn định như cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh khi Tử Vi nhập mệnh. Ba sao Tử Vi, Phá Quân, Cự Môn có khuynh hướng lãnh đạo khác nhau. Với Cự Môn là khả năng nhìn nhận sâu về sự việc, khuynh hướng ngôn luận. Dẫn tới mệnh cách Cự Môn thường hướng tới luật sư hoặc chính trị theo khuynh hướng bày tỏ quan điểm chính trị bằng khả năng thuyết phục. Phá Quân chủ tranh đoạt, Phá Quân phá bỏ tạo đột phá, hàm chứa Sát cách cường vượng là cách cục bạo lực rất khó đắc cách, thường ở trường hợp trong xã hội xung đột, mâu thuẫn hay chiến loạn. Tử Vi chủ đứng đầu do ưa gánh vác trách nhiệm, chủ ưa ẩn, ổn trọng, suy tính sâu xa. Cự Môn chủ lộ, tính âm ám, quyền biến thuộc âm quyền không lớn, chủ mạnh do khả năng tạo lý tưởng dẫn dắt quần chúng do quan điểm phù hợp. Bố cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ thuộc thế cục này. Mệnh cách VCD man thư thường luận là cách cục xấu, mang ý nghĩa thăng trầm biến loạn, thực tế do không rõ lý giao hội hợp hoá của các cách cục. VCD tại đây chịu tác động bổ trợ của hành vận khá lớn. Cung an Thân nhập Hợi cung phối hợp luận cách cục Lương ngộ Trường Sinh có Bật Mã Tang Binh. Trong nội tâm nam mệnh thường khi chịu ảnh hưởng của suy nghĩ, tức bản thân làm chủ tư tưởng hướng tới tự kiểm điểm bản thân, đánh giá bản thân sau mỗi hành động tác động tới đạo đức, lương tính. 




Thiên Lương ngộ Trường Sinh là thể khí có sức cát hóa rất mạnh. Nhập bất cứ cung độ không phá cách đều hóa sinh khí, tức gặp họa và cứu giải lớn. Khi nhập Phúc cung hóa " Lương ngộ Trường Sinh cư phúc địa thân thượng hữu kỳ tài" tức trong dòng họ có nhiều người hiển hách. Nhập Tài cung là cách phát tài, gặp may mắn về tiền bạc. Cung an Thân cư tại đây rất quan trọng, chủ về thân thể hay thân phận được sự may mắn, còn mang hàm ý thọ, tránh được tai kiếp thương tích, trừ việc nhập vận Tuyệt khí. Thiên Lương có Phụ Bật càng tăng mạnh tính chất này. Trong giai đoạn chiến tranh trước đây, với cách cục Thiên Lương cư Ngọ hội Khoa là cách cục mệnh tạo thoát được nhiều tai kiếp binh đao, thứ tới là bố cục Đồng Lương đắc cách. " Lương xung tọa thủ kiêm thọ toán". Tuy nhiên Thiên Lương cư Hợi ắt có họa mới được phúc, không ổn định như bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương cư tại đây luôn có thế khó khăn trước khi được cứu giải. Đây là mệnh cách may mắn về quan hệ xã hội, tức Âm Dương Lương cách. Có năng lực lãnh đạo, khả năng dẫn chứng lý lẽ, tọa lợi ích cho người khác do tính chất cơ biến của sao Thiên Cơ. Tuy nhiên bản cung Cự Cơ Lưỡng Lộc có Tuế Kiếp Khốc bản cung hội Thiên Không thành cách cục Lộc Đảo Tuế Đào kỵ hội Không Kiếp ám cục. Chủ việc tai họa tới bất ngờ có tính tai kiếp do Lộc Tồn hội Không Kiếp. Cự Môn có thể chế hóa Không Kiếp trong trường hợp không có Lộc Tồn. Tại đây Lộc Tồn đứng đồng độ ngay tại bản cung là cách cục cần lưu ý. Thái Tuế là quan điểm, tại đây quan điểm của Cự Môn ắt tạo thị phi, cũng ồn ào từ bên ngoài mang lại ảnh hưởng tới tư tưởng của mệnh cách. Thiên Lương tại cung an Thân có thể hóa nguy thành an tuy nhiên nhiều giai đoạn chịu tổn thất. Thiên Lương cư cung an Thân nếu có khuynh hướng tôn giáo, lấy tư cách làm trọng là phù hợp cách cục. Mệnh Thân gặp Thiên Lương không phá cách thường được đánh giá cao do tính chất có phần nông nổi, không thâm sâu khó đoán như Thiên Đồng. Thiên Đồng tượng là đứa trẻ, bụng dạ. Thiên Lương tượng là người già, đỉnh đầu. Do tư tưởng thông suốt khi hướng tới phẩm chất, cái tâm của bản thân dẫn tới Sát cách có thể chế dụng, tuy nhiên tối kỵ Không Kiếp. 




Tại đây tuy có Tồn Kiếp xung khi nhìn tại Mệnh không quá xấu do chịu ảnh hưởng từ bên ngoài cách Cự Cơ thị phi. Thiên Mã nhập Trường Sinh tọa thủ tại bản cung Tài Bạch khi phát ắt sức cường vượng chủ được lâu dài. Thiên Mã tại Hợi cung là thế bí, khi tích lũy tài sản ắt gặp nhiều lần phải sử dụng tới hao hụt nếu không họa tác động ắt tới các mặt khác như bệnh tật. Phối hợp Mệnh cách xét định khả năng tạo ra tài sản của mệnh tạo. Với cách cục này tiền bạc cần nên lưu chuyển thì có lợi hơn do Lưỡng Lộc xung gặp Cự Tồn ở thế rất bất lợi khi tiền bạc giữ trong kho, tức gửi tiết kiệm. Nên sử dụng cách kinh thương chỉ giữ một phần nhỏ ổn định. Lưỡng Lộc cách là bố cục mạnh nhất về Tài trong tử vi, khi hội Hỏa Tham thì phát đứng đầu thiên hạ, khi ngộ Cự Cơ hóa thành phù động, đặc biệt là trong thế đồng độ có khuyết điểm lớn khi gặp Tồn Kiếp. Xét toàn cục không hình thành bố cục treo trọng điểm Sát cách, trừ cung độ của tổ hợp Cự Cơ Đồng có phần bất lợi với Tài cách khi là cách cục bế tắc vì tiền, gặp họa về tài sản, tuy có hoạch phát bất ngờ nhưng cũng gắn với nguy hiểm khi Tồn Kiếp cùng cư Dậu cung. Cự Cơ Đồng là thế bế tắc phá vỡ thế cục mạnh của Song Lộc đồng cung. Khi định Tài cách lấy Tài cung làm gốc do củng chiếu cách Lộc Mã giao trì. Cách cục Lộc Mã khi Thiên Mã cư Tài hội Thiên Di chiếu về là cách cục Lộc trùng điệp, Mã dịch lộc thì hoạch phát. Tài cách có khuyếm khuyết của Cự Tồn dụng cách hóa tư tưởng thành việc luôn bất mãn về tình trạng tiền bạc, tham muốn tích lũy ngày càng lớn so với kẻ khác bên ngoài là phù hợp. Cự Tồn sinh ra khuynh hướng đố kỵ, bất mãn ưa vượt lên về Tài cách tức Mã luôn ở thế động sẽ kích phát cách Lộc Mã bội Ấn. Địa Kiếp tại bản cung tăng thêm tính Sát hóa, biến tham vọng theo khuynh hướng cực đoan, với bố cục bình thường ắt xấu, tuy nhiên ở đây là cách Cự Cơ Lưỡng Lộc có Kiếp Tuế tham vọng lớn, tuy nhiên hành động lại cần chờ thời, do Cự Tồn trong cách Cự Đồng Cơ phá thế bất mãn cần Thiên Mã tức dụng từ Tài cách. 




Thiên Lương nhập Tài cung lại ưa bộc trực, bộc phát sẽ gặp tai họa khi kinh thương, đầu tư. Lưu ý một việc, khi cơ hội phát sinh, thường là cơ hội dẫn tới kết quả sau cùng là phá tán. Do thế cục của thiên bàn ứng hợp. Thiên Lương cứu giải do may mắn tuy nhiên sẽ mất đi các giai đoạn tích lũy do phải phá vỡ thế bế tắc. Tài cách không nên làm cách cục chính, chỉ phù hợp dẫn hóa cho Quan Cách. Tức Quan Cách làm gốc, Tài cách làm dụng. Quan Cách định hình do toàn tổ hợp Âm Dương Lương và Cư Cơ xung. Tại đây cần tinh đẩu đóng góp công trạng và tài năng của bản thân, thứ tới là khả năng lãnh đạo. Với cách cục Cự Cơ đứng đầu do khả năng khai sáng theo một khuynh hướng dị biệt của sao này. Có thể định hình tướng của Cự Môn sức cát hóa do tính hiệu triệu bằng khẩu ngữ. Tử Vi tính chất chủ ngầm, ở trong tổ chức xây dựng bằng tình cảm, lý tưởng xây dựng của bản thân. Phá Quân lấy thế chính nghĩa, khai phá xung đột bên ngoài. Cự Môn tượng có thể hình dung như trong tư tưởng hành động của tổng thống Mỹ hiện tại. Tuy nhiên tại đây Cự Môn ở vị trí đối cung tức chịu ảnh hưởng tác động tới bên ngoài, được đánh giá tốt hơn tại bản cung do không nhiều thị phi như cách cục Cự tại bản cung Mệnh, với tính bất mãn bộc trực cũng không lớn như tại Mệnh. Cự Môn bên ngoài tức lấy ngôn ngữ làm trọng, để định Quan cách. Một lãnh đạo ở Đảng đối lập nổi lên gần do phản đối, nhìn nhận lại so với Đảng chính để lôi kéo quần chúng là cách cục của Cự Môn. Cự Môn là cách nhìn trái nghịch, sâu bên trong tuy nhiên để tìm khuyết thiếu, phần sai sót khác với Tử Vi hướng tới lý tưởng khai sáng ban đầu, gánh vác trách nhiệm. Phá Quân khi xung đột lấy chính nghĩa để khởi binh. Cách cục nội Âm Dương Lương là cách cục tình cảm, giảm tính xung đột của Cự Môn bên ngoài. Quan cách hình tượng của cách cục như trên là định cách sơ khởi. Cách cục do Cự Cơ Tuế Khốc Tồn Lộc ngay bản cung có khuynh hướng ứng với chữ bất đồng quan điểm rất rõ. Khi Cự Cơ Đồng ở thế Tồn Tuế Kiếp Hỏa tức xung đột tới từ bên ngoài. 






Cách cục Quan Cách tại đây không thâm sâu, tuy có thể lấy Thiên Lương làm gốc tức chính nghĩa để xét khuynh hướng đứng đầu do bản thân của tổ chức hướng tới. Tuy nhiên Quan cách tại đây ở tính chất tham mưu hơn việc gánh vác trách nhiệm ắt sẽ có thị phi tác động trong hành vận. Cách cục này có thể hoạch phát đứng đầu tổ chức lớn do Tài cách trợ dụng, tuy nhiên cũng sẽ hoạch phá do thị phi. Nếu đứng đầu ở tổ chức kinh thương có phần phù hợp hơn. Trong nội bộ của tổ chức mệnh tạo gánh vác ắt luôn gặp trường hợp xung đột, mâu thuẫn về lợi ích, hướng tới cái chung phục vụ ứng Đồng Tang là cần thiết. Cách cục Cự Cơ hội Kình Song Hao là thay đổi phá bỏ cái tồn tại bất mãn, Cự Cơ hội Tồn Kiếp là việc luôn tồn tại bế tắc. Thành hay bại cũng do  biến hóa của cách cục Cự Cơ tác động. Cách cục này lưu ý không phải bố cục hướng tới Văn cách chuyên môn sâu về một lĩnh vực, là cách cục chủ tổng thể. Âm Dương Quyền Thanh là tiếng nói, có ý nghĩa như việc uy tín, được sự tín nhiệm của kẻ khác. Thanh Long tại đây hội Thiên Mã là hai nhóm sao phù hợp nhất với Âm Dương Lương. Tuy thiếu Xương Khúc được Thai Tọa hội họp, đồng độ tại Mùi cung thành cách Mã ngộ Tam Thai anh hùng do Bát Tọa ưa ngẩng cao đầu, có khả năng linh hoạt theo thời cuộc. Hiềm nỗi Sát Phá Tham phá cách nếu không ắt có địa vị đứng đầu xã hội sớm. Cách cục này phù hợp về tham vấn, nếu khởi tư tưởng đứng đầu tới vận Tử Tướng sẽ gặp thời vận. Thiên Lương cư tại Hợi có chữ Ấm thiếu Phúc, tức được ngắn không được dài. Thiên Đồng là hưởng phúc lâu bền, Thiên Lương có giá trị cứu giải khi nguy khốn. Âm Dương Lương tại đây hóa cách cục hành sự có phần chưa thực cẩn trọng, cũng là cách phấn đấu thất thường, tùy sở định của Cự Môn tác động. May mắn là điểm mạnh của cách Âm Dương Lương do trợ lực rất mạnh. Bản thân nếu không tự dụng Cự Cơ ắt được một giai đoạn cũng phải hoạch phá. 

Sunday, August 26, 2018

Sao Thái Âm tổng luận





Thái Âm là tinh đẩu thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khi hoàn chỉnh. Trường hợp khi Thái Âm giao hội với nhóm Cự Nhật hình thành cách Âm Dương Lương. Sao Thái Âm và Thái Dương là hai sao tượng âm dương trong tử vi. Thái Âm luôn tam hợp với Thiên Lương. Khi luận cách cục giao hội luôn phối hợp bởi cách Âm Lương với các Chính Tinh. Luận tính chất Thái Âm thủ mệnh khi xét chung là luận tổ hợp Âm Lương. Thái Âm luôn nằm trong nhóm Âm Dương Lương hoặc Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo tính chất riêng biệt cơ bản của hai bố cục. Đây là hai nhóm sao hiền hòa, ổn định, không hàm chứa Sát cách nên mệnh tạo Thái Âm hoặc Thiên Lương có bản tính đa phần âm nhu, hiền lương. Nữ mệnh cách nhập mệnh hai chính tinh này hợp cách. Thái Âm có âm tính. Trong vạn vật đều chứa âm dương. Mệnh cách có Thái Âm thủ mệnh tính âm nhu vượng, tuy nhiên không phải mệnh cách hoàn toàn không có dương tính. Chính tinh nhập mệnh chủ tính cách thường trực, qua vận hay tác động của hoàn cảnh biến đổi. Khi giao hội với bàng tinh, tính chất cơ bản chủ âm không thay đổi, tuy nhiên phối hợp định cách biến hóa phức tạp. Thái Âm nhập mệnh phân hai trường hợp độc tọa hay đồng độ với Chính Tinh khác. Trường hợp độc tọa tại cung Tị Hợi Thìn Tuất Mão Dậu. Giao hội với Thiên Cơ tại Dần Thân, với Thiên Đồng tại Tí Ngọ và Thái Dương tại Sửu Mùi hình thành tổ hợp Chính Tinh luận phối hợp tính chất cơ bản của tinh đẩu khác biệt với trường hợp độc tọa. Thái Âm có tính chất âm khi dụng thể chủ che dấu, âm ám, mưu tính, quyền ngầm. Trường hợp tăng tính chất suy nghĩ, tính toán khi giao hội với Thiên Cơ tại cách Cơ Âm. Với cách cục Cơ Âm cũng tăng mạnh tình ôn nhu, hiền lương tại tâm tính và tướng mạo của mệnh tạo.





 Trường hợp Thái Âm đồng độ Thiên Đồng hình thành cách Đồng Âm chủ ưa đóng góp lợi ích tập thể hơn bản thân, Đồng Âm cách có tính cách nhi đồng, chủ do phối hợp tính chất từ Thiên Đồng. Xét về cách cục Cơ Âm có phần sắc sảo, tính toán hơn với mệnh cách Đồng Âm. Với cách cục Đồng Âm ngộ Tang Môn với nữ mệnh đắc chính cách của Đồng Âm, thường luận phẩm chất tốt ưa đóng góp âm thầm tới cộng đồng. Trường hợp giao hội Sát cách không luận vậy, biến hóa theo Sát Kỵ. Mệnh tạo cách cục Đồng Âm ứng hợp chữ phúc hậu, được đánh giá tốt hơn với Cơ Âm. Tuy nhiên về tài năng, khả năng ứng biến mệnh cách Cơ Âm luận hay. Hai cách cục trên hình thành khi nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh. Trường hợp còn lại thuộc cách Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi. Ba cách cục đồng độ trên xét tính chất không xét tới vị trí sáng tối của Thái Âm. Âm Dương đồng độ cư Sửu Mùi tam hợp chiếu Thiên Lương và cung độ VCD ngoại Cự Cơ xung. Đây là cách cục có một phần thị phi do bản cung VCD chịu tác động của Cự Môn trong cách cục Cư Cơ Đồng. Âm Dương Lương tại đây có tính chất ưa thay đổi, chủ thời gian ổn định, là cách cục quan hệ xã hội. Do mang ý nghĩa ổn định, may mắn nên không gặp khó khăn bế tắc tạo kích phát tới bố cục. Âm Dương Lương chịu tác hóa của Thái Dương giao hội Thái Âm. Thái Dương có dương tính, ưa công khai, nhiệt huyết. Âm Dương đồng độ chịu tác động của hai chính tinh này nên có phần rối ren trong bố cục. Khuyết điểm thường chủ chóng thay đổi khi chưa thành tựu gặp khó khăn, không bền vững, bằng lòng với cuộc sống. 




Trường hợp Thái Âm độc tọa tại các cung Tị Hợi Mão Dậu Thìn Tuất phân hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương định cách toàn bố cục, các vị trí của Thái Âm nhập vượng hoặc hãm tác động tới sứ cát hóa của sao này. Thái Âm cát hóa mạnh khi nhập Hợi cung. Đây là cách cục Nguyệt Lãng Thiên Môn thuộc Âm Dương Lương cách với Thái Dương đồng độ Thiên Lương có tính hướng lên, phát triển. Thái Âm nhập mệnh bố cục này chủ hưởng thụ, thuộc cách cục ưa bình ổn, khó tiến nếu không Sát hóa toàn cục. Nếu nữ mệnh nhập cách cục này chủ tâm tính ưa việc an ổn, cuộc đời ít biến động lớn tuy nhiên cũng khó thành tựu. Với nam mệnh cách Thái Âm cư Hợi cần giao hội Sát cách chủ khó khăn hóa Âm thành Quyền cách luận tốt, thứ tới dụng Văn cách. Mệnh cách Thái Âm cư Hợi thường được luận tốt ở phẩm chất, luận sự nghiệp thành tựu không đắc trợ cách là mệnh thường. Cách cục Âm Dương Lương tại đây chủ mối quan hệ xã hội. Khi tốt là bản thân có các mối quan hệ tại tầng lớp cao của xã hội, gia đình xuất thân đa phần tốt đẹp do Phụ Mẫu định cách bởi Âm Dương. Khi Sát hóa mệnh cách Thái Âm tùy từng bố cục luận sai biệt chủ tính chất âm ám, tàn nhẫn, mưu mô, tranh đoạt. Đây là trường hợp Thái Âm giao hội Sát cách hóa Quyền. Khi Sát hóa được chữ bất lương. Thái Âm là sao chủ nội âm, thuộc âm thủy. Khi định cách Chính Tinh thực lý bên ngoài cuộc sống khi ứng hợp. Thái Âm hóa cạnh tranh ngầm, mối quan hệ ngầm. Thái Âm là những việc không bộc lộ, công khai. Do đó hàm chứa Tài Cách, bí mật kinh doanh không nên để lộ dễ bị phá hoại, trong kinh thương rất quan trọng việc tranh đoạt, cạnh tranh âm thẩm với nhau. Lợi ích bằng tiền không nên lộ ra dễ phá tán hoặc gặp cản trở. Tài vượng do hóa âm cách. Trái với Thái Dương chủ Quan cách, trong công danh sự nghiệp hay chính trị thường bộc lộ công khai bên ngoài nhiều hơn. Khi Thái Âm tốt đẹp chủ hiền hòa, hi sinh âm thầm, chịu đựng. Thái Âm chủ tiếp thu, lắng nghe, suy nghĩ. Thái Dương thường có Cự Môn chủ tiếng nói. Bố cục Âm Lương tam hợp luôn chịu tác động của Thiên Lương tại hoàn cảnh tới mệnh tạo, hướng tư tưởng ưa phân biệt phải trái, lý nghĩa. Thái Âm trong bố Âm Dương ưa hội Tang Hư Mã. Do tính chất giao tiếp, xã giao của nhóm sao này với nhóm Tang Hư Mã chủ khoa trương, đặc biệt khi hội Hóa Khoa. Tang Môn tăng tính âm cho Thái Âm chủ tài ngầm. Thiên Hư hợp với Âm Dương. Tuy nhiên cách Âm Dương Lương hội Tang Hư Mã dễ biến hóa theo khuynh hướng tác họa tới gia đình hoặc phụ mẫu khi hội Sát Kỵ với Lưu Sát Kỵ. 

Thursday, September 28, 2017

Luận vận mệnh Thiên Lương cư Hợi



Mệnh Lương thì cái nghiệp là sự bày tỏ, lương tâm, khi đắc cách thì được bên ngoài đánh giá là người có tâm và thành đạt. Cái tâm của Thiên Lương nằm trong bộ Âm Dương Lương khác với Cơ Nguyệt Đồng Lương. Với bộ Âm Dương Lương có tính dương, ở đây bố cục bày tỏ ra bên ngoài càng trở nên quan trọng. Mệnh tạo đi theo hướng y học đúng hướng với nghiệp của sao này. Thiên Lương này có quyền khá lớn do được Phượng Tuế Quyền Ấn, ở đây chữ Quyền đi với Thiên Lương tức là uy tín, thường là những quan điểm bày tỏ ra bên ngoài. Nếu một thầy bói cần chữ Đồng Linh Quyền tức có quyền lực rất lớn khi phát ra những lời dự đoán thì sao Thiên Lương này bày tỏ quan điểm của cá nhân dễ được sự hưởng ứng, ngưỡng mộ. Tuy nhiên với bố cục này chưa đủ để tạo nên một sự nghiệp phi thường. Một chữ Hỏa Tồn Kỵ Triệt là cần thiết để hoạch phát tài danh tuy nhiên ở vấn đề mang họa cũng lớn hơn nhiều. Với Hỏa Tinh may nhập miếu và được chế hóa một phần khi đi với Thiên Lương là cách cục xấu do Thiên Lương ở đây chủ phối hợp quan trọng với bên ngoài thì cách Hỏa Kỵ Triệt có Tuế khiến mệnh tạo mắc phải lỗi lầm là sự bộc phát, đa phần liên quan tới nóng nảy và khó chịu khiến bố cục Lương đắc cách trở nên phá cách một phần.


Sao Hỏa Tinh rất kỵ đi với Âm Dương Lương đặc biệt là cách Tồn Hỏa Kỵ tức không có lý do gì ta cũng vẫn tức giân, bày tỏ thể hiện bằng lời nói hay hành động thiếu tính kiểm soát, nhẹ nhàng và binh tĩnh. Đây là một điêm yếu của mệnh tạo và có tác động rất lớn khi đi qua các đại vận. Đại vận đầu tiên tại cung mệnh hình thành cá tính ưa biểu lộ ra bên ngoài, có tính nhiệt huyết, có sự ưa được ngưỡng mộ, trọng vọng với bản thân, dễ được thu hút và được nổi bật trước đám đông. Một sao Thiên Lương ưa thể hiện và ở đây Thiên Lương này khá may mắn, cuộc sống tình cảm tuy có phần mâu thuẫn, bất hòa của gia đình sẽ ảnh hưởng tới đương số. Tất nhiên Âm Dương Lương này vẫn rất may mắn vì tránh được Kình Hao hay Đà Hao và đắc vòng Lộc Tồn tương đối hợp cách tránh được cách cục phá cách với vòng Lộc Tồn là điểm tốt của lá số. Sau giai đoạn này đương số có được sự tự tin, lương tâm của bản thân được hình thành và phát triển theo chiều hướng tốt. Mệnh tạo thuộc cách mạnh bạo thực hiện việc không cảm thấy có lỗi với hản thân. Tuy nhiên một phần quan trọng ở cung độ nhị hợp của Liêm Trinh ngộ Cô Thần là sự thanh liêm, liêm khiết, theo dõi liên quan rất lớn tới mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo khi ở vị trí nhị hợp. Cũng vì vậy cách Minh Lộc Ám Lộc hay Khoa Minh Lộc Ám có giá trị không thua cách Lưỡng Lộc trùng phùng. Ở đây ngôi sao lương tâm nhị hợp với ngôi sao liêm khiết, liêm chính sẽ trợ giúp tác động lẫn nhau.


Một sao Thiên Lương độc tọa với bố cục không mấy hay ban đầu tuy nhiên có tính chuyên môn và khả năng uy tín tạo ra mạnh thuộc dạng cát hung tương bán nên cá tính phát khởi khá tốt khiến khí hình vượng theo chiều hướng này. Cung độ đại vận thứ hai vào cung Tuất có Tử Tướng đồng độ bản cung gặp Khoa Khúc Quả, tam hợp đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Với bố cục Tử Tướng mang tính chất ổn định và có tính chất tìm hiểu, nghiên cứu về học vấn nên đương số theo con đường văn cách là hợp cách, phát huy được điểm mạnh của bố cục Khoa Khúc là văn tinh. Ở đây cũng chế hóa được Hóa Kỵ tuy nhiên dụng với Hỏa Tinh khá khó khăn. Ở đại vận này đương số dễ phát khởi lý tưởng cống hiến, sự tương trợ và tình cảm khởi dậy. Ở đây bố cục Tử Tướng không có Tả Hữu nên khó được sự đồng cảm, trợ giúp lớn. Tử Tướng là cách tiếp nối truyền thống, đại vận này sẽ có sự định hướng nghề nghiệp từ cả cha mẹ kết hợp với khuynh hướng của mệnh tạo. Ở cung độ Tử Tướng tại đây như đã luận mang tính ổn định và có tính chất kế thừa nên tốt hơn cần có tình cảm và sự nhiệt tâm với cấp trên, có thể là thầy cô khi đang còn học tập sẽ thu được lợi ích rất nhiều từ đó. Một Vũ Phủ ở trong tam hợp cung ngộ Triệt ảnh hưởng lớn tới bố cục này. Cái gần nhất là vấn đề tích lũy tiền bạc và kiến thức khó được hoàn chỉnh, Vũ Phủ là ngôi sao tài lộc, cũng chủ lời nói vì vậy đại vận này có thể khiến cách cục giao tiếp trở nên khó khăn hơn.


 Thực chất đại vận này không có biến cố lớn để luận, chỉ có cách Đà Hao chủ muộn, sau, bố cục Tử Tướng khá hay và yên bình, cách cục hướng về văn cách chủ lợi ích học tâp, nghiên cứu.  Do chỉ còn năm sau hết vận nên sẽ luận tập trung vào năm này trong đại vận. Năm tiếp theo Mậu Tuất sẽ gặp biến động khá lớn trong phương diện tình cảm và sự hoạch phát trong học tập vì gốc đại vận chủ yếu về văn cách và tình cảm. Thất Sát nhập vận ngộ Khôi Đà Hình gia Phá Hồng Kình Linh, cung độ Tham Lang ngộ Trường Sinh có Tuần. Nếu không đắc vòng Trường Sinh bố cục này sẽ nguy hiểm vì hình thành cách Sát Phá Kình Linh Hình là bố cục của sự tranh đoạt, mâu thuẫn, cãi cọ vì tính SÁT của Sát Phá kỵ thêm Kình Hình Linh Việt. Ở đây đắc vòng Trường Sinh có khả năng cát hóa hoàn toàn bố cục Sát Phá hướng tới tham vọng của Tham Lang ở đây là Tham Tuần ngộ Trường Sinh, một sự hoạch phát sẽ xảy ra trong tiểu vận này. Ở đây bố cục cung trọng điểm xuất hiện tuy nhiên không quá mạnh, do sự xuất hiện này mà năm sau sẽ đánh mất sự ổn định của đại vận. Với Kình Việt Linh Hình thì xuất hiện sự vượt quá, quá hạn, đây là cách cục không hay mang tính chất xấu đặc biệt khi có Sát Phá. Vì vậy cần cẩn trọng vì Thiên Lương bản cách đã gặp Hỏa Kỵ nên tiểu vận này tác động theo chiều hướng xấu về mặt này. Năm này không phải là năm tốt, may được Trường Sinh nên không gặp tai họa lớn. Ở trong tổ hợp này khi lưu tiểu vận tới chỉ vị trí của Tham Lang mang ý nghĩa tốt đẹp, các vị trí còn lại của Phá Quân và Thất Sát tùy gốc đại vận nếu chế hóa được thì phát, nếu phá cách thì tai họa lớn.


Đại vận tiếp theo nhập cường cung Phúc Phối Di bản cung có Cự Cơ Phi Lộc ngộ Mã Không Kiếp Đồng cung VCD có Tang Môn. Ở đây bố cục Cự Cơ Đồng ngộ Phi Phục Thanh giao hội Tang Hư Mã Khách và Không Kiếp nhập miếu tại cung Tị. Bố cục này mang ý nghĩa xấu nếu xét về mặt tai họa. Cũng may mắn bản cung chưa gặp Không Kiếp tại đây và Cự Môn có thể một phần chế hóa cặp này tuy nhiên không hoàn toàn và bị tác họa lớn của cặp Đại Sát Tinh. Với mệnh Thiên Lương trong bố cục Âm Dương Lương bố cục ban đầu bất ổn định nay ngộ cách Đồng Cơ Cự chủ bế tắc có Không Kiếp hình thành cách " Thiên Đồng ngộ Không Kiếp bất cát". Thiên Lương nhập cung vận này tính thăm trầm lớn, gặp nhiều việc không may và sự hoạch phát hoạch phát xuất hiện nhiều. Bản cung một chữ Tuần khiến tai họa đến không thể tránh, chữ Tuần ở đây có tính tăng nặng. Đương số nếu dụng Khoa tức thiêm về nghiên cứu sáng tạo trong chuyên môn thì một phần chế hóa được bố cục. Ở mệnh của các nhà khoa học thì luôn có cặp Không Kiếp để tạo ra một cá tính khác thường, trái truyền thống cũng khiến Không Kiếp dụng được. Nếu không thì ta hay gặp trường hợp Không Kiếp vô đạo, trái đạo đức thì tai họa sẽ xuất hiện. Trợ cách đại vận này nên chuyên tâm vào việc nghiên cứu, ở đây tính động rất lớn nên tránh cả những chỗ đông người vì Tuần Đồng Kiếp dễ gặp phải họa tập thể, khác với Cơ Không Kiếp là trong tập thể riêng ta bị họa. Thiên Lương đặc biệt Lương Tuế kỵ đến vận này, cần rõ về đặc tính, đặc biệt các lưu niên tức năm Dần, Tuất, Mão, Mùi nếu có trong đại vận cần cẩn trọng hơn. Đại vận xấu nhưng không tới mức vong mạng, trợ cách thiên về dụng bộ Không Kiếp Tuần Đồng.


Đại vận từ 35 tới 44 nhập cung độ Tham Lang ngộ Trường Sinh có Tuần ở bản cung thuộc cách Sát Phá Tham hoàn chỉnh, có phần tốt hơn khi ở vị trí Tham Lang. Đây là đại vận cát hung tương bán, tính hung khá nặng nề, do tính Sát nặng nhưng được chế hóa cũng không đủ, mà có khuynh hướng dễ gặp đổ vỡ, bất ổn, chữ Sát tăng nặng tới mức độ cao, một Tham Lang có Việt Linh Hình Kình Khôi thì dễ gây ra tội trạng, cũng dễ gặp cách tai họa về điện hay sét do mệnh là Thiên Lương chủ đầu , tuy nhiên do Tham Lang tính cát hóa rất lớn, được cách Tham ngộ Trường Sinh trong trường hợp này thì đương số do ngành nghề bác sĩ nên sử dụng nhiều tới kim khí vào dụng cụ bằng kim loại tới bệnh nhân là hợp cách. Một Trường Sinh nhập cách thì bố cục trên thì không đủ lực cát hóa, tai họa vẫn tồn tại. Ở đây cái dễ gặp là bệnh về máu, đương số có thể gặp bệnh về huyết áp hay máu mặc dù là bác sĩ, cũng cẩn trọng khi mệnh và ngay cung an Thân đồng độ có Hỏa Kỵ thì tới vận gặp Linh Tinh, ở đây lại là Việt Linh Hình Kình Tuần ngộ Sát Phá là tối kỵ, đại vận này sát tinh trùng phùng lại không có Khoa Quyền chế hóa chỉ một sao duy nhất là Tham Lang ngộ Sinh lại là cách Tham Tuần chủ trúng họa. Đương số cần cẩn trọng trong đại vận này vì tai họa tự rơi xuống đầu, về vấn đề tâm thần cũng có thể gặp. Ở ngay trong làm y tế người viết cũng đã luận cho nhiều lá số bản thân là bác sĩ, dược sĩ nhưng gặp bệnh nan y, bệnh tật không trừ ai. Trường hợp này cần biến TUẦN trở thành phòng vệ, phòng trừ. Bố cục không dừng lại ở đây vì xuất hiện một cách cục rất độc là Quế Sứ Hoa Thương ngộ Thất Sát, cách cục này có câu phú nổi tiếng " Quế Sứ Hoa Thương tối hiềm giao hội, mạc phùng Sát diệu đa khổ tai ương". Chỉ với cách cục trên đã mang tính nguy hiểm lớn, ở đây gặp thêm bố cục Việt Linh Hình Kinh Tuần, may không thêm Không Kiếp nhưng cũng là rất nặng nề.  Tất nhiên mức nguy hiểm tới tính mạng cũng còn chưa chắc chắn tùy thuộc vào khả năng chế hóa do trợ cách và khí mệnh của đương số, một chữ Lương Tuyệt với Hỏa Kỵ tại Mệnh Thân dường như khá yếu trước bố cục sát hóa này, rất cần lưu tâm tới đại vận này vì xuất hiện dấu hiệu của Tuyệt Khí, người viết sẽ luận trợ cách để tránh một phần họa và cần mức khí hình vượng để chế hóa bố cục nặng này.  Do cách Quế Sứ Hoa Thương có Thất Sát kinh nghiệm đây là bố cục của vận chết, đặc biệt trong trường hợp này. vận này có phần khó khăn để đương số theo trợ cách này tuy nhiên đây là cần thiết. Một lá số người viết từng luận mệnh Dương Lương cư Mão có Khoa Lộc ngộ Tang Môn đắc cách ở Mệnh Thân bố cục tốt đẹp hơn lá số này. Đại vận chết gặp cách Thất Sát ngộ Quế Sứ Hoa Thương phùng Kình Linh Việt có Hỏa nhị hợp đương số tử mạng do bị ám sát, khi đó chức vụ rất cao trong xã hội, cũng khi nhập tiểu vận Cự Đồng. Ở đây hạn tuyệt mệnh tức dòng khí đã tuyệt, nếu ứng hợp với khí hình bên ngoài thực tế thì không chết bằng cách này thì bằng cách khác. Tuy nhiên lá số trên ở thời chiến nên có phần khí hình xã hội thời đó dễ tử mạng hơn bởi tính Sát ứng hợp với thời kỳ bất ổn của vận nước, đang lúc chiến tranh khí hình Sát rất nặng nề, thời bình luận khác. Ở đây nếu đương số nhập đại vận ở cung độ Thất Sát thì luận mạng vong, ở cung độ Tham Lang thì trợ cách có thể chế hóa một phần của các cách theo hướng dụng Sát. Nếu gặp tiểu vận nhập cung độ Sát Phá hay tiểu vận Thiên Đồng cần rất cẩn trọng bản thân.

Tới vận 45 tới 54 có Âm Dương ngộ Kỵ Triệt, ở đây quay về tam hợp Mệnh Tài Quan và bố cục này khá tốt, tuy nhiên ở bản cung đại vận thì có phần bị ghét bỏ do cách Kỵ Triệt, dễ chuốc lấy thị phi, ghen ghét nhưng không nặng nề. Đại vận này do gặp bố cục Lộc Tướng Bệnh nêm mang tính ổn định cao, nếu đường công danh phát triển tốt đẹp, về việc tình cảm thì có phần bất ổn, tuy nhên cũng là mâu thuẫn nhỏ, có thể mở rộng mối quan hệ xã hội để đạt thành tựu trong vận này. Trong đại vận này nếu gặp năm Hợi Mùi lại hoạch phát tài danh, theo chiều hướng tốt vì gốc đại vận ưa gặp Không Kiếp hội họp.

Monday, September 4, 2017

Luận vận lá số vô chính diệu




Luận vận lá số vô chính diệu



Mệnh tạo đang tuổi trưởng thành có thể dụng hướng đi trợ cách để thành tựu vào những đại vận sau. Hướng dụng chủ yếu là chế hóa cách cục Không Kiếp Tuần Khoa Lộc là con dao hai lưỡi, tuy nhiên không còn bố cục tốt đẹp hơn cho cách này. Đại vận từ 13 tới 22 là đại vận có Phá Quân ngộ Tồn Tang là cách cục không tốt đẹp gì cho quá khứ. Ở đây cản trở sự khám phá, thay đổi sau này của đương số khi vận trước một số lần cố gắng thay đổi nhưng kết quả vẫn là con số không. Cách cục này thể hiện rất rõ sự bất mãn ví Phá Quân phùng Tồn cát dã tàng hung. Qua đại vận này thời niên thiếu để lại nhiều dấu ấn cho mệnh tạo. Thất  Sát ngộ Phượng Ấn tức sự mất mát xuất hiện, ở đây một dấu ấn rất lớn về cái mất đi, ham muốn có thể liên quan tới tình cảm khiến để lại dấu ấn không thể quên. Mệnh Vô Chính Diệu qua đại vận thứ hai này chưa được nhiều sự trưởng thành về phẩm chất và thành công mà bất mãn, cái muốn phá bỏ cái xấu thì vẫn tồn tại không thể thực hiện được. Cũng may có bộ Tam Không ở mệnh nên còn có sự thăng trầm khi thì hoạch phát, khi thì hoạch phá nếu không đại vận này còn phức tạp hơn. Qua đại vận của Phá Tồn ngộ Khúc kiến Thương Khốc có chứa sự buồn thương tới đại vận tiếp theo Vô Chính Diệu có Đồng Cự Cơ với cách cục không mấy hay là Đồng Cư cư Sửu và Thiên Cơ cư Tị. Cũng còn may mắn khi Dương Lương khá hay xung chiều bộc lộ tính cách ra bên ngoài, hay chịu tác động theo chiều hướng tính chất tổ hợp này vào trong tính cách. Bản cung Vô Chính Diệu có Kình Hồng ngộ Tả Phụ có ý nghĩa khá hay. Một sự khởi đầu sự nghiệp theo chiều hướng thay đổi tốt, một sự cạnh tranh và tấn công ở thế chủ động là cần thiết để dụng cặp Không Kiếp này. Tuy nhiên khi nhìn tới bố cục tổ hợp khi xét chung toàn bộ cách cục là Đồng Cự Cơ thì không mấy tốt đẹp khi Cự Đồng ngộ Hỏa Kỵ ngộ Kình Đại hình thành bộ Kỵ Hỏa Kình là các cục dương khí quá vượng.


Cách cục này do thái quá trở nên tai họa, cái dễ nhìn thấy nhất là chữ thị phi xuất hiện. Đồng Cự ở đây rất bất mãn, phối hợp với cung mệnh tạo thì đương số dễ phải nổi nóng, bốc hỏa mà sinh ra chuyện cự cãi tại đây, khi mà chữ Không Kiếp Tuần vẫn luôn tồn tại trong tâm trí. Và ở đây cách cục cũng dẫn tới một tổ hợp đáng lo ngại là bệnh tật cách. Cự ngộ Hỏa Kỵ đồng độ là cách cục xấu, nay thêm Kình Đại mang ý nghĩa sát tính khá lớn, hóa thành tai họa nếu không dụng được. Cách cục này chủ dễ mắc bệnh nan y do Cự Kỵ là cách cục ám, hai ám tinh dễ dẫn tới diễn biến âm thầm. Trong đại vận này cũng dễ gặp có sự rời xa, chia lìa mang ý nghĩa chết ở đây cũng xuất hiện. Cần lo lắng cho sức khởi của cả bản thân và Phụ Mẫu trong đại vận này. Quan trọng là hướng đi dùng suy nghĩ cần thiết phải dụng được bố cục này. Cự ngộ Hỏa Kỵ dễ dẫn tới do sự khó khăn mà gặp cảnh chung thân ải tử. Áp lực sẽ có rất lớn trong đại vận này. Nhìn chung ở đây cũng có thể phát triển nhưng nên theo chiều hướng tránh việc nóng vội, mau chóng xong công việc. Ở đây Vô Chính Diệu có Dương Lương ngộ Linh xung vô hình chung hình thành đủ bộ Hỏa Linh rất kỵ gặp nhóm sao văn đoàn. Một ngôi sao chủ khí huyết là Hồng Loan kết hợp với mệnh tạo khiến đương số dễ gặp bệnh tật về máu huyết. Một chữ Trường Sinh tại Thái Âm lại cứu cho bệnh tật nan y trong cơ thể khi mà khí vượng của vị trí Trường Sinh chế hóa được tất cả các cách cục kể cả Không Kiếp tuy vẫn mắc nạn nhưng xấu tới mấy cũng không thể vong mạng. Đại vận VCD có đủ 5 sao Đồng Cự Cơ Dương Lương là cách cục nổi trội của Cự Môn. Ở đây Cự gặp Kình Kỵ Đại Hỏa Linh sự bất mãn, vấn đề về đầu óc đa phần là căng thẳng tăng lên mạnh hơn, ở đây có bố cục của sự khởi đầu trong khó khăn, tìm ra cách khai thông những thứ bế tắc tức thời cơ để tiến hành công việc khởi tạo ở trong đại vận này rất rõ. Tuy nhiên cần lưu ý rằng đại vận này rất vất vả, khả năng thành tựu luôn bấp bênh đi liền với sụp đổ và ý chí phải rất mạnh mới chế hóa được cách cục trùng trùng Sát Kỵ như vậy.



Đương số VCD nên lại càng bị ảnh hưởng bởi bố cục của đại vận tác động lên bản thân. Các năm trong đại vận này nếu có Hợi, Mão, Ngọ, Tuất là các năm gặp tiểu vận xấu trong khi đại vận khó khăn kết hợp với Mệnh sẽ khiến độ số giảm nặng, cách cục dễ bị phá hỏng dẫn tới tai họa lớn nếu dụng sai cách cục tức khi bản thân để sức bộc phát, nóng nảy của Hỏa Kỵ Kình tác động sẽ khiến Cự Môn không thể đương cự và trường hợp xấu chính là vong mạng là điều có thể xảy ra. Lưu ý các năm sau nếu có trong đại vận này thì tác họa sẽ nặng hơn. Năm Mão và năm Tuất là hai năm có những khó khăn tồn tại khó có thể đương cự, ứng với cách cục Cự Hỏa Kỵ Kình và Phá Tồn không thể thay đổi mà tai họa vẫn tồn tại. Năm Sửu có phần khá hơn nhưng vẫn rất nguy hiểm vì Không Kiếp ngộ Âm Dương Lương là cách cục xấu, thất thường. Năm Hợi có cách cục tốt hơn nên là năm đỡ xấu hơn so với các năm trên. Lưu ý cung độ VCD này cũng chính là cung Phúc Đức của đương số, một chữ Phúc dày khó đạt được hoàn toàn do bố cục sát tinh trùng phùng, tuy nhiên ở đây là Đồng Cự Cơ, một sao Thiên Đồng chủ phúc thiện kết hợp với bản cung Phúc Đức có cả Tả Phụ cũng giảm thiểu không tới mức gặp phải chữ Vô Phúc. Một cung Phúc Đức rối ren khiến cho mặt họ hàng và phúc phần của đương số không lớn, ảnh hưởng tới chữ may mắn và thành tựu của đương số phải trải qua khó khăn nhiều mà ít gặp cái may do phúc để lại. Tuy Phúc Đức là cường cung nhưng quan trọng với nữ mệnh hơn nam mệnh vì nữ coi trọng Phúc Phối Di. Một cung Phúc Đức không mấy hay khiến việc ra ngoài gặp khó khăn hơn và cuộc sống hôn nhân có thể gặp trục trặc nhỏ, nhưng về mặt công danh thì với Dương Lương có Lộc xung không mấy ảnh hưởng. Cung độ VCD này khá quan trọng khi bước qua vì tính chất thay đổi của đại vận dài 10 năm này. Đây cũng chính là cường cung tam hợp Phúc Phối Di mà đương số trải qua khi đến giai đoạn trưởng thành.


Trong quan hệ vợ chồng sẽ có nhiều mâu thuẫn và những thứ khó kiểm soát, kiềm chế. Cách cục này biểu hiện rất rõ trên lá số nên cần thiết chú trọng việc này, sự mâu thuẫn hay xảy ra trong hôn nhân vì vậy khi biết tới tử vi thì nên có cách khắc phục tình cảnh này. Nhập cung đại vận từ 33 tới 42 vào cung Điền Trạch. Trong giai đoạn này của cuộc đời ảnh hưởng nhiều bởi chữ Tật Ách và Điền Trạch tức nhà ở, mối quan tâm về nhà ở và đất đai. Ở đây cách cục Liêm Phủ ở vị trí đúng, có cách Phủ Thanh ngộ Văn Xương cát hóa cho Thiên Phủ. Cách cục này rất có lợi cho nhà đất, chủ cơ ngơi to lớn và có giám sát tức an ninh bảo mật lớn. Tùy vào mức dộ chế hóa ở các đại vận trước đối với Sát Tinh mà kết hợp Điền vận cho ra kết quả. Nếu mệnh xấu thì ta là kẻ ở nhờ, ở đậu. Vì vậy mới phải luận riêng tổng quan mệnh để có cái nhìn ban đầu khi kết hợp. Ở đây phối hợp mệnh được cát hóa khá mạnh do cung đại vận tuy mệnh gặp Không Kiếp nhưng vận có Phủ Thanh là cách cục hay, dụng được Không Kiếp. Đương số nhập vận này mang ý nghĩa khá tốt đẹp, cái thấy rõ là có tiếng nói trong vận này, chữ thanh danh được tốt hơn, một ngôi nhà nơi ở tốt là cái có thể nhìn ra. Tuy nhiên với xét đường công danh thì đại vận này mang ý nghĩa không may, Tử Vi ngộ Nhị Không là cách không thể tự quyết định, đương số dễ gặp cảnh phải chịu tai họa do thiếu trách nhiệm, không thể gánh vác được vị trí mặc dù có Phủ Thanh tức đang còn tiếng nói, lời nói có trọng lượng. Đại vận này rõ ràng việc khởi đầu, gánh vác sẽ gặp khó khăn, ở vị trí quản lý sẽ dễ phải giải trình, sử dụng lời nói. Ở đại vận này bệnh tật dễ phát sinh ở đầu, mặt. Cung Tật Ách có cách cục Vũ Hình không mấy hay mang bệnh trong người có thể liên quan tới dao kéo nếu nhập tiểu vận xấu. Từ 43 tới 52 tuổi nhập vận Thái Âm cư Hợi tức về cung Quan Lộc. Cung độ Âm Dương Lương ngộ Không Kiếp Tuần Sinh là cách cục khá hay về tài cách. Thái Âm ở đây rất dễ bạo phát về công danh và tiền bạc. Cách cục này có ý nghĩa bạo phát bạo tàn nên cần trong vì đây là cặp Không Kiếp, tai họa có thể rất nghiêm trọng nếu đương số không chế hóa được cặp sao này. Ở đây tồn tại cách tai họa ngầm, trúng họa phát hiện không kịp, cung đại vận này cũng mang tính bấp bênh nhất trong các đại vận, có thể bạo phát rất lớn vì mệnh là Tam Không nhưng có thể gặp tai kiếp quan trọng do chơi với Không Kiếp tại ngay bản cung. Cái còn lại là do duyên số có thể thắng được hay không mà người viết đã đưa ra trợ cách dụng chế hóa Không tính. Đại vận này cần xem phần sức khỏe và tai nạn do Thái Âm ở đây ngầm không biểu hiện nên khó phòng tránh. Nếu đắc dụng thì hoạch phát như lôi. Ở lá số thì nhìn chung cung Quan Lộc khá thăng trầm, tài năng khi sáng khi tối do việc thất thường này. Với cung độ Dương Lương thì tiền bạc khó gặp được may mắn, có tiền đi liền với họ, gặp may đi liền với tai phải dùng tới tiền. Vận Âm Không Kiếp Tuần cách cục có Đào Hoa thì tai họa là do bản thân gây ra, nếu biết trước có tránh được hay không còn tùy vào đương số. Người viết không luận qua cung độ 50 vì " Ngũ thập tri thiên mệnh". Người trên tuổi ngũ thập sẽ hiểu hết được bản thân của mình và số mệnh của mình.

Friday, August 25, 2017

Lá số Thiên Lương cư Hợi khá tốt




Lá số Thiên Lương cư Hợi khá tốt


Mệnh Hỏa vượng ngũ hành thuộc tính Âm có Thiên Lương thuộc bố cục Âm Dương Lương với cách Âm Lương hội Thái Dương. Bố cục này rất quan trọng sức sáng của Âm Dương ảnh hưởng toàn bộ bố cục. Cặp Âm Dương ở đây nhập cung Mùi ở vị trí không mấy hay, cát tinh hay trợ tinh gia hội cũng gặp phải nhiều khó khăn cản trở mới có thể thành tựu. Mệnh tạo có Âm Dương ngộ Kỵ thì tinh thần khá bất ổn định, được cách Lộc Tướng Ấn giảm khuyết điểm nhưng ở đây chữ cố gắng với điều kiện xấu của Âm Dương vẫn không phát huy được, tức đương số có cách chế hóa Sát Tinh biến thành lực kích phát không lớn. Mệnh Thiên Lương gặp Lộc Tướng Ấn tức Tướng Bệnh là cách chăm sóc cho người khác, xưa là lương y, nay là bác sĩ. Ngay cách vận hướng đi khí hình nếu bác sĩ đa khoa về Tây y khác với lương y thiên về y học cổ truyền hay đông y vì ở đây ảnh hưởng tới cách dụng Hóa Kỵ. Nếu theo Tây Y sẽ gặp phải cản trở về chữ bệnh tật ngay ở chính bản thân, là cách cục vướng thị phi do Hỏa Kỵ. Nếu theo nghề lương y thì cách cục dụng được Kỵ dễ biết được những y lý mang tính truyền thụ kinh nghiệm, có khuynh hướng thiên về các bài thuốc bì truyền hay cách chữa bệnh không chỉ mang tính khoa học. Mệnh Lương Quyền có Ấn ngộ Tuế Phượng thì ngay bản thân đã có cách cục nổi danh do sao Thiên Lương này. Đây là một trong các cách cục khá hay, còn được gọi là Quyền Khốc. Tuy nhiên do Âm Dương tính cát hóa bất vượng nên khó thành công lớn, tuy nhiên nếu đại vận tốt có thể nhờ đại vận mà kích phát. Mệnh Thiên Lương này khả măng bộc bạch, bộc lộ những quan điểm của bản thân khá lớn. Trong khi bên ngoài cái ta tiếp xúc có tính thâm trầm, sâu xa vì vậy ra ngoài đường dễ bị cảnh gặp nhiều những điều không được như ý với cách của mệnh. Chữ nông nổi không hắn đã mô tả tính cách vì còn cách Lộc Tướng nhưng đa phần có chuyện sẽ đưa ra mà không giữ trong bụng. Lương xung hay tọa thủ thì kiêm Thọ Ấm. Mệnh tạo như vậy trong ba chữ Phúc, Lộc, Thọ được chữ Thọ, trong điều kiện đại vận không quá xấu và vận nước không đột nhiên thay đổi. Tuy vậy nếu có tai họa tới thì mệnh tạo đa phần vẫn là người may mắn hơn người khác. Cái may của Thiên Lương khi nhập cách ở mức độ khó có thể tin là sự thật. Như việc " Phúc Ấm tọa mệnh bất phạ tai ương",cái may ấy lại đến từ yêu tố ngoài ta hay gọi là tâm linh khi mà Thái Âm luôn đi với Thiên Lương thành bộ tam hợp chiếu vĩnh viễn.


Năm 2021 tức 27 tuổi nhập cung đại vận Cự Cơ tại Dậu trong tổ hợp Đồng Cự Cơ. Gốc đại vận phối hợp với mệnh cho ra tính chất và tiểu vận năm này cho ra kết quả. Ở đây mệnh tạo luôn gắn liền với bày tỏ, may mắn hay không may. Thiên Lương tại đây hàm chứa bố cục xấu là Tồn Hỏa Kỵ. Đại vận Cự Cơ cư Dậu ngộ Không Kiếp Mã Phi là cách cục có tính động rất lớn. Hơn nữa ở đây Không Kiếp tính cực vượng, hóa sát bất cứ lúc nào biến Thiên Lương thành người gặp tai họa không may nhất. Đại vận Cự Cơ cư Dậu cho biết một chữ bất ổn và không tốt đẹp, đây là đại vận khó khăn với mệnh tạo, có thể dụng để tránh họa sát thân vào các tiểu vận xấu. Ở đây tiểu vận 2021 gặp bố cục VCD có Âm Dương Lương cũng khá tốt, năm này là năm may mắn hơn trong các năm của đại vận này. Ở đây vẫn tồn tại cách cát xứ tàng hung do bản cung đại vận là Cự Cơ rất kỵ có tính ổn định, thu giữ của Lộc Tồn. Sự thay đổi và bất mãn sẽ luôn tồn tại ở đây, năm này cũng gặp tai họa liên quan tới Lộc Tồn tuy nhiên không lớn, nếu luận về đường học vấn sẽ khả quan nhưng liên quan tới tiền bạc dễ thất bại, công danh cũng thăng trầm. Năm này may được sự ngưỡng mộ, và chữ may mắn của Thiên Lương sẽ cứu giúp lúc hoạn nạn. Cung Phụ Mẫu ở tử vi cái sai lầm của nhiều người nghiên cứu mà người viết đã nhắc nhiều ở các bài viết là nhìn cung đoán cát hung. Ở đây cái cung Phụ Mẫu phải nhìn với mệnh, thân, hạn. Và nếu có kinh nghiệm thì không ai xem phụ mẫu bằng cung này mà nhìn bằng cung đại tiểu vận mới đúng. Việc cha mẹ mất sớm thì khá khó xảy ra khi nhìn tại mệnh, tuy nhiên nhập đại vận Cự Cơ Đồng thì cách cục này biến đổi đa đoan, cần cẩn thận sức khỏe của cha mẹ trong vận này. Với bố cục tại Mệnh và vận 25 thì có thể đoàn tụ được nhưng cái mâu thuẫn,  sự không cùng chung tư tưởng, tức cự cãi sẽ xảy ra khi sống chung, việc này tùy đương số hướng đi, có khí dẫn theo cách cục đoàn nhưng khuyết điểm nhìn rõ là sự bất ổn, để tùy duyên thì tốt hơn.


Đại vận Cự Cơ này vào 25 tới 34 rất thất thường và chắc chắn sẽ gặp hoạch phát hoạch phá rất mạnh, bố cục này lại liên quan theo lệnh tức Thiên Lương. Sao này theo đường y học thì sẽ lên cao, tất nhiên đại vận này tuy thăng trầm thất thường, khi lên sẽ được uy tín lớn, tức cái danh sẽ có. Không thể xem năm mà nhìn ra được kết quả mà phải nhìn cái quá trình và nguyên khởi. Tức việc lên thạc sĩ khởi phát từ khi nào và trong thời gian nghiên cứu nhập cung đại vận nào. Như vậy sẽ năm trọn trong đại vận Cự Cơ này khả năng thành công cũng khá lớn vì cơ hội hoạch phát và may mắn đều có.
Chữ người thầy đã có mặt ở mệnh tạo, chữ được trọng vọng, ngưỡng mộ cũng có không sớm thì muộn, theo chiều hướng làm thầy giảng viên hay nghiên cứu tư nhân bên ngoài đều có tiếng tăm. Ở đây cần lưu ý về cách cục tâm linh, cần có một phần trong cuộc sống liên quan tới điều này thì Hóa Kỵ hay cách Hỏa Kỵ tác họa giam thiệt mà chuyển hóa ý nghĩa xuất ra về cách cục này, có thể nghiên cứu huyền học, tôn giáo, y học cổ, là cần thiết. Tiền có được nhờ công việc là thứ nhất, kế đến là do tài sản về điền sản cũng mang lại kết quả tốt, nếu kiếm tiền thêm bằng cách này thì nên cho thuê điền sản hoặc mua đi bán lại thay đổi nhanh chóng thì tốt hơn cứ ôm giữ vì cách cục ở đây rất động. Nếu không muốn theo cách trên thì biến cái nhà thành chỗ ồn ảo, nơi những người bị tai nạn ưa tới, tức là phòng khám, chữa bệnh là một yếu tố dụng cách cục. Hậu vận người viết sẽ luận ở phần luận sơ lược đại vận. Luận cung Phối như vậy cái cần luận là phối hợp mệnh thân với đại vận đi qua cung Phối tức đại vận thứ 3. Đại vận này hơi mang ý nghĩa bất ổn định, đường tình duyên không thông, việc xem vợ chồng dựa ngoại hình vào tử vi thì có phần thái quá, đơn giản nhìn được mối quan hệ và đặc điểm chính của phối ngẫu. Ở đây dễ thấu việc phối cung có khả năng quản lý chồng, khả năng cự cãi, tức cãi lý dẫn tới mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân, tuy vậy Thiên Lương dù nông nổi cũng nên kiềm chế vì Cự bao giờ cũng thắng Lương.

Thursday, August 10, 2017

Bộ sao Âm Dương Lương và chữ tang tóc





Bộ sao Âm Dương Lương và chữ tang tóc



Bộ sao này như đã đề cập ở nhiều bài viết thuộc cách Âm Lương thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương giao hội với sao Thái Dương thuộc nhóm Cự Nhật, ở bên tam hợp cung xung chiếu còn lại ta gặp bộ Cự Cơ Đồng. Nhóm Âm Dương Lương này mang rất nhiều ý nghĩa, trong đó là cách may mắn người viết đã luận về tính chất, là sự kiện về ngày và đêm, về nam và nữ, tinh thần tình cảm. Tuy nhiên một tính chất quan trọng của cách cục này mà ít khi được ghi trong các sách nghiên cứu về tử vi là tính chất liên quan tới Phụ Mẫu của cách cục này. Lưu ý việc có bộ Âm Dương Lương khác với gặp bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật, đặc biệt là khi Âm Dương Lương do xung chiếu mà tạo thành không thuộc cách này. Bộ Âm Dương Lương thường gặp ở cách Âm Dương Lương với cách Nhật Nguyệt cư Sửu Mùi tức với Thiên Lương cư Tị Hợi. Cách cục Thái Âm cư Mão Dậu, Thái Dương cư Tị Hợi khi đó Thiên Lương cư Sửu Mùi. Cách còn lại là cách Dương Lương cư Mão Dậu , Thái Âm cư Tị Hợi. Các cách cục này đều tập trung ba sao Thái Âm, Thái Dương và Thiên Lương tại các cung Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi vì các cung còn lại thì cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật đầy đủ. Bài viết muốn nêu tính chất liên quan tới phụ mẫu của bộ Âm Dương Lương, ở đây là cách cục chỉ việc cha mẹ khi tuổi đã già.



Thiên Lương là ngôi sao chủ già, tuổi thọ cao vì vậy nên sao này thường có ý nghĩa lương tâm, lương thiện vì người già cả cao tuổi thường sắp đến tuổi ra đi hiểu rõ chứ tham vọng, sự đời và chuyện đời hơn các ngôi sao khác. Cách cục Âm Dương Lương đầy đủ ở mọi vị trí trên lá số đều chỉ những người già cả như ông bà, cha mẹ mỗi người. Cái quan trọng là cách cục Âm Dương Lương trừ vị trí Dương Lương cư Mão và Thái Âm cư Hợi có tính cát hóa dụng được Sát Tinh phá cách nhẹ còn lại các cách cục khác dễ bị phá cách và tiểu hạn hay đại hạn đi qua cách cục này dễ xảy ra tai nạn cho người thân của ta  đặc biệt khi bản thân đương số càng lớn tuổi, tiểu hạn tới bộ sao này kiến Sát Tinh trùng trùng qua nghiệm lý thường gây ra cách cục tang tóc tới cho người thân, đặc biệt khi Âm Dương cư Sửu Mùi tức Thiên Lương cư Hợi. Cách cục Âm Dương Lương rất kỵ gặp hai sao Kình Hao và Đà Hao, chủ sự chia cắt, chia ly từ biệt với cách cục này khi Âm Dương đầy đủ gặp bộ Kình Đà thì tính chia rẽ rất lớn. Sao Hỏa Linh đặc biệt khi có Thiên Hình cũng đóng góp rất lớn cho cách cục này trở nên tai họa về mặt người thân, Hỏa Tinh mang tính cấp thiết, cũng chủ sự nhanh chóng, nếu có thêm Thiên Mã tức cách cục Tang Mã Khách càng rõ ràng. Cặp Không Kiếp trong cách cục này xét không tai họa bằng hai cách cục trên vì Âm Dương có thể dụng một phần Không Kiếp nhưng tối kỵ việc có thêm Hỏa Linh Kình Đà tai họa triển miên khi nhập tiểu hạn. Âm Dương Lương trên lá số tử vi có sức ảnh hưởng rất lớn tới mệnh tạo vì liên quan tới ngay họ hàng của đương số và bản thân. Nếu cách cục này tốt đẹp, vị trí Âm Dương ở nơi sáng đắc địa và tránh được các cách cục xấu thì cuộc đời sẽ tốt đẹp về mặt tinh thần, phần phụ mẫu che chở giúp đỡ bản thân được nhiều trong cuộc sống. Cũng vì vậy mà cách cục tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là tinh hệ tốt đẹp nhất của lá số Tử Vi khi cặp Âm Dương biểu thị tính hấp thu cực vượng trên lá số. Âm Dương thể hiện hai mặt của các vấn đề và chủ sự nhiệt huyết, sự may mắn của bản thân nên rất cần ở vị trí sáng để gặp thuận lợi. Tuy nhiên không phải bộ Âm Dương tại vị trí tối là xấu, ta lại hay gặp những trường hợp vượt qua khó khăn một cách phi thường, hoặc dụng được chữ Quyền trong bóng tối hay kiếm lợi ích từ thời buổi âm dương tức trời đất đảo lộn. Việc Âm Dương ảnh hưởng tới phụ mẫu và Thái Âm trực tiếp ảnh hưởng tới cả hai trong khi Thái Dương ảnh hưởng lớn tới người đàn ông. Âm Dương Lương là biểu tượng của sự hiền hòa, khi xấu theo chiều hướng khác nhau tùy thuộc vào các cách chế hóa Sát Tinh, đôi khi ta thấy Âm Dương Lương hỗn loạn và tạo thành cách cục bất lương, tính cách thất thường. Cách cục bất lương khi Âm Dương Lương xấu cũng là một cách để dụng bộ sao này và tất nhiên đi kèm với chữ Sát luôn xác định có thêm chữ Phản. Thực chất dụng Sát Tinh giống như con rắn, có hai trường hợp mô tả độc, một là bị mắc phải độc và trường hợp còn lại con rắn chứa nọc độc để tấn công hay phòng thủ.





Việc ta hay thấy ngoài xã hội là kẻ ác lại thường ít chết hơn người hiền lành chẳng qua do cách này tạo ra. Hạn Sát bản thân chịu bị động là các chịu tai họa, nếu cách chủ động là gây tai họa cho kẻ khác. Tuy nhiên do Sát Tinh chứa chữ phản, mang tính phục phản nên ta lại hay thường nghe kẻ ác đã bị trừng phạt. Thí Như trường hợp rắn độc săn mồi các con vật khác và cũng bị những loại săn mồi khác ăn thịt. Một sự thực rằng có khá nhiều phần các trường hợp dạng theo ác được lợi ích lớn hơn chữ hiền lành và lại ở vị trí quyền cao, ít chịu tai họa lớn cho tới khi xuống huyệt. Như hổ thống trị ở rừng không ăn cỏ, khủng long thống trị thời quá khứ của thế giới, việc có nhiều vua chúa do tính thống trị lớn lại mang sự tàn ác tới dân chúng hay luôn có ý định xâm chiếm tới nơi khác bằng dụng binh để tăng quyền lực. Rõ ràng trong một sự tổ chức, một quy mô hay xã hội luôn tồn tại những dạng như vậy và các vị trí phân công cũng chính là tự kiềm chế lẫn nhau. Những vai trò như vậy là cần thiết và khi Thiên Cơ tức thời vận bỏ chúng đi sẽ biến mất sau đó. Như việc khủng long tuyệt chủng, hổ cũng không còn nhiều, chế độ phong kiến đã mất thay đổi công bằng hơn. Sự đòi công bằng, thực hiện công việc, khám phá sai lầm gồm Tử Vi, Phá Quân và Cự Môn cứ như vậy tiếp diễn. Qua nghiệm lý rất nhiều năm mới nhận ra ở tính Sát của con người là kẻ ác nào cũng có một lý do như chính đáng hướng thiện về việc làm của bản thân để không ngại thực hiện. Và kẻ có lý tưởng cao nhất cao đẹp là người đứng đầu trong xã hội, không phải người hiền lành vì người hiền lành có rất nhiều khuyết điểm, lớn nhất là tính quyết tâm, khả năng nỗ lực vượt qua khó khăn mà sát tinh mang lại và lấy lý tưởng cao viễn làm mục tiêu để thực hiện, đây là bản chất tốt nhất của cách Tử Vũ Liêm. Trong khi Âm Dương Lương thường ở mức phò tá và khó có khả năng lãnh đạo. Như lý tưởng sẵn sàng sử dụng chiến tranh để bảo vệ đất nước liên quan tới nòi giống về sau, bảo vệ tránh bị làm nô lệ nhìn có thể luận tính Sát ở đây là ác, nhưng lý tưởng là chính đáng, cao đẹp. Tất nhiên là lý tưởng có nhiều phần tốt với kẻ này, xấu với kẻ khác. Tuy nhiên, cái nhân quả thì tuần hoàn và vòng tròn trường sinh thì luôn quay biểu hiện rõ trên lá số tử vi của mỗi người. Câu hỏi là liệu có như con người hay mơ tới là nơi địa ngục để trả tội và thiên đường để hưởng phúc tích tụ hay không. Và một số ý nói địa ngục là ở đây trên thế giới sinh ra tức những kẻ chịu tội bị áp bức, thiên đường là kẻ hưởng phúc tại đây. Mệnh có một số sao tổ hợp lại sẽ thấy những điều kỳ lạ và cá biệt bản thân có khả năng ấy. Điều hay ho là sao Hóa Kỵ thường mang ý nghĩa xấu lại liên quan tới cách cục này. Ngay cả bộ Âm Dương Lương cũng cần thiết.

Tuesday, July 18, 2017

Lá số khá hay về cách Dương Lương cư Dậu




Lá số khá hay về cách Dương Lương cư Dậu



Người viết không đăng lá số của mệnh Dương Lương lên vì cần bảo đảm thông tin cá nhân cho đương số. Mệnh tạo thuộc cách Dương Lương cư Dậu, có nghiên cứu ở môn Tử Vi và rất có duyên với tâm linh, huyền học. Mệnh và Cục bình hòa thuộc Mộc, lại thuộc Đại Lâm Mộc tức mệnh hoàn toàn chịu tác động bởi hành Mộc, nhìn ngũ hành mệnh để luận về sức tác động của các Chính Tinh trước tiên ở tam hợp Mệnh Tài Quan tới bản tính của đương số. Lưu ý tất cả các Chính Tinh nằm ở vị trí bản cung hay tam hợp đều có mức độ tác động tới tính cách, suy nghĩ của đương số và luôn ở thế động, thay đổi liên tục tùy môi trường, hoàn cảnh. Vì vậy khi xét tới phần luận giải cần nhẩm trong đầu về việc môi trường hoàn cảnh có bình thường và nhận thức có bị thay đổi lớn, ngoài ra còn cả hạn tác động khiến tính cách thay đổi, nhưng phần bản tính thì phát động ngay cả lúc vô thức và ở thế ẩn nên khó nhận ra hơn, cũng tác động ngầm tới mệnh tạo hơn. Ở đây sao Thiên Lương cư tại bản cung, thuộc cách Dương Lương lấy hai sao này làm nòng cốt để luận mệnh, do ở tại bản cung tuy nhiên sao Thiên Lương sẽ tác động lớn tới bản tính và với Thái Âm là sự tác động bên ngoài tới bên trong. Cách cục Âm Dương Lương toàn cục nhập hãm, vì vậy nhận định việc tinh thần hay có tính muộn trễ, sức phấn đấu và nhiệt tâm khi làm việc chưa cao, Âm Dương thịnh và suy được luận ở mức tinh thần là chủ yếu, kế đến là sự giao thiệp với xã hội bên ngoài, hay gọi là sự xã giao. Mệnh có cách cục Dương Lương gặp Lộc Tướng Ấn gia Đào Không Kiếp, ở đây may mắn là được Kiếp Triệt, vì vậy cách Lộc Tồn Không Kiếp không tác họa to lớn tới bản thân đương số . Tính cách của đương số thiên về ưa thích về nghệ thuật, quan hệ giao du là toàn cục Âm Dương Lương. Tính cách có phần hướng ngoại, tức thuộc khuynh hướng bộc lộ.  Cách Dương Lương chủ may mắn nhưng ở đây không mấy được may vì thuộc tuổi Mậu có nhiều bất lợi, lại gặp Đào Không Kiếp Lộc Tồn khiến khuyết điểm càng gia tăng. "“Dương cư Đoài Chấn lục Mậu, lục Giáp Phúc nan toàn”". Cách Dương Lương này có nhiều hướng đi và bạn chọn hướng y thì tránh được thứ liên quan tới bệnh tật, cuộc sống của bình yên hơn, nhưng khó dụng được bạo phát của Không Kiếp. Hầu hết đa số mệnh hoặc cung an Thân có sao Thiên Lương thường biết phần y học hơn người thường rất nhiều, tùy thuộc mà sẽ có người theo y hiện đại, gọi là y khoa học và phần y cổ truyền, sử dụng thuyết âm dương, y học tiền nhân thực nghiệm. Hai cách cục y học này hoàn toàn khác nhau về bản chất và cách cục của bàng tinh gia hội. Ở phần y học xưa thường có thêm tính chất khó hiểu, gọi là huyền bí hơn việc y khoa hiện đại. Hạn từ 13 tới 22 tuổi đại hạn này gặp nhiều khó khăn, đặc biệt liên quan tới tinh thần, ở cung độ Thất Sát chủ mất nhiều, đây cũng là hạn chuyển động gắn với mệnh tức bắt đầu mở rộng mạnh các mối quan hệ ra bên ngoài hơn. Mệnh Dương Lương kỵ tới cung hạn Sát Phá dễ bị chèn ép, khiến bản thân phải thay đổi để thích nghi. Tham gặp Kình Phượng Hình Lộc thì theo y khoa hợp lý, dễ kiếm được tiền và được danh tiếng đặc biệt trong đại hạn này. Thực chất do bản cung mệnh có cách Dương Lương gặp Đào Việt Triệt gia Không Kiếp Lộc nên hàm ý người đàn ông bị bệnh, bản thân mình không bị thì có thể người nhà mắc bệnh trong hạn này. Ngay đại hạn 23-32, cũng là giai đoạn khá khó khăn khi lại gặp Tuần tại đây. Thiên Cơ gặp Kỵ Phi Tuần gia Cự Đồng tại cung Mùi hạn này cũng gặp nhiều bất mãn, được Thanh Long đồng Cự Môn và là cách Cự Khôi Kỵ Tuần Hồng mọi việc làm đều mang tính quan trọng và tác dộng lớn, Thiên Cơ tại đây không hay, chủ suy nghĩ nhiều, tính toán nhiều nhưng khó thành công. Cách cục mệnh tạo tổ hợp cung trọng điểm tại Hợi Mão Mùi với Tuần Hồng Khôi Cự, tức tiểu hạn tới cung Tị Dậu Sửu nếu gốc đại hạn xấu thì tai họa lớn, đặc biệt tại năm Sửu.




Mệnh số ở đây có điều đặc biệt khi tới hạn Thiên Cơ này vì ở đây chứa cách Cơ Kỵ Khôi thêm Cự Môn là việc đương số năm 2011 tức năm Tân Mão bỗng bị bệnh liên quan tới tâm thần phải vào viện tâm thần chữa trị, ảnh hưởng rất lớn tới cục diện khiến cuộc đời rẽ sang hướng khác, bệnh viện không chữa được nên về nhà, sau đó tự nhiên tỉnh ra và mất 1 năm để bình phục, sau đó xin làm công chức ở địa phương. Lá số này cũng không phải mệnh quá xấu. Ở cung vị Thái Âm cư Tị có Cô Thần,  bản thân mệnh Âm Dương gặp Đào Triệt Không Kiếp có Lộc Tướng Ấn là thêm Cô Quả, hình thành cách Âm Lương ngộ Cô Quả dễ có lần gặp phải chuyện không ngờ tới liên quan tới sự lạ kỳ. Cách cục Thiên Cơ gặp Phi Kỵ Tuần ngay tại bản cung có Cự Khôi Thanh Quang Quý thuộc bố cục Cự Cơ Đồng có sao Thiên Cơ và Thiên Đồng là hai sao dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của Hóa Kỵ. Ở đây do cách cục tốt nên Hóa Kỵ là Kỵ Khôi thành cách cục kỳ lạ. Cách cục Âm Dương ngộ Nhị Không nay lại thêm Tuần thành cách Tam Không tức chữ Vong hình thành cách cục đặc biệt. Thực chất ở tùy từng nơi có những hoàn cảnh chữ Không mà tương ứng với cách cục. Ở nước ta có chuyện tu đạo để lĩnh ngộ chữ Không, có việc xem các môn huyền học về cuộc đời của bản thân vì vậy Không Vong tác động không như những nơi không có thì đương số dễ rơi vào cái gọi là trầm cảm, chữ Không khiến cuộc đời không lối thoát mặc dù thực chất bản thân tức cung an Thân hay cung Hạn vẫn còn dấu hiệu sống. Qua nghiệm lý được các lá số nước ngoài thấy việc Tam Không khó có thể được dụng bởi những hoàn cảnh vốn có của môi trường, vì vậy rất khó khăn, thực tế có nhiều trường hợp phải vong mạng bởi chữ này. Đương số may mắn ở việc có khuynh hướng tu đạo theo chữ Không. Bộ Tam Không là bộ sao uy lực nhất trong Tử Vi, có thể biến những cái vô lý, dị biệt, khó hiểu thành sự thật. Người viết trước đây đã đưa một trường hợp một cao nhân thuộc khí công có khả năng rất đặc biệt, ông ta cũng hay nhắc tới không không có có, sinh sinh tử tử thực chất cũng là mệnh Thiên Lương gặp Tam Không. Lá số thành công đột biến tạo nên sự nghiệp lớn có Tam Không cũng ngày càng nhiều khi trên mạng dễ tìm thấy những thứ dụng được chữ Không, cũng sao Thiên Hư ngày nay mạng ảo dụng được sao này khiến một số Tang Hư Khách rất đắc chữ phú.

Friday, May 19, 2017

Tính chất bộ Âm Dương nhập miếu



Tính chất bộ Âm Dương nhập miếu


Bộ Âm Dương là bộ sao đặc biệt trong Tử Vi. Do tính chất có phần giống với Nhật Nguyệt ở bên ngoài thực tế nên việc luận đoán vị trí đắc hãm và tính chất của bộ sao này không khó như các Chính Tinh khác. Thái Âm và Thái Dương hàm chứa hai mặt Âm và Dương của tính cách. Thái Âm luôn đi với Thiên Lương hình thành bộ Âm Lương có thể kết hợp với Thái Dương hoặc Cơ Đồng. Với Thái Dương có thể kết hợp với ngược lại với bộ Âm Lương hoặc Cự Môn. Vị trí của Thái Dương sáng tại cung Dần tới cung Ngọ, nhập miếu tại cung Tị và Ngọ. Với Thái Âm sáng tại cung Thân tới cung Tí, nhập miếu tại cung Hợi Tí. Tính chất của Thái Dương sáng là sự tiến lên, phát triển, sự nhiệt huyết, công khai, liên quan tới hành Hỏa. Cũng chính do tính chất dương lên quá mức dễ dẫn đến việc tai họa do việc này. Vì vậy cách cục Thái Dương cư Ngọ nhiều trường hợp không hay bằng việc Thái Dương cư Tị. Thái Dương nhập miếu thành cách không bị phá là người rộng lượng, tốt là công danh sự nghiệp thênh thang, ưa giúp đõ người khác, thích sự minh bạch, uy tín trong công việc, tận tâm. Ở đây có trường hợp Thái Dương đi với Âm Lương hình thành bộ Âm Dương Lương khiến sao này trở nên hiền hòa, biết tiến thoái hợp lý, phù hợp, linh hoạt. Âm Lương đi với Thái Dương hợp cách. Trường hợp Thái Dương sáng nhập miếu tại cung Ngọ đi với Cự Môn hình thành bộ Cự Nhật cũng là cách cục hay vì đây là phản đối do bất mãn, mang thứ bất công ra ánh sáng. Cự Nhật có nhiều khuyết điểm hơn cách cục Âm Dương Lương. Với cách Cự Nhật tính dương có thể thái quá sinh ra hình khắc khiến bản thân chịu tai họa, không được hưởng sự yên bình như cách Âm Dương Lương. Nhìn chung mệnh có Thái Dương nhập miếu là một cách cục hay hợp với nam hơn nữ vì có tính Dương mạnh.


Với sao Thái Âm nhập miếu tại hai cung Hợi Tí. Khi Thái Âm nhập miếu tính chất tốt đẹp liên quan tới chữ Âm. Thái Âm tượng là mặt trăng, tức những sự âm thầm, hành động ấn mang ý nghĩa hay. Như việc mối quan hệ sâu ẩn chứa giữa hai người có thể tốt đẹp hơn mối quan hệ công khai. Các bí mật, cách thức tạo ra tiền bạc tức lợi ích riêng nên mang tính chất ẩn, ngầm không nên công khai tốt đẹp hơn rất nhiều. Thường dùng như vậy với cách Thái Âm nhập miếu là Thái Âm ở vị trí sáng. Cách Thái Âm cư Hợi Tí là nơi sáng nhất của sao này. Với Thái Âm cư Tí ta có bộ Đồng Âm tức Âm Lương giao hội với Cơ Đồng hình thành bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương. Với Thái Âm cư Hợi ta có cách Âm Dương Lương là cách cục hay nhất của Thái Âm và cả Thái Dương khi Thái Dương có tính Dương không quá vượng và tốt đẹp khi đi liền với Thiên Lương hình thành cách cục Dương Lương cư Mão tức Nhật Xuất Phù Tang. Với Thái Âm cư Hợi tức vào cuối ngày, giờ Hợi có tính chất đặc biệt là giờ Không, Thái Âm cư tại đây tính chất ẩn mang ý nghĩa rất tốt nên gọi là nhập miếu với cách Nguyệt Lãng Thiên Môn. Thái Âm tại đây có chứa tính uy ngầm,  tính ẩn, âm thầm hưởng thụ, may mắn. Như việc nhìn một sự việc cái sáng bên ngoài thấy là Thái Dương, mặt tối phải tìm hiểu sâu là Thái Âm. Khi Thái Âm tốt và Thái Dương xấu thì càng tìm hiểu càng thấy tốt trong khi bề ngoài xấu. Ngoài thực tế ta cũng hay gặp việc tính cách một người khi tiếp xúc rất tốt bụng tuy nhiên nhìn lâu mới lộ ra được cái xấu. Thái Âm sáng là việc cái bên trong, phần ẩn không hiện mang ý nghĩa hay. Thái Âm cư Tí là cách Đồng Âm thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương mang tính âm nhiều hơn, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao mang tính âm nhiều trong khi Cự Nhật đa phần chứa tính dương. Nhìn chung với bộ Âm Dương khi nhập miếu mang ý nghĩa tốt đẹp, nếu có bàng tinh trợ lực dễ thành công.

Friday, April 14, 2017

Luận về Âm Dương Lương cách

Luận về Âm Dương Lương cách


Sao Thái Dương giao hội với bộ Âm Lương hình thành cách cục Âm Dương Lương. Cách cục này có các vị trí rất hay mặc dù tính chất không hoàn chỉnh do ở vị trí của bộ Âm Dương sáng mang ý nghĩa hay về mặt công danh và may mắn. Âm Dương Lương là cách của sự êm đềm. Thái Dương cư với Cự Môn là phản đối công khai, đi với Âm Lương là ngày đẹp yên bình. Khi Thái Dương sáng ta nhìn thấy mọi thứ đều tươi sáng ngay cả khi gặp khó khăn và khi tối là cách cuộc sống buồn tẻ, chứa nhiều phiền não ảnh hưởng tới tinh thần và kết quả hành động. Xét chung cách cục Âm Dương Lương trở nên hay khi giữ vững được sự ổn định và tinh thần tươi sáng. Khi hình thành cách cục Âm Dương Lương thì phía tam hợp đối cung luôn hình thành bộ Cự Cơ Đồng chứa tính thị phi, bất ổn. Mệnh có sao Thái Dương hay Thái Âm tại đây có cách Dương Lương cư Mão, Thái Dương cư Tị, Thái Âm cư Dậu, Thái Âm cư Hợi. Các vị trí tại đây hai sao này thủ mệnh không gia Sát Kỵ được hưởng sự nhất sinh khoái lạc, niềm vui của tinh thần nhờ sự lạc quan khi thực hiện các công việc. Với vị trí Âm Dương cư Sửu Mùi làm việc hay bỏ dở, tinh thần thất thường nên khó thành tựu hơn các cách trên mặc dù Âm Dương tại đây bình hòa không luận là xấu. Âm Dương Lương cần thiết được cách hưởng thụ nghệ thuật và hiểu biết sâu rộng. Cách Âm Dương Lương có Xương Khúc rất đặc lực vì bộ sao này bổ nghĩa cho cách cục chủ sử dụng mặt và tai vào các việc liên quan tới hiểu biết như tìm hiểu hay lắng nghe nên được luận là cách đặc lực cho Âm Dương.


Sao Thiên Lương tại đây mang ý nghĩa may mắn do chính bản thân tạo ra khi thủ Mệnh, tức việc bản thân vận động tìm tòi và xuất hiện may mắn từ đây. Trường hợp thứ hai khi sao Thiên Lương tam hợp hình thành cách được hoàn cảnh trợ giúp, với cách này cũng hay nhưng mang tính bị động không phải chủ động tạo ra may mắn như trường hợp ở bản cung. Âm Dương Lương chứa đựng đầy đủ ý nghĩa của Thiên Lương đóng vai trò lớn trong việc ổn định cách cục này chủ có tính chất từ thiện không có tính Sát và hóa khí là che chở. Do cách cục này không có các chính tinh chủ đứng đầu nên đa phần ở nơi trợ giúp cho Tử Vi, Phá Quân hay Cự Môn. Cách cục hay nhất là Dương Lương cư Mão hay Thái Âm cư Hợi thuộc tinh hệ Tử Vi cư Ngọ. Trường hợp xấu nhất là cách Thái Dương cư Hợi có tên riêng là Nhật trầm thủy bể. Công danh sự nghiệp với cách cục này thường khó khăn vì đây ám chỉ ngày tháng u tối, vất vả. Mệnh có cách cục này khó thành công và rất cần thiết được bàng tinh cứu vãn. Trong trường hợp tốt đẹp có thể hợp cách trong thời buổi tối ren, bầu trời đen tối như việc chiến loạn. Cách cục Âm Dương Lương rất dễ gặp phá cách khi kiến Sát Tinh và không có sức chế hóa được Sát như Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp do không có sao chủ lãnh đạo và các sao có tính cương cường, cố gắng vượt qua khó khăn trong các cách cục.