Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Bại Tinh. Show all posts
Showing posts with label Bại Tinh. Show all posts

Friday, September 22, 2017

Tang Hư Khách và chữ giả dối


Trong xã hội ở tầng lớp cao thời phong kiến ở quan lại trong triều đình thuộc tầng lớp này. Ngày nay phân hóa về việc quyền lực ở hai chữ Tài Quan tập trung không nặng nề và có đặc quyền như phủ của quan lại mà phân ra thượng lưu của xã hội khi xét về tiền bạc hay mức độ đóng góp, công danh tạo ra hay chính trị. Sau giai đoạn khi bỏ việc làm công hữu thì tư nhân phát triển mạnh, chữ Tài được xếp lên đầu vì liên quan trực tiếp tới thụ hưởng vật chất tạo ra nhiều hiện nay và khi kết thông thương tự do sang các quốc gia khác để sinh sống hay du ngoạn. Tuy nhiên chữ Danh tuy không như thời trước nhưng cũng vẫn còn được lệnh, trái với cách lan truyền thời xưa thì ngày nay các trang báo mạng truyền tin tức rất nhanh chóng, nhưng đa phần truyền những thông tin giải trí ở trang nhất tiếp cận nhiều hơn về việc gây dựng công danh sự nghiệp, cống hiến cho quốc gia. Hiện nay giới trẻ đang sống ở thời đại có phần bình đẳng hơn rất nhiều và đều có cơ hội để tạo nên sự nghiệp, thành tựu. Tuy nhiên một vấn đề là sức cám dỗ lớn của giải trí khiến việc đeo đuổi công danh trở nên khó khăn hơn. Sức tham vọng của quân tử cũng không được lưu truyền như việc chí " Trị quốc, bình thiên hạ". Sống trước khi chết lưu danh hậu thế. Tang Hư Khách là nhóm sao bại tinh, khi luận công danh dùng Tang Hư Mã, khi luận tình cảm liên quan tới Tang Hư Khách làm tính chất chính của tổ hợp.


Cũng vì nhiều điều vui mới liên tục được tạo ra trên mạng internet do đây là thông tin, vì vậy nên Cự Môn và Phi Liêm tính thị phi ồn ào nhưng cũng chính là sự thu hút chú ý và hơn hết là những thú vui này dễ được hưởng ứng hơn việc học tập những kinh nghiệm quý của những người thành công và các bài học của họ trên ngay cả thế giới khiến bố cục cách giàu có từ xây dựng sự nghiệp của mệnh tạo đã biến đổi theo chiều hướng khác. Sát Tinh đặc biệt nhóm sao của quyết tâm qua nghiệm lý đang đắc lệnh và xuất hiện khi luận của người viết có các lá số mức khí hình ban đầu thấp nhưng mức hoạch phát rất lớn. Ở đây là những người đi lên từ tay trắng, hoặc ở tầng lớp cuối cùng để vượt lên nhóm trên của xã hội. Nhóm sao Tang Hư Khách Mã ở thời trước đắc dụng ở võ nghiệp hay nếu tốt đẹp hơn gặp Lộc Tồn hình thành bộ Lộc Mã giao trì, thực chất là cách Tang Lộc là nguyên nhân lớn khiến bố cục này mang ý nghĩa hay thì do kinh thương hay sử dụng đồng tiền để sinh lời. Nhóm Tang Hư Khách ở đây hình thành bố cục khá hay để tạo hoạch phát chế hóa Sát Kỵ tuy nhiên ở đây có khuyết điêm vì nghịch cảnh thuộc trường hợp này mang tính khó khăn, khổ cực về tình cảm gia đình rất lớn khi đắc cách do tính chất của bố cục Sát Tinh luôn mang ý nghĩa đánh đổi, giữa được và mất.


Tang Hư Khách xung chiếu với Tuế Hổ Phù. Ở đây đầy đủ là nhóm Tang Hư Mã Khách, nhóm sao này có tính động, trái ngược với Tuế Hổ Phù có tính chất ổn định. Tang Hư Khách Mã thủ tam hợp mệnh thì đương số có tính chất linh hoạt, đa phần ở trong lời nói dễ gặp cách nói chuyện xã giao, mang tính chất không thực sự. Bố cục Tang Hư Khách Mã chịu tác động lớn bởi sự khó khăn do Tang Môn và Thiên Hư gây ra. Đặc biệt mệnh tạo có Thiên Hư thuở nhỏ làm việc gì cũng thấy hư hỏng, tiền nhân có luận về Thiên Hư rất dễ hiểu. " Khốc Hư thủ mệnh mạc đàm phú quý". Ở đây tức cung Mệnh tạo có sao Thiên Hư tọa thủ thì khó luận tới phú quý. Với Thiên Khốc đồng cư càng khó đắc cách. Thực chất bộ Khốc Hư là sự giao hội giữa Tang Hư Mã Khách và Phượng Khốc, ở đây luận hay khi ở vị trí của Phượng Các và Thiên Mã tọa mệnh, các vị trí khác có Tang Môn có phần tương bán, vị trí Thiên Hư và Thiên Khốc thì không hay. Sao Thiên Khốc và Thiên Hư kỵ thủ mệnh vì một sao chủ sự buồn khổ sầu não, một sao chủ hư hỏng, giả dối. Ở đây hai sao này tác động mạnh tới tính cách. Với Thiên Khốc thì chỉ có Thiên Đồng hình thành cách đồng cảm biến đổi theo chiều hướng tốt. Với Thiên Hư thì đi với Âm Dương và Phá Quân.  Cũng một Phủ Tướng đặc biệt trường hợp đơn đủ tính chất rõ ràng hơn, khi đi với Tang Hư Khách thì lời nói yêu thương giả dối, sự tương trợ mang tính lợi ích đằng sau, cũng có thể là vì tốt cho người khác nên nói dối tùy vào bố cục. Nếu người thân bị bệnh nan y chỉ sống được vài ngày thì nói dối họ có thể là tốt, hoặc một số trường hợp như để động viên cho người khác. Tuy vậy đa phần dù tốt hay xấu sẽ vẫn có ý kiến đánh giá là là lời nói dối.


Vì vậy nên cách cục Tuế Hổ Phù được đánh giá cao hơn Tang Hư Khách. Với Phủ Tướng đơn thủ gặp Tuế Hổ Phù thì ta thường nghe thấy được lời nói tình cảm thật lòng, lời nói gây tổn hại nhưng tốt hơn đôi trá thuộc cách cục này, xấu hơn là nói ưa châm chọc, nói sự thật với ý hãm hại người khác. Với Tuế Hổ Phù giao hội với Sát Kỵ thì không luận vậy, có thể biến đổi thành không thật, lừa đảo. Ta hay gặp ngoài thực tế nhiều trường hợp lời nói phủ dụ, hàm chứa tính yêu thương, tình cảm nhưng dễ nhận ra trong đó là cách xã giao, không thực lòng. Với việc tình cảm chữ thật với không thật nhưng bàn bao nhiêu cũng không hết, có thể gây ra xung đột, mâu thuẫn vì vậy mức tác động cách Tuế Hư rất lớn. Bộ Tang Hư Khách Mã an theo Địa Chi giao hội chủ yếu với bốn nhóm sao cơ bản của Thiên Can là Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Bệnh, Phi Thanh Phục. Trong đó hay nhất là trường hợp giao hội với Lộc Tướng Bệnh và Kình Hao.

Sunday, August 13, 2017

Sao Thiên Diêu trong bộ Hình Diêu



Sao Thiên Diêu trong bộ Hình Diêu


Sao Thiên Diêu được luận là một trong các bại tinh vì tính chất sa ngã về sắc dục của sao này. Thiên Diêu nằm trong bố cục Hình Diêu xét về tính chất của sao này thường dễ theo chiều hướng xấu, đặc biệt trong một số cách cục chủ đào hoa. Sao Thiên Diêu đồng cung với Thiên Y thành cặp Diêu Y. Hai sao này tính chất tương hỗ chủ về việc dễ gặp sai lầm khi thực hiện các công việc. Bộ Diêu Y là một trong ba sao thuộc Tam Ám gồm Diêu Đà Kỵ với Thiên Diêu là sao sai lầm, nhầm lẫn, cũng là sao ưa việc sắc dục nên mang hàm chứa tính Ám. Đặc tính cơ bản của sao này là sự nhầm lẫn, quá tin tưởng vào quyết định của bản thân mà không suy xét ở những việc làm dẫn tới tai họa do sao Đà La mang tính bị động và Hóa Kỵ là sự cản trợ, thất bại, tai họa. Nhìn chung cách cục Tam ám gồm Diêu Đà Kỵ là sự phối hợp tính chất của cả ba sao với Thiên Diêu là suy xét, Đà La là sự nghe theo và Hóa Kỵ là sự ngăn cản, thất bại dẫn tới cuộc sống thường gặp màu u tối do bản thân nghe theo những lời xúi giục mang tính tai họa. Sao Thiên Diêu trong các sao thuộc nhóm bại tinh là ngôi sao khó đắc cách nhưng tai họa cũng không lớn khi đóng tại bản cung mệnh.



Tai họa khi kiến Sát tinh nằm ở vị trí của Thiên Hình là luận bố cục. Thiên Diêu khi cư tại cung Mệnh đặc biệt là gặp Hóa Kỵ đồng độ tính tình thường cầu thả dễ gặp sai sót trong các công việc do nhầm lẫn dễ dẫn tới cách cục trở nên thất bại. Bộ Diêu Kỵ cũng chính là cách Kỵ Hình khi xét chung tổ hợp nhóm Hình Diêu Y giao hội với Hóa Kỵ. Ở đây do việc tính cách suy nghĩ qua loa lấy lợi ích để làm việc nên dễ gặp trường hợp vi phạm pháp luật. Sao Thiên Diêu có tính ham muốn rất mạnh, đặc biệt trong một số trường hợp cách cục giao hội theo chiều hướng xấu dẫn tới sự ham muốn về sắc dục rất lớn, thêm cả một số những thứ gây nghiện để thỏa mãn ham muốn nên việc công danh trễ mãi dẫn tới thời trẻ không xây dựng sự nghiệp nên thất bại. Tất nhiên sao Thiên Diêu có trường hợp đắc cách biến ham muốn sắc dục trở thành tham vọng về tiền bạc hay quyền lực. Thiên Diêu gặp Không Tinh tức hay gọi là cách Không Hình, đặc biệt là cách Tham Triệt hay Tam Không sao Thiên Diêu tính chất biến hóa tượng hoa sen. Cách cục này thường được luận với Thiên Diêu cư Mão Dậu có Phượng Các hội họp nhưng nghiệm lý các vị trí khác đều thể hiện tính chất này. Không Vong biến đổi tính chất sa ngã của Thiên Diêu trở thành cách cục tin tưởng một sự cao quý khi có Phượng Các, sao Thiên Hình là khuôn mẫu, Diêu Y biến đổi ý nghĩa thành thanh khiết, tuy nhiên cách cục vẫn phá vỡ nếu dâm tinh hội họp, đặc biệt là cách Cơ Diêu khiến toàn cục theo chiều hướng sắc dục rất mạnh trên cơ thể khác phái.


Ngay đại hay tiểu hạn ngộ Cơ Diêu cũng là cách dâm tình tự phát khởi, cách cục này ý nghĩa là mê đắm thân thể, cũngang ý nghĩa sự khởi dục của bản thân đương số khiến cách cục hay trong đại vận biến đổi theo chiều hướng mạnh này. Ngày nay việc tìm kiếm trên mạng những văn hóa phẩm đồi trụy và việc để những khái niệm về tính dục rất phát triển nên đa phần có thêt nhìn thấy sự chi phối của người bình thường về những thứ này. Sát Tinh chứa chữ Sát không mang tính chiến tranh như thời kỳ trước mà đặc biệt đóng vai trò của việc kích phát cách cục thoát khỏi những thứ dục vọng hay việc dành thời gian rất lớn sử dụng mạng để lên mạng xã hội hay đọc các báo chí, những bộ phim. Người viết nghiệm lý từ trước khi có việc xuất hiện phổ biến của các thiết bị kết nối là ở những năm khoảng 2008 trở về trước và trong những năm gần đây tính chất của Sát Tinh trở nên biến hóa, thay đổi. Nhiều cách cục kinh thương vẫn có thể ứng ở việc sử dụng công cụ thông tin lan truyền trên mạng để thực hiện kinh thương, tuy nhiên nghiệm lý cát tinh khó có thể thành tựu nếu không được Lục Sát và cách cục ham muốn lớn hỗ trợ. Đặc biệt với cách cục Hình Diêu, bản cung là Thiên Diêu chịu tác động rất lớn của thông tin trên mạng. Rất nhiều thông tin không chính xác để nghe và làm theo gây ra tai họa lớn. Thiên Diêu cũng chịu tác động của dục vọng rất lớn từ các trang mạng này, đặc biệt nếu sao này tọa mệnh hay ở cung độ đại vận thứ hai khiến việc khuyết thiếu kinh nghiệm có được từ đại vận khiến đa phần khuynh hướng tham vọng, lý tưởng không thành lập theo đúng hướng. Việc khuyết thiếu này có thể mô tả như việc thuở nhỏ không được giáo dục về các vi phạm pháp luật khi trưởng thành do không hiểu luật dẫn tới những vi phạm này.



Cách cục bị phá cách do sao Thiên Diêu rất lớn, tuy các sách thường luận đây là sao nhỏ tác động không gây ra biến đổi cách cục nhưng thực tế là khác do hiện tại việc tồn tại những thứ đồi trụy luôn chiếm một phần ở mức độ ngày với các hình ảnh quảng cáo hay những mạng xã hội. Sát Tinh dụng được cách Thiên Diêu đứng đầu là cách cục Hỏa Tham và Tham Linh. Lực cát hóa của hai cách cục này rất lớn, đặc biệt khi nhập cách không bị phá biến dục tính của Thiên Diêu trở thành khả năng hoạch phát về tài với Hỏa Tham và về danh với Tham Linh, tất nhiên ở cách cục này dùng dục để chế hóa dục. Nghiệm lý thực tế sao Thiên Diêu và tất cả các cách cục của Tử Vi hiện nay là cần thiết để tránh việc luận theo các câu phú hay sách mô tả xã hội xưa sẽ có khuyết điểm tại một số cách cục thay đổi. Ở cách cục Mão Dậu Hình Diêu tối cát cách này Thiên Diêu minh mẫn khi cư tại Hợi. Cặp Hình Diêu tính chất tổ hợp thường mang yếu tố hình khắc, đặc biệt khi hội Sát Kỵ nhưng đây cũng là cách cục hướng bản thân tới kỷ luật trong công việc là một yếu tố lớn để thành tựu. Đứng ở Thiên Diêu bãi nãi do sai lầm, vị trí Thiên Hình chủ hình khắc do tính chất. Với Thiên Diêu khi cách cục biến đổi trở thành sự tin tưởng, đức tin mang ý nghĩa tốt như tin vào thành công, tức yếu tố lạc quan khi đắc cách và có phương hướng là Thiên Hình để thực hiện, xấu là tin tưởng vào chữ thắng trong trò đỏ đen, không có phương hướng và đặt mọi sự vào may mắn. Thiên Diêu ở vị trí chủ động đắc cách khi hình thành bộ Tướng Ấn là cách Binh Hình Tường Ấn. Bộ Hình Diêu giao hội với nhóm sao này mang ý nghĩa cẩn trọng, chế hóa khuyết điểm của Thiên Diêu và ở đây cũng mang ý nghĩa về biểu tượng của một tổ chức nên được luận là hay. Tính chất khi giao hội nếu luận rõ thì việc gặp thêm Sát Tinh hay Tuần Triệt khiến biến đổi cách cục sẽ đưa ra phương hướng kết quả để tiến hành nghiệm lý được có gốc, không bị loạn.

Friday, June 9, 2017

Tang Môn và Hóa Kỵ



Tang Môn và Hóa Kỵ


Tang Môn là sao thuộc nhóm Tang Hư Khách hay còn gọi là Tang Mã Khách. Tang Môn là một trong các Ám Tinh, nhiều sách gọi là Sầu Tinh vì tính chất tang tóc của ngôi sao này. Tang Môn có tính Ám lớn, cần hiểu rõ tính chất này việc luận đoán mới có thể chính xác. Do là Bại Tinh nên nhiều khi luận lá số người luận chỉ chú trọng tới các sao quan trọng Sát Tinh mà không luận rõ ràng tính chất của các sao này. Tang Môn là ngôi sao an theo Địa Chi, luôn đối xung với sao Bạch Hổ an theo vòng Thái Tuế với Địa Chi năm nào thì an sao Thái Tuế tại cung ấy. Tang Môn là sao thuộc tài tinh, thực chất tính chất của sao này về mặt tài sản khá lớn, khi xấu bộc phát tai họa tang tóc tuy nhiên khi hợp cách tính chất tài thể hiện rất rõ rệt. Tang Môn thuộc hành Mộc, tính cương nghị, quả cảm đối phó giỏi với nghịch cảnh. Tuy nhiên tính cương nghị của Tang Môn là do trải qua kinh nghiệm từ quá khứ và đau buồn khác với tính cương quyết của sao Bạch Hổ thuộc hành Kim là sự tuân theo một tư tưởng, thái độ. Bạch Hổ và Tang Môn xung chiếu khi mệnh có một trong hai sao tức luận theo cả bộ Tang Hổ, tính chất ở vị trí Tang Môn hoàn toàn khác với vị trí của Bạch Hổ. Tang Môn là ngôi sao của sự che đậy, trường hợp tốt đẹp là việc che đậy việc kiếm tiền, che đậy của cải vật chất của bản thân, khi xấu là che giấu tội ác, che giấu những thứ bị cấm kỵ, từ đó Tang Môn trong một số trường hợp có liên quan tới cả tù tội khi tính Ám tác động.


 Mệnh có Tang Môn luôn có Thiên Mã nên hoạt ngôn nếu không bị phá cách nặng nề tính chất này thể hiện rất rõ ràng. Bộ Tang Hư Khách có tính chất sử dụng ngôn ngữ không thật để phục vụ một mục đích riêng. Trái ngược với Tuế Hổ Phù thường dễ thành thật trong việc sử dụng giao tiếp hơn. Tang Môn ở tam hợp mệnh hay thủ mệnh đều rất quan trọng trong việc luận đoán chiều hướng của cách cục. Với Tang Môn cần xét việc các tài tinh hay cách cục của Mệnh theo chiều hướng hiển lộ hay ưa ẩn giấu. Nếu mệnh có Chính Tinh và Bàng Tinh phối hợp thuộc cách công khai, chính diện thì Tang Môn dễ gặp nhiều khó khăn nhưng kinh nghiệm rất lớn và dễ thành công trong một thời gian thất bại, càng được ngưỡng mộ khi có Phượng Các. Nếu Tang Môn khi cách cục của mệnh có tính ẩn tác động mạnh khiến tính Ám của Tang Môn thể hiện rõ trong bố cục. Thường nói đơn giản là Tang Môn hóa Kỵ hay hóa Ám. Tính Ám của Hóa Kỵ rất lớn nặng nhất trong các sao, khi đi với Tang Môn khiến tính Ám của sao này tăng mạnh. Cách cục Tang Kỵ ít được chú ý thực chất là cách cục rất nguy hiểm khi phá cách, chủ tai họa tù tội, xấu hơn là mất mạng. Tang Môn đi với Hóa Kỵ là hai ám tinh đi với nhau, đặc biệt trong trường hợp đồng cung tính chất càng rõ rệt. Tang Kỵ là che đậy, che giấu, bao che, thông đồng, khi hợp cách là cả một tổ chức thực hiện công việc bí mật có tính quan trọng nhằm phục vụ một mục đích. Cũng là cách che giấu những việc không nên nói ra như việc che giấu sự việc tránh dư luận hoang mang. Che giấu tạm thời những mặt trái để khích lệ tinh thần, che giấu những bí mật có thể gây tai họa như bí mật về vũ khí. Đây cũng dễ là cách nói dối, dùng lời nói sai sự thật để che giấu. Tang Kỵ khi xấu là tai họa ập đến vì nói sai sự thật, tai họa vì che giấu những sai phạm. Tang Kỵ còn dễ là cách mắc phải bệnh tật nan y lúc phát hiện đã muộn. Tính Ám khiến khuôn mặt luôn hiện nét u uất, buồn phiền. Hóa Kỵ gia tăng khuyết điểm của Tang Môn khiến Tang Môn biến thành kẻ thường xuyên gặp những việc phiền muộn như tang tóc, bệnh tật.

Wednesday, March 29, 2017

Đại Hao và sự bộc phát


Đại Hao và sự bộc phát


Đại Hao là sao thuộc cách Kình Đại hoặc Đà Đại, an theo Thiên Can của năm sinh nên có tính chất đặc trưng thể hiện cho cách cục. Các sách thường chỉ bàn đến tính chất hao phí của bộ sao Đại Tiểu Hao mà không mấy đề cập tới toàn bộ cách cục khi luôn ở vị trí tam hợp với Kình Đà. Đại Hao có tính chất trái ngược với Tiểu Hao và hai sao luôn xung chiếu lẫn nhau. Mệnh có Đại Hao tọa thủ tính chất khác biệt lớn với việc ở vị trí tam hợp chiếu. Đại Hao chính xác có tính chất hao phí, nhưng tính chất quan trọng của sao này gắn liền với sự thay đổi. Đại Hao là sự thay đổi lớn và Tiểu Hao là sự thay đổi nhỏ. Sự thay đổi của Đại Hao có tính chất liên quan tới ý tưởng, nhiều phần liên quan tới vật chất, tài sản gắn liền, trong khi thay đổi của Phá Quân thường gắn liền với thay cũ đổi mới ở tư tưởng, đường lối vì Phá Quân gắn liền với lý tưởng của Tử Vi. Cũng vì thay đổi mang yếu tố vật chất nên Đại Hao cũng có tính chất đầu tư. Song Hao là trục cách của trục Tồn Phi. Tính chất Lộc Tồn trái ngược Phi Liêm và tính chất của Đại Hao trái liền với Tiểu Hao. Hay việc Hao Kình trái ngược với Hao Đà. Ở các bài viết về bộ sao Kình Đà đã bàn về tính chất của các sao này. Khi mệnh có Song Hao luận khác có Kình Dương hay Đà La. Nổi bật ở các Song Hao là sự thay đổi liên tục liên quan tới tài sản, khi cư tại Mão Dậu gặp hai sao Cự Cơ đồng cung mang ý nghĩa tốt đẹp.
" Mão Dậu Cự Cơ tốt thay, công danh vinh hiển lại tay hoang tàn, ngộ Song Hao là làng quán thế".
Cự Môn và Thiên Cơ có bộ Song Hao tính chất thay đổi do thời cơ lớn kết hợp sự bất mãn khiến phải thay đổi để thành công.


 Bộ Song Hao còn có tính chất trao đổi, ở đây cũng là cách trong kinh thương khi Song Hao trao đổi để có lợi ích cá nhân tức về phía Thiên Cơ, ngoài ra còn chủ chi phí để đầu tư thu lại lãi lớn hơn phí ban đầu bỏ ra. Ở bài viết này chủ yếu bàn tới cách Đại Hao thủ mệnh. Với Đại Hao thủ Mệnh thì Tiểu Hao tại cung Thiên Di. Bản chất của cách này là bên trong bản thân to lớn, bên ngoài trở thành nhỏ bé. Nếu xét về sự hao hụt, hao phí bản thân ta phung phí lớn, tiêu hao lớn. Xét về sự thay đổi thì bên trong suy nghĩ tư tưởng thay đổi lớn thì bên ngoài khiến ta trở lại ý nghĩ thay đổi nhỏ. Điều này cũng như việc Thái Tuế chủ Sự Thật và Thiên Hư bên ngoài chủ Cái Giả. Lộc Tồn chủ sự tích lũy và Phi Liêm chủ sự tan vỡ. Hai bên hoàn toàn có ý nghĩa trái ngược nhau biểu thị cho hai cách cục khác biệt về tính cách. Bên trong ý nghĩa thay đổi lớn và bên ngoài ý nghĩa thay đổi nhỏ. Tất nhiên do gọi quen là bộ Song Hao nên ta mặc định sự liên kết của hai sao này với nhau để luận đoán nên thường luận cả bộ mang ý nghĩa tương trợ nhau. Thực chất nên gọi bộ Song Hao về tên gọi riêng là Trục Song Hao. Ta lại có bộ Đại Kình mang ý nghĩa thay đổi lớn để tranh đoạt, tranh đấu, chống lại có tính tấn công, dương tính. Khi thực hiện tấn công phải chuyển động, Đại Hao là chuyển động lớn. Mệnh có Đại Hao tam hợp có Kình Dương tức ta thay đổi tư tưởng vì mục đích là sự tranh đấu. Trái ngược với bộ Kình Đại ta có bộ sao Đà Đại. Ở đây có tính thay đổi lớn để phòng thủ, đề phòng, tiếp thu. Vị trí Đại Hao của bộ Đại Kình hay Đại Đà đều mang tính bộc phát lớn do bản chất của cách cục Kình Đà Hao. Từ Đại Hao chủ sự thay đổi lớn ta tìm ra khi đi với các Chính Tinh ưa thay đổi hay cố định mà đưa ra các luận đoán chính xác về sao Đại Hao này.

Monday, March 20, 2017

Cách cục thực tế bên ngoài của Tang Môn



Cách cục thực tế bên ngoài của sao Tang Môn

Tang Môn là sao được xếp vào nhóm Bại Tinh trong Lục Bại, an theo Địa Chi. Bộ Tang Hư Khách đối lập với Tuế Hổ Phù. Trong bộ Tang Hư Khách luôn giao hội cùng sao Thiên Mã. Vì vậy cách cục hay như Lộc Mã giao trì hay Mã Khốc Khách luôn mệnh tạo đi cùng bộ Tang Hư Khách. Tất cả các sao nói riêng và sao đi theo bộ nói chung đều thể hiện rõ ràng tính chất khi tọa thủ tại cung Mệnh, các cung tam hợp mang tính chất bổ trợ trong toàn bộ Tổ Hơp tức ở bản cung của cung tam hợp định nghĩa rồi phối hợp các chính tinh thành bộ sao có tính chất riêng. Các vị trí cung Mệnh an vào trong từng sao Tang Môn, Thiên Hư và Điếu Khách đều có tính chất riêng. Trường hợp bài viết chỉ luận tới việc Tang Môn thủ mệnh và tính chất của sao này. Người viết đã nghiệm lí rất nhiều lá số mệnh có sao này và điều dễ nhận ra khi Tang Môn thủ mệnh khuôn mặt luôn có một nét buồn, đa số đặc điểm thường gặp là ở đôi mắt. Tang Môn cũng hay gặp những nghịch cảnh trong cuộc sống dù Mệnh tốt hay xấu. Trong bộ Tang Hư Khách thì sao này thủ mệnh là trường hợp xấu hơn Thiên Hư và Điếu Khách. Tuy nhiên không hoàn toàn do tính cách hay tâm hay buồn phiền khi có sao này mà thực chất các sao an theo Địa Chi có tính chất biểu hiện ra bên ngoài, ngay cả bộ Tuế Hổ Phù cũng luận như vậy. Mệnh Tang Môn người viết gặp qua có rất nhiều trường hợp thành công do dụng được sao này, hay còn gọi là Tang Môn đắc địa, đắc dụng. Tang Môn có đặc tính chủ ương ngạnh, trầm tĩnh ra bên ngoài nhưng trong tâm có thể đang rất động vị luôn có Thiên Mã ở tam hợp. Mệnh có Tang Môn khiến người khác cảm thấy đây là con người đã trải qua nhiều kinh nghiệm cuộc sống. Tùy theo việc các bàng tinh giao hội hay đi với Chính Tinh mà biến đổi tính chất. Tang Môn thưc tế khi đắc cách là sự thâm trầm trong suy nghĩ, có kinh nghiệm lâu trong công việc hay một lĩnh vực, có tính mạnh bạo, quyết đoán.


 Tang Môn thường được đi liền với từ nghị lực, tuy nhiên sao này mang hàm ý xấu vì gặp nghịch cảnh mới cần phải vượt qua khó khăn, nghịch cảnh của Tang Môn đa phần ở thời nhỏ, cũng nhiều là do tình cảm hoặc hoàn cảnh gia đình. Có Tang Môn sinh ra trong gia đình giàu có, địa vị cao trong xã hội nhưng gia đình không hòa thuận mà sinh ra buồn phiền, chán nản. Nhiều Tang Môn thành công lớn cũng vì lí do này, tất nhiên cách này vẫn có ý nghĩa may mắn vì chỉ liên quan tới bất hòa, khi xấu hơn do giao hội Sát Kỵ liên quan tới tang tóc. Cứ 12 người trung bình có một người có mệnh ngôi sao này. Thực tế có nhiều danh nhân có sao này thủ Mệnh. Tang Môn không chỉ chủ sự buồn phiền, một bàng tinh luôn biến đổi tính chất liên tục, như sao Địa Kiếp khi đắc vị chủ sự tài giỏi, đa mưu thủ đoạn mà thực hiện được ý đồ của bản thân, tất nhiên là có thể ý đồ tốt hoặc xấu tùy thêm vào các bàng tinh khác. Tang Môn khi gặp Sát Kỵ là cách theo ác, thuộc trường hợp kiếm tiền bất chính khi có thêm Kỵ Hình. Một số trường hợp được ủng hộ vì lý do sau việc làm sai trái, đặc biệt khi có Phượng Các đồng cung. Hai bộ Tang Hư Khách và Tuế Hổ Phù trường hợp Phượng Khốc ở phía bộ sao nào cách đó được ủng hộ. Trường hợp gặp cách Tang Phượng luận khác Tang Khốc. Với cách Tang Khốc là cách cục rất táo bạo, thường có mặt ở những lá số thành công trong thời điểm khó khăn chung của xã hội, nếu đi với Sát Phá Tham được luận là hay, thực chất ở đây hình thành bộ Mã Khốc Khách chủ hoạch phát. Trường hợp Tang Phượng ta thường hay nghe ngoài đời được khen ngợi bởi sự quyết tâm thực hiện thành công một việc trong hoàn cảnh khó khăn, có trường hợp như những em học sinh nghèo vượt khó dù hoàn cảnh gia đình không có điều kiện, cao hơn là những người nghèo có chí hướng và quyết tâm trở thành tỉ phú hay giành được quyền lực, những việc như vậy nhiều vô số. Chính vì sự khó khăn của cách Tang Hư Khách mà mới có khuynh hướng tìm ra những cách giải quyết, lối đi hiệu quả nên Thiên Mã luôn đi với bộ sao này. Cũng vì vậy mà nhiều khi tiền nhân đánh giá việc cát tinh đắc địa tầm thường sự nghiệp, trong cuộc sống sung túc, đầy đủ thì khó có được quyết tâm, thay đổi để tạo nên thành công lớn lao.

Wednesday, March 1, 2017

Vài nét về Thiên Khốc và Thiên Hư



Vài nét về Thiên Khốc và Thiên Hư


Đa phần Thiên Khốc và Thiên Hư thường được nhắc đến ở cách Khốc Hư ở vị trí Tí Ngọ. Phượng Các luôn đi cùng Thiên Khốc. Và Thiên Hư luôn có Tang Môn và Điếu Khách tam hợp. Vì vậy cách này luôn có 5 sao Khốc Hư Tang Phượng Khách. Cổ nhân để lại câu phú " Khốc Hư Tí Ngọ tiền bần hậu phú". Tức ám chỉ tính chất quan trọng của cách cục này là trước nghèo sau giàu. Thiên Hư tại tất cả các vị trí đều chủ hư hỏng, giả, mất mát nên tam hợp luôn có Tang Môn chủ buồn bã. Tuy nhiên bất cứ Chính Tinh hay Bàng Tinh đều có cách tốt xấu riêng. Thiên Hư khi tốt là đạt được ước mơ hão huyền, biến điều giả thành sự thực tức Thái Tuế ở đối cung, là sửa chữa những thứ hư hỏng trở nên hiện đại, bước tiến mới. Thiên Hư đi vơi Thiên Khốc hay vì tính chất phối hợp bổ sung cho nhau. Thiên Khốc có đặc tính mạnh bạo, gan góc, quyết liệt. Sao Thiên Hư do tam hợp với Tang Khách thường mang tính buồn rầu, sầu não. Gặp Thiên Khốc biến sự đau buồn thành sức mạnh. Cách Hư Khốc có tính đột phá lớn nhưng khó thành cách. Một câu phú Tử Vi như sau.
" Mệnh Khốc Hư mạc đàm phú quý".
Tức Mệnh có Thiên Khốc và Thiên Hư không thể có phú quý. Cách này nhấn mạnh tính hư hoại của sao Thiên Hư và tính chất khốc liệt, tiếng sầu thảm của Thiên Khốc. Thiên Khốc luôn có Phượng Các tam hợp như cách nói kẻ có tính khốc liệt, can trường thường được sự trọng vọng của kẻ khác. Một cách của Thiên Khốc cũng rất hay là cách Mã Khốc Khách tượng là ngựa đeo chuông. Thực ra đây là cách Mã Phượng Khách có Tang Khốc tượng ngựa oai hùng đeo chuông. Một cách hay khác là Thiên Mã ngộ Hình Khốc ngày xưa Công Hoan phát võ. Người ta thường nhìn thấy cách Phượng Giải mà không chú ý đến tính chất quan trọng của sao Thiên Khốc. Sao này chủ sự ương ngạnh không chịu cúi đầu, xuống nước khiến Phượng Các trong tam hợp có tính chất cao quý, gọi là Đài Các tinh. Tuy nhiên cần phân biệt  Mệnh có sao Thiên Khốc tọa thủ và Phượng Các tọa thủ hoàn toàn luận giải khác nhau, cách này cũng giống như bộ Hình Diêu. Tính chất toàn tổ hợp chỉ dùng khi xét cả nhóm sao lớn để lấy kết quả tổng quát dự đoán. Người mệnh có Thiên Khốc hợp mệnh thường có quầng thâm quanh mắt, nếu có Phượng Các tọa thủ luận khác chủ có nét thanh cao trên khuôn mặt. Bộ Khốc Hư rất ưa các sao chủ sự thay đổi, phá cũ đổi mới như sao Phá Quân. Hoặc như sao Thiên Cơ chủ cơ hội để đổi mới cần thiết có dũng khí và ý chí nắm bắt dám thay đổi của Thiên Khốc. Nhìn chung cách Phượng Khốc hay hơn cách Tang Hư Khách vì Phượng Khốc chủ sự nổi tiếng về một măt, đa phân có trên các lá số danh tiếng lớn. Cách Tang Hư Khách như sự thua thiệt, mất mát nhưng cũng chứa sự uyên bác rèn luyện qua những mất mát này.