Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Tuesday, August 17, 2021

Nối tiếp thế hệ và bạch thủ hưng gia

 Sự nối tiếp của thế hệ đi trước trong một gia đình tức vận nhà khiến hệ cách cục định số biến chuyển theo khuynh hướng có tính khảo cứu tương đối hay. Thứ nhất thường một số người nghiên cứu tử vi có kinh nghiệm luận về truyền tinh của phụ mẫu tới nhân mệnh. Thứ tới là việc suy xét tính chất này có một đặc điểm quan trọng khi khảo cứu là xét sự biến dịch của tổ hợp tinh đẩu hung họa trong một gia cảnh tốt đẹp để định cách biến hóa của tổ hợp. Cách cục bản chất về tính cách hay bản tính không có sự sai biệt. Tuy nhiên về lý tưởng, tham muốn đạt được của hai trường hợp này đã ở cách xét mức độ rất khác nhau. Vận thiên hạ thắng vận nước, vận nước thắng vận làng, vận làng thắng vận nhà, vận nhà thắng vận mệnh. Đây là sự tác động nghịch với nhân mệnh. Tuy nhiên bản chất một nhân mệnh khí hóa cao viễn hay thậm chí bình thường vẫn có thể là tác nhân suy chuyển vận nước, việc này đúng với yếu nhân đứng đầu trong một tổ chức quốc gia. Trong bài viết này bàn về tác động của vận nhà tới mệnh cục. Thể chế, truyền thống, bản sắc một quốc gia sẽ tác động tới toàn bộ công dân của quốc gia này, từ hệ thống công trình cho tới giáo dục, y tế, kinh thương,... Đặc biệt là sự tác động của giáo dục sẽ tương đối mạnh. Tại đây tác động này sẽ hình thành nên sự sai khác giữa các quốc gia. Tức sự tác động của vận nước sẽ liên quan tới nhân mệnh quốc gia này. Vận làng tức xét hoàn cảnh sinh sống tại một địa phương. Và vận nhà là tác động của gia đình, phụ mẫu huynh đệ tới nhân mệnh. Nếu vận nhà cực thịnh, tức tổ nghiệp ở vị trí cao trong xã hội thậm chí quốc gia. Tính chất của toàn bộ tinh đẩu sẽ sai khác về tham muốn và lý tưởng. Thí như với lá số nhân mệnh đắc cách Cơ Lương cư Thìn hội Khoa Lộc Mã Xương Khúc Tả Hữu, sinh khởi trong gia đình phú gia địch quốc. Nhân mệnh đắc cách này có khuynh hướng phát tài phú tương đối mạnh. Tuy nhiên trong các lá số nghiệm lý, có nhân mệnh theo khuynh hướng tu đạo, có người rời bỏ gia đình ẩn cư tu đạo. Các bố cục định cách về khuynh hướng đã hóa hợp sai biệt tương đối mạnh. Tượng cách Cơ Lương có một phần tính chất ưa nghiên cứu đạo, thoát ly tăng đạo như cách Tử Tham. Khi định cách cục này có trường hợp nghiệm lý quả thực có kết quả trường hợp sai biệt. 



Với bố cục mệnh cách thừa hưởng kế tục được tước vị, hay tài sản rất lớn của phụ mẫu hay thậm chí gia tộc, dòng họ do tính truyền thừa, kế thừa. Nghiễm nhiên một số mệnh cách này đã có được khởi đầu rất tốt đẹp. Đây là điểm rất cần chú trọng khi xét gốc khởi ban đầu của cách cục. Thực tế trong giai đoạn hiện thực, tại tất cả các quốc gia khi xét ở phương diện doanh nhân hoặc chính trị có nhiều mệnh cách được sinh khởi trong gia đình có truyền thống lãnh đạo đứng đầu một tổ chức hoặc một quốc gia. Gốc khởi phát này như nguồn lực rất lớn tới nhân mệnh cũng dễ xét tới trong ngay môi trường xung quanh mỗi nhân mệnh. Tuy nhiên khi khảo sát về nhân mệnh đắc thành tựu khởi phát từ gốc vận nhà tương đối yếu thế, với cách cục Sát cách đắc lệnh vẫn mang ý nghĩa hoạch phát rất lớn. Nhân mệnh nếu khởi điểm không được nhiều thuận lợi, có thể trong hoàn cảnh rất khó khăn bằng nỗ lực tạo những thành công lớn tới xã hội cũng xuất hiện rất nhiều. Cách cục này để thành cách có những tinh hệ thường khi xét luận chủ có tính chất vươn lên, cầu tiến rất mạnh. Khi nghiệm lý toàn cục xét tính chất sao, cổ nhân phân định Khôi Việt là bộ sao quý nhân, tính chất vượt trội rất mạnh, an theo Thiên Can nằm ngoài bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can. Thiên Khôi và Thiên Việt nếu nhập Mệnh ắt nhân mệnh hẳn không là người tầm thường. Lưu ý việc Khôi Việt nhập mệnh khác tam hợp chiếu, củng chiếu mệnh hoàn toàn. Khôi Việt thí như sự trọng đại, khi nhập mệnh mang ý nghĩa tăng trọng cung độ này. Nếu xét tính bộc phát, Khôi Việt có tính chất dự đoán, cát hóa bố cục hung cách. Không Kiếp bộc phát bất ngờ. Khôi Việt là cách cục chủ vươn lên, là thế trợ lực của hoàn cảnh tới nhân mệnh. Mệnh cách gặp Khôi Việt, nếu sinh khởi nhân mệnh hoàn cảnh khó khăn sẽ có sức vươn lên tương đối mạnh. Về phần định cách cục Khôi Việt một số bài người viết đề cập tới tính chất của tinh đẩu này. Thường xét luận 6 trợ tinh gồm Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt. Tuy nhiên nếu xét thực tế trên thiên bàn có 4 trợ tinh có thể hóa khí và có bàng tinh an theo trợ tinh này tức Tả Hữu Xương Khúc có Thai Tọa Ân Quý Cáo Phụ. Tả Hữu chỉ Hóa Khoa có 2 phụ tinh Thai Tọa. Xương Khúc có thể Hóa Khoa và Hóa Kỵ gồm 4 phụ tinh Ân Quý Cáo Phụ. Thực tế phân định hai tổ hợp của Thai Tọa và Quang Quý an theo ngày sẽ hình thành một số cách cục mang ý nghĩa cốt lõi trong trợ luận về độ số. 




Hai bộ Quang Quý và Thai Tọa an theo ngày nên không nằm cố định theo tổ hợp sao xác định từ trước. Tác động của hai bộ sao này tương đối mạnh, biến chuyển tính chất hoàn toàn của một cách cục cát hung. Người nghiên cứu tử vi thường nghiệm lý hai trường hợp Xương Khúc Ân Quý đồng cư Sửu Mùi và Tả Hữu Thai Tọa đồng độ tại Sửu Mùi. Bốn trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc hợp hóa tương đồng, xung chiếu tại Thìn Tuất, tam hợp chiếu tại Tị Dậu Hợi Mão, đồng độ tại Sửu Mùi và đơn thủ tại Tí Dần Ngọ Thân. Sáu vị trí Thìn Tuất Tí Ngọ Dần Thân gặp trợ tinh Tả Hữu Xương Khúc không đủ bộ, đơn thủ. Do vậy cổ nhân luận cách Xương Khúc Tả Hữu đồng cư Sửu Mùi là cách cục nhập miếu cát hóa mạnh, đặc biệt khi giao hội Thai Tọa hay Cáo Phụ. Với Sát tinh Không Kiếp luôn đồng độ tại Tị Hợi, xung chiếu tại Dần Thân, tam hợp chiếu tại Mão Dậu Sửu Mùi, đơn thủ tại Thìn Tuất Tí Ngọ. Khi xét xong phân bố của Chính Tinh, xét Tứ Hóa, 4 trợ tinh, Không Kiếp để định khí hình gốc hay năng lượng của tinh bàn. Tại sao gọi là năng lượng ?. Do tính chất lưỡng đấu của Sát và Trợ tinh, hoặc vị trí kích phát treo của các tổ hợp này khi nhật hạn, nguyệt hạn, tiểu hạn với thời gian ngắn vận qua sẽ gặp biến hóa mạnh trong tư tưởng, hàm tính biến động, dao động mạnh. Năng lượng trong các tinh hệ Chính Tinh với các nhóm sao thủ mệnh sai biệt tương đối lớn. Xét cục nếu phần năng lượng của Sát cục lớn, hoặc trợ tinh lớn là điểm vượng suy của nguyên cục. Nếu Sát tinh có năng lượng lớn, sức áp lực, đè nén, bất ngờ, lo sợ và bế tắc, mất phương hướng,... sẽ phát khởi mạnh nếu không được chế hóa. Với trợ tinh lớn như Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt là sự phát triển, xu hướng tốt lên, tăng tính ổn định, thời vận, tuy nhiên năng lượng khởi phát không lớn mạnh, khởi tham vọng lớn như Sát tinh do tính cân bằng, ổn trọng trong tính chất tác hóa. Trên tinh bàn, xuất hiện các tổ hợp có sức tác hóa lớn, đây là mệnh phát triển bất ổn định, tức khi phát ắt hoạch phát tài danh, khi hung họa tăng mạnh tính hung. Bản chất khi xác định dòng khí hóa vận hành qua các hành vận tác động tới tư tưởng, Mệnh Thân việc gặp tai kiếp nạn ách thương tích, thương tật hay phá tán bại vong đều đổng đẳng tính chất hoạch phát, cát hóa, đắc tài lộc, gặp thời cuộc. Đều không là mệnh thường, tuy nhiên hai khuynh hướng rất sai biệt. 




Điều quan trọng, người nghiên cứu tử vi xét luận từ gốc định, có thể phân rõ năng lượng trong tổ hợp hình thành mạnh là cát hay hung. Sát tinh có thể phối hợp định cách đại cát, cát trợ tinh khởi phát tối hung. Điểm khẩn yếu này biến hóa vận động thực tế do mong muốn của lòng nhân. Thí như một loài sâu bọ, khi diệt loài này có thể mang kết quả tốt với con người tránh hại cây quả, tuy nhiên có thể kết quả xấu với tự nhiên khi mất cân bằng. Năng lượng hay khí hóa gốc của tinh hệ cũng vậy, ngược về gốc bất phân cát tinh hay sát tinh. Khi truy nghịch, nghiên cứu giải đoán lá số người nghiên cứu cũng suy xét từ nguyên căn, thứ tới phân định cát hay hung của chính nhân mệnh mới có thể thực tránh một số sai lầm khi luận giải. Nếu nguồn năng lượng khởi phát trên một số tổ hợp mạnh, hay chính yếu là tổ hợp cung trọng điểm sức tác động lớn. Nghiên cứu tử vi không chỉ nhìn xét cách cục luận theo phú giải. Tinh đẩu biến hóa phức tạp, một số người nghiên cứu thời gian còn chưa thực sự nhiều tuy nhiên do một phần tính huyền học của toán mệnh tương đối khó tiếp cận, người nghiên cứu cũng thường muốn tri kiến của bản thân được người biết như trên các trang mạng khi luận giải hay truyền đạt tới mọi người như sự nghiệm lý, tổng hợp phân định phú giải cần sâu dày cần tránh rơi vào sự tự tin dẫn tới tạo nghiệp quả khi dự đoán lá số tới người khác. Quan trọng phú luận có tính phổ quát, tổng hợp rất lớn, nếu không nắm rõ yếu tố cốt lõi rất dễ sa vào câu chữ trong phú luận. Điểm chế hóa của mệnh cách là sự dung hòa của cách cục. Như việc dung hòa được thuốc có tính độc trong cơ thể phá những bệnh huyết ứ trong đông y. Ngược lại bồi bổ những liều thuốc, thức ăn bổ nhiều sẽ phát sinh tới bệnh tật. Bổ cứu là điều quan trọng trong ngũ hành tương sinh tương khắc. Tức giữ được đạo trung dung vậy. Việc được mặt này mất điểm khác là quy luật của thiên địa. Cách cục tượng cách lạc quan và hướng lên phía trước khi thời điểm hoàn cảnh khó khăn nhất là cách cục mang ý nghĩa cát hóa mạnh. Mệnh tạo này có sức đột phá mạnh, luôn tìm kiếm cơ hội, giữ tích cực trong thời gian dài là điểm ít cách cục nhân mệnh có thể hình thành. Các tổ hợp an theo Địa Chi. Với nhóm Đào Hồng Cô Quả và nhóm Tuế Hổ Phù Tang Hư Mã Phượng Khốc hình thành nên các cách cục mang ý nghĩa sai khác về tính cách khi nhập Mệnh. Đào Hồng có tính bất ngờ, Đào Sát chủ đoạt lấy, giữ của bản thân, Đào Hồng là nguyên nhân, Cô Quả là kết quả. Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã là hai mẫu người khác nhau, một chủ quan điểm, lập trường, lý tưởng rõ ràng. Một chủ tính xã giao uyên bác, mẫn tiệp, thích nghi, đa năng. Nhân mạng phân định như trên, phối hợp cách cục chính tinh và các nhóm sao khác hình thành nên hệ tư tưởng, mẫu người riêng trong xã hội. Cũng như xét định nhân tướng phân định diện tướng sai biệt có những tính cách riêng rẽ, hoặc như mệnh cách chịu ảnh hưởng của hành khí Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ trong ngũ hành phân định tính cách riêng. 

Thursday, August 5, 2021

Con đường công danh

Phàm nam mệnh khi sinh khởi lấy chí tạo lập công danh làm đầu. Vượt qua những phép Đào hoa sắc hay vật dục để hóa cục tinh hệ tham muốn khởi phát thì được hưởng thành quả sau này. Điều quan trọng là sự tồn tại thực tế của thành tựu khởi đầu luôn khởi nguyên căn từ Đào hoa cách luận. Thí như khởi gốc từ vòng Trường Sinh tới giai đoạn Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan tới Đế Vượng. Vòng tác hóa khởi một vòng của tư tưởng cũng khởi phát theo nguyên tắc này. Do vậy thực tế, định cách của một thời vận trong thời gian chỉ một niệm rất ngắn đã phân đủ giai đoạn của Sinh Vượng Tuyệt tại ý niệm. Dài hơn là công danh một đời. Động lực là gốc cho việc cần hướng tới. Động lực khởi thường do Đào Hoa cách. Do vậy ngay khi khởi khí Trường Sinh, tiến khí chính là Mộc Dục, tức tư tưởng tham muốn của nhân mệnh sau đó mới chuyển sang hành khí của Quan Đới. Khi định cách lá số tử vi, nếu tham vọng bất kiến loạn, tức ẩn tính tham muốn vật dục, chuyên nhất vào mục tiêu lớn cách cũ đó thành cách. Thường hóa khí của tinh đẩu có tác dụng điều hướng thông qua tư tưởng của nhân mệnh ứng hợp với tính chất của Chính Tinh và phụ tinh hóa khí. Khi Cự Môn hóa thành Kỵ, trong tính chất của Cự Môn luôn hóa tồn nghi, lo sợ, loạn tâm về những vấn đề hình thành. Hóa khí Khoa Quyền Lộc tức dẫn hành khí tới về tư tưởng nghiên cứu, học hỏi hoặc xây dựng uy tín, quyền hạn, hoặc tích lũy, phát triển hướng lên khi dẫn cục. Hóa khí trong một quá trình tư tưởng có vai trò quan trọng để thành cách. Tuy nhiên tham muốn, tham vọng tức vị trí Mộc Dục của tư tưởng khởi phát trước vị trí Quan Đới có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Lưu ý Mộc Dục người viết xét không nằm trên tinh bàn, chỉ quá trình vận hành của một vòng Trường Sinh ứng công danh khởi phát. Đây là điểm thường tương tự khi xét đoán khởi ý định cách tới như vòng Trường Sinh Bay của dòng Phúc Tông. Luận định về cực điểm của tứ tượng cũng không nằm ngoài suy vượng của khí hóa xét đương nhiệm. Thực tế, tính tất yếu sinh trụ dị diệt của toàn bộ khí hóa xét trong toán mệnh lý cần nắm rõ là điểm không thể tách rời với định cách độ số tử vi. 




Hung nhược bất hung, cát nhược bất cát điểm xét vượng suy khi phối hợp như âm hỏa đắc lợi rèn kim, hỏa vượng kim sắc, dương hỏa cực vượng kim chảy hóa thủy. Phàm bất quá thành hư nhược, phản tượng. Khí hóa của vòng Trường Sinh khi định cách của Đông A bản chất không xét định trên lá số tử vi, người viết đã có xét tại các lá số phát khởi thai tạo cùng ngày giờ tháng năm sinh, có đứa trẻ mang tai kiếp bệnh tật bẩm sinh, có thai sinh vừa khởi sinh đã lưu tới tử tuyệt. Vòng trường sinh của Đông A phái xét theo nguyên căn khởi gốc, có tính riêng biệt rất mạnh của mỗi nhân mệnh. Khi xét định Sát cách lấy vòng trường sinh khí hóa làm trọng, để luận định cát hung họa phúc. Một số người nghiên cứu tử vi có gửi tới người viết về những lá số chịu ác nạn của bệnh dịch hiện nay và xét định cách của đương số. Thực tế khi nghiệm lý xuất hiện có những sự tương ứng khí. Có nhân mệnh đang thời kỳ sự nghiệp rất mạnh, hành khí của đại vận cát hóa cường vượng, tiểu vận tương ứng khi xét Tài Quan cách mang ý nghĩa cát. Tuy nhiên khi xét gốc đại vận gặp Mã hội Lưỡng Lộc trùng phùng đại tiểu vận trong bố cục Cự Cơ Đồng. Thiên Di cung nguyên cục ngộ Sát Cô Hồng Đà Kiếp Bệnh. Một lá số nam mệnh đang làm chủ một doanh nghiệp lớn khi hội cách cục Mã Khốc Khách có Quyền Ấn trong tổ hợp Vũ Tham thành cách trùng phùng đại vận lưu về Tài cung gặp biến loạn bệnh ách. Thực tế phái Đông A khi xét khởi nghiệm lý rõ về tính khẩn yếu của Sát tỏa vận đồng khởi, từ vận làng, vận nước và vận thiên hạ có tính chất thấu triệt rõ ràng. Thí như quốc gia Ấn Độ khi đỉnh điểm dịch tới với khoảng 300 nghìn người mắc cũng như nạn diệt chủng tại Campuchia giai đoạn chiến loạn khiến khoảng 1/4 tầng lớp tri thức, tư sản của Campuchia tuyệt mệnh. Khi đó Khoa Quyền Lộc chỉ là cái áo bên ngoài, không thể vượt khỏi cương tỏa của Sát cục vận quốc gia. Khi xét tính chất của bệnh dịch covid-19 có điểm phát sinh là ngoài tính chất khu vực khi lây nhiễm xét nguyên cục hành vận sẽ chịu tác động lớn hơn. Thí như tại khu vực có khả năng lây nhiễm lớn, hành vận có Kỵ Hình Mã Kiếp hoặc Mã Khốc Khách hội Lưỡng Lộc trong thế đứng Cự Cơ Đồng hoặc Kình Mã Phượng khi hội vận Thiên Mã ứng cách phát sinh chuyển động phối hợp sao chủ Bệnh dễ gặp tình trạng bệnh tật khi di chuyển. 




Tại cách cục dịch chuyển ứng với tiếp xúc và truyền nhiễm bệnh. Qua khoảng 18 lá số nghiên cứu nghiệm lý mắc dịch bệnh có 10 lá số gặp cách cục chuyển động do Thiên Mã hội cách. Tuy nhiên khi nghiên cứu về mệnh lý nhập vận tử tuyệt số lượng chỉ 3 lá số. Trong đó 2 lá số hành vận có Thiên Mã hội Song Lộc trong thế Cự Cơ Đồng và Thiên Mã hội Quyền Ấn trong thế Vũ Tham. Hai lá số bất kiến Không Kiếp Kỵ Hình. Lá số thứ ba hành vận cách cục đắc cách may mắn Dương Lương cư Mão trong thế Âm Dương Lương có tính giao tiếp xã hội lớn. Tính khả  cứu của Dương Lương rất lớn khi hoàn chỉnh cách tuy nhiên do gốc Âm Dương Lương có tính xã giao, giao tiếp, Sát vận ứng vận làng tại vị trí địa lý sinh sống dẫn tới tai kiếp. Khi người viết đọc tin tức trên mạng, có trường hợp một gia đình có 9 người cùng mắc bệnh, trong 9 mệnh số này có người mệnh cách nhập hành vận bình hòa, bất hung, có thể có người đang lưu vận cát. Vấn đề nhiễm bệnh tại đây liên quan tới vận gia đình và tính chất của việc bệnh tật lây lan rất nhanh chóng khi tiếp xúc. Hạn bệnh tật liên quan tới sinh tử do nội thân tác động và do hoàn cảnh bên ngoài tác hóa. Có những nhân mệnh ăn uống không khoa học, uống nhiều rượu bia và hút thuốc tuy nhiên khi lão niên mới gặp vấn đề lớn tới sức khỏe. Tuy nhiên cũng rất nhiều nhân mệnh trong thế hệ thanh niên hoặc độ tuổi ban đầu của trung niên gặp ác bệnh trong cơ thể, các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, suy thận, xơ gan,...là những bệnh không thể chữa trị. Do vậy, thực tế trong nội cơ thể mỗi nhân mệnh phân định sai biệt. Kẻ gặp Tham ngộ Trường Sinh gia cát hay cách Đồng Lương đắc cách thường cơ thể sẽ có thể phòng chống được bệnh tật rất tốt. 




Một số nhân mệnh hạn tử tuyệt hiện trên diện tướng, tức tướng mạo đặc biệt tại vị trí ấn đường chủ Mệnh cung. Lại nhãn tướng biểu hiện. Suy xét khi nhân tướng tại tướng trạng hình tù pháp lý ứng hợp tính khả tín rất lớn. Tức diện tướng là nơi khí phát ra ngoài có thể dự đoán, huống tới nội khí trong luân chuyển tuần hoàn, khắc phá tương hợp có hữu tình hay không cũng phần dự đoán thời kỳ tiếp theo của nhân mệnh. Cách biểu thị nhân tướng để người đọc có thể thấu rõ hơn về toán mệnh tính dự đoán do sắc tướng là sắc, hiển lộ ra bên ngoài có thể dễ hình dung. Khi định vòng trường sinh khí hóa xét từ nguyên khí của tinh đẩu, sức cường vượng sai biệt. Như việc tướng quý, mệnh hỏa chủ vượng, tinh thần nhiệt huyết, thường cách cục dễ tạo nóng nảy dẫn tới tai họa. Khi hóa tú khí, nhân mệnh nhiệt huyết nghiêm chỉnh với lý tưởng đặt ra, tham cầu tới cùng. Xét đoán vòng Trường Sinh khí hóa, tức dẫn hóa của khí hình tinh đẩu có thể nhìn thấu triệt chủ khách khi định cách. Thí như một trường hợp, nam mệnh trong trường hợp chủ động thực hiện hành vi buôn bán chất cấm, khi bị bắt chịu xét xử hình pháp tử hình. Khởi của Mộc Dục tại đây, hay tham muốn của cách cục là lợi nhuận, tiền bạc. Bố cục liều lĩnh ắt thiếu Khoa, Xương Khúc trừ một số trường hợp rất đặc biệt có Văn tinh hội củng, tuy nhiên xét cách cục thường xảy ra nằm tại Hình Kỵ hội chiếu. Khởi vòng Trường Sinh, ý niệm là tài phú, phương cách hoạt hóa là quyết tâm ắt Sát Kỵ phải hội họp để định cách cục này. Trường hợp này, mệnh cách dẫn hóa là Chủ. Trường hợp một nam mệnh trong tình cảnh nợ nần áp lực rất lớn, phát khởi tham muốn kiếm tiền nhanh chóng để trả nợ vay lớn, mệnh cách dẫn nguyên cục là Khách. Khởi nguyên căn ban đầu thực hiện một hành động chính là khởi của một vòng Trường Sinh khí hóa. Khí hóa này cực vượng, có thể hóa toàn bộ thiên địa nhân, cơ định xung quanh phải theo nó. Khi nghiên cứu trên mạng thông tin, có bài báo người viết đọc được liên quan tới việc tác động của tâm thức khiến xoay chuyển về nhân duyên hoàn cảnh để thúc đẩy tham muốn của bản thân. "Khi mong muốn mãnh liệt sẽ khiến thế giới xung quanh hợp lực xoay quanh bản thân". Vòng trường sinh khí hóa của Đông A Phái xét nguyên khởi từ gốc nội tâm này. Thứ như xét định cách chế dụng của Sát cách cũng mang tính biến hóa từ nguyên căn trên. Vị trí Mộc Dục của tư tưởng có tính thiết yếu để định cách của vòng trường sinh khí hóa. 





Giai đoạn năm 2005, người viết có nhớ về một nữ mệnh với cách cục Vũ Phá Kình Kiếp. Trong thời điểm này, nữ mệnh lên thành phố Hà Nội và làm rất nhiều công việc nặng của nam giới để kiếm sống và chưa trị cho bệnh của mẹ nữ mệnh bị tai biến, cả dòng họ đều ở vùng nông nghiệp. Bản thân người viết có điều trị ở cùng nơi thời điểm này với mẹ của nữ mệnh. Bệnh tình mẫu thân trở nặng và có hỏi về cuộc đời của nữ mệnh sau này có được ổn định vui vẻ hay gặp nhiều sóng gió. Xét đoạn về nhân tướng, diện tướng lưỡng quyền cao, mắt nhạn, ngưu tỵ phối hợp. Khi xét luận về lá số, định cách cục Vũ Phá Kình Kiếp này, thành bại yếu tố chính do cách cục Phá Quân hội Kình Dương. Sau đó có hỏi nữ mệnh về dự định thành gia lập thất sớm tại quê nhà hay đi xa làm việc ? . Nữ mệnh đáp sẽ rời bản xứ tới đây để tạo lập sự nghiệp, trước lập thất sẽ tạo dựng tài sản và khi ổn định sẽ kết hôn. Xác định khí hóa của Vũ Phá Kình khi nhập hành vận này, phát sinh hai khuynh hướng do hành hóa vượng nhược biểu hiện khí ra bên ngoài sẽ phát sinh lựa chọn sai khác. Khi nghe bộc bạch của nữ mệnh, biết rõ nữ mệnh không nói lời phiếm. Sau khi người mẹ khuất núi, nữ mệnh tiếp tục ở lại lao động. Tới năm 2007 người viết được biết đã tạo lập một doanh nghiệp về chế biến vật liệu xây dựng, năm 2011 đã trở nên rất giàu có khi nhập vận VCD có Cự Nhật nội cách hội Lưỡng Lộc sau đó lập thân với một doanh nhân của Pháp. Khí hóa của Kình Dương hiện tướng ngưu tỵ thường khi hóa nguyên cục thành cát. Vũ Phá Kình tượng hóa nữ cường, thực tế bất kiến Hóa khí, với mệnh nữ vẫn có thể bạo phát lớn chỉ dụng cầu Không Kiếp thành cách. Khởi niệm của nữ mệnh rơi vào thời điểm biến cố loạn động của gia đình ứng với Tử Vũ Liêm hội Sát Phá Tham là cảnh bế tắc, Sát cách dẫn hóa cực vượng bởi khởi một niệm cương quyết, tạo dựng và phát triển tại đây. 

Monday, August 2, 2021

Tướng trạng của tinh đẩu trạng thái hóa khí

 Tướng do tâm sinh. Thực tế khi xét đoán tướng số là giai đoạn tương ứng hành khí của tinh đẩu. Lộ tướng và ẩn tướng do tư tưởng sinh khởi của nhân mệnh phát sinh cũng dự đoán một phần giai đoạn hoặc cuộc đời của đương số. Luận đoán tử vi hay tứ trụ cũng thường xét sắc tướng để định về vượng suy của nhân mệnh qua thời kỳ và tính cách của nhân mệnh. Người nghiên cứu tử vi thời gian dài thường thấy tương quan của diện tướng và năng lực, khả năng hoạch tài hay phát quan vị của nhân mệnh trong thời điểm xét đoán. Hành vận thay đổi tương tục, diện tướng cũng xoay dịch theo thời vận không sai khác. Có những ẩn tướng khi hiện lên báo hiệu tai họa tới rất gần, có thể hạn sinh tử của mệnh cách. Qua cử chỉ, phong thái, diện tướng cũng xét khởi một phần tính cách hay bản tính của mỗi người. Tương kiến khi nhìn người, chọn người và dự đoán về năng lực, trình độ, khả năng hoàn thành công việc. Dự đoán về nhân tướng có tương quan rất lớn với tử vi. Tướng trạng các sao trong tử vi tương ứng mà tạo nên sự tương hợp của định hành vận và xét diện tướng. Thường người nghiên cứu tử vi hiểu được Thiên Lương là "Ấm", Thiên Đồng là "Phúc". Chữ Ấm có các đặc tính cơ bản bởi tính nhân quả lành. Tập ấm, thừa ấm. Tính chất tập ấm cao là ấm thọ, thứ tới ấm sinh của tử tức quan lại trong triều đình. Thiên Lương do đặc tính cơ bản trên, đắc cách thường chủ được thừa hưởng, tiếp quản công sức của phụ mẫu, gia tộc. Chữ "Ấm" chủ mang lại rất nhiều ý nghĩa hay. Với chữ Phúc có đặc tính chủ được hưởng, thừa hưởng từ nội lực của bản thân và xét tới may mắn gặp thời vận nhiều hơn thừa hưởng từ phụ mẫu tổ tiên. Thiên Đồng luôn ở vị trí tam hợp chiếu với Thiên Cơ càng rõ tính chất may mắn, phúc phận gắn với thời cơ. Thiên Lương có thể giao hội với Âm Dương hoặc giao hội với Cơ Nguyệt Đồng thành cách Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương và Thái Âm luôn tam hợp chiếu, bên cạnh Thiên Lương sẽ có tính âm thầm che chở của Thái Âm. Do bố cục của tinh bàn, thế đứng của Thiên Lương sẽ tránh được sao Cự Môn. Thiên Đồng trong trường hợp Cự Cơ Đồng sẽ hội Cự Môn. " Công danh đợi tuổi tác cao, giáp Liêm giáp Sát một hào chẳng sai" là cách của Thiên Lương Sửu Mùi. " Lương tại Tị tắt tật du" xét Thiên Lương tại vị trí Tị. 




Thực tế khi xét định phú luận không nằm ngoài tính chất cơ bản khi phát sinh biến hóa của Thiên Lương. Trong cách Âm Dương Lương, đặc biệt khi Âm Dương lạc hãm hoặc đồng cư tại Sửu Mùi. Nếu mệnh cách ở vị trí Thiên Lương sẽ dễ tăng thêm khuyết điểm bởi tính thụ động, hưởng thành quả từ nhân quả lành trước mang lại. Ấm giám là công ơn của quan phụ mẫu được học Quốc Tử Giám. Chữ Ấm khi phát sinh biến cục sẽ khiến nhân mệnh khởi cách giải đãi, dễ hoàn cảnh mang lại tốt, hoặc nội tâm không đặt tham vọng lớn lao khiến giai đoạn tiền vận khó khăn trắc trở. Trong thời loạn lạc, hay thời vận bĩ cực của vận thiên hạ như chiến tranh, bệnh dịch. Cách cục của Thiên Lương và Thiên Đồng càng thể hiện rõ tính phúc ấm của nhân mệnh gặp may mắn. "Phúc ấm tọa Mệnh Thân bất phạ tai ương". Khi nghiệm lý về các cách cục của Thiên Lương hay Thiên Đồng nhập mệnh cung, hội họp Sát Kỵ giao hóa đều có những tai ách và giải cứu vô hình, may mắn tới phù trợ giúp nhân mệnh thoát khỏi hiểm nguy. Xét về diện tướng, Thiên Lương nhập mệnh phân trường hợp độc tọa và đồng độ. Với cách Cơ Lương chủ tướng mạo có phần hiền hòa, nhìn Cơ xét tới lông mày, ắt chủ cong, đặc biệt tại đầu chân mày, Lương chủ hạ đình có phần rộng, tướng mạo thường có nét vuông. Với cách Dương Lương cư Mão chủ mắt có thần sắc, tướng mạo chủ dương. Khi nghiên cứu nghiệm lý lá số tử vi, cần lưu ý tính chất quan trọng của Chính Tinh phối hợp định cách tại Mệnh, cũng tức diện tướng khởi của mệnh tạo. Dẫn tới một kết quả tương đối có ý nghĩa khi người nghiên cứu tử vi thường có khả năng xét đoán tới nhân tướng. Tướng pháp của nhân mệnh còn có thể sử dụng khi xét về chức năng ngũ tạng trong nội thân, bệnh tật tương ứng phát ra bên ngoài. Dịch bệnh gọi là covid-19 lây lan qua các biến chủng mới xuất hiện càng có tác động biến hóa mạnh, tiến hóa về đột biến. Thứ phát triển đột biến cũng chính là ý nghĩa tác hóa của Sát cục. Biến hóa thay đổi triệt để là tác động không hay đối với con người, tuy nhiên với bản thể virus mang ý nghĩa có lợi khi thích nghi và lây lan nhanh hơn. Sự thay đổi và đột biến của những điều tai họa, tai kiếp là điều đáng lo ngại nhất, tương ứng với tính chất của chính lục sát tinh Kình Đà Không Kiếp Hỏa Linh với đột biến không ngờ Thiên Không Địa Kiêp dẫn hóa. 




Tính chất thay đổi là tính chất quan trọng của Sát tinh, dẫn hóa bởi Kình Hao và Đà Hao. Tính chất linh hoạt hay cường động là nguyên căn cho sự thay đổi đột biến dẫn hóa hởi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Nếu căn bệnh do virus này không phát khởi biến thể đột biến nhanh chóng, hoặc không có tính lây lan, tấn công đa dạng nhiều nguồn lây thì không là mỗi tai họa lớn. Bằng chính bản chất hoạt động của virus, ta nói virus có khả năng đột biến, biến hóa nhanh. Bằng chính bản tính của một người, ta nói người đó có khả năng hoạch phát mạnh. Thời kỳ của Lộc Tồn hay Lộc Tướng Ấn có tính chất đã biến hóa sai biệt rất nhiều so với thời kỳ lịch sử giai đoạn phong kiến, quân chủ chuyên chế. Thời kỳ hiện tại là giai đoạn của sự thay đổi, dời đổi nhanh chóng. Sự đột biến của một nhân mệnh có thể tới rất nhanh và tạo ra tài sản khổng lồ qua internet kết nối vạn vật so với kinh thương truyền thống, điều này qua nghiệm lý cũng xuất hiện rất rõ qua các lá số nhân mệnh có tuổi đời rất trẻ . Sự táo bạo của Sát tinh tạo ra thời cơ rất lớn cho nhân mệnh trong giai đoạn lịch sử hiện tại so với nhiều thời điểm trong quá khứ bị hạn chế bởi quyền lực trong hệ thống địa vị xã hội. Cơ hội vẫn nằm ở đó, rất nhiều trong một không gian rộng lớn mà mỗi người tiếp cận rất nhanh gọi là không gian mạng. Nơi tập hợp cơ hội rất nhiều, và người mệnh số gặp thời vận, cách cục hành vận hoạch phát vẫn nắm được thời cơ tại đây để tạo đột biến kích phát, người vận bình hòa vẫn không nắm được một cơ hội. Cự Môn hội Lưỡng Lộc vẫn luôn tìm kiếm những tri kiến, kiến thức chuyên sâu từ internet và dễ có thêm khả năng học thêm ngôn ngữ mới là tiếng anh do nghiên cứu chuyên sâu của quốc tế sử dụng ngôn ngữ này là phổ biến. Tính chất thích nghi là yếu tố cốt lõi để định cách tổ hợp Sát của thiên bàn. Không Kiếp là thế bĩ của thời vận, nếu ứng hiềm cách cục thích nghi ắt là thượng cách, có tính chất cát hóa biến hóa vô cùng. Thuộc kỳ cách. Kình Dương và Đà La rất quan trọng. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can gồm Lộc Tướng Ấn, Kình Hao, Đà Hao, Thanh Phi Phục tượng cách như tổ hợp phân bố của Chính Tinh tới 12 cung độ. Không xét tính chất khuyết thiếu của tinh đẩu, đều có khả năng tạo hoạch lực đứng đầu xã hội tùy dụng thể hay bất dụng. 




Sự biến đổi phù hợp với thời vận không chỉ là cách Kình Hao, còn chính là cách Đà Hao. Khi rất đông số người đầu cơ nhà đất giai đoạn 2007 đến 2008 sau đó kinh tế suy yếu đã có nhiều gia đình rơi vào cảnh khủng hoảng, vỡ nợ. Trong thời điểm đó. Nếu Đà Hao suy tính cặn kẽ, có tính chờ đợi không táo bạo cướp thời cơ như Kình Hao, có lẽ giai đoạn về sau khi kinh tế phục hồi sẽ tạo nên khối tài sản lớn mang ý nghĩa hay hơn Kình Hao. Bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can đều có đặc tính cát hóa hoặc hung hóa phù thuộc vào bố cục tinh đẩu hội họp. Trạng thái của nhóm sao này khi gặp Hóa Khí sẽ hình thành nên tổ hợp sao có tác động kích phát mạnh khi bộc lộ ưu điểm hoặc khuyết điểm của cách cục. Trong trường hợp nhóm Lộc Tướng Ấn, Hóa Lộc hội họp tác động trực tiếp tăng cường tính chất tích lũy, phát sinh lộc tại trong nội tính chất, do vậy cách cục Lưỡng Lộc hay Song Lộc có tính chất lớn mạnh. Với Đà La, khi Hóa Kỵ hội cách trực tiếp tăng cường tính chất âm tàng, thu ám và hình thành tính chất lớn mạnh. Với Kình Dương, khi Hóa Quyền hội cách tăng cường tính quyền biến, uy áp, quyết đoán của Kình Dương khiến cách cũ ý nghĩa tăng mạnh khi hợp hóa. Với nhóm Thanh Phi Phục, tính chất điều hòa, phục khí khởi từ tan rã tức Phi Liêm tới hoàn lại Phục Binh và tiến khí Thanh Long hội cách Hóa Khoa ứng hợp tính chất mạnh. Thanh Long đứng đầu nhóm sao này chủ thanh danh, danh tiếng. Phân định sâu bên trong của bốn cách cục này là cả một nghiên cứu dài. Khi hóa khí hội cách cùng nguyên cục nhóm sao riêng rẽ này sức tác hóa sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều. Trong đó nhóm Lưỡng Lộc sẽ thường mang ý nghĩa tốt chủ phát phú, đắc danh lợi, khả năng tích lũy, thịnh vượng. Đà Kỵ sẽ thường mang ý nghĩa không mấy hay chủ cản trở, khi tốt đẹp hưởng chữ kỳ tài, ẩn sĩ, mưu lược. Khi người nghiên cứu nghiệm lý tiếp theo về các vị trí hình thành Lưỡng Lộc hay Đà Kỵ của các thiên can sẽ xét định từng Thiên Can với các vị trí đặc biệt hình thành cách cục này. Với can Giáp, Lưỡng Lộc chỉ xuất hiện khi Liêm Trinh cư tại ba cung Dần Ngọ Tuất. Tại bố cục này, Song Lộc hội nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có thêm Khoa. Cách cục Khoa hội Lưỡng Lộc có lợi với can Giáp rất lớn. Tại can Ất, cách cục Song Lộc hóa khí từ Thiên Cơ hình thành khi mệnh cách gặp nhóm Cự Cơ Đồng tại Hợi Mão Mùi. 




Trong trường hợp này, cách cục thường theo khuynh hướng chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ sinh ra tài lộc. Thường gặp mệnh tốt tại cách Cự Cơ cư Mão ngộ Lưỡng Lộc. Cách cục Kỵ Đà hình thành bởi Thái Âm cư tại Dần Ngọ Tuất. Trừ tại Tuất cung có phần tốt các cách cục còn lại mang ý nghĩa không mấy hay. Xét định gốc niên can sẽ hình thành nên các thế đứng cơ bản của tinh bàn dựa trên hóa khí phối hợp chính tinh và nhóm sao an theo Thiên Can. Phàm khi hội Lưỡng Lộc thường là vị trí đắc thời, tại cách Đà Kỵ dễ có cản trở, khó khăn. Đây là điểm cần chú trọng khi xét định cách cục theo nguyên cục. Nếu hội Không Kiếp hay Hình Sát tại cách cục đều là cách chủ hung. Trong trường hợp này, hành vận sẽ có tác động cát hóa nguyên cục, nếu vận hung thì mệnh khó thành tựu, hạn hành trùng phùng Sát Kỵ, dễ tuyệt mệnh. Trong giai đoạn dịch bệnh lan truyền nhanh, việc hiểu biết và phòng tránh tức Hóa Khoa hay Xương Khúc và Tuần Triệt là điểm quan trọng. Luận khán sinh tử vận là phần luận thường sai biệt rất lớn khi định số. Người viết có cơ may được tiếp cận với một số thai nhi sinh khởi ở tại bệnh viện mắc bệnh di truyền bẩm sinh hoặc một số bệnh tật nặng khác khiến nhân mệnh không thọ trường, tuyệt khí. Cũng trong thời điểm này, các thai sinh khác cùng giờ sinh bình thường. Khai thị vấn đề này, khởi vận cổ nhân truyền lại tính nhân duyên với phụ mẫu. Đa phần các trường hợp sinh khởi bình thường khi xét định lá số tử vi sẽ khán được hạn quá khứ và dự đoán nguyên cục cát hung xét phú, quý, bần, tật, thọ, yểu. Như cách cục Sát Kỵ trùng khởi mệnh và niên vận thứ nhất, xét hạn sinh tử khảo cứu cũng không có tác dụng rõ nét do những sự cố sau khi sinh được y thuật tiên tiến hỗ trợ rất nhiều trường hợp tránh được hạn tử tuyệt. Cổ nhân xét định phần định cách tính chất sao thường luận "Phi yểu tắc bần". Tức mệnh số khí hóa gốc cường vượng không gặp yểu cách thì sẽ bần hàn. Không nên nhầm lẫn bởi Sát cục có thể tạo đột phá lớn tới sự nghiệp, cuộc sống của nhân mệnh tuy nhiên tính Sát liên quan tới bổn mệnh luôn tương động rất rõ. Người viết có người họ hàng ham mê về cờ bạc, dẫn tới tham gia trên mạng thua hết gia sản, số tiền có thể tham gia chơi rất lớn và cách thức chơi không quá khó khăn. Rất nhiều nhân mệnh có khuynh hướng tuyệt mệnh khi mắc phải khoản nợ lớn khi tham gia đỏ đen dẫn tới cuộc sống về sau chuyển hướng hoàn toàn. Không gian kết nối mạng có thể phát sinh những tri kiến, những công việc kinh thương tạo giá trị tài sản rất lớn, cũng có những điều mạo hiểm khiến nhân mệnh có thể thất bại hoàn toàn. Lâm "tứ đổ tường" rất phức tạp, đặc biệt về cờ bạc có thể khiến mệnh cách tiêu tán sản nghiệp nhanh chóng. Trong những vấn đề trên, thường hình thành tại mệnh cách có Thiên Diêu hội nhóm Tang Hư Khách, hoặc hội Hỏa Linh trong cách cục Diêu Kỵ hay Diêu Đà. Tác hóa của tham muốn trở nên loạn động lớn khi tham gia cờ bạc, khiến đa phần mệnh tạo dần trở nên mạnh bạo, mạo hiểm đặt cược số tiền rất lớn sau một thời gian và tạo nên khoản nợ rất lớn. Tướng trạng cách cục Diêu Hỏa Linh có thể gây ra tai kiếp với Tài cách nhiều hơn cách cục Kỵ Kiếp Hình. Đây là điểm rất quan trọng khi luận cách cục định Sát cách. Tại một địa điểm đặc biệt, thí như chịu áp bức lớn, cách cục Khoa Quyền Xương Khúc có thể không tốt đẹp bằng Kình Hổ. Cũng vậy, khi xét định khí hình vận tức tướng trạng thực điểm của tinh đẩu trong thời điểm xét định là điểm quan trọng để định cách cục. Bản chất của tổ hợp cần xét đắc dụng với thời hay không, nếu đắc dụng như vị thế của cung Điền Trạch trong giai đoạn đất đai tăng giá mạnh, cũng là cách Tài vượng. 

Friday, July 23, 2021

Nhóm sao chính an theo Thiên Can

 Tham muốn, nhu cầu thiết yếu chiếm một phần thời gian của bản thân mỗi đương số. Khi xét cách cục của các sao theo tổ hợp, cách cục tạo bởi Hình Diêu Y mang tính chất đặc trưng của hai tính chất nghịch phát, khởi từ một nguyên cục. Thiên Hình là sao an theo tháng, tức nguyệt vận, có tính chất uy áp, có tính chất của khắc phạt, hình khắc. Thiên Hình  nằm trong định cách bố cục Hình Diêu Y. Nếu Mệnh các ngộ Thiên Hình, ắt Quan Lộc gặp Diêu Y. Ngược lại nếu Mệnh cách ngộ Thiên Diêu và Thiên Y ắt Tài Bạch cung gặp Thiên Hình. Nếu không nắm rõ lý tính của sao này, rất dễ luận đoán sai lầm với cách cục tinh đầu khi giao hội với bộ Hình Diêu Y. Nhóm Hình Diêu Y nhập mệnh, đa phần mang lại khó khăn. Trên tinh bàn gồm 4 nhóm sao lớn an theo Thiên Can là Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Trong đó nhóm Lộc Tướng Ấn hợp cách Hình Diêu Y. Hành tướng của Lộc Tướng Ấn chủ vượng, hành tướng của Kình Hao là công phá, của Đà Hao là chờ đợi thời cơ tới. Bốn nhóm sao lớn an theo Thiên Can đại diện cho bốn mẫu người, bốn sự thành cũng bốn sự thất bại nếu hóa hung. Cách cục tử vi thực chất khi định cách chung mô tả những tính chất riêng hướng tới khi gặp tình cảnh bất chợt, là suy tưởng ban đầu giải quyết những vấn đề gặp phải. Thất Sát ngộ Kình Hao có thể hóa cuồng, cũng có thể hóa tinh tường mà công phá giành được. Thái Âm ngộ Đà Hao có thể hóa nhu nhược, cũng có thể là sự sắc bén khi nhìn nhận vấn đề, không hấp tấp vội vàng. Bốn nhóm sao trên đều có thể đạt tới đỉnh cao của danh vọng và lợi lộc. Tuy nhiên sẽ biến chuyển theo tổ hợp Chính Tinh hợp hóa, cũng biến chuyển theo tinh đẩu còn lại khi hội họp. Kình Dương tượng là giáo mác, chủ công, Đà La là khiên đỡ, chủ phòng thủ. Thực tế mỗi nhân mệnh đều tồn tại tất cả tinh đẩu trong chính nội tâm, chỉ là hóa hiện với cường độ mạnh yếu sai khác. Cũng như nhân mệnh đều tồn tại âm dương ngũ hành trong nội thân. Phụ nữ thể hiện tính Âm, đàn ông thể hiện tính Dương mạnh hơn. Tử vi cũng vậy, xét định mệnh cát hung, còn nằm tại Nhân định, là quá trình học hỏi, tiếp kiến biến đổi một phần về bản tính. Kẻ theo đạo thường giữ được trung dung, không hành xử quá thiên kiến, biết tiến thoái kịp thời. Do vậy thực tế giáo dục rất quan trọng khi xét định một nhân mệnh. Tuy nhiên cá tính, bản tính của nhân mệnh lâu không tu dưỡng sẽ dễ thoái lui những phẩm chất rèn luyện được. 




Như việc người nhập mệnh Tang Môn có thêm Diêu Y Hỏa Linh, hội Kình Hao nếu nhập cách chủ theo nghiệp quân binh, ắt rèn tính nghiêm chỉnh, tuy nhiên bản tính nhân mệnh cũng sẽ luôn tồn tại tính chất xuề xòa, do cách cục chủ mệnh kiến là cá tính tồn tại từ khi thai sinh. Sự biến chuyển này chịu thêm tác động của hành vận, đại tiểu vận tác hóa, khiến mệnh cách có thời điểm nghiêm chỉnh, nghiêm trang, gọn gàng. Có thời điểm xuề xòa, không chú trọng tiểu tiết. Điểm định cách của bố cục và xét sự biến chuyển của nội tâm khi suy xét sẽ chịu tác động của biến cố hoàn cảnh hay hành vận cơ hữu có tính biến đổi hoàn toàn cuộc sống nhân mệnh về sau. Có kẻ sinh khởi tính hiền lương, có người sinh khởi từ thiếu niên ưa sát phạt, giết mổ. Đây là điểm cốt yếu thực khởi của bản tính. Có kẻ ưa đọc sách tri kiến, đọc sách thánh hiền, có người ưa làm những việc khác. Điểm cốt yếu của cách cục nằm tại tính khởi phát của nguyên cục tức Mệnh tạo có trợ hay phá, hình thành tính cách, thói quen hành vi có lợi hay bất lợi. Kẻ ưa đọc sách thánh hiền ắt tâm sở tương ứng, người ưa giết mổ, thu nhặt lợi ích ắt ưa thực tiễn. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can tác động mạnh tới tính cách của mỗi mệnh tạo, từ đó dự đoán tới cuộc đời của nhân mệnh. Người có trí ắt ít gặp họa, kẻ thiếu tri kiến dễ gặp tai họa. Cũng như phát sinh ra điện, nhiều trường hợp do thiếu tri kiến, tức ý định chủ quan dẫn tới tai họa tới bản thân. Người hiểu biết ưa tìm tòi, học hỏi ắt có lợi biết điều nguy hiểm, an toàn. Cũng vậy, tính cách cũng sẽ hội chiêu cảm những họa phúc, chỉ trừ trường hợp họa tới do đồng vận, như phát sinh đường xá, tai họa có thể tới tập thể như gặp nạn trên xe khách. Ảnh hưởng tương kiến của họa phúc cũng nằm tại chiêu cảm. Nếu vật ở vị trí cao, hay đặc tính có chứa kim loại dễ hút sét. Tai họa cũng vậy, nếu trong nội tâm hay nội thân chiêu cảm họa dễ gặp tai ương. Như chiêu cảm may mắn bởi cách Đồng Lương hội họp hội trợ tinh tương ngộ, hành vận tốt đẹp dễ tránh được các tai họa dù lớn. Như việc ra đường linh cảm tránh được các hiểm nguy, hay do một lý do tránh được chuyến đi tai nạn. Điều này thường xuất hiện thực trong đời sống thường ngày. Cũng như vậy, cổ nhân phân định có số mệnh, cũng luận rõ " Nhân định thắng thiên, đức năng thắng số". 




Hiện tương dịch bệnh có quốc gia tức vận nước gặp nguy cấp lớn, có quốc gia tránh được phần tai họa. Trong thời điểm một địa phương, một làng hay một xã có bệnh dịch, nếu nhân mệnh có cách cục ưa do chuyển, lại hội Sát Kỵ trùng phùng khi sinh sống tại đây dễ gặp bệnh dịch tới thân. Những khuyến cáo, thông tin được những người ưa tìm hiểu, đọc sách báo sẽ nhìn nhận được mức độ nguy hiểm và sự lây lan dễ dàng của dịch bệnh. Cũng có thể nhờ tri kiến, hiểu biết do nghiên cứu, nắm bắt sớm thông tin có thể tránh được tai họa ngay trước mắt. Như việc dịch bệnh bùng phát âm thầm chưa kiếm tra, nhân mệnh tự bảo vệ bản thân, tránh tiếp xúc, gặp gỡ người xung quanh sẽ tránh được tai họa gây ra. Tuy nhiên thực tế do tính cách hay bản tính mỗi nhân mệnh sẽ phát sinh những trường hợp khác nhau. Cũng như mỗi nhân mệnh đều rõ về pháp luật, hình sự tuy nhiên mỗi thời điểm, mỗi ngày đểu có người vi phạm pháp luật. Người nghiên cứu tử vi, cái cần rõ không chỉ là xét đoán, dự đoán những biến động vận hành cát hung, mệnh cách giàu sang phú quý hay bần hàn bệnh tật. Thứ cốt yếu của người nghiên cứu tử vi toán mệnh là rõ ưu khuyết, những tai họa do bản tính tạo nên. Nhân mệnh có Sát Kình Hình Kỵ Kiếp Hổ dễ gặp tai họa hình tù do vi phạm pháp luật. Cũng vậy các cách cục luận không sai khác. Chỉ luận dễ gặp tai họa, thực tế trong các thời điểm khác nhau sẽ có các yếu tố tác động sai biệt tạo nên kết quả. Thứ nắm được cốt tủy không ngoài xu cát tị hung, cũng là sửa nhân. " Buông đao xuống đất, chắp tay thành Phật " tức về thiện tính của con người nằm ngoài khống chế của số mệnh, tuy rất khó có thể thay đổi bản tính, như việc người nghiện rượu lâu năm rất khó bỏ, do vậy sinh ra dự đoán. Tuy nhiên kẻ nghiện rượu có được trí thấu rõ và quyết bỏ rượu cũng sẽ thành. Phàm nhân mệnh đa phần ắt phải có tham muốn vật dục, ưa lợi ích nhỏ trước mắt khó thấy lợi ích rộng mở về sau, Hóa Kỵ có thể chuyển hóa rất nhiều bố cục, cũng khiến rất nhiều cách cục phản tác vi hung do vậy. Với Không Kiếp càng có tính kích phát mạnh. Thí như người vay nợ rất nhiều sẽ chịu áp lực rất lớn tới tư tưởng, khó có thể ổn định tư tưởng nhìn ra những cơ hội để khai thông thế bế tắc, tạo nên hoạch phát. Không Kiếp cũng như khoản nợ lớn của nhân mệnh, tăng liên tục khiến mọi thứ làm ra không thể bù đắp được khoản lãi, chịu tác động rất lớn của cặp sao này khi nhập Mệnh, khiến mệnh tạo khó có thể chuyên nhất, tạo đột phá. Tuy nhiên một số nhân mệnh sẽ do áp lực của nợ lớn khiến tư tưởng luôn tìm thời cơ và quyết tâm tạo đột phá dẫn tới thành tựu đột biến. 




Ý nghĩa của Không Kiếp có tính Sát rất lớn, tượng cách như trên nên dẫn tới thường nhân mệnh gặp bố cục này tại Mệnh hay Hạn đều khó có thể chế hóa được toàn cục. Thường khi xét luận của lá số tử vi cũng vậy, người nghiên cứu định cách cục nắm được cốt tủy của tính chất tinh đầu khi riêng rẽ và khi giao hội là điều thứ nhất để xét định lá số tử vi. Thường cần xét tượng nghĩa cho từng tinh đầu để nắm khí hóa khi giao hội là điểm quan trọng cần lưu tâm. Có người khi có khoản nợ lớn, sinh tâm chán nản, có thể dẫn tới hành động tuyệt mệnh. Có người sinh ra tâm loạn, sẽ đi cướp, ăn trộm, phạm pháp để có tài sản trừ nợ. Có người có trí lợi dụng lách luật, tránh luật pháp để tạo ra tài sản. Có người dụng trí tạo dựng nắm thời cơ để phá thế bế tắc. Có kẻ buông bỏ, trốn chạy khỏi nhân thế. Những hướng định trên đểu có các cách cục tổ hợp tinh đẩu mang ý nghĩa biểu hiện tới cách cục này. Cũng như vậy, Không Kiếp nắm vai trò chính yếu định đoạt toàn bộ cách cục xoay quanh, do vậy cũng có sách luận sức tác hóa của Không Kiếp mạnh như chính tinh. Từ những cách giải quyết khác nhau khi lâm tình trạng nợ không thể trả lãi, chính là phản ứng của bản tính trước cách cục. Xét định lá số tử vi là tri kiến huyền học toán mệnh đã truyền từ thời cổ, có thể nghìn năm về tri kiến âm dương ngũ hành, dịch lý của tiền nhân, trải qua rất nhiều thế hệ tới hiện nay, là những thứ thực tiễn, không chủ phát huyền diệu, hư ảo, là nghiên cứu về bản tính, tri ngộ về thiên tính của nhân mệnh, xã hội, những tính cách dự đoán rõ ràng. Có thể tiền nhân kiến giải theo lập định sai biệt, tuy nhiên về dịch lý dụng Âm Dương Ngũ Hành của triết học phương Đông không thay đổi, chỉ kiến giải sai biệt dẫn tới hiểu theo ý nghĩa mù mờ sai biệt. Cũng như kinh điển của Không Tử, hậu thế có thể không bắt kịp. Thời kỳ của khoa học tây phương nắm ưu thế vẫn có giá trị rất lớn của tri kiến tiền nhân, đặc biệt trong những kinh điển về Âm Dương Ngũ Hành hay Phật giáo có thể đương đầu với khoa học hiện đại. Khởi nguyên của bản thân nhân mệnh thực tế không làm chủ hoàn toàn bản thân, không cảm nhận được ngũ tạng hoạt động, không biết rõ những sinh vật như giun sán trong cơ thể, thậm chí nếu không được học tập, dạy về hình tướng của ngũ tạng bên trong cơ thể cũng khó có thể biết hình dạng và chức năng của nội tạng. Cái bản thể của nhân mệnh khi xét định trong tử vi khởi phát dự đoán tính cách khi lập số từ thời điểm thai sinh có hoàn toàn do thân xác sinh khởi hay có tồn tại hồn phách hay không, việc trường thành, phát triển giữa thnâ xác và hồn tác động lẫn nhau tức dẫn hóa của tư tưởng, phần hồn khiến thể xác, hình tướng biến đổi theo và ngược lại có là điểm nghiệm lý hay không người viết không xét tới, chỉ xét khi nghiên cứu tử vi, phần Mệnh và Thân tác động tương tác của thế âm dương, điều nghiên cứu tập trung là định cách cục của tinh đẩu, các tổ hợp và hành vận phối hợp để xét cách cục cát hung, ý nghĩa toàn cục trên lá số tử vi. 


Tuesday, July 20, 2021

Không Kiếp định lá số nhân mệnh quý hiển


 Trong tử vi thường bàn tới vấn đề luận về tổ hợp của hung sát tinh có thực đắc dụng. Không Kiếp hội cùng cách cục hợp cách thì phát, bất hợp họa tới miên trường. Trong thời kỳ chiến loạn, tất cả đều không thể vô căn, bắt nguồn từng xung đột mâu thuẫn, xung đột lợi ích là thứ sống còn khi thể hiện ý chí của một dân tộc phản ứng trước một quốc gia khác xâm phạm. Hai lần chiến tranh thế giới trong thế kỷ 20. Lần thứ nhất khoảng 5 năm với tổng hơn 30 triệu người chết, thương tật. Lần thứ hai với khoảng hơn 70 triệu người gặp nạn. Dân số thế giới thời điểm đó khoảng hơn 2 tỉ người. So với dịch bệnh, chiến tranh còn chưa có sức tác hóa lớn như vậy. Một trận dịch hạch khiến khoảng 1/4 dân số thế giới tử nạn, khoảng 1/3 tới 2/3 dân số Châu Âu biến mất. Thời kỳ dịch bệnh là thời kỳ đen tối của lịch sử, đặc biệt khi chiến tranh hiện đại không còn chỉ thuốc độc hay thuốc súng, còn vũ khí sinh học. Nhân mạng thực nhỏ, khoảng gần trăm nghìn người thiệt mạng ngay lập tức sau khi hai quả bom nguyên tử phát nổ và san thành phố của Nhật Bản thành bình địa. Điều quan trọng của một nhân mệnh là vị trí đứng, có quyền định đoạt từ nhỏ tới lớn, bằng không luôn bị hoàn cảnh dẫn đi. Thực tế, khi lòng tham luôn tồn tại thì luôn có sở hữu, kẻ có được sở hữu lớn càng mong tích lũy để yên tâm, cũng sợ bị kẻ khác dòm ngó tới. Suy là thời điểm tất yếu của vòng tròn phát triển vạn vật. Một nhân mệnh rất nhỏ, tuy nhiên trong trí não đã chứa đựng năng lực khổng lồ để suy tính, cơ hội không chỉ dành cho kẻ có được vị thế từ gia đình, dòng tộc. Cơ hội sống còn có mặt tại tất cả nhân mệnh đang sống cuộc sống bình thường, cũng là lẽ công bằng của tự nhiên. Xét chung đa phần người đều có những nền tảng chung để phát triển, tuy nhiên sau này lại phân định sai khác, giàu nghèo, quyền lực. Cái nhìn chiều sâu là quan trọng, từ Việt tới Khôi, từ Khôi tới Việt, nhỏ tới lớn và ngược lại. Cái nhận định sâu sắc của chính bản thân về xã hội, vận thế sẽ giúp những hành động ngày mai được chính xác, tránh được nhiều rủi ro trong hoàn cảnh thời cuộc. Cái nhìn nhỏ cũng có thể xét ra toàn cục. Nếu loay hoay trong biện lý của chính mình, sẽ không thể thoát ra. Một vòng xoáy khi vẽ trên tờ giấy là hình tròn xoáy điểm trong cùng không thể thoát, cũng có thể chính là một mũi khoan, tiến lực cực vượng. Thứ sai khác đa phần không nằm tại trí tuệ của mỗi người khác nhau, mà do hai chữ loay hoay, loay hoay giải quyết một số vấn đề, đánh mất đi những cơ hội tồn tại xung quanh khiến nhân mệnh bỏ lỡ những điều có thể thay đổi cuộc đời. 




Cơ hội xung quanh mỗi nhân mệnh là vô cùng không hạn định, thể hiện tính công bằng thứ hai của vạn vật. Một cuộc đời có thể xóa làm lại nhiều lần, mỗi một lần thất bại, điều còn lại là tư duy, năng lực phát triển của trí óc vẫn hoạt động và chứa tiềm năng vô cùng. Chỉ khi bản thân không còn sinh mạng mới có thể chấm dứt sự đột biến. Giới hạn là số mệnh, cũng chính do bản thân tự đặt ra. Khi nghiên cứu toán mệnh, rất nhiều đương số hỏi việc số mệnh có hay không ?. Số mệnh đa phần là điều bản thân giới hạn ngày mai của chính đương số. Đông A định cách xét sức hóa định của Sát tinh rất mạnh, khi phát tới dường như khiến kẻ khác không thể tin xảy ra. Năng lượng của thiên địa đa phần là năng lượng tối. Nếu chữ "giới hạn", thêm một chữ Không của Không Vong, chính đại sát tinh của Tử Vi đứng trước là vô giới hạn.  Chữ "giới hạn" thêm một chữ Kiếp, nghịch truyền thống, phá bỏ khuôn khổ đặt ra, kẻ thành tựu thường lẽ vậy. Lý tính của Không Kiếp có phải luôn thay đổi theo chiều hướng hung họa hay hoạch phát không bền hay không ?. Người vô duyên trước mặt là vàng cũng không thấy. Giới hạn bởi nỗi sợ, sợ đánh mất thứ đang có, sợ mối quan hệ xung quanh khi bản thân thất bại, chính là thứ cương tỏa bản thân. Thế giới thay đổi, xã hội thay đổi theo từng ngày tháng. Bản thân nằm trong vòng tròn an toàn chính là lúc nguy hiểm cho chính công danh, loay hoay tìm hướng đi không bằng lấy mũi tên quyết định một con đường dù chông gai. Các cách cục nhân mệnh định bố cục cao viễn, thượng cách, ý nghĩa toàn cục không nằm ngoài tính chất này phát sinh thành thế vượng xuyên suốt. Kình Dương thường thắng Đà La. Kẻ có Đà La mạnh khi thấy Kình Dương bên ngoài xung chiếu. Thứ quan trọng nhất là năng lực nội hàm của mệnh tạo. Tướng số của xét định mệnh quý hiển tại điểm này. Sự suy tàn khi ở trong một ngôi nhà lớn do rất nhiều cấu kiện bên trong hợp thành, nếu một cấu kiện tan rã, ngôi nhà sẽ dễ tan rã, nếu Địa Kiếp không nghịch truyền thống, giản định tới mức tinh gọn, cắt bỏ những khối u, những đường chỉ thừa, thì ắt sẽ như đàn mối mọt ăn mòn từ vị trí của ngôi nhà, hay một sợi chỉ thừa kéo rách cả một tấm vải, tới khi sửa chữa khó có thể trở nên hoàn chỉnh. Thế của Không cách rất cường vượng, không có điểm thoái lui, không thể không hướng về phía trước thì đắc dụng, thời loạn được thành tựu như vốn tính của Không Kiếp nhập miếu đồng độ. Một giây một phút thời điểm rất quý, vì là thời bĩ, thời của thay đổi táo bạo. Nhân sinh định cách Không Kiếp là đại sát tinh không sai, mất mạng, tuyệt mạng ứng với một số không nhắm mắt xuôi tay là Không Kiếp. 




Thực tế, khi xét định cách cục Kỵ Hình tại Mệnh cách, dù toàn cục rất mạnh cũng sẽ lên cao tới vướng vào lao lý. Cũng vậy, phàm vấn đề đều có hai mặt. Kẻ trước được ngưỡng mộ, sau ở dưới bùn đen. Tâm sở kiến tạo những thành tựu phi thường. "Vạn pháp do tâm sinh". Khi luận định tử vi, người nghiên cứu xét định yếu tố cơ bản về tính chất sao, thứ tới ghép từng ý nghĩa của tinh đẩu để xét định cách cục. Tuy nhiên khi xét toàn cục như trên. Như nhân mệnh tính khí hỏa vượng, nóng nảy ắt sẽ thiên tính phù hợp với những mối quan hệ giao tế tương hợp. Với Không Kiếp định cách khuynh hướng rõ nét khi giao hội từng Chính Tinh, tính chất sai biệt tùy theo từng Chính Tinh. Vì vậy thường phân định tinh đẩu có thể chế dụng Không Kiếp, tinh đẩu gặp họa khi hội Không Kiếp. Quá trình định cách này thiếu chữ Nhân trong Thiên Địa Nhân. Tức tư chất của những thai tạo sinh cùng thời điểm khác nhau do khí hình gốc tạo bởi tất cả yếu tố hoàn cảnh tác động khác nhau. Dự đoán về tính chất của tổ hợp sao trên tử vi xác đáng khá cao bởi tính cách của mệnh tạo và tương tác với xã hội và quan hệ xung quanh. Tuy nhiên xét về thời vận sẽ có sự sai biệt khá lớn do nhân cung phản ánh sai biệt về Phụ Mẫu, Phúc Đức, Phối Ngẫu của mệnh tạo. Đặc biệt tại Phụ Mẫu và Phúc Đức là sự nối tiếp tương tục nhiều đời về công danh hay tài sản tích lũy. Thứ xét định được là dự đoán tính cách, bản tính và năng lực gốc hay khí hình gốc của mệnh tạo có cường vượng. Nếu cường vượng sớm muộn mệnh tạo sẽ đứng đầu xã hội. Thứ xét đoán của toán mệnh là tố chất, tư chất của mệnh cách. Cũng như khi học tập thời kỳ nhi đồng, tư chất phát ra bên ngoài khiến người thầy có thể dự đoán tương đối chính xác về tương lai học vấn của mệnh tạo. Định cách của Không Kiếp cũng vậy, tuy nhiên xét định phức tạp hơn tổ hợp sai khác lớn khi tính chất mâu thuẫn, xung đột nằm ngay trong nội cách cục. Nhiều bố cục khi gặp Thiên Không đơn thủ gặp tai họa nặng nề hơn khi gặp đủ bộ Không Kiếp, do tính chất phản kháng, tự cát hóa hay hung hóa trong nội cách cục gặp hai tinh đẩu này biến hóa phức tạp. Thường phú luận thường thái quá về tính chất tác hóa của cặp sao này. Thiên Không và Địa Kiếp là cặp Thiên Địa, chữ Nhân tại đây sau khi xét định ý nghĩa toàn bộ tổ hợp sẽ xác lập ý nghĩa của toàn cục. 




Có sách luận, Thiên Không và Địa Kiếp dù đắc hay hãm địa đều có tính ích kỷ, thủ đoạn, độc đoán. Đây là điểm quan trọng khi xét định về thành tựu hay bại cục của Không Kiếp thủ chiếu Mệnh. Không Kiếp tồn tại mệnh cách, phàm nhân mệnh sẽ có những lần đổ vỡ, gặp tình thế khó khăn bế tắc khó có thể đương cự, nhiều trường hợp gây dựng lại từ ban đầu tạo nên khủng kiến trong tư tưởng. Cách cục mạnh sẽ phá tán mạnh, tuy nhiên thế cục vực dậy rất nhanh, táo bạo. Đặc biệt bố cục Không Kiếp đồng độ cư Tị Hợi đắc vòng Trường Sinh cách Sát lực tuy lớn, tuy nhiên sức vươn lên từ khó khăn đổ vỡ cũng rất mạnh. Đặc biệt trong trường hợp có Tướng hay Phá ngộ Không Kiếp đắc lệnh. Bố cục Không Kiếp rất kỵ cản trở của Kỵ, do thực Hóa Kỵ hội cách khiến bế tắc trở nên trầm trọng, nhân mệnh dù năng lực khai sáng, sáng tạo rất lớn cũng khó có thể dụng cách toàn vẹn. Mệnh gặp Không Kiếp rất nhiều lá số xuất chúng như tổng tư lệnh của Chi lê, Augusto Pinoche, Hồ Diệu Bang tổng bí thư Trung Quốc, Garfield tổng thống Hoa Kỳ, Sanba Marin thủ tướng Phần Lan hiện tại chỉ 36 tuổi, Jawaharlal Nehru là thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, Nguyễn Khánh là quốc trưởng VNCH, cố thủ tướng Võ Văn Kiệt,... Trong những người lãnh đạo này có những đột biến rất lớn trong sự nghiệp chính trị hoặc đổ vỡ thăng trầm bất ổn. Thực tế sẽ có một số nghiệm lý ở trên sai biệt về thông tin ngày tháng sinh do vị trí lãnh đạo cần bảo mật, tuy nhiên khi xét đa phần rất nhiều những số mệnh thượng cách, các nhân mệnh sinh khởi tháng 10 gặp Mệnh Không Thân Kiếp đều đa phần định cách cục đắc lệnh hoạch phát mạnh như trường hợp của thủ tướng Phần Lan hiện tại. Mệnh cách Không Kiếp định bố cục, bởi tính bạo phát mạnh và nhanh chóng của tổ hợp này, khiến nhiều lá số vượt trội đứng đầu một tổ chức lớn hay thậm chí một quốc gia. Khi nghiệm lý định cách bố cục này, nhân mệnh nếu nắm được chữ Chính, ắt dễ nắm được đại quyền. Không Kiếp rất kỵ gặp thêm Hóa Kỵ, trừ trường hợp Đồng Lương nhập miếu địa, hay cách Cơ Lương, Thái Âm cư Hợi. Lược sử về quá trình tạo lập công danh của nhiều lá số người viết nghiệm lý với nhiều nhân mệnh thành tựu đột phá với Không Kiếp, đều đa phần do bản thân nắm được thời khắc quan trọng, thời điểm đột phá khiến Thiên Địa Nhân hợp, rất ngắn để bạo phát. Khí hình gốc càng vượng, bạo phát càng lớn. Với mệnh cách Không Kiếp, thường nhiều nhân mệnh phát phú hơn phát quý. Do định cách của Phú cách phù hợp với tính chất khai sáng của nhóm sao này. Quá trình phả Quý cách hay Quan cách cần sự hợp hóa hữu tình của cách cục, sẽ xuất thân hay phát triển trong hoàn cảnh tương đối nghịch truyền thống, dẫn tới tư tưởng táo bạo và khác biệt. 

Monday, July 19, 2021

Tượng của khí hóa

Khi vạn vật hấp thụ sinh khí khởi vòng Trường Sinh, tính chất dịch chuyển của ngữ hành sinh khắc chế hóa tác động tới mệnh lý. Phàm thiên khởi ắt có địa tác. Điều hỗ lý này sinh ra những kết quả sai biệt khi luận đoán về dịch. Tượng của khí hóa đều tính chất riêng rẽ đặc biệt. Tuy nhiên màu đen cũng phát sinh rất nhiều mức độ, nếu trạng thái ứng hợp hoàn toàn chính là đen tuyền. Tứ hóa cũng vậy, khởi biến hóa phức tạp phát sinh nghĩa lý trong các hoàn cảnh tính chất hoàn toàn khác nhau. Các tinh đẩu trong tử vi tính chất cũng vậy, tuy xét về bản thể khí hóa tạo bởi âm dương ngũ hành phân định đều rõ ràng, khi ứng hợp các hoàn cảnh phân định sai khác rõ nét. Cùng một mệnh cách trên Thiên Bàn ứng hiềm bát tự 8 chữ cái giống nhau, ắt khi định số bằng toán mệnh ắt bất sai khác. Lấy khí ứng của chính nhân mệnh sẽ khiến toàn bộ tinh bàn tác động khởi khí hóa phân định khác biệt. Nếu cùng số mệnh, mệnh tạo sinh khởi theo nguồn gốc Phụ Mẫu hoặc giàu có, hoặc có danh vọng, địa vị lớn trong xã hội tính chất khởi phát của khí hình ngay từ giai đoạn gốc tính chất sai khác rất lớn với mệnh cách cùng chung lá số với phụ mẫu sinh khởi trong thời kỳ khó khăn, nhiều tai họa tác động tới phụ mẫu dẫn tới khởi điểm nhân mệnh không được thừa hưởng những điều tốt đẹp khi khởi đầu. Tuy nhiên cách cục trên có tác động lớn với một số bố cục mang tính kế thừa từ mệnh cách như Thiên Phủ, Thiên Lương,... Với những mệnh cách như Vũ Phá, Liêm Tham, Vũ Sát hội Hao Sát Kỵ Hình ắt có khởi phát gốc vững từ phụ mẫu cũng dễ phá tán hết rồi làm lại. Cũng vậy, với cách Vũ Tham, Vũ Phủ, Cự Nhật, Cự Cơ hay Tử Tướng,... là bố cục phần lớn không quan trọng khởi hành của gốc khí hình đắc cách có thể tự sinh thành tựu lớn. Khi luận nhân mệnh, quan trọng khởi đầu khi luận định lá số tốt đẹp dựa vào tổ hợp tinh đẩu thể hiện năng lực nội tại của mệnh tạo. Nếu cách cục hình thành Khoa Quyền Việt Kình hội Tang  Hư Mã là nhân mệnh có thực lực tuy gặp nhiều khó khăn tác động bởi nghịch cảnh. 





Với bố cục có Không Kiếp càng khó để luận đích xác ý nghĩa của tổ hợp. Với cách Không Kiếp Đào Sát thường luận là cách hung họa. Tuy nhiên người viết có giữ hàng chục lá số khi bố cục này xác lập thành cách đều có năng lực và vị trí rất cao trong xã hội. Bố cục này chỉ cần gặp thêm Thiên Hình hoặc Kỵ Hình hay Đà Kỵ ắt là cách bại cục. Cũng có nhiều lá số người viết gặp bố cục này khi luận giải đang trong đại nạn lớn, có người tuyệt mạng. Thí như, nhiều động vật có khả năng kháng chất độc trong tự nhiên, có loài sử dụng độc tố làm vũ khí tự vệ cũng như săn mồi. Sát Tinh như độc tố, kẻ chế ngự được một đời bạo phát, kẻ chịu tác họa của Sát một đời khó tránh yểu vong hay bần khổ. Sát tinh như thế cục của sinh tồn trong tự nhiên, vật chế dụng được thì phát lớn. " Hung tinh đắc địa phát dã như lôi". Nếu vật không chế dụng được, cũng như các loài chịu làm thức ăn cho kẻ khác. Sát tinh tổ hợp trên tinh bàn biểu thị biến hóa rất lớn, có kẻ đan tâm thù niệm với kẻ khác ra tay hình thương sát hại chịu hình pháp của quốc gia. Có kẻ làm việc trái đạo đức vẫn được ung dung ở vị trí cao viễn, do Sát cách chế hóa thành cách.  Tiền nhân phân định Sát tinh mệnh bần yểu là xét về hóa khí âm ám của Sát, phân định Sát tinh thành cách là xét về tú khí sáng vượng của Sát. Như việc loài vật ăn cỏ không gây nguy hại tới loài khác, tuy nhiên  đây là loài dễ bị trở thành thức ăn của loài ăn thịt. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Lộc, tức tích lũy, thức ăn, lương tiền, lộc khố. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Quyền, tức sự thống trị, cai trị, uy trấn. Hóa khí của Sát có thể hóa thành Khoa tức sự cẩn trọng, tinh anh, nhạy bén, linh hoạt tránh thế hiểm. Hóa khí của Sát thường hóa thành Kỵ, chịu làm kẻ thua thiệt, kẻ bị hại, cản trở, bế tắc, phá bại. Vì vậy, khi một cặp Hỏa Tham tương ngộ đã hình thành nên ý nghĩa phát phú, bản chất ý nghĩa tham muốn về tài sản, tham muốn vật chất. Mạnh hơn Lộc Tồn là tích lũy, tích trữ. Tham Hỏa vừa thể hiện một mặt tích lũy do tham muốn vật chất, vừa thể hiện tính linh hoạt, bộc phát của Hỏa Tinh. 





Hay cách Tử Phủ Kình Dương thành cách cự thương. Do Kình Dương có tính dẫn đầu, đi đầu, cạnh tranh mạnh. Bộ Tử Phủ có tính khai phá, khai tạo, cũng chứa tài sản bên trong do Thiên Phủ có Vũ Khúc tam hợp chiếu. Kình Dương tại đây tác động hỗ trợ mạnh như hóa khí Khoa Quyền. Sát tinh khi nắm chính đạo có tính bạo phát rất lớn. Tuy nhiên điểm cốt tủy của Sát cách nằm tại tính chất áp lực khủng kiến của Sát Kỵ tới tư tưởng nhân mệnh bằng những hoàn cảnh khó khăn, bế tắc trong cuộc sống có thể khiến nhân mệnh nhanh chóng sinh khởi tư tưởng chấp nhận với hiện thực, trượt dài trong thời gian khó khăn dẫn tới đánh mất tuổi trẻ. Trong thế đứng của cát tinh thường được luận tầm thường sự nghiệp. Khi định cách cục, trợ tinh văn tinh hội họp có tính chất tăng sự ổn định và tham muốn ổn định trong nội tâm phân biệt rất rõ về tính chất ổn trọng của từng cách cục tạo ra ý nghĩa. Thí như cùng một việc, một kẻ muốn sự an ổn khi tham muốn sự nghiệp cầu danh lợi, tránh tranh đấu, trong một tổ chức, lại yếm thế về năng lực có khuynh hướng nhường nhịn, dễ sinh bất mãn rất lớn trong nội tâm khi trong nội tâm một mặt lo ngại sự thay đổi dẫn tới mất việc, hoặc khi đụng chạm dẫn tới mệnh tạo gặp nhiều rắc rối. Tính chất ổn trọng tạo bởi trợ tinh gặp phá cách trong trường hợp này. Thí như trường hợp khác khi trợ tinh điều ngự, chế hóa Sát tinh, nhân mệnh ở thế chủ động, lấy công kích, kích động và ổn định được tư tưởng khi ở thế chủ động tranh đấu. Hai trường hợp này, tuy cùng vị thế cách cục và cách ứng hóa của bố cục sai khác, trái ngược hoàn toàn với nhau. Cũng như vậy, thường nghe việc thành tựu của một người ắt gặp một thời điểm khủng kiến về chính tư tưởng, bế tắc tuyệt vọng và lựa chọn đường duy nhất phải vực dậy hoặc mãi chìm xuống dưới đáy. Ngẩng đầu lên ăn xin chính là Kình Dương, ngẩng đầu lên để vực dậy cũng là Kình. Cúi đầu để nhận tội, nhận cảm thông là Đà La, cúi đầu nhìn xuống để phán xét, ra lệnh cũng là Đà La. Thực tế khi luận phần đắc hãm một tinh đẩu tức xét tính hữu dụng và bất dụng. "Kình Dương mắt đen như tà, ắt hẳn Hóa Kỵ trùng là Hình Diêu. Thập phần tính chủ liều, đụng vào không khéo vướng điều oan gia". 





Thường Sát tinh củng chiếu mệnh phát sinh diện tướng bên ngoài ứng hợp. Có tướng diện kẻ hung ác, kẻ thâm trầm, gian trá, kẻ hiền hòa, giỏi lý lẽ, kẻ có tham vọng lớn, kẻ đào hoa,... tướng số phát sinh ra diện tướng bên ngoài nhiều như vậy. Tử vi khi định cách các lá số cũng phân biệt không sai khác. Tuy nhiên thường người nghiên cứu tử vi hiện nay do sự trà trộn của man thư, luận về ứng hợp tính cách trên lá số tử vi của nhân mệnh còn không bằng nhìn trực tiếp tướng diện để xem tướng đoán mệnh. Điều này ám chỉ trong ý nghĩa của tinh đẩu hoặc khi phối hợp thành các tổ hợp, khi kinh thư lưu truyền ra bên ngoài đã tam sao thất bản khi định cách. Toán mệnh cách là bộ môn huyền diệu trong huyền học lý pháp về Nhân trong thiên địa nhân. Thực tính từ nguyên tắc luận định từ dịch lý để xét khởi. Việc xem xét nhân tướng học, xem tướng mạo được xác định là việc cơ bản trong đời sống hàng ngày. Tướng mạo tiền nhân thường luận về ác tướng như mũi diều hâu, mắt tam bạch, tứ bạch đản, yết hầu lộ cao kết hợp da cổ mỏng, hàm dưới dài mặt gãy khúc,... . Hoặc thí như một số tật bệnh tạo ra tai kiếp ngay từ khi mệnh tạo thụ thai như hội chứng của bệnh Down sẽ bất lợi về trí tuệ rất lớn. Về hình tướng cũng sẽ đặc trưng so với những người bình thường. Hiện tại những khám phá y sinh mới hiểu rõ về nguyên do bệnh tật này. Trong thời đại quá khứ, xét biến hiện bởi tướng trạng bên ngoài để luận đoán, dự đoán số mệnh từ kinh nghiệm. Việc đương số sinh khởi tướng mạo ứng hợp với tư tưởng nội tâm hành hóa bởi khí đã khởi phát từ xa xưa, ngay cả khi nhìn các giống loài ăn thịt và ăn cỏ sát tướng và sát khí khởi phát rất sai biệt. Môn bốc phệ, quẻ dịch thời khắc sự kiện phát sinh chiêm bốc dự đoán về việc cát hung phát sinh một điểm quan trọng chính là giờ thai tạo của một nhân mệnh ắt sẽ sinh diễn biến nét chính về dự đoán cuộc đời của mệnh tạo. Tú khí hay tạp khí là điểm tối quan trọng khi luận toán mệnh một lá số. Cũng như diện tướng hiển hiện quý tướng trên khuôn mặt hợp vị, hợp cách tức tú khí phát ra bên ngoài. Định cách lá số tử vi không nằm ngoài lý này. Tổ hợp tinh đẩu thành cách ứng hợp diện tướng có điểm đắc cách. Khởi cách cục, luận mệnh đắc cách, dù Hỏa Linh Không Kiếp hội không đáng ngại, trái lại còn tạo nên hoạch phát lừng lẫy cho mệnh tạo. Khởi cách cục, luận mệnh phá cách, dù Lộc Mã Khôi Việt cũng là mệnh tạo bình thường, chỉ lo lắng cho sự an toàn, yên ổn của bản thân bỏ qua nhiều cơ hội phát triển lớn. 



Tượng nguyên thủy của Hóa Lộc là thái, tượng của Hóa Kỵ là bĩ. Hiềm nỗi vận thái bĩ luân hồi. Nhân mệnh không trải qua khó khăm trắc trở lớn như Kim không được Hỏa luyện ắt không bén. Phàm mệnh cách hình thành thế Xương Khúc Tả Hữu Khôi Việt trùng phùng hội các vòng sao tốt đẹp như Lộc Tướng Ấn, Tuế Phượng, Đào Hồng với các Chính Tinh cát hóa, đa phần khó đắc cách thành tựu lớn hơn hội Sát Kỵ trùng phùng. Do yếu tố căn bản của ổn định phát triển là thiếu đột phá, bứt phá với tham vọng đột phá. Nếu một kẻ khư khư giữ tiền của bản thân trong túi tích cóp nhỏ nhặt có thể trở nên tiểu phú, tuy nhiên sẽ khó có cơ hội trở nên đại phú, phú gia địch quốc. Điểm cốt tủy ở cách cục hay khí hóa hình thành là chữ Tinh. Có thể luận theo ý nghĩa diễn giải là tinh hoa, tinh túy mang tính cô đọng, ngưng tụ của Hóa Kỵ. Sát cách khi chế hóa được cục, nắm được chữ tinh, ắt nắm được Sát cách, luận được tổ hợp Sát, tức định cách được lá số, những điểm cát hóa mạnh hay phản tác hóa vi cát của Sát tinh có sức tác động rất lớn, tăng mức độ của cách cục. Sát cách khi tác họa, nhẹ thì hình thương họa hại, nặng thì khí tuyệt mệnh vong. Sát cách khi  cát hóa, phúc hẳn rất lớn. Thực tế khi định cách cục trong tử vi, hai lá số đồng dạng, sinh đôi trường hợp khác trứng của Đông A phái khảo sát có sự tương hợp rất lớn về tính cách và nghề nghiệp. Tuy nhiên hạn hành hoạch phát hay hung tai mức độ sai khác. Như người viết có xét hai trường hợp của cùng sinh đôi. Cùng giai đoạn Hổ Hình Lộc, mệnh cách theo hai khuynh hướng sai biệt, người anh theo ngành luật sư kế thừa người cha, người em theo ngành thẩm phán tòa án. Hạn năm Kỷ Hợi tức năm 2019, nam mệnh theo ngành thẩm phán gặp thời một bước lên mây, thăng chức liên tiếp trong khoảng thời gian ngắn. Người anh theo ngành luật sư cho doanh nghiệp bên ngoài năm này giải quyết vấn đề liên quan giữa doanh nghiệp cũng tạo được tiếng vang rất lớn, tuy nhiên sức hoạch phát về công danh không lớn mạnh như người em, tuy nhiên về phần tài lộc và ám lộc có phần tốt đẹp hơn. Bố cục định Sát cách tuy hai lá số trùng nhau, lại cùng môi trường hoàn cảnh gia đình, tuy nhiên khuynh hướng về sau sai khác, cùng ứng hợp với bố cục nghề nghiệp mang tính hình tụng, lại có điểm sai biệt. Tuy đại đồng nhưng tiểu dị.




 Phàm nhân mệnh gặp vận hạn tối tăm mờ ám, khó có thể tạo nên đột biến lớn nếu Sát cách không chế ngự được bởi toàn cục. Lại ứng tới mỗi nhân mệnh sẽ hấp thụ nguyên cục của Sát tinh và sau đó hóa hợp mang ý nghĩa sai khác. Sát cục hóa thành tú khí, mệnh này tối quý, ắt nắm đại quyền. Sát tinh hóa thành tạp khí, hung khí ắt mệnh ứng hiềm dễ yểu tử hay gặp ác nạn bất ngờ. Cũng giống như các thời cơ do hoàn cảnh mang lại hiện nay như việc một làng được xây dựng các khu chế biến, công nghiệp ngay tại đó ắt đời sống của người dân buôn bán gặp thời. Lá số cuộc đời cũng như vậy, có vận cát hóa, dễ tạo được thành tựu lớn trong đời, có vận hung họa dễ gặp tai kiếp. Cũng vậy, người nắm được thời vận biết tiến lui phù hợp hoàn cảnh ắt có được phú quý. Trong thời điểm ứng hiềm thời bĩ của vận thiện hạ, việc phát sinh bệnh dịch như dịch covid-19 hiện nay, khi xét bố cục vận nước qua mỗi quốc gia nhìn rất rõ được tai kiếp của vận làng, vận nước, vận thiên hạ tác động tới mỗi nhân mệnh. Tại một quốc gia đang gặp tai kiếp nặng nề do bệnh dịch như Ấn Độ có thời điểm lên tới gần 400.000 người mắc mỗi ngày , hay Nepal có ngày lên tới hơn 8000 người mắc. Và bệnh dịch này có tỉ lệ khoảng 1/4 tác động nghiêm trọng tới phổi hay cơ quan nội tạng. Tức với quốc nạn này hình thành, cao điểm sẽ có khoảng gần 100.000 người mỗi ngày chịu tác động hậu quả lớn. Cả một số ngành nghề kinh thương hay có những người giàu sẽ trở nên khó khăn, nợ nần lớn khi chịu tác động trực tiếp tới việc kinh thương. Trong thời điểm bệnh dịch này, mệnh cách hội họp nhưng tinh đẩu chủ di chuyển, chuyển động thường xuyên ắt sẽ ứng hợp với nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Hoặc như tại vận làng, cũng sẽ có khu vực trọng điểm dịch bệnh. Điều quan trọng tại đây là trong sẽ có nhân mệnh tại mệnh cách hình thành bố cục Kỵ Hình Việt hội Tang Hư Mã và Sát dễ hóa thành mang ý nghĩa vi phạm quy định, thêm Phi Liêm thành cách trốn trách khai báo, có hung họa hay không còn ở tại Lưu Sát Kỵ và Không Kiếp Hỏa Linh. 




Nhân mệnh khi xem các môn huyền học mệnh lý, hay xem bói, lên đồng, cúng bái, giải hạn khi xét tới yếu tố dự đoán về việc sắp diễn ra cần chú ý tính xác thực. Nhân mệnh cách hạn hoạch phát nếu xét tại diện tướng có thể nhận định dự đoán tương đối gần và sát thực tế do khí phát tiết ra bên ngoài diện tướng, tướng mạo là hành khí đặc trưng của mỗi nhân mệnh. Lá số tử vi là thế đứng của nhân tính, do bản tính chịu tác động của âm dương ngũ hành, thuận vòng Trường Sinh lấy làm thể mệnh. Quá trình xoay vòng không dứt, một vòng tròn thập nhị cung đồ, 12 cung như thập nhị nhân duyên. Sinh Vượng Tử Tuyệt cuối cùng nhập Thai sinh nối tiếp nhau. Liệu bản tính của nhân mệnh có thực là hình thành trong kiếp sống này hay thực tế là tập khí chuyển dịch của kiếp trước. Vòng Trường Sinh là vòng tròn, không thấy điểm cuối. Bản chất nhân mệnh là sinh diệt tự mất đi, tuyệt khí về tâm thức sau khi tuyệt mạng, hay như vòng Trường Sinh, cuối cùng của chữ Tuyệt lại bắt đầu một chữ Sinh mới, điều này khó có thể khẳng định. Thực tế người nghiên cứu tử vi, nghiên cứu các môn huyền học toán mệnh sẽ tự chiêm nghiệm của bản thân thực chứng về thế giới quan về huyền học phương Đông. Sinh và tử của con người là quá trình bất dịch. Tượng của khí hóa là thể của thiên địa. Thí như mưa đủ thì vạn vật tốt tươi, nhiệt đủ thì sưởi ấm vạn vật, đất giúp thu tàng, dưỡng mộc. Kim là thuộc tính quan trọng của thiên địa, trong máu hay các cơ quan trong cơ thể đều có kim loại, kim sinh thủy, trong các nguyên tố kim loại chiếm phần tương đối lớn trên bảng tuần hoàn hóa học. Ngũ hành có tính chất riêng biệt. Mệnh quý rốt cuộc có thường có quý tướng, tính cách, thói quen dễ dẫn tới thành công. Cũng như việc khi chưa nắm rõ nguyên lý về bệnh tật, coi việc những nhi đồng không may gặp bệnh tật như bệnh down và tắc-nơ theo tướng số ắt thường khó có thể đạt được những tài danh hoạch phát khi xét nhân tướng. Người nghiên cứu toán mệnh nên soi xét về điều này, thường quy dự đoán phú quý thành bại về tư tưởng, tâm sở của bản thân. Tâm thức mạnh, chuyên nhất, tập trung với tham vọng dễ đạt được những thành tựu tốt đẹp. Mệnh tạo nếu chịu tác động bởi nhiều Đào hoa tinh là việc khó luận, có thể dẫn dắt tham vọng cầu tài danh, có thể khiến nhân mệnh chìm sâu trong ảo vọng về tài sắc, hư huyễn. Cách cục mạnh trong mỗi thời kỳ mỗi khác. Khi chế độ phong kiến, quân chủ sụp đổ, không còn vua thực quyền, danh chính ngôn thuận. Thời thế thay đổi, tinh đẩu biến hóa theo nghĩa lý của thực tại, tuy nhiên về ý nghĩa gốc cốt yếu không sai khác.