Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Hỏa Linh. Show all posts
Showing posts with label Hỏa Linh. Show all posts

Wednesday, May 23, 2018

Linh Tinh luận mệnh cách giao hội



Các bài viết về sao Linh Tinh ở phần luận được bàn luận ở trước đây mang tính chất cơ bản của sao này. Khi giao hội các sao khác hình thành các bố cục mang ý nghĩa biến hóa phức tạp, thường khác với luận tử vi thường, do đó người nghiên cứu tử vi nên tự nghiệm lý các bố cục để tránh sai lầm khi định cách cục với sao này. Sao Linh Tinh có tính chất đặc biệt, chủ hàm chứa âm kim, nội Sát khí vượng. Mệnh cách có Linh Tinh thường là mệnh khác biệt do tính âm kim này. Cũng là sao dễ biến hóa theo chiều hướng cực đoan, thành tựu lớn. Cổ nhân luận Linh Tinh ngộ Hình Việt là bố cục mang ý nghĩa gặp sấm sét, điện giật, búa đao. Tuy nhiên cách cục mạnh thành tựu sự nghiệp của Linh Tinh lại nhiều bố cục hàm chứa tổ hợp cách này được cát hóa. Trước đây việc nghiệm lý các mệnh cách thành tựu khó khăn do việc tiếp cận thông tin đúng về những người thành công trong sự nghiệp. Hiện nay thông tin phát triển dễ dàng tiếp cận hơn với những người thành đạt, tầng lớp địa vị cao trong xã hội. Do không phải thời phong kiến với khí hình gốc ban đầu sinh ra trong tầng lớp cao, các mệnh cách tử vi thường luận thượng cách đa phần đều xuất thân bình thường, có kẻ xuất thân bần tiện nhưng thành tựu lớn. Những người đứng đầu đất nước, người giàu có, phú quý rất nhiều mệnh tạo như vậy, luận trong bố cục chế hóa Sát cách. Trước đây mệnh cách Tử Vi ngộ Tam Hóa đắc cách Tả Hữu là thượng cách do hàm chứa Phủ Tướng chủ nối nghiệp nên thường luận đứng đầu. Trong rất nhiều lá số mệnh như vậy nhưng có kẻ nghèo, yểu, có kẻ thành tựu do khí hình gốc ban đầu, dòng dõi tạo nên. 



Kẻ yểu mệnh do bố cục Sát tập trung ở đại vận thứ hai không có trợ tinh hóa cục nên yểu cách. Luận tử vi trước đó nhiều người nghiên cứu luận chưa tinh định cách mệnh thượng cách như vậy, tới nay vẫn áp dụng. Mệnh cách Tử Vi ngộ Tam Hóa đặc biệt có Lộc Ấn là mệnh quý, tuy nhiên nếu Sát cách trùng phùng tại một tổ hợp đại vận thì hung hiểm khi nhập vận trên, sức bộc phát thành tựu cũng không lớn, đa phần tới vận trung niên về Tài Bạch hay Quan Lộc thì thành tựu, trước đó vận xấu khí hình vận bất vượng nên nhập vận trung niên được an ổn, phò trợ mà có tài danh. Kẻ khí hình gốc vượng lại đắc cách là cách cục hiếm gặp. Đa phần thường bị Sát cách tác họa do bản chất của bố cục Sát cần liên tục chế áp, vượt qua các khó khăn. Người viết rất hoan hỉ khi có một số trao đổi về tử vi của đạo hữu uyên thâm trong dịch lý toán mệnh, hiểu rõ về tính chất của Sát cách và lý biến hóa ứng hợp của Sát khi chịu biến đổi bởi tham muốn mãnh liệt, không gián đoạn, cũng luận toán mệnh ở phần gốc. Sao Linh Tinh có một số cách tổ hợp nằm trong bố cục thành tựu hoạch phát. Khi mệnh cách có Linh Hình Việt giao hội với Vũ Sát hay Thiên Cơ, đặc biệt khi đồng cung hội họp Sát Kỵ thì dễ gặp tai họa điện giật, sấm sét búa đao thương tích. Bố cục này tính Sát vượng do Linh Hình lại có Việt phát sinh, bố cục Kim hóa Sát mang ý nghĩa vậy. Cũng là cách cục vượt qua giới hạn, thái quá đặc biệt khi có Kỵ hay Kình Kỵ. Ý nghĩa hay của Linh Hình Việt là cách làm việc thái quá, mang ý nghĩa tốt khi có Kình Khoa và Lộc Tướng Ấn. Mệnh có Linh Tinh không dương tính, loạn động và nhiệt huyết như Hỏa Tinh, tuy nhiên hàm chứa Sát vượng, thâm trầm, quyết đoán, không dùng tình cảm do đó Linh Tinh đắc cách hóa Sát thành Quyền không theo khuynh hướng Tình Duyên nên thành tựu. 




Mệnh Linh Tinh có tính chuyên nhất, tập trung lớn. Linh Tinh khi giao hội với Sát cách tối hỉ nhập vòng Trường Sinh hướng biến hóa không gặp cách tuyệt khí do Sát cách vượng. Linh Tinh rất cần gặp Lộc Tướng Ấn là cách cục tốt, đặc biệt Việt Linh Hình nhập vòng Lộc Tồn mang ý nghĩa tích lũy, đặt tham vọng lớn. Linh Tinh có khả năng nhìn nhận sâu về công việc, tập trung không gặp cản trở do tình cảm. Trong tử vi có cách cục Linh Xương Đà Vũ hạn chí đầu hà mang ý nghĩa hãm hại chủ kẻ khác, hay trong nội tâm mệnh tạo do Sát vượng tác động tới bản thân nghe theo tự tử. Như bố cục Kỵ Hình Kình Việt chủ ưa Sát, nội tâm thường đặt lợi ích lên trên mà có thể vi phạm pháp luật, trường hợp có Khoa Thanh hay Cơ, Vũ là lách luật, đặc biệt khi có Thiên Cơ tại bản cung. Cách cục biến hóa linh hoạt, chớp thời cơ là cách cục tốt với sao này. Linh Tinh tham vọng lớn, đây cũng là sao chủ danh và linh tính. Linh Tinh chủ lạnh lùng, khi gặp Kỵ hình thành cách Linh Kỵ là mệnh cách đặc biệt. Mệnh cách có bộ Linh Kỵ đắc cách thường được thành tựu do suy nghĩ khác biệt, tìm ra hướng đi mới ứng hợp phát danh nên luận tốt. Linh Tinh hợp với Lộc Tồn, trong bố cục Tồn Tướng Ấn tăng tính quan trọng của Linh Tinh, cũng chủ ngoài lạnh trong có tình cảm với mối quan hệ đặt tham vọng. Linh Tinh không được chế hóa bởi tình cảm hay Văn cách thường bố cục Sát tác hóa theo khuynh hướng lạnh lùng, gây thương tích tới người khác, cũng do tham vọng ý nghĩa thành hành động tận tay, khi đó Linh Kỵ thành sát nhân. Khí hình vượng mệnh xuất thân quý hướng tới tham vọng quyền lực, hóa Sát cách thành Quyền chủ quyền ngầm. Sao Linh Tinh là sao có Sát tính mạnh, lại âm sát, với Kỵ chủ ám tăng mạnh tính âm sát này. Với nhiều mệnh cách Cơ Linh gia Sát mệnh xuất thân khí hình thấp phạm tội nặng do Sát cách tác họa thực không ít. Người luận tử vi nghiệm lý thường luận đây là Sát tinh mang tính sát phạt, lạnh lùng. Linh Tinh mệnh quý là lưu lại danh tiếng cho hậu thế do những việc phi thường của bản thân. Linh Kỵ là cách cục mạnh của Linh Tinh. Đây là sao khó hình thành bố cục thành tựu, bố cục Sát tác họa lớn khó chế hóa. Do đó mệnh cách có Linh Tinh luận phức tạp hơn Hỏa Tinh. Đặc biệt các bố cục Linh Hình Việt, Linh Kỵ, Tham Linh Xương cần cẩn trọng khi xét giao hội ý nghĩ tổ hợp tránh định cách sai với bố cục thành tựu hoạch phát của sao này. Tính chất của Tứ Sát gồm Kình Đà Hỏa Linh tác động mạnh tới bản tính. 

Sunday, May 20, 2018

Hỏa Tinh luận mệnh cách giao hội



Lưu ý khi Hỏa Tinh nhập mệnh khác với tam hợp chiếu ở tính chất tác động thường trực, ý nghĩa bố cục cũng khác nhau.  Hỏa Tinh thuộc một trong Lục Sát Tinh, được luận ở tính dương hỏa, chủ nóng nảy, nhiệt huyết và sát phạt. Hỏa Tinh có tính chất dương hỏa khi xét tính chất cơ bản, khi giao hội biến hóa do phối hợp với Chính Tinh hay bàng tinh. Tính chất của Hỏa Tinh nhập mệnh không phải là bố cục tốt, nhập cung độ Tài Bạch hay Quan Lộc tốt hơn khi tại mệnh cung. Hỏa Tinh hợp bố cục Sát cách đắc dụng, bất hợp với cách cục ổn định. Hỏa Tinh và Linh Tinh là hai sát tinh có tính chất trái nghịch, xét ngũ hành dương hỏa và âm kim. Linh Tinh thâm trầm, Hỏa Tinh thường bộc phát. Mệnh cách thành tựu khi khí hình gốc thấp cần thiết thành cách với hai sao này. Hỏa Tinh giao hội với Chính Tinh phân khuynh hướng Tài Cách và Quan Cách mang ý nghĩa dụng khác nhau. Đứng đầu đồng độ với Tham Lang hình thành cách cục tham muốn giàu có. Tuy nhiên Tham Hỏa đồng độ chưa được luận là cách cục phát phú. Bố cục này cần đắc vòng Lộc Tồn bất luận cách cục đều là mệnh phát phú. Thêm Kỵ Khốc là mệnh quý khí, bất kể khí hình gốc thấp tạo thành tựu rất lớn, nếu có thêm Sinh Vượng hay Tam Hóa ắt phú gia địch quốc. Rất nhiều mệnh cách thành tựu Bạch thủ hưng gia do bố cục này, đặc biệt cách cục Tham Hỏa Kỵ Khốc Mã có Hình Ấn là cách cục đặc biệt phát phú và quý. Hỏa Kỵ tối hỉ Lộc Tồn, đặc biệt khi Hỏa Tinh hội họp Sát cách cần Lộc Tồn bởi trong vòng Lộc Tồn có sap Tướng Quân rất quan trọng. Khiến Hỏa Kỵ không hình thành cách bị trừ bỏ do khí sát. Tồn Tướng Ấn mang lợi ích riêng của Tham có Đồng nhị hợp khi thực hiện Sát do đó không bị Sát phản hóa tác họa. 



Trong bố cục Tham Hỏa Kỵ Khốc ngộ Lộc Tướng Ấn hình thành rất nhiều cách cục tốt đẹp, chế hóa Sát cách. Thứ nhất bởi lợi ích nhóm trong tranh đoạt. Thứ bởi tham muốn phát phú, sức nỗ lực định hướng tham vọng. Bố cục này cũng mang ý nghĩa được quý trọng, nghĩa khí đặc biệt khi có thêm Thiên Hình thành cách Binh Hình Tướng Ấn. Do Sát cách được hóa nên khí hình gốc bất luận là cách cục thượng cách. Tuy nhiên ở cách cục này vẫn tang hung hiểm, do Sát cách mang tính hai mặt. Trong trường hợp Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham luận khác, bố cục này cần cát hóa bởi Tam Hóa và Tả Hữu với cát tinh mới có thể thành tựu. Nghiệm lý cách cục Tham Hỏa Kỵ theo Quan Cách và Tài Cách đều có thể thành tựu, thăng trầm đột biến, khi phản hóa tuyệt khí nhập vận suy nếu mệnh cách không đắc vòng Trường Sinh thì vong mạng. Nếu theo Tài Cách hóa Quyền bất triệt để nên không nguy hiểm tới bản mệnh. Thứ tới Tham Hỏa gia Sát nếu không có vòng Lộc Tồn cần Khoa Tả Hữu, Phượng Khốc hay Xương Khúc có thể thành tựu. Tính chất Tham Lang nhị hợp với Thiên Đồng là tính chất rất quan trọng do Cơ Nguyệt Đồng Lương có Tình, Tham Lang trong Sát Phá Tham có tham vọng, cũng hàm chứa Sát cách lớn. Hỏa Tinh khi giao hội với Kình Dương rất cẩn trọng, khi đó không gặp vòng Lộc Tồn. Trong các nhóm sao an theo Thiên Can chính gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn và Thanh Phi Phục. Bố cục Hỏa Kình không mấy hay, cần hóa dương cách của bố cục này, đặc biệt nếu có Kình Hình Kỵ là bố cục mang ý nghĩa tạo tai họa do tính tham của bản thân, cần Khoa hay Xương Khúc tại đây. Thường các sách luận Hỏa Tinh đắc địa từ Dần cung tới Ngọ cung. Tuy nhiên việc đắc này không quan trọng bằng việc giao hội của Hỏa Tinh với Chính Tinh hay các Bàng Tinh khác. Chỉ xét phối hợp cách của sao này đã rất phức tạp, các vị trí đứng đắc địa không tác động lớn tới ý nghĩa cách cục. 




Hỏa Tinh có tính chất quyết đoán, tính tham vọng và thực hiện ý định. Một mệnh cách tốt của tử vi không hẳn phải thiện, kẻ gian hay ác cũng có một ký tưởng của bản thân, cuộc đời. Do đó mệnh thành tựu không xét ở tính chất này mà ở kết quả sự nghiệp. Trong bối cảnh xấu thời loạn, nhất tướng công thành vạn cốt khô. có nhiều trận chiến mang tính vô nhân, sát hại dân thường vì mục đích đe dọa, trấn áp hay thực hiện kế sách, do chiến loạn là Sát nên khi luận với cách cục đặc biệt bố cục Lục Sát luận về tính hợp và bất hợp. Cách cục Hỏa Kỵ là cách cục mạng của Hỏa Tinh, mang tính sát phạt nhưng thành tựu được do chủ động, tiến không thoái. Trong tử vi Hóa Kỵ là hóa khí trợ tinh tác họa lớn nhất khi phối hợp Sát tinh mang ý nghĩa âm ám, sát phạt, xung đột. Tuy nhiên Hóa Kỵ cũng chính là hóa khí tạo nên đột phá phát triển theo hướng mới sau xung đột, bế tắc. Nếu không có bế tắc thì không có hanh thông, bĩ thái là nguyên lý của Dịch cũng là nguyên tắc của vạn vật. Nhìn nhận đúng cách cục Hỏa Kỵ thì không bỏ qua nhiều mệnh cách bạo phát đại phú. Nhìn nhận sai về Tam Hóa, Khôi Việt, Tả Hữu, Xương Khúc vô tình nhiều mệnh tầm thường trở thành quý cách. Tất cả các thành tựu đều qua thăng trầm. Thăng trầm biến đổi là lẽ công bằng, tất cả đều phải chịu tác động. Với Sát cách, vạn kẻ phải tai họa thì được một mệnh đắc cách chế hóa được Sát cách. Với các bố cục cát tinh, vạn kẻ được an ổn, tuy nhiên kẻ thành tựu thường không nhiều. Tất cả các Chính Tinh, Cát Tinh hay Sát Tinh đều là sao. Thường do quy luật sinh diệt nên đa phần người luận nhìn cái ổn định   tốt hơn thăng trầm thịnh suy. Mệnh có Hỏa Tinh hay trong bố cục tam hợp mệnh thì nội tâm thường khó ổn định, Các Sát cách đều định chế hóa bởi lý tưởng xây dựng của bản thân, tức mục đích. Tham muốn lợi ích nhỏ mang tính tranh đoạt vì tư lợi, hưởng thụ, là khí hình thấp. Lý tưởng về đường lối lớn, quan điểm của bản thân đúng với lối đi. Vạn vật khởi tạo, chuyển biến đều nguyên do. Vì lợi ích của Nhật nên biến đất nước thành đế quốc, xâm lược tài nguyên các quốc gia khác. Gây nên thảm sát Nam Kinh. Phát xít Đức do Hitle thảm sát 6 triệu người Do Thái đều xuất phát từ các nguyên do. Trong đó có khoảng 1 triệu trẻ em cũng bị sát hại. Kẻ trong cuộc thường do những lợi ích bên trong khó nhìn thấu hơn bên ngoài đánh giá. Hỏa Tinh thường nhầm lẫn do tính chất nóng nảy, chủ quan. 

Friday, February 10, 2017

Ngôi sao Linh Tinh




Ngôi sao Linh Tinh


Linh Tinh và Hỏa Tinh là hai sao an theo tháng thuộc bộ Hỏa Linh nói chung. Mệnh có Linh Tinh vó những tính cách đặc biệt. Linh Tinh khi nhập miếu có tác dụng rất lớn tới các sao còn lại, có thể khôi phục sức sáng của Chính Tinh ở cách hãm địa. Đa phần người thành công cần có sát tinh củng chiếu hay thủ Mệnh. Kình Đà Hỏa Linh là Tứ Sát, phùng hung tắc kỵ, phùng cát tắc phát. Sao Linh Tinh là ngôi sao chủ lạnh lùng, đây là tính cách cơ bản của sao này. Linh là lạnh và Hỏa là nóng. Linh là sắc sảo và Hỏa là nhiệt huyết. Cứ nhìn hai sao này cũng phân biệt được nhiều người ngoài xã hội. Khi đoán Linh Tinh thường phải xem cả Hỏa Linh vì nếu không tam hợp chiếu thì thường nhị hợp hay lục hội với sao còn lại. Linh Tinh chủ sự linh tính, cũng chủ về mặt tâm thần. Một Linh Tinh xấu và hội những sao tính Kim nặng thường gọi là tâm thần. Linh Tinh.
" Việt Linh Hình ngộ Cơ Lương hoặc là Nhật Nguyệt ắt chờ lôi kinh".
Linh Tinh có tính Sát của ngũ hành Kim đi với Thiên Hình không hay vì Thiên Hình có thêm Thiên Diêu chủ mù quáng, tác động tới hành động của Linh. Bộ Linh Hình có tính sát phạt mạnh, thêm Thiên Việt chủ giáng xuống, hình thành cách họa giáng xuống.
" Thất Sát Linh Tinh trận vong yểu chiết".
Mệnh có Thất Sát chủ mất, gặp sao Linh Tinh chủ rơi rớt hình thành bộ sao xấu khi theo võ nghiệp thời chiến phải bỏ trận nơi chiến trường. Cách này có giá trị khi gia Sát và ở thời chiến với mức độ của chiến tranh, nếu có Khoa hay Quyền hay cát tinh không luận vậy.



 Trong Tử Vi có một số sao chỉ những thứ tâm linh từ sách vở của tiền nhân. Linh Tinh có tính chất là sự linh tính, chủ linh hồn. Cách Đồng Linh là cách cô đồng, hầu đồng nếu có thêm Thiên Diêu. Thiên Cơ ngộ Linh Hỏa tính cách thất thường. Việc có thêm Kỵ Hình khiến càng nặng thêm, chủ bị ám ảnh tâm lí, Thiên Cơ chủ suy nghĩ, có Linh Hỏa tác họa. Sao Linh Tinh hợp cách nhập Mệnh có tính tình cương cường, quyết đoán, tâm tính sâu xa, mưu kế thâm hiểm, gia sát tăng khuyết điểm, gia cát ngoài lạnh trong ấm, bên ngoài luôn tỏ ra lạnh nhạt, trong tâm thì tốt đẹp. Linh Tinh chủ bị mắc, cách Linh Đà có ý nghĩa mắc lưới.
" Linh Xương Đà Vũ hạn chí đầu đà".
Linh Tinh tính Kim cường, cũng chủ sự tin tưởng chính mình, sắc lạnh khi đi cùng với Xương Đà Vũ đều tính Kim khiến tính sát quá lớn. Cách này luận dựa trên ngũ hành Kim nhưng thực ra luận dựa theo tính cách, ngũ hành cũng chỉ là phản ánh tính cách. Như tính Thổ bình hòa, kiên trung, cố chấp, ngu độn. Hỏa là nhiệt huyết, can đảm,.. nếu nhiều sao thuộc tính Hỏa tức sự nhiệt huyết hoặc can đảm quá lớn gây nên tự làm hại chính mình. Tính Kim của bốn sao trên rất mạnh hóa cương cường lại cúng có nhẫn nhịn thành sát, chủ nghe theo lời xui giũa, hoặc gặp sự khó khăn trắc trở trùng trùng không vượt qua nổi mà đâm đầu xuống sông tự tử. Linh Tinh ngộ Địa Kiếp là cách xấu, chủ tai kiếp rơi xuống bản thân, bộ Linh Kiếp có thêm Thiên Không bất ngờ khó phòng tránh.
" Đà La Địa Kiếp chiếu phương, gặp Hỏa Linh nạn bất tường chẳng sai".
Cách Đà Kiếp là mắc bẫy, gặp Hỏa Linh nếu có cả hai sao thường nóng giận mà gây tai nạn cho chính mình. Nếu chỉ có Linh Tinh là cách Đà Linh Kiếp chủ mắc tai kiếp.