Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Tinh Hệ Thái Dương. Show all posts
Showing posts with label Tinh Hệ Thái Dương. Show all posts

Monday, January 22, 2018

Mệnh cách VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Âm



Nam mệnh ngũ hành Kim, mệnh cách thuộc vô chính diệu với nội cách là Cự Nhật đồng độ tại Dần và ngoại cách là Đồng Âm cư Tí tại đối cung. Ở nội cách tức nội lực bản thể của mệnh, nhưng khả năng tư chất của bên trong. Cự Nhật cách ngộ Tuần Phi Kiếp Liêm. Cách cục tổ hợp Cự Nhật giao hội với nhóm Tuế Hổ Phù và cách cục Thanh Phi Phục là bố cục khá phù hợp với Cự Nhật cách. Tuy nhiên vị trí của Thanh Long bất hợp, vị trí cần ở tại cung độ Cự Nhật hóa Cự Môn thành Quyền, chủ linh hoạt không gặp. Cự Nhật may được Hóa Lộc lại có Phi Liêm chủ thị phi, cách cục VCD có bản cung Bạch Hổ và Phục Binh là cách cục Binh Hổ chủ lời nói có phần thể hiện quan điểm, khả năng hùng biện, diễn đạt tốt. Sao Bạch Hổ và Phục Binh đồng cung khá hợp cách, điểm mạnh là đương số có sự cương quyết, táo bạo khi hành động, các chủ trương và lập luận quan điểm tốt. Cung độ Thanh Long ngộ Thái Tuế hình thành cách cục làm thầy, truyền đạt các kiến thức, chuyên môn là Cự Môn tới người khác, tuy nhiên bố cục này không dụng được thực cách của mệnh tạo. Cách cục Cự Nhật có Không Kiếp tại Dần Thân là sát cách, Cự Môn và Thái Dương có thể dụng được Không Kiếp hóa Kiếp thành sự khác lạ, vượt qua khuôn khổ, trái truyền thống. Cung độ VCD là bản cung mệnh qua đó ngộ Tam Không có Hóa Lộc và Hổ Binh tại bản cung là cách cục mạnh, thuộc cách Vô Chính Diệu kiến Nhị Không.



Ở đây may mắn khi Cự Nhật gặp Tuần Triệt là nội tâm ổn định. Lưu ý mệnh cách VCD nội cách ngộ Triệt Tuần có Cự Nhật thì có thể phòng tránh tốt trước những việc không ngờ tới trong cuộc sống, bố cục này may mắn khá ổn định, điểm tốt là Cự Môn  được cát hóa bằng Sát cách. Cự Nhật ngộ Kiếp Không bất kiến Sát Kỵ giao hội là cách cục khá tốt. Sát cách hóa thành Quyền tuy nhiên không mấy toàn vẹn do trợ tinh không mạnh, đương số khi Không Kiếp tác họa do đại tiểu vận bố cục ổn định biến thành do tham muốn nhanh chóng mà gây ra thất bại. Ở đây Cự Môn là miệng lưỡi, lời nói, là chuyên môn, điền sản, sự phản đối, đứng lên là tính chất được cát hóa. Đặc biệt với Cự Môn phản đối và khai sáng rất vượng, đương số nếu khí hình mạnh tự kinh thương, gây dựng sự nghiệp, tự đứng đầu khai sáng tuy gặp hoạch phát, hoạch phá nhưng thành tựu khi qua khó khăn rất lớn. Một biến cố do quá khứ bất dụng đúng trợ cách và do khí hình mà mệnh tạo theo Tài Cách khai phá vào thời điểm vận xấu và khuynh hướng nỗ lực không lớn nên gặp thất bại khiến khí hình trở thành suy. Nội cách Cự Nhật ở đây thuộc cách cục phẩm chất tốt, hướng vào khả năng làm chủ tình huống, tính chất khám phá, đi sâu vào vấn đề tốt nhưng điểm yếu của bố cục này là sự giữ vững tâm lý khi gặp bất ngờ do cách cục Tam Không gặp Cự Môn thành lo âu.



Bố cục nội cách cần lấy sức nỗ lực và nắm giữ, giữ vững ý chí tìm hướng thay đổi, phản ứng là trợ cách. Do Cự Môn luôn cùng trợ lực với Phá Quân và Tử Vi xung đột với Cự Phá là toàn bộ bố cục của các sao đứng đầu và khai mở các sự việc ban đầu trong tử vi. Do đó Cự tốt khi Phá Quân giỏi phá cũ đổi mới tốt, cũng do Phá Quân chủ giữ vững đường lối tuy nhiên luôn thay đổi để phù hợp. Khác với sao Tử Vi chủ sự ổn định với đường lối. Cách cục Cự Nhật đầy đủ khi Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh và Sát Phá Tham đang xung đột với Tử Vũ Liêm do lý tưởng mâu thuẫn giữ xây dựng và phá bỏ, thay đổi và ổn định. Cự Môn tại đây mang ý nghĩa khai sáng, dẫn đầu thì phù hợp do trong thời cảnh Phá Quân và Tử Vi xung đột lớn, cơ hội của Cự Môn xuất hiện do phản đối với Tử Vi, và Cự Nhật cách là phản đối cách, chủ đứng lên can gián, phản đối như thời phong kiến theo Quan Cách. Cự Nhật theo Quan Cách thường theo nghề nghiệp liên quan tới ngôn luận, các tổ chức ngoại giao. Với Cự Môn ở đây do cách cục là Cự Phi Lộc theo Quan Cách có thị phi. Cự Môn cũng chủ sự tài năng, am hiểu cặn kẽ do luôn bất mãn và tự vấn trước các kiến thức và tình hình thực tế. Tuy nhiên bố cục này là cách cục Cự Tồn hay trong nhóm Cự Cơ Đồng. Với cách Cự Nhật ngộ Thanh Long chủ danh, cách cục Thanh Tuế có thể theo ngành tư pháp, tư vấn, từ lời nói sinh ra tài lộc. Cự Nhật nội cách tại đây hợp với Tài Cách kinh thương hoặc theo nghiệp tư vấn, môi giới sử dụng ngôn ngữ phù hợp, với Quan Cách thực chất đương số do có khả năng linh hoạt, thay đổi tốt và Thanh Long ở đây khá tốt đẹp nên Cự Nhật quan phong tam đại là bố cục khi Cự Nhật đắc cách. Ở đây tuy thăng trầm do Không Kiếp và bố cục trợ tinh không mạnh nhưng về thành tựu cũng không xấu. Tuy nhiên vòng đại vận ở đây khiến quan cách chỉ trở nên tốt đẹp khi mệnh tạo tầm trung niên.


 VCD ở đây ngoại cách là Đồng Âm cư Tí ngộ Khoa Tang Phượng Linh Kỵ, trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn Không là bố cục mang ý nghĩa tai họa nhiều hơn may mắn với cách Mã Khốc Khách Tồn Tuyệt là bế tắc, chuyển động nhưng khó thoát khỏi bế tắc, tính động mạnh. Điều quan trọng là cung Thiên Di tại ngoại cách tuy nhiên cung an THÂN an tại cung này, cung an THÂN là sự tác động liên quan tới hành động, chủ sự ý thức khi tiềm thức, tính cách ban đầu của Mệnh chủ xây dựng lớn dần. Cung an THÂN gắn liền với cái nghiệp, cái bản thân và thân phận của nam mệnh. Cung an THÂN tại Đồng Âm với bố cục Sát tinh hội họp gồm Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn thì hành động thường mang tính bộc phát, đi liền với tai họa. Về mặt tình cảm hay về việc gắn liền với ra ngoài thường không gặp yên ổn, đặc biệt với cung an THÂN tại Thiên Di hội họp cách Mã Tuyệt Hình Kỵ Hỏa Linh là cách cục càng chuyển động càng mắc lưới, chỉ xét bố cục Mã Hình Kỵ Tuyệt đã là cách cục xấu. Với nội cách là Cự Nhật khi tới vận này càng mang nhiều mâu thuẫn, sự khó khăn chật vật do hình thành hai cách cục bất lợi cho nhóm Cự Nhật không có Thanh Long là Cự Kỵ và Cự Tồn Kiếp. Cũng bất ổn với mệnh Vô Chính Diệu. Chữ chuyển động, nỗ lực khi gặp nghịch cảnh cần rất lớn tuy nhiên cũng không có được kết quả tốt đẹp.


Sao Thiên Mã trong nhóm Tang Mã Khách là nghị lực vượt qua nghịch cảnh nhưng ở đây là cách cục Hình Kỵ Tuyệt đương số thường gây thái quá, tính chất ổn định không có nhiều. Do đó mệnh cách cần thiết ổn định và thời cơ. Thiên Mã là lao động, mệnh cách hướng tới vạch đường lối rõ ràng sẽ tránh được khó khăn gặp phải. Một sao Phượng Các đi với Đồng Âm, sự nhất trí đồng lòng được giúp đỡ là quan trọng để hành động, thực hiện các quyết định. Lưu ý đương số nên tránh tự động sẽ tự tạo khổ cực cho bản thân, làm việc cùng chung sẽ mang ý nghĩa tốt đẹp hơn. Tài cách ở đây trục Tài Phúc có Không Kiếp Song Lộc ngộ Cự Nhật là trọng điểm của Tài Cách. Hình thành bố cục Lộc Mã giao trì là bố cục hay thuộc phú cách do Tài động, tuy nhiên Thiên Mã phá cách nên tiền vào chưa tích tụ đã phải sử dụng, tiền cũng thăng trầm do thêm cách Không Kiếp Hình Kỵ ở đây. Phúc Đức cung không mấy tốt nên tai ách gặp phải tuy mệnh cách có bố cục khá may mắn nhưng đa phần lại gặp nhiều tai họa mới được trợ giúp. Do đó cách cục phát may phá cách ở tại Thân và Phúc, đương số không nên cầu cạnh vào may mắn mà dụng cách Binh Hổ Cự tức bản thân đưa ra quyết định một cách chắc chắn không trông chờ trước mọi việc. Quyết sách hành động của bản thân tự tạo sẽ mang lại kết quả khả quan do ở đây Đồng Âm cư Tí ngộ Tang Phượng Khoa Kỵ, trong khi ngôi sao may mắn Cơ Lương gặp Hỏa Hình tức cơ hội tới nóng vội sẽ dẫn tới thất bại. Ổn định là cần thiết để bố cục này chế hóa được cách cục nặng như Kỵ Hình Linh Hỏa ngộ Cơ Lương ở tại cung an THÂN tức hành động, bản thân của đương số.



Do đó nếu đương số vận theo Tài Cách tuyệt đối không nên có khuynh hướng đầu cơ hay làm việc thiếu cẩn trọng, trông chờ vào may mắn ắt khó thành tựu, tổn thất lại lớn . Đương số cần chú trọng với bản thể nội cách là Cự Nhật Binh Hổ, chờ đợi đúng thời điểm là quan trọng, luôn cẩn trọng trước những lợi ích trước mắt, nhanh chóng vì cách cục không may mắn nằm ngay tại cung an THÂN. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách sẽ ảnh hưởng tới khả năng thụ hưởng của bản thân, mệnh cách đa phần luôn ứng hợp phải lao lực, vất vả ít được thảnh thơi.  Do đó nếu không dụng trợ cách phù hợp hóa cách cục thành nỗ lực phấn đấu, gây tạo sự nghiệp thì cách cục lao lực trở nên phí hòi công sức. Chữ chờ thời điểm và chủ động tránh do yếu tố bên ngoài như tham muốn nhanh chóng tác động là rất quan trọng với đương số. Mệnh tạo có cách cục tốt về hậu vận. Đương số ở tại hai đại vận sau bố cục càng ngày tốt, đặc biệt vận Thiên Phủ độc tọa ở cung Hợi. Nam mệnh với cách Cự Nhật Lưỡng Long. Thiên Mã là sao chủ nghị lực nhưng cũng mô tả khó khăn bản thân gặp phải. Qua đại vận của Mã Tuyệt và đại vận Liêm Tham mệnh cách Cự Nhật có khuynh hướng tăng tính chất trầm ổn, dần ứng hợp được với Địa Kiếp tại cung độ Cự Nhật và ngoại cách Kỵ Tồn. Mệnh cách VCD có nội Cự Nhật và ngoại Đồng Âm xung các đại vận hiện tại rất nên tự khởi tạo, xây dựng sự nghiệp hay tổ chức riêng, cách cục của Cự Môn chủ gừng càng già càng cay, Cự Môn là hiểu biết, Cự Nhật cách ở đây tuy không có Khoa Quyền Lộc nhưng được Không Kiếp, ngoại cách lại gặp Song Lộc có thể dụng được cách Cự Nhật.

Thursday, August 10, 2017

Bộ sao Âm Dương Lương và chữ tang tóc





Bộ sao Âm Dương Lương và chữ tang tóc



Bộ sao này như đã đề cập ở nhiều bài viết thuộc cách Âm Lương thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương giao hội với sao Thái Dương thuộc nhóm Cự Nhật, ở bên tam hợp cung xung chiếu còn lại ta gặp bộ Cự Cơ Đồng. Nhóm Âm Dương Lương này mang rất nhiều ý nghĩa, trong đó là cách may mắn người viết đã luận về tính chất, là sự kiện về ngày và đêm, về nam và nữ, tinh thần tình cảm. Tuy nhiên một tính chất quan trọng của cách cục này mà ít khi được ghi trong các sách nghiên cứu về tử vi là tính chất liên quan tới Phụ Mẫu của cách cục này. Lưu ý việc có bộ Âm Dương Lương khác với gặp bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hay Cự Nhật, đặc biệt là khi Âm Dương Lương do xung chiếu mà tạo thành không thuộc cách này. Bộ Âm Dương Lương thường gặp ở cách Âm Dương Lương với cách Nhật Nguyệt cư Sửu Mùi tức với Thiên Lương cư Tị Hợi. Cách cục Thái Âm cư Mão Dậu, Thái Dương cư Tị Hợi khi đó Thiên Lương cư Sửu Mùi. Cách còn lại là cách Dương Lương cư Mão Dậu , Thái Âm cư Tị Hợi. Các cách cục này đều tập trung ba sao Thái Âm, Thái Dương và Thiên Lương tại các cung Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi vì các cung còn lại thì cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật đầy đủ. Bài viết muốn nêu tính chất liên quan tới phụ mẫu của bộ Âm Dương Lương, ở đây là cách cục chỉ việc cha mẹ khi tuổi đã già.



Thiên Lương là ngôi sao chủ già, tuổi thọ cao vì vậy nên sao này thường có ý nghĩa lương tâm, lương thiện vì người già cả cao tuổi thường sắp đến tuổi ra đi hiểu rõ chứ tham vọng, sự đời và chuyện đời hơn các ngôi sao khác. Cách cục Âm Dương Lương đầy đủ ở mọi vị trí trên lá số đều chỉ những người già cả như ông bà, cha mẹ mỗi người. Cái quan trọng là cách cục Âm Dương Lương trừ vị trí Dương Lương cư Mão và Thái Âm cư Hợi có tính cát hóa dụng được Sát Tinh phá cách nhẹ còn lại các cách cục khác dễ bị phá cách và tiểu hạn hay đại hạn đi qua cách cục này dễ xảy ra tai nạn cho người thân của ta  đặc biệt khi bản thân đương số càng lớn tuổi, tiểu hạn tới bộ sao này kiến Sát Tinh trùng trùng qua nghiệm lý thường gây ra cách cục tang tóc tới cho người thân, đặc biệt khi Âm Dương cư Sửu Mùi tức Thiên Lương cư Hợi. Cách cục Âm Dương Lương rất kỵ gặp hai sao Kình Hao và Đà Hao, chủ sự chia cắt, chia ly từ biệt với cách cục này khi Âm Dương đầy đủ gặp bộ Kình Đà thì tính chia rẽ rất lớn. Sao Hỏa Linh đặc biệt khi có Thiên Hình cũng đóng góp rất lớn cho cách cục này trở nên tai họa về mặt người thân, Hỏa Tinh mang tính cấp thiết, cũng chủ sự nhanh chóng, nếu có thêm Thiên Mã tức cách cục Tang Mã Khách càng rõ ràng. Cặp Không Kiếp trong cách cục này xét không tai họa bằng hai cách cục trên vì Âm Dương có thể dụng một phần Không Kiếp nhưng tối kỵ việc có thêm Hỏa Linh Kình Đà tai họa triển miên khi nhập tiểu hạn. Âm Dương Lương trên lá số tử vi có sức ảnh hưởng rất lớn tới mệnh tạo vì liên quan tới ngay họ hàng của đương số và bản thân. Nếu cách cục này tốt đẹp, vị trí Âm Dương ở nơi sáng đắc địa và tránh được các cách cục xấu thì cuộc đời sẽ tốt đẹp về mặt tinh thần, phần phụ mẫu che chở giúp đỡ bản thân được nhiều trong cuộc sống. Cũng vì vậy mà cách cục tinh hệ Tử Vi cư Ngọ là tinh hệ tốt đẹp nhất của lá số Tử Vi khi cặp Âm Dương biểu thị tính hấp thu cực vượng trên lá số. Âm Dương thể hiện hai mặt của các vấn đề và chủ sự nhiệt huyết, sự may mắn của bản thân nên rất cần ở vị trí sáng để gặp thuận lợi. Tuy nhiên không phải bộ Âm Dương tại vị trí tối là xấu, ta lại hay gặp những trường hợp vượt qua khó khăn một cách phi thường, hoặc dụng được chữ Quyền trong bóng tối hay kiếm lợi ích từ thời buổi âm dương tức trời đất đảo lộn. Việc Âm Dương ảnh hưởng tới phụ mẫu và Thái Âm trực tiếp ảnh hưởng tới cả hai trong khi Thái Dương ảnh hưởng lớn tới người đàn ông. Âm Dương Lương là biểu tượng của sự hiền hòa, khi xấu theo chiều hướng khác nhau tùy thuộc vào các cách chế hóa Sát Tinh, đôi khi ta thấy Âm Dương Lương hỗn loạn và tạo thành cách cục bất lương, tính cách thất thường. Cách cục bất lương khi Âm Dương Lương xấu cũng là một cách để dụng bộ sao này và tất nhiên đi kèm với chữ Sát luôn xác định có thêm chữ Phản. Thực chất dụng Sát Tinh giống như con rắn, có hai trường hợp mô tả độc, một là bị mắc phải độc và trường hợp còn lại con rắn chứa nọc độc để tấn công hay phòng thủ.





Việc ta hay thấy ngoài xã hội là kẻ ác lại thường ít chết hơn người hiền lành chẳng qua do cách này tạo ra. Hạn Sát bản thân chịu bị động là các chịu tai họa, nếu cách chủ động là gây tai họa cho kẻ khác. Tuy nhiên do Sát Tinh chứa chữ phản, mang tính phục phản nên ta lại hay thường nghe kẻ ác đã bị trừng phạt. Thí Như trường hợp rắn độc săn mồi các con vật khác và cũng bị những loại săn mồi khác ăn thịt. Một sự thực rằng có khá nhiều phần các trường hợp dạng theo ác được lợi ích lớn hơn chữ hiền lành và lại ở vị trí quyền cao, ít chịu tai họa lớn cho tới khi xuống huyệt. Như hổ thống trị ở rừng không ăn cỏ, khủng long thống trị thời quá khứ của thế giới, việc có nhiều vua chúa do tính thống trị lớn lại mang sự tàn ác tới dân chúng hay luôn có ý định xâm chiếm tới nơi khác bằng dụng binh để tăng quyền lực. Rõ ràng trong một sự tổ chức, một quy mô hay xã hội luôn tồn tại những dạng như vậy và các vị trí phân công cũng chính là tự kiềm chế lẫn nhau. Những vai trò như vậy là cần thiết và khi Thiên Cơ tức thời vận bỏ chúng đi sẽ biến mất sau đó. Như việc khủng long tuyệt chủng, hổ cũng không còn nhiều, chế độ phong kiến đã mất thay đổi công bằng hơn. Sự đòi công bằng, thực hiện công việc, khám phá sai lầm gồm Tử Vi, Phá Quân và Cự Môn cứ như vậy tiếp diễn. Qua nghiệm lý rất nhiều năm mới nhận ra ở tính Sát của con người là kẻ ác nào cũng có một lý do như chính đáng hướng thiện về việc làm của bản thân để không ngại thực hiện. Và kẻ có lý tưởng cao nhất cao đẹp là người đứng đầu trong xã hội, không phải người hiền lành vì người hiền lành có rất nhiều khuyết điểm, lớn nhất là tính quyết tâm, khả năng nỗ lực vượt qua khó khăn mà sát tinh mang lại và lấy lý tưởng cao viễn làm mục tiêu để thực hiện, đây là bản chất tốt nhất của cách Tử Vũ Liêm. Trong khi Âm Dương Lương thường ở mức phò tá và khó có khả năng lãnh đạo. Như lý tưởng sẵn sàng sử dụng chiến tranh để bảo vệ đất nước liên quan tới nòi giống về sau, bảo vệ tránh bị làm nô lệ nhìn có thể luận tính Sát ở đây là ác, nhưng lý tưởng là chính đáng, cao đẹp. Tất nhiên là lý tưởng có nhiều phần tốt với kẻ này, xấu với kẻ khác. Tuy nhiên, cái nhân quả thì tuần hoàn và vòng tròn trường sinh thì luôn quay biểu hiện rõ trên lá số tử vi của mỗi người. Câu hỏi là liệu có như con người hay mơ tới là nơi địa ngục để trả tội và thiên đường để hưởng phúc tích tụ hay không. Và một số ý nói địa ngục là ở đây trên thế giới sinh ra tức những kẻ chịu tội bị áp bức, thiên đường là kẻ hưởng phúc tại đây. Mệnh có một số sao tổ hợp lại sẽ thấy những điều kỳ lạ và cá biệt bản thân có khả năng ấy. Điều hay ho là sao Hóa Kỵ thường mang ý nghĩa xấu lại liên quan tới cách cục này. Ngay cả bộ Âm Dương Lương cũng cần thiết.

Tuesday, July 18, 2017

Lá số khá hay về cách Dương Lương cư Dậu




Lá số khá hay về cách Dương Lương cư Dậu



Người viết không đăng lá số của mệnh Dương Lương lên vì cần bảo đảm thông tin cá nhân cho đương số. Mệnh tạo thuộc cách Dương Lương cư Dậu, có nghiên cứu ở môn Tử Vi và rất có duyên với tâm linh, huyền học. Mệnh và Cục bình hòa thuộc Mộc, lại thuộc Đại Lâm Mộc tức mệnh hoàn toàn chịu tác động bởi hành Mộc, nhìn ngũ hành mệnh để luận về sức tác động của các Chính Tinh trước tiên ở tam hợp Mệnh Tài Quan tới bản tính của đương số. Lưu ý tất cả các Chính Tinh nằm ở vị trí bản cung hay tam hợp đều có mức độ tác động tới tính cách, suy nghĩ của đương số và luôn ở thế động, thay đổi liên tục tùy môi trường, hoàn cảnh. Vì vậy khi xét tới phần luận giải cần nhẩm trong đầu về việc môi trường hoàn cảnh có bình thường và nhận thức có bị thay đổi lớn, ngoài ra còn cả hạn tác động khiến tính cách thay đổi, nhưng phần bản tính thì phát động ngay cả lúc vô thức và ở thế ẩn nên khó nhận ra hơn, cũng tác động ngầm tới mệnh tạo hơn. Ở đây sao Thiên Lương cư tại bản cung, thuộc cách Dương Lương lấy hai sao này làm nòng cốt để luận mệnh, do ở tại bản cung tuy nhiên sao Thiên Lương sẽ tác động lớn tới bản tính và với Thái Âm là sự tác động bên ngoài tới bên trong. Cách cục Âm Dương Lương toàn cục nhập hãm, vì vậy nhận định việc tinh thần hay có tính muộn trễ, sức phấn đấu và nhiệt tâm khi làm việc chưa cao, Âm Dương thịnh và suy được luận ở mức tinh thần là chủ yếu, kế đến là sự giao thiệp với xã hội bên ngoài, hay gọi là sự xã giao. Mệnh có cách cục Dương Lương gặp Lộc Tướng Ấn gia Đào Không Kiếp, ở đây may mắn là được Kiếp Triệt, vì vậy cách Lộc Tồn Không Kiếp không tác họa to lớn tới bản thân đương số . Tính cách của đương số thiên về ưa thích về nghệ thuật, quan hệ giao du là toàn cục Âm Dương Lương. Tính cách có phần hướng ngoại, tức thuộc khuynh hướng bộc lộ.  Cách Dương Lương chủ may mắn nhưng ở đây không mấy được may vì thuộc tuổi Mậu có nhiều bất lợi, lại gặp Đào Không Kiếp Lộc Tồn khiến khuyết điểm càng gia tăng. "“Dương cư Đoài Chấn lục Mậu, lục Giáp Phúc nan toàn”". Cách Dương Lương này có nhiều hướng đi và bạn chọn hướng y thì tránh được thứ liên quan tới bệnh tật, cuộc sống của bình yên hơn, nhưng khó dụng được bạo phát của Không Kiếp. Hầu hết đa số mệnh hoặc cung an Thân có sao Thiên Lương thường biết phần y học hơn người thường rất nhiều, tùy thuộc mà sẽ có người theo y hiện đại, gọi là y khoa học và phần y cổ truyền, sử dụng thuyết âm dương, y học tiền nhân thực nghiệm. Hai cách cục y học này hoàn toàn khác nhau về bản chất và cách cục của bàng tinh gia hội. Ở phần y học xưa thường có thêm tính chất khó hiểu, gọi là huyền bí hơn việc y khoa hiện đại. Hạn từ 13 tới 22 tuổi đại hạn này gặp nhiều khó khăn, đặc biệt liên quan tới tinh thần, ở cung độ Thất Sát chủ mất nhiều, đây cũng là hạn chuyển động gắn với mệnh tức bắt đầu mở rộng mạnh các mối quan hệ ra bên ngoài hơn. Mệnh Dương Lương kỵ tới cung hạn Sát Phá dễ bị chèn ép, khiến bản thân phải thay đổi để thích nghi. Tham gặp Kình Phượng Hình Lộc thì theo y khoa hợp lý, dễ kiếm được tiền và được danh tiếng đặc biệt trong đại hạn này. Thực chất do bản cung mệnh có cách Dương Lương gặp Đào Việt Triệt gia Không Kiếp Lộc nên hàm ý người đàn ông bị bệnh, bản thân mình không bị thì có thể người nhà mắc bệnh trong hạn này. Ngay đại hạn 23-32, cũng là giai đoạn khá khó khăn khi lại gặp Tuần tại đây. Thiên Cơ gặp Kỵ Phi Tuần gia Cự Đồng tại cung Mùi hạn này cũng gặp nhiều bất mãn, được Thanh Long đồng Cự Môn và là cách Cự Khôi Kỵ Tuần Hồng mọi việc làm đều mang tính quan trọng và tác dộng lớn, Thiên Cơ tại đây không hay, chủ suy nghĩ nhiều, tính toán nhiều nhưng khó thành công. Cách cục mệnh tạo tổ hợp cung trọng điểm tại Hợi Mão Mùi với Tuần Hồng Khôi Cự, tức tiểu hạn tới cung Tị Dậu Sửu nếu gốc đại hạn xấu thì tai họa lớn, đặc biệt tại năm Sửu.




Mệnh số ở đây có điều đặc biệt khi tới hạn Thiên Cơ này vì ở đây chứa cách Cơ Kỵ Khôi thêm Cự Môn là việc đương số năm 2011 tức năm Tân Mão bỗng bị bệnh liên quan tới tâm thần phải vào viện tâm thần chữa trị, ảnh hưởng rất lớn tới cục diện khiến cuộc đời rẽ sang hướng khác, bệnh viện không chữa được nên về nhà, sau đó tự nhiên tỉnh ra và mất 1 năm để bình phục, sau đó xin làm công chức ở địa phương. Lá số này cũng không phải mệnh quá xấu. Ở cung vị Thái Âm cư Tị có Cô Thần,  bản thân mệnh Âm Dương gặp Đào Triệt Không Kiếp có Lộc Tướng Ấn là thêm Cô Quả, hình thành cách Âm Lương ngộ Cô Quả dễ có lần gặp phải chuyện không ngờ tới liên quan tới sự lạ kỳ. Cách cục Thiên Cơ gặp Phi Kỵ Tuần ngay tại bản cung có Cự Khôi Thanh Quang Quý thuộc bố cục Cự Cơ Đồng có sao Thiên Cơ và Thiên Đồng là hai sao dễ bị ảnh hưởng bởi tác động của Hóa Kỵ. Ở đây do cách cục tốt nên Hóa Kỵ là Kỵ Khôi thành cách cục kỳ lạ. Cách cục Âm Dương ngộ Nhị Không nay lại thêm Tuần thành cách Tam Không tức chữ Vong hình thành cách cục đặc biệt. Thực chất ở tùy từng nơi có những hoàn cảnh chữ Không mà tương ứng với cách cục. Ở nước ta có chuyện tu đạo để lĩnh ngộ chữ Không, có việc xem các môn huyền học về cuộc đời của bản thân vì vậy Không Vong tác động không như những nơi không có thì đương số dễ rơi vào cái gọi là trầm cảm, chữ Không khiến cuộc đời không lối thoát mặc dù thực chất bản thân tức cung an Thân hay cung Hạn vẫn còn dấu hiệu sống. Qua nghiệm lý được các lá số nước ngoài thấy việc Tam Không khó có thể được dụng bởi những hoàn cảnh vốn có của môi trường, vì vậy rất khó khăn, thực tế có nhiều trường hợp phải vong mạng bởi chữ này. Đương số may mắn ở việc có khuynh hướng tu đạo theo chữ Không. Bộ Tam Không là bộ sao uy lực nhất trong Tử Vi, có thể biến những cái vô lý, dị biệt, khó hiểu thành sự thật. Người viết trước đây đã đưa một trường hợp một cao nhân thuộc khí công có khả năng rất đặc biệt, ông ta cũng hay nhắc tới không không có có, sinh sinh tử tử thực chất cũng là mệnh Thiên Lương gặp Tam Không. Lá số thành công đột biến tạo nên sự nghiệp lớn có Tam Không cũng ngày càng nhiều khi trên mạng dễ tìm thấy những thứ dụng được chữ Không, cũng sao Thiên Hư ngày nay mạng ảo dụng được sao này khiến một số Tang Hư Khách rất đắc chữ phú.

Friday, April 7, 2017

Thái Dương cư tại vị trí Thìn Tuất (phần 2)



Thái Dương cư tại vị trí Thìn Tuất (phần 2)


Sao Thái Dương nằm trong bộ Cự Nhật nên luận đoán khi phối hợp với bàng tinh, đặc biệt là các sao an theo bộ như Thanh Phi Phục, Lộc Tướng Ấn, Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách cần xét rõ trường hợp các sao đồng cung với Chính tinh và ý nghĩa phối hợp toàn bộ tổ hợp. Thái Dương cư Thìn cần thiết nhất gặp cách Thanh Phi Phục đặc biệt Thanh Long đồng cung với Thái Dương như trường hợp cư Thìn của tuổi Đinh, Kỷ có giá trị lớn khi nhập cung Thiên La khiến danh tiếng vang xa vì ở đây hình thành cách truyền khẩu. Cũng khiến Thái Dương tăng sự cơ mưu, túc trí với những bí mật của Thiên Phủ tại vị trí nhị hợp. Trong trường hợp thứ hai cũng rất hay ở tuổi Giáp với Thanh Long cư Tí đồng cung với Cự Môn hình thành cách Cự Thanh lời nói được ủng hộ. Sao Cự Môn hợp với bộ Thanh Phi Phục đặc biệt là cách Cự Thanh và Cự Binh mang ý nghĩa hay với cách phản đối, cự tuyệt của Cự Môn. Thái Dương ở đây không hình thành đủ bộ Âm Dương mà chỉ là cách Cự Nhật có bên ngoài là Thái Âm xung, cần thiết nhất gặp cách Khôi Việt đặc biệt trong trường hợp cư Tuất có Thái Dương tối cần thiết tăng giá trị cho sao này. Thái Dương cư Thìn gặp tuổi Ất, Kỷ có bộ Khôi Việt tam hợp bổ trợ cho cách Cự Nhật. Với tuổi Ất có Lộc Tồn cư Mão, bản cung có cách Dương Kình thiên về tính dương thái quá, tăng tính tranh đoạt, tranh đấu cho cách cục Cự Nhật phản đối về mặt tai họa. Về công danh bộ Cự Nhật rất hỉ được cách Kình Hao chủ sự thay đổi sau khi tranh đấu khiến Cự Môn hợp cách, đây là cách thay đổi liên tục để tạo bất mãn mới để phát triển đi lên. Đối cung có Thái Âm hóa Kỵ gặp rắc rối với bên ngoài. Với tuổi Kỷ được Thanh Long cư Thìn có thêm bộ Khôi Việt rất tốt đẹp. Bộ Khôi Việt ở tuổi Tân cư tại vị trí cung Ngọ Dần. Mệnh Thái Dương cư Tuất tại đây là trường hợp Thái Dương tuy tối tăm nhưng được bàng tinh trợ giúp hợp cách vì được bộ Khôi Việt và theo tứ hóa Cự Nhật Khúc Xương có bộ Quyền Lộc, đặc biệt tuổi Tân tối hỉ Cự Môn.


Cự Môn là sao có tính chấ rất mạnh, chủ tài năng nhưng khuyết điểm lớn khi hóa thành Lộc tính chất hiển hiện, giảm thiểu tính xung đột của cách cục. Với tuổi Đinh có Lộc Tồn cư Dậu, mệnh gặp Kình Dương cư Tuất. Bố cục Cự Nhật tại Tuất gặp Kình Hao gia Khôi Việt Quyền Lộc mới xét Thiên Can đã thành lập ra nhiều cách hay. Cần thêm Phượng Khốc, Tả Hữu, Xương Khúc khiến mệnh trở thành thượng cách. Thái Dương cư Thìn Tuất gặp Không Kiếp không mấy xấu, đặc biệt là trường hợp đơn thủ tam hợp mệnh gây tác họa nhỏ không ảnh hưởng lớn. Thái Dương cư Thìn Tuất xét với câc sao an theo Địa Chi cần thiết nhất gặp bộ Phượng Khốc. Thái Dương gặp Tang Hư Khách và Tuế Hổ Phù đều có những ưu điểm riêng. Trường hợp đồng cung với Thiên Hư hay Thái Tuế mang ý nghĩa hay. Thái Dương cần thiết gặp Xương Khúc tăng ý nghĩa về tinh thần, tăng nhiệt huyết và sự hiểu biết. Thái Dương cư Thìn Tuất các cung độ khi đi qua Hạn khó đạt được nhiều thành tựu, hạn có bộ Phủ Tướng và Cơ Nguyệt Đồng Lương thường gặp điều tốt đẹp hơn các Hạn khác.  Ở cung đại hạn thứ hai gặp cách Vũ Sát cư Mão Dậu hay gặp cách vô chính diệu có bộ Phủ Tướng mang ý nghĩa khác nhau tạo ra hai hướng đi cho tổng thể mệnh tạo. Thái Dương độc tọa có thể theo võ cách binh nghiệp hay văn cách đều hợp. Nếu bố cục Chính Tinh và Bàng Tinh có tính quyền sát kỵ theo võ nghiệp hoạch phá thất thường. Nếu gặp văn tinh theo văn cách sự nghiệp bớt thăng trầm hơn.

Thái Dương cư tại vị trí Thìn Tuất



Thái Dương cư tại vị trí Thìn Tuất


Cung độ Thìn Tuất là cung độ đặc biệt của Tử Vi khi có bộ La Võng nhập tại đây. Thái Dương cư Thìn Tuất thuộc cách Cự Nhật với Cự Môn tại Tí Ngọ khá tốt nếu nhìn từ bản cung của Cự Môn. Thái Dương khi đi với Cự Nhật hình thành cách cục đầy đủ chủ sự bất mãn, luôn có tính chất đòi hỏi sự công bằng trong xã hội, trái ngược với Cơ Nguyệt Đồng Lương thường tìm thấy niềm vui hưởng thụ của cuộc sống. Cách Cự Nhật do tính chất này thường nắm ở vọ trí đứng đầu, có tính gánh vác và chịu trách nhiệm. Ở vị trí của Thái Dương tính mâu thuẫn không do chính bản thân tạo ra mà có thể do hoàn cảnh khác với việc Cự Môn thủ mệnh, tuy nhiên được phần tốt là việc bản thân ít phải chịu tính chất hay lo âu, cự cãi thị phi như trường hợp Cự Môn không tốt đẹp. Thái Dương cư tại cung độ Thìn Tuất tính chất khác nhau, đối xung là sao Thái Âm hình thành cách Nhật uyệt Chiếu Bích có La Võng là cách nếu tốt danh tiếng vang dội và khi xấu uế danh cũng vang xa. Cách cục này mạnh hơn ở tính quan hệ bên ngoài xã hội. Thái Dương chủ sự chính trực, công khai, sự tốt đẹp hướng khi khi tại vị trí sáng tức ở tại cung Thìn. Tại vị trí cung Tuất gặp nhiều khó khăn và phải cần nhiều thời gian trải qua khó khăn để có được thành công. Thái Dương cư Thìn là tự hào với bản thân và Thái Dương cư Tuất là chịu thiệt ban đầu. Cách suy nghĩ của hai vị trí này cũng khác biệt khi một bên luôn suy nghĩ tích cực và có niềm tin trong khi bên Thái Dương cư Tuất thường suy nghĩ theo hướng tiêu cực ở trong trường hợp chỉ xét chính tinh. Nhị hợp với sao Thái Dương là Thiên Phủ độc tọa tại cung Mão Dậu.


Ở đây sức mạnh bao phủ, tính bảo mật của sao này không lớn tức Thái Dương tính dương thường công khai và che giấu không kỹ càng ở phe mình, trong khi bên ngoài có Thái Âm có tính ẩn lớn kết hợp La Võng, khiến Thái Dương càng cần thiết ở vị trí sáng. Trường hợp tốt là lộ ra tình thương hay sự tương trợ của ta ra bên ngoài có Cự Nhật là đòi quyền lợi cho người khác. Trường hợp xấu là ta bị bên ngoài che đậy và chỉ sống trong bất mãn, tối tăm. Bộ Âm Dương cư Thìn Tuất trong bối cảnh tinh hệ Tử Vi đồng độ với Phá Quân tại cung Sửu Mùi. Cách này đặc biệt phù hợp hơn với thời chiến tình hình xã hội loạn lạc nếu đắc cách chính ta là nguyên nhân và là người giải quyết mâu thuẫn xung đột này. Tuy nhiên trong thời bình với tinh hệ Tử Phá cần phải nỗ lực lớn để gặt được thành tựu trong khó khăn. Như việc Âm Dương cư Thìn Tuất của Tưởng Giới Thạch, ông ta rất ham mê và tin tưởng thuật số, toán mệnh. Với Thái Âm cư Thìn tuy hãm được Vũ Khúc là sao chủ võ cách và phương án, giải pháp nhị hợp và như đã luận ở trên ở đây Thái Âm có lợi hơn Thái Dương, khi nhập lạc hãm tính chất ám, ẩn gia tăng đặc biệt khi nhập La Võng nếu gia cát khiến cách cục có lợi trong thời loạn lạc. Nhiều câu phú đưa ra cách Âm Dương Thìn Tuất cần phần biệt trường hợp câu phú nhắc đến mệnh có sao Thái Dương hay Thái Âm để luận đoán được chính xác. Các hạn trong tinh hệ Tử Phá thường không mấy hay, tăng khuyết điểm là sự bất mãn cho cách cục nhất là khi đáo hạn Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm mang tính chủ chốt của bố cục.

Friday, March 31, 2017

Lá số Thái Dương cư Tí (phần 2)



Lá số Thái Dương cư Tí (phần 2)


Thực chất sao Cự Môn không ngại gặp Không Kiếp, đặc biệt khi gặp Địa Kiếp đơn thủ vì Cự Môn chủ sự phản kháng trong khó khăn, bất mãn trong hoàn cảnh tai họa và tìm ra được lối đi thoát khỏi bất mãn ấy đặc biệt khi có Song Hao thay đổi hợp cách vì Cự Môn là tài năng lớn có thể thích nghi tìm ra các tai họa Không Kiếp gây ra. Trường hợp ở đây Cự Thanh có tính biến hóa, cũng chủ là cách Lão Bạng Sanh Châu càng lớn tuổi càng thâm mưu, ở đây là do tiếp thu các mâu thuẫn và có kinh nghiệm từng trải vượt qua các bất mãn nhờ tài năng của Cự Mion nên luận là hay. Nhưng Cự Môn tại đây lại có Tang Kiếp Khốc khác với chỉ có Địa Kiếp. Xét tới cung an Thân tại Tuất có Thiên Đồng tọa thủ đầy đủ bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, bản cung có Linh Hổ Ấn, cung an Thân kỵ gặp Linh Tinh và Bạch Hổ là cách xấu, tuy ở đây có cách Đồng Linh chủ dễ linh ứng, khả năng linh tính trước tốt xấu mạnh nhưng Thiên Đồng gặp hai vòng Tuế Hổ Phù và Lộc Tướng Ấn lại có Thiên Không, xung chiếu là Địa Kiếp tạo tai họa bên ngoài hình thành cách " Lộc Đảo Tuế kỵ ngộ Kiếp Không". Ở đây Thiên Không đồng cung với sao may mắn và chủ thọ là Thiên Lương ở vị trí tốt đẹp mang ý nghĩa là cách cục không may, lại có bộ " Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh xâm phá". Bản cung an Thân có yểu cách là sao Linh Tinh và Bạch Hổ. Chỉ còn một may mắn nhỏ là cung Phúc Đức có Cơ Âm ở vị trí hãm tọa thủ ngộ Tuế Lộc tại bản cung là cách hay, cứu vãn cho cung độ quan trọng này nhưng xét chung tổ hợp có ý nghĩa xấu tác động qua lại khiến cung Phúc Đức gặp tai họa do Thiên Lươmg tại Thiên Di, tai họa do ra bên ngoài gặp điều không may, cũng vì lý do tương tác với nhau nên Phúc Phối Di mới tam hợp lẫn nhau. Ở lá số này đúng câu nói Mệnh tốt không bằng Thân tốt, Thân tốt không bằng Hạn tốt. Ở đây xét vòng đi của Đại Hạn rất hay, khi ban đầu bản mệnh và bản thân gặp những tai họa do tính cách, suy nghĩ ban đầu nhưng chuyển đổi, biến đổi được cứu vãn cho tới bây giờ. Chứng minh cho toàn bộ lá số tử vi mới có ý nghĩa là số mệnh, không phải chỉ cung Mệnh Tài Quan hay cung an Thân quyết định thọ yểu của đương số, đã có bài viết tác giả quy cung Mệnh cũng là một Đại Hạn nhưng sơ khởi có tính chất quan trọng hơn đánh dấu tư tưởng ban đầu về thói quen tác dụng tới các hạn tiếp theo.


Lúc nhỏ gặp nhiều tai ương họa ách và trầy trật trong cuộc sống khiến đương số cảm thấy bi quan, tự ti với cuộc sống nhưng đi đến đại hạn thứ hai cuộc sống đã trở nên tốt đẹp trở lại so với lúc thuở nhỏ. Đại hạn này có Thiên Phủ ngộ Tuần Khôi Hồng có Thiên Tướng là bộ Phủ Tướng đơn thủ thêm Xương Khúc Triệt ở vị trí tam hợp. Thiên Phủ ngộ Tuần, tam hợp có Triệt là cách cục không mấy tốt, tuy nhiên do Tuần tại bản cung không mấy xấu như việc có Triệt ngộ Thiên Phủ, ở đây là cách bị gò bó, soi mói nhưng có bộ sao quan trọng Khôi Hồng thêm Xương Khúc khiến bộ sao chủ trợ giúp, tương trợ này trở nên có tác dụng lớn hơn. Hạn này tinh thần và sự trợ giúp tới bản thân nhiều và đương số bước đi nhẹ nhàng qua hạn. Tới đại hạn thứ ba tại cung Phúc Đức gặp Cơ Âm ngộ Lộc Tuế tại bản cung có Không Hỏa đi với Thiên Lương tam hợp gặp tai họa khi đi đường, tuy nhiên không chết. Ở tiểu hạn năm Tuất và năm Dần tai họa đến ngay tức thì. Sang đại hạn thứ 3 vào cung Điền Trạch được đánh giá tốt nhất khi có Tử Tham tọa thủ ngộ Khoa Quyền Lộc giao hội thêm Đại Kình Việt Tả Hữu Thai Tọa có tính bạo phát rất mạnh, đương số phát nhanh vào hạn này do đã chịu qua khó khăn từ trước khiến trắc trở của Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham biến thành sức hoạch phát khiến đương số gặp thời lên vị trí rất cao trong sự nghiệp, địa vị ở mức cao trong xã hội được nhiều người kính nể, liên quan tới vi phạm pháp luật tức cách Kỵ Hình Tang Kiếp được đắc ý khi nhập hạn mà có được tiền của và xây dựng được quan hệ. Cũng chứng minh rằng việc có được phú quý cũng phần nhiều do Hạn quyết định, nếu Hạn mạnh hợp với Mệnh thì chỉ trong mười năm có thể thành tựu gây dựng được cơ đồ hơn một kiếp người. Tuy nhiên cuộc vui không được bao lâu khi đại hạn tiếp theo báo hiệu một tai họa rất lớn khiến cách cục sụp đổ. Bước qua đại hạn này mới năm thứ hai và tìm tới Tử Vi. Những người nhờ xem Tử Vi đa phần là đang gặp hoàn cảnh khó khăn phải trải qua.

Sunday, March 12, 2017

Một số câu phú hay về bộ Âm Dương



Một số câu phú về bộ Âm Dương


Bộ Âm Dương thuộc cách Âm Lương gia Thái Dương. Sao Thái Dương có thể giao hội với Âm Lương Cự. Trong khi Cự Môn đi với Cơ Đồng Dương. Chia nhỏ ra ta được cách Cơ Đồng, Âm Lương, Cự Nhật. Bộ Âm Dương được luận đoán nhiều trong Tử Vi. Ta có câu phú sau: "PHÚC CƯ MÙI ĐỊA ÂM DƯƠNG HỖN HỢP KHÔNG TINH NHƯỢC NHÂN SINH TỰ THƯ THỜI KIÊM HỘI VĂN TINH QUYỀN LỘC ĐA PHÁT BẢNG KHOA, NHƯỢC HỘI KÌNH ĐÀ, HÌNH ẤN, HIỂN ĐẠT VÕ CÔNG; HỒNG KIẾP LAI SÂM TUẾ THỌ NAN".
Ở đây luận ở cung Phúc Đức nhưng xét riêng tổ hợp cho ra tính chất của cách này như đóng tại cung Mệnh. Ở cung Mùi bộ Âm Dương đồng cung, tuy nhiên được luận hỗn hợp mang ý nghĩa không tốt đẹp. Âm Dương cư Mùi ngộ Không Tinh tức Tuần, Triêt, Thiên Không như việc bản thân ở rõ ban ngày trời đang sáng. Thái Dương ở cung Mùi thường luận ở vị trí tối ngộ Không Tinh trở nên tốt đẹp trở lại. Nếu được Văn Tinh tức Xương Khúc trong trường hợp này ngộ Quyền Lộc thường phát ở khoa bảng. Nếu gặp Kình Đà, Hình, Ấn theo nghiệp võ tốt đẹp. Nhược như gặp Hồng Kiếp thì khó được thọ. Ở trường hợp nhất đề cập tới cách phát văn. Khi đó cần giao hội với Xương Khúc đắc lực cho Âm Dương thêm Quyền Lộc khả năng phát về khoa bảng, danh vọng. Trường hợp thứ hai thuộc võ cách, gặp Kình Đà hoặc Hình Ấn.  Nếu gặp Kình Đà chỉ tại tuổi Quý với Kình Dương cư Sửu và Đà La cư Hợi. Cách này có Thái Âm hóa Khoa. Đặc biệt có Thiên Khôi cư Mão thành cách Kình Khôi Khoa chủ tranh đoạt danh tiếng khá hay. Với cách gặp Hình Ấn có thể tuổi Nhâm hoặc tuổi Ất. Với tuổi Nhâm được Hóa Lộc, Thiên Việt hình thành bộ Song Lộc Việt Hình Ấn. Với tuổi Ất có Thiên Lương hóa Quyền Hình Ấn. Ba cách trên đều thích hợp võ nghiệp. Nhược gặp bộ Hồng Kiếp, tức cách tai hạn lớn gặp nguy hiểm.
"DƯƠNG ÂM THÌN TUẤT NHẬT NGUYỆT BÍCH CUNG NHƯỢC VÔ MINH KHÔNG DIỆU TU CẦN, SONG ĐẮC GIAO HUY, NHI PHÙNG XƯƠNG, TUẾ, LỘC, QUYỀN, THAI, CÁO, TẢ, HỮU, NHẤT CỬ THÀNH DANH, CHÚNG NHÂN TÔN PHỤC".
Bộ Âm Dương tại Tuất Thìn tức phản bối cần thiết được Không Diệu tức Triệt, Tuần, Thiên Không. Nếu thêm Xương Tuế Lộc Quyền Thai Cáo Tả Hữu tức thành công toại mãn, được chúng dân tôn phục. Ờ đây không gặp trường hợp có Thiên Không vì có sao Văn Xương tại cường cung. Cách cục này hay do bàng tinh tốt đẹp, Âm Dương phản bối lạc hãm có được Không Tinh trợ giúp. Vì vậy, bộ Nhật Nguyệt hãm cần thiết gặp Không Tinh.
"NHẬT TẠI TỴ CUNG NHẬT MỸ HUY THIÊN, KIÊM LAI LỘC MÃ TRÀNG TỒN PHỤ BẬT THẾ SỰ THANH BÌNH VI ĐẠI PHÚ NHƯỢC KIÊM TƯỚNG ẤN BINH HÌNH VÔ LAI TUẦN TRIỆT LỌAN THẾ CÔNG THÀNH".
Thái Dương cư cung Tị thuộc cách Nhật Mỹ Huy Thiên, sáng đẹp ở trời gặp Song Lộc Mã Phụ Bật là cách đại phú khi thời bình. Nếu gặp Binh Hình Tướng Ấn không có Tuần Triệt thời loạn công thành mà tạo nên thành tựu hiển hách. Cách Không Tinh chỉ tốt cho bộ Âm Dương lạc hãm, gặp Âm Dương miếu là cách xấu.

Friday, March 3, 2017

Luận Thái Dương cư 12 cung



Luận Thái Dương cư 12 cung


Sao Thái Dương thuộc hành Dương Hỏa, thuộc nhóm sao Cự Nhật giao hội được với Âm Lương Cự tạo thành cách Âm Dương Lương hoặc Cự Nhật cách. Thái Dương không giao hội với nhóm sao Cơ Đồng. Với Cự Môn ngược lại không thể đi với cách Âm Lương. Thái Dương và Cự Môn chia rẽ thì trên lá số Tử Vi cách Tử Vũ Liêm được bộ Phủ Tướng hình thành cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham hoàn chỉnh. Thái Dương luận tính chất tại 12 cung độ không để tới vị trí Sáng Tối đặc biệt của bộ Âm Dương chia làm 6 cách cục Chính Tinh. Thái Dương độc tọa tại cung Tị Hợi, khi đó Thái Âm tại Dậu Mão và Thiên Lương cư Sửu Mùi tam hợp chiếu. Thứ hai, cách Thái Dương cư Tí Ngọ có Cự Môn tại La Võng tam hợp. Thứ ba là cách Âm Dương đồng cư Sửu Mùi. Thứ tư là cách Cự Nhật đồng cung tại Dần Thân. Thứ năm, Thái Dương đồng cư Thiên Lương tại Mão Dậu. Cuối cùng là cách Thái Dương cư Thìn Tuất có Cự Môn tại Tí Ngọ. Các cách cục trên có ba cách của Cự Nhật và ba cách của Âm Lương. Tính chất khi Thái Dương đi với Cự Môn hay Âm Lương hoàn toàn khác nhau về tính chất của cả tổ hợp. Tiếp đến vị trí của Thái Dương, luận tới cách cục sau khi có tính chất ban đầu hội họp với bàng tinh cho ra kết quả. Thái Dương có Cự Môn đồng cung hay tam hợp gọi chung là Cự Nhật cách. Còn lại là cách Âm Dương Lương. Ở cách Cự Nhật, sao Thái Dương có khuynh hướng dẫn đầu, đứng đầu, có chứa tính công khai và phản kháng. Cách Cự Nhật có tính chất đặc biệt, chủ tài năng có cơ hội phát triển, mang tầm hiểu biết rộng sâu do sự bất mãn của Cự Môn khám phá, nếu được Hình hay Quyền thích hợp làm luật sư hoặc các công việc liên quan tới tiếng nói. Tài năng của cách Cự Nhật chủ yếu do tính chất sao Cự Môn, sao này lục hội sánh với Tử Vi. Cự Môn còn là ngôi sao chủ nhà đất, khi đi với Thái Dương là cách nhà cửa là điểm mạnh, nhô ra khi nhắc tới bản thân. Cự Nhật có tính mở rộng, đột phá.



Cự Môn giỏi các việc chuyên môn và tài lãnh đạo do sự tìm hiểu những thứ sai sót của Tử Vi để phản đối, phản hồi. Cách Cự Nhật phân rõ việc Thái Dương ở vị trí sáng hay tối, như Nhật cư Tí là cách cục xấu, chủ sự khó khăn trắc trở vì không thể dương ra, Thái Dương khi hãm là xấu. Khi đắc có tính phô trương, công khai, nhiệt huyết. Nếu trường hợp Dương hãm cách Cự Nhật chủ sự chịu đựng bất mãn, cách hãm tài tức tài năng không được bộc lộ, không thể hiển dương. Thái Dương có Cự Nhật không nên ở vị trí tối, nếu không cần thiết có Quyền Sát Kỵ chủ hóa khí Ám thành Quyền, cách này tính hoạch phát mạnh nhưng mang lại tai họa lớn do Thái Dương không có tính đề kháng với Sát Kỵ. Như Thái Dương cư Tí có Cự Môn tại Thìn nhập Thiên La có cách Khoa Quyền Kỵ Linh Hình Khốc là cách cục mạnh, Thái Dương lúc này chuyển hóa tính chất về tính Quyền ngầm, hạn đáo Không Kiếp hoặc hạn xấu khác dễ gặp nguy hiểm. Khi Thái Dương giao hội với cách Âm Lương hiền hòa hơn. Tuy nhiên, tính sáng của Thái Dương ở các cung ban ngày vẫn đặc biệt quan trọng. Do tồn tại chung bộ Âm Dương nên khi một sao hãm, sao còn lại cũng nhập vị trí bất lợi. Như cách Thái Dương cư Hợi có Thái Âm tại Mão, cả hai sao đều xấu, Thiên Lương lúc này kém may mắn, không được hưởng thụ tinh thần hay vật chất nên công danh tới muộn thuộc cách giáp Liêm giáp Sát tuổi tác cao mới có địa vị. Tính chất của cách này liên quan tới tính hưởng thụ, bộ sao này mang tính hiền hòa, không giỏi tranh đoạt như có Cự Môn nên cần thiết có cát tinh Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt. Nếu gia Sát, Thái Âm có thể hóa một số cách thành âm ám chủ quyền ngầm nhưng không mạnh như Cự Nhật cách. Cách này rất quan trọng vị trí sáng tối của Âm Dương. Sao Thái Dương cần thiết nhập các cung ban ngày và tránh các Ám Tinh như Đà, Kỵ.

Saturday, February 25, 2017

Cự Nhật Dần Thân thủ mệnh



Cự Nhật Dần Thân thủ mệnh


Cự Môn và Thái Dương đồng cung tại Dần Thân là cách cục khá đặc biệt khi đầy đủ bộ Cự Nhật và cả ba cung Tài Bạch, Quan Lộc và Thiên Di đều vô chính diệu. Chỉ hai sao Cự Môn và Thái Dương nhưng đầy đủ tính chất của một nhóm sao. Đặc biệt ngôi sao Cự Môn thủ Mệnh dù cách cục xấu tốt nhưng luận khác biệt với các chính tinh khác. Cự Môn khi tốt là đứng đầu thiên hạ, không cần thiết sự trợ lực như Tử Vi cần thiết có Phủ Vũ Tướng Liêm mà Cự Môn có tính chất đặc biệt để được gọi là tài năng và quản lí đầy đủ cả nhóm Cự Nhật. Tính chất của Cự Môn chủ sự bất mãn, phản đối, luôn đẩy nhanh quá trình phát triển và uyên thâm hiểu rõ về các mặt. Sao Cự Môn chỉ cần Thái Dương hình thành Cự Nhật tức ngọn cờ giương lên. Cự Môn do am hiểu những vấn đề một cách sâu rộng nên luôn lục hội với Tử Vi. Cự Môn trở thành người đứng đầu bằng đa phần đưa tính phản kháng, bất mãn với lý tưởng của Tử Vi ra quần chúng. Ngay cả trong trường hợp lý tưởng của Tử Vi tốt đẹp, Việc xây dựng thì khó nhưng tìm cách phá phách của Phá Quân hay phản đối của Cự Môn thường được quần chúng ủng hộ hơn. Vì vậy, khi có vua Tử Vi mọi nơi luôn sinh ra kẻ phá phách là Phá Quân và làm phản là Cự Môn. Trường hợp nhỏ hơn là Tử Vi làm việc xây dựng một việc, Phá Quân phá hoại và Cự Môn làm phản. Cự Môn là ngôi sao tài năng, lại thường có được tất cả Tử Vi có nhờ lời nói. Cách Cự Nhật chủ lời nói được giương ra, công khai. Cự Môn và Thái Dương đồng cung tăng nặng tính chất công khai của cách này. Tốt là được nghe theo, hưởng ứng. Xấu là bị chê bai, ghét bỏ.



Do cách Cự Nhật cả ba cung quan trọng không có chính tinh tọa thủ nên tính biến đổi thất thường. Cách cung VCD có hung tinh độc thủ như Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp đặc biệt là Tuần Triệt lấy các sao này làm tính chất chính để luận. Thực ra đây là việc hiển nhiên khi tất cả cách cục cuối cùng chỉ quay về bản chất là sự biến đổi tính cách. Với Chính Tinh là tính cách ban đầu và phụ tinh như cành lá sai biệt muôn vẻ cho cái gốc. Với hung tinh độc thủ tại bản cung tính chất tác động mạnh không thua kém chính tinh. Như mệnh có Kình Dương ngay cả khi có Chính Tinh tính chất của Kình vẫn không thua kém, ít bị biến đổi ở đặc tính tranh đoạt, chống đối. Cự Nhật chủ sự phản đối cần thiết có Phượng Các, đặc biệt là bộ Tuế Phượng chủ cả thái độ của bản thân được sự tôn trọng và ngưỡng mộ. Cự Môn là sao cần thiết chuyển hóa thành Quyền khiến tính Ám thành ngầm. Các sao khác thích hợp như Thanh Long chủ danh tiêng, Quyền Khốc, bộ Khoa Quyền Lộc. Cự Nhật có cách cách trên chủ có được sự danh tiếng do lời nói mà thành. Cách này không mấy kị bộ Không Kiếp, trừ phi là Không Kiếp có Hỏa Linh. Đặc biệt với Kình Đà thích hợp với cách Cự Nhật.

Monday, February 13, 2017

Luận về Âm Dương trong tử vi



Luận về Âm Dương trong Tử Vi


Âm Dương là hai mặt thể hiện của vạn vật. Trong một vật luôn tồn tại cả Âm và Dương. Trong Tử vi cũng mô tả lý thuyết Âm Dương lên lá số Tử Vi. Tuy nhiên bài này bàn đến bộ Âm Dương hay gọi là Thái Âm và Thái Dương trong Tử Vi. Tất nhiên không ngạc nhiên khi ở sao Thái Dương lại có các đặc tính Âm và ngược lại. Thái Dương chủ nam giới, công khai, hướng tới, chính trực, mạnh bạo. Thái Âm chủ nữ giới, âm thầm, thu lại, nhẫn nại, dịu dàng. Vì vậy từ tính chất cơ bản là Dương và Âm nên các sách viết Thái Dương là Quyền. Thái Âm là Lộc. Các bàng tinh đi cùng bộ Âm Dương cũng gây nên thay đổi tính lý ban đầu của hai sao này. Nói đến trong Thái Dương có âm vì trong tử vi tất nhiên cũng tuân theo quy luật Âm Dương, Thái Dương luôn đi với một sao chủ âm tính. Hoặc đi với Cự Môn mệnh danh là Ám Tinh, hoặc đi với Thái Âm. Thái Âm luôn tam hợp với Thiên Lương chủ may mắn, lương tâm, trong sáng, là Ấm tinh. Khi đi với các Bàng Tinh tính chất cương nhu thay đổi càng mạnh. Thái Dương hãm cũng mang tính Âm và ngược lại. Trong Mệnh nên có cả bộ Âm Dương hay hơn chỉ có một sao. Bộ Âm Dương thường được luận một tính chất chính không bằng chiếu. Khi được Âm Dương chiếu dễ đủ các sao của một trong hai bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương hoặc Cự Nhật. Việc lý luận Nhật Nguyệt chiếu thì tốt hơn như mặt trăng và mặt trời cũng có ý khi cho rằng người quan trọng thường được chiếu, nếu bản thân là kẻ chiếu sáng cho người thì không hay, chủ không được công nhận. Tuy nhiên, theo cấu trúc phân bố của Chính Tinh thì cách thứ nhất hợp lí hơn vì mang ý nghĩa thực tế. Mệnh có Âm Dương thực chất là bộ Âm Lương gia Thái Dương. Do các cặp phụ tinh thường có tính chất đối ngẫu như Khôi Việt, Tả Hữu, Xương Khúc,... nên phù hợp với cả hai sao Thái Âm và Thái Dương.


 Như sao Văn Xương thì hợp với Thái Dương và Văn Khúc hợp với Thái Âm. Âm Dương ngộ Xương Khúc là nghệ thuật cách, cũng chủ tinh thần vui vẻ, ngày tháng vui vẻ. Văn Xương có tính Dương, Văn Khúc có tính Âm.
" ÂM DƯƠNG HỮU XƯƠNG KHÚC NHI ĐẮC LỰC".
 Bộ Âm Dương đi với Khôi Việt cũng luận là cách hay.
" NHẬT NGUYỆT PHẢN BỐI HÀ VỌNG THANH QUANG TỐI HỈ NGOẠI TRIỀU KHÔI VIỆT".
Đi với Tả Hữu cũng tốt đẹp. Tả Phù mang Âm tính, Hữu Bật mang dương tính. Bộ Âm Dương khi gặp một số cặp Sát Tinh gây tai họa lớn hơn. Như cách ngộ Kình Đà. Kình Dương chủ Dương, Đà La chủ Âm. Hai sao này phối hợp với Âm Dương hình thành cách chống đối hai phe, âm dương bất túc khiến
bệnh tật triền miên, cũng là cách nhân ly tài tán.
" DƯƠNG NHẪN BẤT NGHI NHẬT NGUYỆT BỆNH TẬT TRIỀN MIÊN".
Cách Âm Dương ngộ Hỏa Linh cũng là cách xấu tăng lên so với một sao, Hỏa chủ nóng, bộc phát. Linh chủ lạnh, âm độc nên tác động với Âm Dương gây chuỗi ngày tháng giận hờn, vô cảm. Ảnh hưởng mạnh tới tinh thần và công danh sự nghiệp. Bộ Âm Dương hãm ngộ Không Tinh là tốt, sáng ngộ Không Tinh là xấu. Không Tinh ở đây gồm Triệt. Tuần, Thiên Không. Duy Tuần Triệt cần án ngữ tại bản cung mới mạnh, nếu chỉ tam hợp tác dụng vừa phải, không lớn nhỏ. Mệnh có Âm Dương hỉ gặp bộ Tuế Hổ Phù, đặc biệt có Phượng Các hình thành cách Thái Tuế ngộ Âm Dương tức ngày tháng có lý tưởng sống, cũng là cách tình cảm chân thật. Bộ Âm Dương không sợ gặp Tang Hư Khách vì Thiên Hư và Điếu Khách hợp với Âm Dương. Tuy nhiên có Tang Môn dễ gặp chuyện buồn khi Thái Âm ngộ Tang Hổ, kỵ có Lưu Tang Hổ hay Lưu Kỵ nhập vào Mệnh. Cách Tang Hư Khách cho tinh thần không mấy hay bằng cách Tuế Hổ Phù.

Friday, December 23, 2016

Cự Nhật cách thủ Mệnh




Mệnh Cự Môn và cách Cự Nhật


Cự Nhật là cách được gọi chung khi Cự Môn đồng cung với Thái Dương hoặc tam hợp có Cự hoặc Nhật, Vô chính diệu có Cự Nhật xung chiếu. Nhóm sao Cự Nhật có tính chất khá đầy đủ tương tự như các nhóm sao lớn khác. Trường hợp Cự Nhật đồng cung, tam hợp hay xung chiếu giá trị luận giải khác nhau, bài viết này chỉ đề cập chung của cách Cự Nhật, không đi sâu từng vị trí. Nhóm Cự Nhật khi đầy đủ có các tính chất giao của hai sao Cự Môn và Thái Dương. Cự Nhật có tính chất cơ bản là sự phản kháng, phản đối, bất mãn công khai. Là cách dương lên, mở cánh cửa Cự Môn và tùy thuộc bàng tinh cho biết kết quả tốt hay xấu. Cự Môn là ngôi sao tài năng trong Tử Vi, cũng là ngôi sao bất mãn và thị phi. Cự Môn gặp Thái Dương tăng cường tính phản đối của sao này. Cự Môn luôn lục hội với Tử Vi và thay thế Tử Vi nếu không hoàn thành nhiệm vụ. Trong cuộc sống ta thấy nhiều sự thay đổi vị trí lãnh đạo khi đương chức, và nếu ở trường hợp bất ngờ thì đa phần nguyên do đã tạo quá nhiều bất mãn cho người dưới quyền hoặc cấp trên, có thể do năng lực, tính cách. Khi đó, vị trí lãnh đạo thay đổi và ngôi sao Cự Môn tốt đẹp lên đứng đầu. Khi có cả Thái Dương hình thành cách công khai lãnh đạo, tức Cự Môn có thực lực rất lớn, không cần che dấu. Vì vậy tính ám của Cự Môn biến mất, các sách thường ghi rằng Thái Dương sáng xóa đi tính Ám của Cự. Cự Môn là sao tài năng phản đối, cần thiết được công khai của Thái Dương để tránh thị phi và sự nghi kỵ của kẻ khác. Cự Nhật đối xung với Cơ Nguyệt Đồng Lương tương tự như Tử Phủ Vũ Tướng Liêm đối xung với Sát Phá Tham. Hai cách này không bao giờ giao với nhau tạp ra tính chất riêng biệt của Tử Vi. Bộ Cự Nhật thành công cần sự thay đổi của Song Hao, tức gặp cách Hao Kình hoặc Hao Đà. Cách Cự Nhật ngộ Kinh là cách rất hay vì Kình Dương chủ đấu tranh, chủ tấn công, dương lên, đứng đầu. Hình thành cách đứng đầu một nhóm người đến một tổ chức. Cự Nhật cũng là cách công khai mở cửa đi lên. Khi Kình Dương tốt chủ sự đi lên, tiến bộ, là sự thay đổi do có Hao. Cự Môn luôn cần thiết phải thay đổi, đây là ngôi sao ưa động, nếu luôn mang một sự bất mãn không thể xóa bỏ, thay thế rất xấu. Tính chất nhìn sự việc hai chiều tạo nên sự tài năng và hiểu biết của Cự Môn về các vấn đề vì luôn có cách nghĩ ngược lại, nhiều hướng để phản đối, suy nghĩ trong các trạng thái.



Đặc tính suy nghĩ nhiều mặt của Cự Môn khiến sao này rất kỵ gặp Hóa Kỵ thành cách lo nghĩ tào lao, cuộc sống mất tính ổn định. Hóa Kỵ là hóa khí bất lợi duy nhất của cả bộ Tứ Hóa, nhưng sức mạnh của Kỵ bao trùm tất cả các cách tốt đẹp khác. Nói cách khác Hóa Kỵ là động lực cho sự phát triển của vạn vật. Nhờ sự cản trở, cạnh tranh mà xã hội phát triển. Cá nhân cũng vậy, mệnh có Hóa Kỵ dụng được thì việc tạo nên kết quả cao hơn nhiều so với các cách tốt đẹp khác. Như người xưa đã từng nói, khi ta vui vẻ với cuộc sống và ngủ quên trên chiến thắng là lúc sự phát triển chậm lại. Sự tiến bộ dựa trên khó khăn, nghi ngờ và cản trở. Như Dịch Lí, quẻ Thái rồi lại đến Bĩ, hết hanh thông phải đến khó khăn, giải quyết được khó khăn xoay vòng hanh thông mới có thể tiến bộ. Cách Cự Kỵ có ưu điểm là luôn bất mãn để phát triển, tuy vậy cuộc sống theo số đông vẫn ưa thích sự thoải mái trong tinh thần và vật chất. Xu thế ưu ái của con người là hưởng thụ, vì vậy ảnh hưởng đến cả lời bình giải của các câu phú. Khi xem tử vi phải lấy đầu óc cân bằng xét rõ ý của tiền nhân thời xưa tôn vinh và hạ thấp việc gì trong xã hội đó và liệu có thật sự phù hợp với cuộc sống hiện đại bây giờ.



Tuesday, September 20, 2016

Cự Nhật Dần Thân tổng luận






Thái Dương và Cự Môn đồng độ ở vị trí Dần Thân


Cự Môn và Thái Dương đồng tọa tại vị trí Dần Thân thuộc nhóm sao CỰ NHẬT đầy đủ, khi đó cách CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG tại cường cung Phúc Phối Di cũng hoàn chỉnh theo. Do Mệnh có sao Thái Dương nên phân vị trí đắc lợi và hãm rõ ràng. Vì vậy cách Cự Nhật tại Dần hay hơn ở cung Thân vì được bộ Nhật Nguyệt sáng rất cần thiết cho hai cung Tài và Quan không có chính tinh tọa thủ. Bộ Nhật Nguyệt sáng hay tối rất quan trọng cho các cung VCD, ở đây lại có 3 cung Vô Chính Diệu từ Mệnh nhìn ra. Trong các nhóm sao lớn thì chỉ nhóm CỰ NHẬT cần 2 sao là đầy đủ, vì tính chất của Cự Môn đặc biệt hơn các chính tinh khác. Cự Môn là ngôi sao chủ khuynh hướng lãnh đạo, luôn Lục Hội với sao Tử Vi nên có những đặc tính và khả nằn tương đối quan trọng. Chỉ cần Cự Môn và Thái Dương đã có thể trở thành nhóm sao hoàn chỉnh. Trong Tử Vi thì Cự Môn là cái miệng, mang tính thị phi sẵn có, một số sách luận Cự Môn là ÁM TINH , tính Ám của Cự Môn chủ do miệng lưỡi, lời nói mà ra. Cự Môn thuộc nhóm sao mang tính chống đối khi đi với các bàng tinh chủ tranh đấu như Kình Dương. Do Cự Môn có tính chống đối, và bản thân cũng dễ ở vị trí thủ lĩnh, người đứng đầu nên mang tài năng lớn, nếu không gặp Sát Kỵ mà gia cát sự thành công rất lớn, không thua kém với nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hợp cách và hơn hẳn nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Vì vậy nên Cự Môn ở vị trí vĩnh viễn Lục Hội với Tử Vi.  Một Cự Môn tốt là dùng lời nói thu phục toàn bộ xã hội, là phản đối, can ngăn cho đến phản bội cái xấu. Như việc người đứng đầu chống lại Đảng chính trong các quốc gia nhiều Đảng phải. Cự Môn khi tốt còn là người thủ lĩnh của một phong trào, một tổ chức kinh tế,... và giành được quyền hành, giành quyền kiểm soát tính công bằng xã hội khi ngôi sao Tử Vi gây ra hành động sai trái. Như việc Quân Đội giành chính quyền khi ông tổng thống Lybia bị buộc tội tham nhũng, và kẻ bắt ngôi sao Tử Vi đứng đầu là Phá Quân đứng đầu, ngôi vị phần thắng là Cự Môn phản kháng đúng lên điều hành đất nước. Việc hạ bệ cũng hay diễn ra trên chính trường. Đây là khi Cự Môn hoàn toàn hợp cách cũng như Phá Quân và Tử Vi lên đứng đầu nắm quyền ở cấp quốc gia, còn bình thường trong đa số trường hợp Cự Môn chỉ có các đặc tính bình thường tùy theo bàng tinh quyết định. Cự Môn và Thái Dương là hai sao có thiên về tính chất mạnh, nếu mệnh Nữ Nhân không mấy hợp vì khả năng cự cãi, chống đối như đàn ông, và Thái Dương cũng chủ nam nên tính cách không được dịu dàng, nhẹ như bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương, kỵ gặp thêm các sao như Bạch Hổ, Kình Dương,.... Cách Cự Nhật và tất cả các cách Cự Môn đều hỉ được bộ Song Hao tọa thủ, tức Mệnh và Di, hay nhất là cách Hao Kình rất hợp, nếu có Hao Đà cũng gọi là hay vì Cự Môn hợp với cả bộ Kình Đà.
" Cự Cơ chính hướng hạnh ngộ Song Hao uy quyền quán thế"
" Cự phùng Dương miếu tốt thay thăng quan tiến chức vận này mừng vui".
Cự Môn tối kỵ gặp Lộc Tồn hình thành cách Cự Tồn tức luôn tồn tại bất mãn, cái phải đấu tranh, Mệnh luôn phải nhẫn nhịn, Lộc Tồn chủ tồn tại rất kỵ Cự Môn và Phá Quân. Cự Môn là sao chủ phản đối gặp Lộc Tồn có Bác Sĩ tính phản kháng lớn.
" Cự phùng Tồn tú cát xứ tàng hung".
Cách này tuy không hay nhưng vẫn tốt hơn cách Phá Quân ngộ Lộc Tồn. Cách CỰ NHẬT có LỘC TỒN cũng có một số đặc điểm hay về mặt tài sản của bộ Cự Nhật. Trường hợp Cự Môn đồng độ với Quốc Ấn tuy xấu nhưng tăng tính quan trọng của cách cục vì Quốc Ấn là sao chủ quốc gia. Cự Môn giao hội với bộ Phi Thành Phục có cách Cự Thanh và Cự Binh là hai bàng tinh hợp với Cự Môn, đồng cung với Phi Liêm tính thị phị tăng, dễ gây xấu thêm khi gặp Sát Tinh.
" Cự Nhật Dần cung, thiên môn nhật lãng, kỵ ngộ Lộc Tồn, ái giao Quyền Phượng".
Cự Môn và Thái Dương là hai sao cần gặp Hóa Quyền, cách Cự Nhật cũng là cách chủ về quyền thế nếu hợp cách. Tuổi Canh tứ hóa là Cự Nhật Khúc Xương rất ưa bộ Cự Nhật vì được Quyền Lộc, Cự Môn khi Hóa Lộc tính ám chuyển thành Lộc Ám như người viết đã đưa ra nhiều lần là Lộc cần phải Ám, không nên lộ. Thái Dương hóa thành Quyền chủ quyền lực.
" Tân nhân tối ái Cự Môn".
Tuổi Quý có TỨ HÓA là Phá Cự Âm Tham, khi đó Cự Môn hóa thành Quyền, sao Thái Âm hóa Khoa, cung Tài, Quan, Di được hưởng HÓA KHOA của sao Thái Âm. Cách Quyền Phượng hay vì Phượng Các luôn tam hợp với sao Thiên Khốc hình thành bộ Quyền Khốc có Phượng tính quyền lực lớn, chủ tiếng nói được trọng vọng, tiếng nói phản đối được hưởng ứng.


Cự Nhật cách rất kỵ gặp Hóa Kỵ. Tuổi Đinh có Cự Môn Hóa Kỵ hình thành cách CỰ KỴ có Triệt giảm thiểu đi thị phi của Cự Môn nhưng vẫn còn nhiều khuyết điểm. Qua kinh nghiệm cách Cự Môn hóa thành Kỵ có Triệt ít nguy hại như câu phú. Nếu có Khoa luận là cách Cự Kỵ Khoa tốt đẹp, gặp Thanh Long Lưu Hà càng hay.
" Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Hạn kỵ tương phùng".
Tuổi Giáp hình thành cách Thái Dương Hóa Kỵ, mệnh lập tại Dần có Lộc Tồn là cách cục xấu, hình thành cách Tồn Cự Kỵ chủ mệnh tạo là người lo tào lao, bản thân muốn thoát khỏi cách sợ hãi, lo lắng chuyện nhỏ nhặt nhưng không thể, gia thêm Không Kiếp tính nguy hiểm lớn dù Không Kiếp Dần Thân. Mệnh lập tại Thân tuổi Giáp lại là cách không mấy xấu, Thái Dương ở Thân hãm có Triệt ở vị trí Kim cung tốt, chủ triệt bỏ cái sai của Kỵ. Hình thành cách Phi Liêm ngộ Cự Môn không mấy hay nhưng được bộ Long Kỵ chủ cơ hội giá trị như Song Hao. Vì vậy đây là cách khá tốt, khác vị trí ở Dần. 

Saturday, September 10, 2016

Âm Dương Sửu Mùi luận giải









Bộ sao Âm Dương đồng độ Sửu Mùi


Cách cục Âm Dương Sửu Mùi là nơi bộ Âm Lương và Thái Dương giao hội với nhau, Thái Dương thuộc nhóm CỰ NHẬT và Âm Lương thuộc nhóm CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG, hai nhóm sao này  do Cự Môn đứng đầu về khả năng lãnh đạo. Vì vậy, bộ Âm Dương nên nhập miếu để có vị trí địa vị cao trong xã hội. Bộ Âm Dương Lương ở Sửu Mùi cách luận về tổ hợp sao như cách Âm Dương Lương ở Hợi Mão với cách Thái Âm ở Hợi và Dương Lương cư Mão. Việc xét về bản cung Mệnh có tính đại đồng tiểu dị khi một bên là Thượng Cách của cả ba sao Thái Dương, Thiên Lương và Thái Âm. Cách Âm Dương Sửu Mùi không được như vậy, bộ Âm Dương không tối hãm nhưng không nhập miếu. Bộ sao Âm Dương phân miếu hãm rất rõ ràng, trừ cách bàng tinh sai biệt mới phân nếu không cách cục định cao thấp hoàn toàn khác nhau. Vì như Thái Dương nhập miếu ở Mão Thìn Tị Ngọ đều mang tính uy quyền, Dương sáng chủ tính Quyền, Vượng thể hiện rất rõ.  Thái Âm sáng biểu tượng là Tài, Vượng. Và bộ Âm Dương còn biểu hiện cho tinh thần của lá số. Đây là một lí do quan trọng để cách TỬ VI cư Ngọ hay hơn cư Tí khi bộ Âm Dương ở vị trí tốt đẹp nhất. Tuy vậy việc quyết định là ở phụ tá tinh trợ giúp như đã từng phân tích rất nhiều lần. Một Âm Dương đồng cung có Tuần án ngữ tại cung Mệnh tốt hơn một Âm Dương Lương tại Hợi Mão có Tuần ở vị trí Âm hoặc Dương. Bộ Âm Dương ở Sửu Mùi luận khác biệt nhau, ở cung Sửu có lợi cho Thái Dương khi đêm đã tàn, và ở Mùi lợi cho Thái Âm khi ngày tàn. Âm Dương Sửu Mùi tối hỉ được bộ Khôi Việt, bộ sao này khiến chính tinh hãm trở nên đắc ý trở lại, như bộ Âm Dương lại rất cần thiết.
" Nhật Nguyệt phản bối hà vọng thanh quang tối hỉ ngoại triều Khôi Việt".
Sao Thiên Khôi và Thiên Việt là hai sao tăng giá trị, Khôi chủ đứng đầu, Việt chủ phát sinh. Bộ sao này còn là văn tinh hợp với Âm Dương. Bộ Xương Khúc cũng cần thiết với Âm Dương.
" Âm Dương hữu Xương Khúc nhi đắc lực".
Cách cục Âm Dương Sửu Mùi là cách trước siêng năng sau trở nên lười biếng mà bỏ dở, vì vậy cần Khôi Việt chủ phát sinh từ đầu nhỏ nhất của sự việc tới mức cao nhất của Thiên Khôi để khắc phục khuyết điểm. Cách Âm Dương Khôi Việt là cách hay, nhưng rất kỵ thêm các sao Hình, Linh, Hỏa khiến bộ Khôi Việt dễ chuyển biến xấu về một phương diện nhất định. Cách Âm Dương Sửu Mùi thuộc bộ Âm Dương Lương có ý nghĩa tốt nhưng do khó gặp bộ Khoa Quyền Lộc hoặc hai trong ba Hóa nên Âm Dương cần nhập miếu. Ở Sửu Mùi cần có thêm Hóa để đánh giá kết quả nỗ lực của Âm Dương. Thái Âm là ngôi sao chủ nhà đất, mệnh có bộ Âm Dương tốt đẹp dễ được phần đất đai tốt đẹp của Phụ Mẫu.


Âm Dương Sửu Mùi rất cần Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn, nếu có LỘC TỒN tốt đẹp hơn rất nhiều vì được bộ Tồn Ấn Bệnh phù hợp với toàn bộ cách Âm Dương Lương. Thiên Lương hóa giải ngôi sao làm xấu đi nhiều phần của sao Bệnh Phù hình thành cách LƯƠNG Y, hoặc kém hơn là kẻ may mắn có những phương thuốc tốt, cách Lương Bệnh Phù là cách sống thọ. Bộ Tồn Ấn Bệnh trở nên tốt đẹp khi có cách Âm Lộc Tồn chủ phú cách, ngoài ra bộ Dương Lương cần Lộc, nếu có thêm Xương hình thành cách Dương Lương Xương Lộc danh lợi đều có. Khi đó cường cung PHÚC DI PHỐI được bộ Phi Phục Thanh hình thành cách Cự Thanh và cách Đồng Binh là cách tốt. Cách CỰ THANH khiến Cự Môn tăng tính danh và giảm thị phi vì THANH LONG là ngôi sao chủ danh tiếng, cũng chủ mưu trí không ngại ngược lại rất mừng khi gặp các sao có tính ám như Hóa Kỵ, Thái Âm, Thiên Phủ hình thành cách KỴ THANH có thêm Lưu Hà là vận hội, cách Âm Thanh chủ tiếng nói, cách THIÊN PHỦ THANH LONG là cách rất hay, Thiên Phủ có cách này thêm Không Kiếp vô hại, gặp Tam Không không chết, trừ khi bầy sát tinh quá lớn khiến phản cục mà vong. Bộ Âm Dương Sửu Mùi chỉ có bộ Tồn Phi ở cung Mão Dậu Tị Hợi. Tuổi Ất có LỘC TỒN tại Mão có bộ Âm Dương Lương được thêm Quyền Kỵ, tuồi Bính có LỘC TỒN tại Tị được thêm Hóa Lộc chiếu với Lộc Tồn hình thành cách Song Lộc dễ nổi vì giàu nếu Thân hoặc Hạn đến. Tuổi Tân có LỘC TỒN ở Dậu hình thành bộ Song Lộc gia Quyền tốt đẹp. Chỉ cấn lá số có bộ Song Lộc xuất hiện không bị phá cách thì mệnh không phải kẻ nghèo, hỉ hạn đến dễ giàu.



Bộ Tam Hóa đánh giá sự thành công hay thất bại của Mệnh tạo. Và vòng Thái Tuế với một số trợ tinh như Khôi Việt thuộc tính nhận xét, tính ngưỡng mộ, giá trị về phẩm chất tới Mệnh tạo. Bộ Tam Hóa là Danh, Quyền, Lộc. Đây là bộ Hóa Khí mạnh và đặc biệt của cung số theo THIÊN CAN. Tiếp theo là bộ sao TỒN TƯỚNG ẤN là nơi khí Chuyên Vượng theo ngũ hành của Thiên Can tác động lên địa chi. HÓA KỴ không hay do là Hóa Khí của Tứ Hóa, vì vậy thuộc nhóm sao Thành Bại. Sao này nhập Mệnh với chính tinh nếu gặp chính tinh không hợp với Kỵ xảy ra nhiều mặt tai họa. Vì Kỵ mang tính ám, tính cản trở về hành động, đố kỵ, nghi kỵ, lo âu về tính cách nên khi không hợp cách là hung, tức là bộ Kỵ Hình, Kỵ với các sát tinh, Kỵ với Cự Môn,.... Bộ Âm Dương ở vị trí Sửu Mùi gặp Hóa Kỵ hóa theo chính tinh tức tuổi Giáp, Ất hoặc do trợ tinh Xương Khúc hóa khí ở can Kỷ, Tân. Ở can Tân, mệnh ở Mùi luận Hóa Kỵ tốt, tuổi Ất có Âm Dương ở Sửu luận tốt. Tuổi Giáp đều luận có Kỵ là xấu. Tuổi Kỷ khá tốt do được bộ KHOA KỴ. Âm Dương ở vị trí này tối hỉ kiến TUẦN TRIỆT, gặp Tuần tốt hơn Triệt. Nếu có Triệt kỵ tại cung an Thân. Nếu có bộ Tam Minh rất hợp cách, bộ CƠ NGUYỆT ĐỒNG LƯƠNG được bộ Tam Minh là cách an vui hưởng phúc, đúng với tất cả trường hợp có các chính tinh trong bộ. Cách cục này phía trước có Tham Lang, phía sau giáp, liền cung có bộ Vũ Phủ nên cách cục Âm Dương Sửu Mùi có tính thiên về tài sản lớn, cung Mệnh có bộ Âm Lương chủ tài tinh, đại hạn ngược xuôi đều mang nặng tính phát phú khi chính sao Tham Lang và Vũ Khúc đều là các sao tài sản, lại qua thêm hạn Cự Cơ Mão Dậu, vì vậy rất cần Khoa Lộc hơn Khoa Quyền. Khoa ở đây cần thiết vì Khoa là danh tiếng, khi có danh tức tính giá trị khác nếu không có Khoa, và vì lý do vậy Khoa là ngôi sao hay chính xác hơn là Hóa Khí tăng tính quan trọng cho bản cung tam hợp .


Saturday, August 13, 2016

Dương Lương Mão Dậu cách





Dương Lương đồng cư Mão Dậu




Cách cục Dương Lương ở vị trí Mão có tên riêng là Nhật Xuất Lôi Môn hay Nhật Xuất Phù Tang cách là vị trí đắc lợi nhất của Thái Dương ở 12 cung, Thái Âm nhập miếu tượng cách là Nguyệt Lãng Thiên Môn cách. Bàn về cách cục Dương Lương ở Mão, bộ Âm Dương Lương và bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm đều hoàn chỉnh và ở vị trí tốt nhất với cách Đế Tọa Ly Cung của Tử Vi cư Ngọ. Mệnh cư Dương Lương Mão là đẹp, nhưng tốt và quyết định thuộc Phụ Tinh. Ví như cách Dương Lương cư Mão gặp Không Kiếp lại luận khác, thêm Tuần luận khác, thêm Kỵ ta luận là đại hung. Bộ Dương Lương cư Mão thủ mệnh chủ người đàn ông may mắn, có Thiên Lương chủ may mắn lớn vì Âm Lương đẹp, do Thái Âm nhập miếu ở Hợi địa ở vị trí cung Tài Bạch hợp lý, cung Quan Lộc được cách Nhật Nguyệt chiếu bích, nếu mệnh ở đây tức cung Mùi chủ phò tá cho người có địa vị cao nhất, không phải bản thân là người đứng đầu đến đây thì tác dụng của bàng tinh mới rõ, nếu thấy Khôi thì bản thân là người cao nhất. Thiên Khôi chủ đứng đầu, nếu không tuy phò tá nhưnh mệnh nắm thực quyền, kẻ kia chỉ là hư quyền, như việc thứ đoạt trưởng trong gia đình, tất nhiên là phải xem Khôi có hợp với tất cả bàng tinh phối hợp  để luận đoán chính xác. Trong cách tinh hệ thì Tử Vi cư Ngọ tốt nhất, mệnh đóng tất cả vị trí đều luận không phải mệnh tầm thường, ví như việc kẻ nghèo trong một quốc gia rất giàu có vẫn được hưởng cuộc sống sung sướng vậy. Cách Dương Lương cư Mão cũng mang ý nghĩa là thọ do có "Thiên Lương thủ mệnh thân bình sinh phúc thọ". Thiên Lương là Ấm Tinh tự thân độc tọa mang nhiều khuyết điểm, kết hợp đồng độ với các chính tinh trong bộ đều mang hàm ý tốt như cách Cơ Lương, Đồng Lương, Dương Lương. Cách Dương Lương là ở Mão là thượng cách của tử vi, bất gia sát luận phú quý, lại gia cát tinh nắm đại quyền.


Dương Lương cư Mão tối hỉ Xương Khúc vì nếu cod Không Kiếp ở cường cung tức sinh tháng chẵn dễ gặp cách " Quế sứ hoa thương tối hiềm giao hội, mạc phùng Sát diệu đa khổ tai ương". Khi đó gặp có lưỡng nan toàn, không thể tốt đẹp toàn vẹn được, tức nếu cường cung bất kiến Tứ Sát Kỵ Hình thì hạn Sát Phá Tham có thể dẫn đến mạng vong. Mỗi mệnh đều mang một lá số và các tính cách riêng, nhưng không phải lá số giống nhau là có cuộc sống giống nhau, và nếu kẻ nào tự nhận xem tử vi có thể luận chính xác cuộc đời của một người thì hoàn toàn sai, tử vi chỉ có thể xem về cát, hung của con người, quá trình lên xuống, nhịp điệu của đời người, đi sâu vào các cung đệ tam nhân đã sai chưa nói đến luận mãn số. Một kẻ giàu nhất ở vùng miền núi đông dân xuống đồng bằng chỉ bằng kẻ khá giả, giống như chuyện hổ trên núi cao đứng đầu khu rừng xuống đồng bằng. Hay như việc mệnh người có khuynh hướng xuất ngoại hay gọi là việt kiều vào các năm trước được trọng vọng về địa vị và tiền bạc. Xét tỉ lệ khu vực và yếu tố phụ mẫu, dòng tộc giúp lá số tử vi có thể luận chi tiết hơn. Chỉ là chi tiết hơn thôi vì cùng lá số giống nhau, hạn kề cận quý nhân như cách " Quý Ân Khôi Việt Cái Hồng" mỗi người mội nghề nghiệp kề cận quý nhân khác nhau, và xét trên tổng thể toàn quốc thì quý nhân này địa vị khác quý nhân kia. Hay việc Tử Vi xem xét về việc làm quan trong triều, kề cận vua chúa, bệnh tật liên quan đến mổ xẻ mà ngay ở thời đại trước chỉ có đường chết. Vì vậy, mệnh xấu hay tốt đều có thể cải biến vì rất đơn giản ví như lá số tôi từng xem mệnh rất tốt hạn Thất Sát gia Phi Việt Linh Hình Quyền và Quế Sứ Hoa Thương, nếu trong chiến tranh khói lửa chắc chắn chết, vì khi đó Thiên Không của toàn thể quốc gia đều xấu, trên trời bom rơi liên tục khiến nhiều mệnh phải chết oan khi số chưa tới, nhưng trong thời bình thì hạn ấy có thể liên quan về cách cướp đoạt hay mất mát về tài sản, địa vị không đến nỗi mệnh vong. Cũng như hạn đói năm 45 khiến người chết đói đầy đường, nhưng bây giờ tìm một kẻ thiếu đói cũng khó khăn, chỉ ở trên miền núi là nhiều chưa nói đến chết đói. Vì vậy chỉ luận thuận lợi hoặc bất lợi về các mặt tổng thể cho một lá số tử vi  nếu chỉ biết số mà không biết thêm chi tiết.


Cách Dương Lương cư Mão hợp cách là người đàn ông may mắn, dễ được tương trợ khi gặp khó khăn hung hiểm, xét về mặt bằng chung thì có cùng gặp kiếp nạn sát thân thì kẻ thoát là ta hoặc ta là kẻ được may mắn hơn như chết thanh thản hơn kẻ khác, tính may mắn là tính chất chung của mệnh này, vì vậy khi luận đoán tùy hạn tốt xấu mà luận may mắn hay không may. Vì vậy Thiên Lương tốt mệnh danh chủ Thọ do mình sống lâu hơn kẻ khác do may mắn không chết bởi tai ương họa hại, như việc đánh bom liều chết mình ở khu vực ấy, hạn tốt thì dễ tránh khỏi hoặc thương tích nhẹ, nhưng trái ngược khi xấu ta nhận định là không may thì ta lại là một trong nhưng kẻ thiệt mạng, không chỉ việc tai ương họa hại, việc liên quan đến địa vị tiền tài cũng luận như vậy. Cách cục Dương Lương cư Dậu không may mắn bằng, công danh đến muộn do Âm Dương hãm, cũng không may mắn bằng cách kia nếu giống nhau về bàng tinh, tuy nhiên xấu tốt quan trọng là bàng tinh gia hội cho ra kết quả.