Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Vô Chính Diệu. Show all posts
Showing posts with label Vô Chính Diệu. Show all posts

Friday, March 1, 2019

Lá số Cự Cơ xung của một mệnh cách tốt.





Cách cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ xung thường được luận thượng cách khi đắc cách. Thực tế bố cục do khắc chế khuyết điểm của Cự Cơ so với mệnh Cự Cơ Mão Dậu tuy tài năng nhưng có phần xét lợi ích và thế xung đột của Cự Cơ Đồng gây khó khăn trong bố cục. Với nội cách Âm Dương Lương tăng tính chất chính nghĩa, chủ ổn định không xung đột mạnh trong nội cách, ngoại Cự Cơ xung là mặt bên ngoài, tức khả năng hiểu biết sâu, tài năng của mệnh tạo. Nghiệm lý với các cách mệnh VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ nếu phá cách cũng là cách cục chủ có độ số cao. Khi đắc cách là cách cục thường đứng đầu một tổ chức. Khi xét bố cục mệnh cách của một vụ phó thành tựu khá sớm bởi tài năng. Nam mệnh ngũ hành Mộc. Cục thuộc Mộc cục tức tương trợ. Hành vận phối hợp Mệnh cách theo khuynh hướng bố trợ. Cách cục mệnh thuộc VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ với mệnh cung an tại Mão. Đây là cách cục được đánh giá tốt do hội giữa khả năng chuyên môn của bản thân và khả năng xã giao, bày tỏ mối quan hệ xã hội ra bên ngoài tốt. Mệnh cách VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ nếu đắc cách ắt là mệnh đứng đầu một tổ chức, do khắc phục được tính chất tự lực không ưa quan hệ xã hội của Cự Cơ mà thành. Thế cục Âm Dương Lương nội và Cự Cơ ngoại là thế cục bổ trợ khuyết thiếu. Cách cục này có khả năng dung hòa giữa hai cách cục, tuy mang thị phi và ắt có bất lợi về mặt tình cảm gia đình nhưng định Tài Danh luận tốt. Mệnh cách VCD cư Mão bản cung có Hư Phá Phi Tả hội Âm Dương Quyền Thanh Thai Tọa và Lương Mã Sinh Bật. Mệnh cách đắc vòng Trường Sinh ở nội cách lại hội Mã hội Thanh Phi Phục trong cách cục Âm Dương Lương chủ khả năng tạo mối quan hệ, được trợ giúp do có Phụ Bật hội Tang Mã, có khả năng linh hoạt là Mã Sinh Vượng đắc cách. Mệnh cách có Hư Phi tại cách cục Âm Dương hỉ được Thanh Long có Thiên Hư là những vấn đề giao tiếp xã giao. Thiên Hư nhập mệnh trong cung độ VCD mang tính hư vọng, trái với Thái Tuế ưa việc bày tỏ quan điểm lập trường của bản thân. Tang Hư Mã về thể cách linh hoạt, có thể tùy biến. Mã Sinh là cách cục cường vượng, tính động thay đổi tuy nhiên Mã nhập Hợi cung có phần không mấy hay, được Mã Thai Tọa tăng tốt đẹp tuy nhiên cũng không thích hợp thay đổi nhiều dẫn tới phù động. Thiên Hư tại Mệnh có dụng và bất dụng, tốt do Thiên Hư hợp với Âm Dương Lương tại việc xã giao, có thể dụng trong giao tiếp. Tuy nhiên Thiên Hư có khuyết điểm ở tính chất bất thực, ở vị trí Tang Môn hay Thiên Mã phù hợp với Âm Dương hơn Thiên Hư. Thiên Hư trong bố cục Phi Liêm ngộ Thiên Hư có ảnh hưởng một phần tới Tài cách. 





Mệnh cách thuộc cục Cự Cơ xung là mệnh tạo có tính chất phù hợp với việc quảng giao, tạo mối quan hệ, có thể đứng đầu xã hội hoặc một tổ chức bên trong hoặc bên ngoài nhà nước. Tuy nhiên nên lưu ý trong cách cục này có hàm chứa bố cục đa nghi, nghi kỵ của Cự Cơ đối cung. Mặt tốt là khả năng nhìn nhận về sâu bên trong các mối quan hệ, cũng là cách tránh tự gặp tai họa do tin tưởng của bản thân. Khi thái quá hay trong bố cục tác hóa của Sát cách chủ ở thái cực khuynh hướng bất mãn, tạo mâu thuẫn trong nội bộ khi Cự Môn đinh chủ thị phi, cách cục này có đặc điểm quan trọng là tư tưởng có tính biến động, lấy thay đổi để thành tựu, không phải bố cục ổn định như cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh khi Tử Vi nhập mệnh. Ba sao Tử Vi, Phá Quân, Cự Môn có khuynh hướng lãnh đạo khác nhau. Với Cự Môn là khả năng nhìn nhận sâu về sự việc, khuynh hướng ngôn luận. Dẫn tới mệnh cách Cự Môn thường hướng tới luật sư hoặc chính trị theo khuynh hướng bày tỏ quan điểm chính trị bằng khả năng thuyết phục. Phá Quân chủ tranh đoạt, Phá Quân phá bỏ tạo đột phá, hàm chứa Sát cách cường vượng là cách cục bạo lực rất khó đắc cách, thường ở trường hợp trong xã hội xung đột, mâu thuẫn hay chiến loạn. Tử Vi chủ đứng đầu do ưa gánh vác trách nhiệm, chủ ưa ẩn, ổn trọng, suy tính sâu xa. Cự Môn chủ lộ, tính âm ám, quyền biến thuộc âm quyền không lớn, chủ mạnh do khả năng tạo lý tưởng dẫn dắt quần chúng do quan điểm phù hợp. Bố cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ thuộc thế cục này. Mệnh cách VCD man thư thường luận là cách cục xấu, mang ý nghĩa thăng trầm biến loạn, thực tế do không rõ lý giao hội hợp hoá của các cách cục. VCD tại đây chịu tác động bổ trợ của hành vận khá lớn. Cung an Thân nhập Hợi cung phối hợp luận cách cục Lương ngộ Trường Sinh có Bật Mã Tang Binh. Trong nội tâm nam mệnh thường khi chịu ảnh hưởng của suy nghĩ, tức bản thân làm chủ tư tưởng hướng tới tự kiểm điểm bản thân, đánh giá bản thân sau mỗi hành động tác động tới đạo đức, lương tính. 




Thiên Lương ngộ Trường Sinh là thể khí có sức cát hóa rất mạnh. Nhập bất cứ cung độ không phá cách đều hóa sinh khí, tức gặp họa và cứu giải lớn. Khi nhập Phúc cung hóa " Lương ngộ Trường Sinh cư phúc địa thân thượng hữu kỳ tài" tức trong dòng họ có nhiều người hiển hách. Nhập Tài cung là cách phát tài, gặp may mắn về tiền bạc. Cung an Thân cư tại đây rất quan trọng, chủ về thân thể hay thân phận được sự may mắn, còn mang hàm ý thọ, tránh được tai kiếp thương tích, trừ việc nhập vận Tuyệt khí. Thiên Lương có Phụ Bật càng tăng mạnh tính chất này. Trong giai đoạn chiến tranh trước đây, với cách cục Thiên Lương cư Ngọ hội Khoa là cách cục mệnh tạo thoát được nhiều tai kiếp binh đao, thứ tới là bố cục Đồng Lương đắc cách. " Lương xung tọa thủ kiêm thọ toán". Tuy nhiên Thiên Lương cư Hợi ắt có họa mới được phúc, không ổn định như bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương cư tại đây luôn có thế khó khăn trước khi được cứu giải. Đây là mệnh cách may mắn về quan hệ xã hội, tức Âm Dương Lương cách. Có năng lực lãnh đạo, khả năng dẫn chứng lý lẽ, tọa lợi ích cho người khác do tính chất cơ biến của sao Thiên Cơ. Tuy nhiên bản cung Cự Cơ Lưỡng Lộc có Tuế Kiếp Khốc bản cung hội Thiên Không thành cách cục Lộc Đảo Tuế Đào kỵ hội Không Kiếp ám cục. Chủ việc tai họa tới bất ngờ có tính tai kiếp do Lộc Tồn hội Không Kiếp. Cự Môn có thể chế hóa Không Kiếp trong trường hợp không có Lộc Tồn. Tại đây Lộc Tồn đứng đồng độ ngay tại bản cung là cách cục cần lưu ý. Thái Tuế là quan điểm, tại đây quan điểm của Cự Môn ắt tạo thị phi, cũng ồn ào từ bên ngoài mang lại ảnh hưởng tới tư tưởng của mệnh cách. Thiên Lương tại cung an Thân có thể hóa nguy thành an tuy nhiên nhiều giai đoạn chịu tổn thất. Thiên Lương cư cung an Thân nếu có khuynh hướng tôn giáo, lấy tư cách làm trọng là phù hợp cách cục. Mệnh Thân gặp Thiên Lương không phá cách thường được đánh giá cao do tính chất có phần nông nổi, không thâm sâu khó đoán như Thiên Đồng. Thiên Đồng tượng là đứa trẻ, bụng dạ. Thiên Lương tượng là người già, đỉnh đầu. Do tư tưởng thông suốt khi hướng tới phẩm chất, cái tâm của bản thân dẫn tới Sát cách có thể chế dụng, tuy nhiên tối kỵ Không Kiếp. 




Tại đây tuy có Tồn Kiếp xung khi nhìn tại Mệnh không quá xấu do chịu ảnh hưởng từ bên ngoài cách Cự Cơ thị phi. Thiên Mã nhập Trường Sinh tọa thủ tại bản cung Tài Bạch khi phát ắt sức cường vượng chủ được lâu dài. Thiên Mã tại Hợi cung là thế bí, khi tích lũy tài sản ắt gặp nhiều lần phải sử dụng tới hao hụt nếu không họa tác động ắt tới các mặt khác như bệnh tật. Phối hợp Mệnh cách xét định khả năng tạo ra tài sản của mệnh tạo. Với cách cục này tiền bạc cần nên lưu chuyển thì có lợi hơn do Lưỡng Lộc xung gặp Cự Tồn ở thế rất bất lợi khi tiền bạc giữ trong kho, tức gửi tiết kiệm. Nên sử dụng cách kinh thương chỉ giữ một phần nhỏ ổn định. Lưỡng Lộc cách là bố cục mạnh nhất về Tài trong tử vi, khi hội Hỏa Tham thì phát đứng đầu thiên hạ, khi ngộ Cự Cơ hóa thành phù động, đặc biệt là trong thế đồng độ có khuyết điểm lớn khi gặp Tồn Kiếp. Xét toàn cục không hình thành bố cục treo trọng điểm Sát cách, trừ cung độ của tổ hợp Cự Cơ Đồng có phần bất lợi với Tài cách khi là cách cục bế tắc vì tiền, gặp họa về tài sản, tuy có hoạch phát bất ngờ nhưng cũng gắn với nguy hiểm khi Tồn Kiếp cùng cư Dậu cung. Cự Cơ Đồng là thế bế tắc phá vỡ thế cục mạnh của Song Lộc đồng cung. Khi định Tài cách lấy Tài cung làm gốc do củng chiếu cách Lộc Mã giao trì. Cách cục Lộc Mã khi Thiên Mã cư Tài hội Thiên Di chiếu về là cách cục Lộc trùng điệp, Mã dịch lộc thì hoạch phát. Tài cách có khuyếm khuyết của Cự Tồn dụng cách hóa tư tưởng thành việc luôn bất mãn về tình trạng tiền bạc, tham muốn tích lũy ngày càng lớn so với kẻ khác bên ngoài là phù hợp. Cự Tồn sinh ra khuynh hướng đố kỵ, bất mãn ưa vượt lên về Tài cách tức Mã luôn ở thế động sẽ kích phát cách Lộc Mã bội Ấn. Địa Kiếp tại bản cung tăng thêm tính Sát hóa, biến tham vọng theo khuynh hướng cực đoan, với bố cục bình thường ắt xấu, tuy nhiên ở đây là cách Cự Cơ Lưỡng Lộc có Kiếp Tuế tham vọng lớn, tuy nhiên hành động lại cần chờ thời, do Cự Tồn trong cách Cự Đồng Cơ phá thế bất mãn cần Thiên Mã tức dụng từ Tài cách. 




Thiên Lương nhập Tài cung lại ưa bộc trực, bộc phát sẽ gặp tai họa khi kinh thương, đầu tư. Lưu ý một việc, khi cơ hội phát sinh, thường là cơ hội dẫn tới kết quả sau cùng là phá tán. Do thế cục của thiên bàn ứng hợp. Thiên Lương cứu giải do may mắn tuy nhiên sẽ mất đi các giai đoạn tích lũy do phải phá vỡ thế bế tắc. Tài cách không nên làm cách cục chính, chỉ phù hợp dẫn hóa cho Quan Cách. Tức Quan Cách làm gốc, Tài cách làm dụng. Quan Cách định hình do toàn tổ hợp Âm Dương Lương và Cư Cơ xung. Tại đây cần tinh đẩu đóng góp công trạng và tài năng của bản thân, thứ tới là khả năng lãnh đạo. Với cách cục Cự Cơ đứng đầu do khả năng khai sáng theo một khuynh hướng dị biệt của sao này. Có thể định hình tướng của Cự Môn sức cát hóa do tính hiệu triệu bằng khẩu ngữ. Tử Vi tính chất chủ ngầm, ở trong tổ chức xây dựng bằng tình cảm, lý tưởng xây dựng của bản thân. Phá Quân lấy thế chính nghĩa, khai phá xung đột bên ngoài. Cự Môn tượng có thể hình dung như trong tư tưởng hành động của tổng thống Mỹ hiện tại. Tuy nhiên tại đây Cự Môn ở vị trí đối cung tức chịu ảnh hưởng tác động tới bên ngoài, được đánh giá tốt hơn tại bản cung do không nhiều thị phi như cách cục Cự tại bản cung Mệnh, với tính bất mãn bộc trực cũng không lớn như tại Mệnh. Cự Môn bên ngoài tức lấy ngôn ngữ làm trọng, để định Quan cách. Một lãnh đạo ở Đảng đối lập nổi lên gần do phản đối, nhìn nhận lại so với Đảng chính để lôi kéo quần chúng là cách cục của Cự Môn. Cự Môn là cách nhìn trái nghịch, sâu bên trong tuy nhiên để tìm khuyết thiếu, phần sai sót khác với Tử Vi hướng tới lý tưởng khai sáng ban đầu, gánh vác trách nhiệm. Phá Quân khi xung đột lấy chính nghĩa để khởi binh. Cách cục nội Âm Dương Lương là cách cục tình cảm, giảm tính xung đột của Cự Môn bên ngoài. Quan cách hình tượng của cách cục như trên là định cách sơ khởi. Cách cục do Cự Cơ Tuế Khốc Tồn Lộc ngay bản cung có khuynh hướng ứng với chữ bất đồng quan điểm rất rõ. Khi Cự Cơ Đồng ở thế Tồn Tuế Kiếp Hỏa tức xung đột tới từ bên ngoài. 






Cách cục Quan Cách tại đây không thâm sâu, tuy có thể lấy Thiên Lương làm gốc tức chính nghĩa để xét khuynh hướng đứng đầu do bản thân của tổ chức hướng tới. Tuy nhiên Quan cách tại đây ở tính chất tham mưu hơn việc gánh vác trách nhiệm ắt sẽ có thị phi tác động trong hành vận. Cách cục này có thể hoạch phát đứng đầu tổ chức lớn do Tài cách trợ dụng, tuy nhiên cũng sẽ hoạch phá do thị phi. Nếu đứng đầu ở tổ chức kinh thương có phần phù hợp hơn. Trong nội bộ của tổ chức mệnh tạo gánh vác ắt luôn gặp trường hợp xung đột, mâu thuẫn về lợi ích, hướng tới cái chung phục vụ ứng Đồng Tang là cần thiết. Cách cục Cự Cơ hội Kình Song Hao là thay đổi phá bỏ cái tồn tại bất mãn, Cự Cơ hội Tồn Kiếp là việc luôn tồn tại bế tắc. Thành hay bại cũng do  biến hóa của cách cục Cự Cơ tác động. Cách cục này lưu ý không phải bố cục hướng tới Văn cách chuyên môn sâu về một lĩnh vực, là cách cục chủ tổng thể. Âm Dương Quyền Thanh là tiếng nói, có ý nghĩa như việc uy tín, được sự tín nhiệm của kẻ khác. Thanh Long tại đây hội Thiên Mã là hai nhóm sao phù hợp nhất với Âm Dương Lương. Tuy thiếu Xương Khúc được Thai Tọa hội họp, đồng độ tại Mùi cung thành cách Mã ngộ Tam Thai anh hùng do Bát Tọa ưa ngẩng cao đầu, có khả năng linh hoạt theo thời cuộc. Hiềm nỗi Sát Phá Tham phá cách nếu không ắt có địa vị đứng đầu xã hội sớm. Cách cục này phù hợp về tham vấn, nếu khởi tư tưởng đứng đầu tới vận Tử Tướng sẽ gặp thời vận. Thiên Lương cư tại Hợi có chữ Ấm thiếu Phúc, tức được ngắn không được dài. Thiên Đồng là hưởng phúc lâu bền, Thiên Lương có giá trị cứu giải khi nguy khốn. Âm Dương Lương tại đây hóa cách cục hành sự có phần chưa thực cẩn trọng, cũng là cách phấn đấu thất thường, tùy sở định của Cự Môn tác động. May mắn là điểm mạnh của cách Âm Dương Lương do trợ lực rất mạnh. Bản thân nếu không tự dụng Cự Cơ ắt được một giai đoạn cũng phải hoạch phá. 

Monday, January 22, 2018

Mệnh cách VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Âm



Nam mệnh ngũ hành Kim, mệnh cách thuộc vô chính diệu với nội cách là Cự Nhật đồng độ tại Dần và ngoại cách là Đồng Âm cư Tí tại đối cung. Ở nội cách tức nội lực bản thể của mệnh, nhưng khả năng tư chất của bên trong. Cự Nhật cách ngộ Tuần Phi Kiếp Liêm. Cách cục tổ hợp Cự Nhật giao hội với nhóm Tuế Hổ Phù và cách cục Thanh Phi Phục là bố cục khá phù hợp với Cự Nhật cách. Tuy nhiên vị trí của Thanh Long bất hợp, vị trí cần ở tại cung độ Cự Nhật hóa Cự Môn thành Quyền, chủ linh hoạt không gặp. Cự Nhật may được Hóa Lộc lại có Phi Liêm chủ thị phi, cách cục VCD có bản cung Bạch Hổ và Phục Binh là cách cục Binh Hổ chủ lời nói có phần thể hiện quan điểm, khả năng hùng biện, diễn đạt tốt. Sao Bạch Hổ và Phục Binh đồng cung khá hợp cách, điểm mạnh là đương số có sự cương quyết, táo bạo khi hành động, các chủ trương và lập luận quan điểm tốt. Cung độ Thanh Long ngộ Thái Tuế hình thành cách cục làm thầy, truyền đạt các kiến thức, chuyên môn là Cự Môn tới người khác, tuy nhiên bố cục này không dụng được thực cách của mệnh tạo. Cách cục Cự Nhật có Không Kiếp tại Dần Thân là sát cách, Cự Môn và Thái Dương có thể dụng được Không Kiếp hóa Kiếp thành sự khác lạ, vượt qua khuôn khổ, trái truyền thống. Cung độ VCD là bản cung mệnh qua đó ngộ Tam Không có Hóa Lộc và Hổ Binh tại bản cung là cách cục mạnh, thuộc cách Vô Chính Diệu kiến Nhị Không.



Ở đây may mắn khi Cự Nhật gặp Tuần Triệt là nội tâm ổn định. Lưu ý mệnh cách VCD nội cách ngộ Triệt Tuần có Cự Nhật thì có thể phòng tránh tốt trước những việc không ngờ tới trong cuộc sống, bố cục này may mắn khá ổn định, điểm tốt là Cự Môn  được cát hóa bằng Sát cách. Cự Nhật ngộ Kiếp Không bất kiến Sát Kỵ giao hội là cách cục khá tốt. Sát cách hóa thành Quyền tuy nhiên không mấy toàn vẹn do trợ tinh không mạnh, đương số khi Không Kiếp tác họa do đại tiểu vận bố cục ổn định biến thành do tham muốn nhanh chóng mà gây ra thất bại. Ở đây Cự Môn là miệng lưỡi, lời nói, là chuyên môn, điền sản, sự phản đối, đứng lên là tính chất được cát hóa. Đặc biệt với Cự Môn phản đối và khai sáng rất vượng, đương số nếu khí hình mạnh tự kinh thương, gây dựng sự nghiệp, tự đứng đầu khai sáng tuy gặp hoạch phát, hoạch phá nhưng thành tựu khi qua khó khăn rất lớn. Một biến cố do quá khứ bất dụng đúng trợ cách và do khí hình mà mệnh tạo theo Tài Cách khai phá vào thời điểm vận xấu và khuynh hướng nỗ lực không lớn nên gặp thất bại khiến khí hình trở thành suy. Nội cách Cự Nhật ở đây thuộc cách cục phẩm chất tốt, hướng vào khả năng làm chủ tình huống, tính chất khám phá, đi sâu vào vấn đề tốt nhưng điểm yếu của bố cục này là sự giữ vững tâm lý khi gặp bất ngờ do cách cục Tam Không gặp Cự Môn thành lo âu.



Bố cục nội cách cần lấy sức nỗ lực và nắm giữ, giữ vững ý chí tìm hướng thay đổi, phản ứng là trợ cách. Do Cự Môn luôn cùng trợ lực với Phá Quân và Tử Vi xung đột với Cự Phá là toàn bộ bố cục của các sao đứng đầu và khai mở các sự việc ban đầu trong tử vi. Do đó Cự tốt khi Phá Quân giỏi phá cũ đổi mới tốt, cũng do Phá Quân chủ giữ vững đường lối tuy nhiên luôn thay đổi để phù hợp. Khác với sao Tử Vi chủ sự ổn định với đường lối. Cách cục Cự Nhật đầy đủ khi Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh và Sát Phá Tham đang xung đột với Tử Vũ Liêm do lý tưởng mâu thuẫn giữ xây dựng và phá bỏ, thay đổi và ổn định. Cự Môn tại đây mang ý nghĩa khai sáng, dẫn đầu thì phù hợp do trong thời cảnh Phá Quân và Tử Vi xung đột lớn, cơ hội của Cự Môn xuất hiện do phản đối với Tử Vi, và Cự Nhật cách là phản đối cách, chủ đứng lên can gián, phản đối như thời phong kiến theo Quan Cách. Cự Nhật theo Quan Cách thường theo nghề nghiệp liên quan tới ngôn luận, các tổ chức ngoại giao. Với Cự Môn ở đây do cách cục là Cự Phi Lộc theo Quan Cách có thị phi. Cự Môn cũng chủ sự tài năng, am hiểu cặn kẽ do luôn bất mãn và tự vấn trước các kiến thức và tình hình thực tế. Tuy nhiên bố cục này là cách cục Cự Tồn hay trong nhóm Cự Cơ Đồng. Với cách Cự Nhật ngộ Thanh Long chủ danh, cách cục Thanh Tuế có thể theo ngành tư pháp, tư vấn, từ lời nói sinh ra tài lộc. Cự Nhật nội cách tại đây hợp với Tài Cách kinh thương hoặc theo nghiệp tư vấn, môi giới sử dụng ngôn ngữ phù hợp, với Quan Cách thực chất đương số do có khả năng linh hoạt, thay đổi tốt và Thanh Long ở đây khá tốt đẹp nên Cự Nhật quan phong tam đại là bố cục khi Cự Nhật đắc cách. Ở đây tuy thăng trầm do Không Kiếp và bố cục trợ tinh không mạnh nhưng về thành tựu cũng không xấu. Tuy nhiên vòng đại vận ở đây khiến quan cách chỉ trở nên tốt đẹp khi mệnh tạo tầm trung niên.


 VCD ở đây ngoại cách là Đồng Âm cư Tí ngộ Khoa Tang Phượng Linh Kỵ, trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn Không là bố cục mang ý nghĩa tai họa nhiều hơn may mắn với cách Mã Khốc Khách Tồn Tuyệt là bế tắc, chuyển động nhưng khó thoát khỏi bế tắc, tính động mạnh. Điều quan trọng là cung Thiên Di tại ngoại cách tuy nhiên cung an THÂN an tại cung này, cung an THÂN là sự tác động liên quan tới hành động, chủ sự ý thức khi tiềm thức, tính cách ban đầu của Mệnh chủ xây dựng lớn dần. Cung an THÂN gắn liền với cái nghiệp, cái bản thân và thân phận của nam mệnh. Cung an THÂN tại Đồng Âm với bố cục Sát tinh hội họp gồm Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn thì hành động thường mang tính bộc phát, đi liền với tai họa. Về mặt tình cảm hay về việc gắn liền với ra ngoài thường không gặp yên ổn, đặc biệt với cung an THÂN tại Thiên Di hội họp cách Mã Tuyệt Hình Kỵ Hỏa Linh là cách cục càng chuyển động càng mắc lưới, chỉ xét bố cục Mã Hình Kỵ Tuyệt đã là cách cục xấu. Với nội cách là Cự Nhật khi tới vận này càng mang nhiều mâu thuẫn, sự khó khăn chật vật do hình thành hai cách cục bất lợi cho nhóm Cự Nhật không có Thanh Long là Cự Kỵ và Cự Tồn Kiếp. Cũng bất ổn với mệnh Vô Chính Diệu. Chữ chuyển động, nỗ lực khi gặp nghịch cảnh cần rất lớn tuy nhiên cũng không có được kết quả tốt đẹp.


Sao Thiên Mã trong nhóm Tang Mã Khách là nghị lực vượt qua nghịch cảnh nhưng ở đây là cách cục Hình Kỵ Tuyệt đương số thường gây thái quá, tính chất ổn định không có nhiều. Do đó mệnh cách cần thiết ổn định và thời cơ. Thiên Mã là lao động, mệnh cách hướng tới vạch đường lối rõ ràng sẽ tránh được khó khăn gặp phải. Một sao Phượng Các đi với Đồng Âm, sự nhất trí đồng lòng được giúp đỡ là quan trọng để hành động, thực hiện các quyết định. Lưu ý đương số nên tránh tự động sẽ tự tạo khổ cực cho bản thân, làm việc cùng chung sẽ mang ý nghĩa tốt đẹp hơn. Tài cách ở đây trục Tài Phúc có Không Kiếp Song Lộc ngộ Cự Nhật là trọng điểm của Tài Cách. Hình thành bố cục Lộc Mã giao trì là bố cục hay thuộc phú cách do Tài động, tuy nhiên Thiên Mã phá cách nên tiền vào chưa tích tụ đã phải sử dụng, tiền cũng thăng trầm do thêm cách Không Kiếp Hình Kỵ ở đây. Phúc Đức cung không mấy tốt nên tai ách gặp phải tuy mệnh cách có bố cục khá may mắn nhưng đa phần lại gặp nhiều tai họa mới được trợ giúp. Do đó cách cục phát may phá cách ở tại Thân và Phúc, đương số không nên cầu cạnh vào may mắn mà dụng cách Binh Hổ Cự tức bản thân đưa ra quyết định một cách chắc chắn không trông chờ trước mọi việc. Quyết sách hành động của bản thân tự tạo sẽ mang lại kết quả khả quan do ở đây Đồng Âm cư Tí ngộ Tang Phượng Khoa Kỵ, trong khi ngôi sao may mắn Cơ Lương gặp Hỏa Hình tức cơ hội tới nóng vội sẽ dẫn tới thất bại. Ổn định là cần thiết để bố cục này chế hóa được cách cục nặng như Kỵ Hình Linh Hỏa ngộ Cơ Lương ở tại cung an THÂN tức hành động, bản thân của đương số.



Do đó nếu đương số vận theo Tài Cách tuyệt đối không nên có khuynh hướng đầu cơ hay làm việc thiếu cẩn trọng, trông chờ vào may mắn ắt khó thành tựu, tổn thất lại lớn . Đương số cần chú trọng với bản thể nội cách là Cự Nhật Binh Hổ, chờ đợi đúng thời điểm là quan trọng, luôn cẩn trọng trước những lợi ích trước mắt, nhanh chóng vì cách cục không may mắn nằm ngay tại cung an THÂN. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách sẽ ảnh hưởng tới khả năng thụ hưởng của bản thân, mệnh cách đa phần luôn ứng hợp phải lao lực, vất vả ít được thảnh thơi.  Do đó nếu không dụng trợ cách phù hợp hóa cách cục thành nỗ lực phấn đấu, gây tạo sự nghiệp thì cách cục lao lực trở nên phí hòi công sức. Chữ chờ thời điểm và chủ động tránh do yếu tố bên ngoài như tham muốn nhanh chóng tác động là rất quan trọng với đương số. Mệnh tạo có cách cục tốt về hậu vận. Đương số ở tại hai đại vận sau bố cục càng ngày tốt, đặc biệt vận Thiên Phủ độc tọa ở cung Hợi. Nam mệnh với cách Cự Nhật Lưỡng Long. Thiên Mã là sao chủ nghị lực nhưng cũng mô tả khó khăn bản thân gặp phải. Qua đại vận của Mã Tuyệt và đại vận Liêm Tham mệnh cách Cự Nhật có khuynh hướng tăng tính chất trầm ổn, dần ứng hợp được với Địa Kiếp tại cung độ Cự Nhật và ngoại cách Kỵ Tồn. Mệnh cách VCD có nội Cự Nhật và ngoại Đồng Âm xung các đại vận hiện tại rất nên tự khởi tạo, xây dựng sự nghiệp hay tổ chức riêng, cách cục của Cự Môn chủ gừng càng già càng cay, Cự Môn là hiểu biết, Cự Nhật cách ở đây tuy không có Khoa Quyền Lộc nhưng được Không Kiếp, ngoại cách lại gặp Song Lộc có thể dụng được cách Cự Nhật.

Sunday, January 21, 2018

Vấn đề luận nam mệnh VCD nội Cự Nhật



1. Ổn định sẽ giúp chế hóa cách cục nặng ở THÂN/PHÚC như là Hình Kỵ Linh Hỏa: theo tôi hiểu, Kỵ sẽ làm bộc lộ những khiếm khuyết của các sao, nên nếu hành động nóng lạnh (Hỏa Linh) thất thường sẽ phát sinh tai họa. Như vậy nếu không có Hỏa Linh, chỉ có Hình hoặc chỉ có Hình/Kỵ thì cách chế hóa có còn là Ổn Định hay không? Nếu không, lời khuyên của Tử Vi Luận Giải ở đây là gì? (Qua kiến thức trên trang luantuvi, chế hóa Hóa Kỵ có thể là sự kín đáo, quyền biến, đa nghi, cẩn thận, tính toán rủi ro ..., nhưng chế hóa Hình thì tôi không thấy nói nhiều, chỉ là Riêu gặp không tinh thì hết mờ ám và Hình sẽ là hình mẫu. Điều này có áp dụng với mệnh số của tôi không?  Mệnh cách có Riêu ngộ Thiên Không tại bản cung)

Ở đây mệnh cách VCD có nội là Cự Nhật, ngoại cách Đồng Âm do đó cung độ an Thân cùng là cung Thiên Di ứng hợp quan trọng khi luận cách, do đó đương số cũng sẽ rất quan tâm tới cung độ này vì tính quan trọng. Nội cách Cự Nhật Kiếp Phi tính động lớn do giao hội với nhóm Thanh Phi Phục. Ở đây mệnh cách có Binh Hổ là bố cục có thể hóa được Kiếp Kỵ với nội Kiếp ngoại Kỵ. Cung an Thân tính động lớn, do cách cục Đồng Âm ngộ Linh Hình Kỵ giao hội Mã Khốc Tuyệt Tồn Không. Quan trọng nhóm sao an theo Thiên Can là Tồn Ấn Bệnh kỵ ngộ bố cục Tuyệt Kiếp Mã là bế tắc, tồn tại khó khăn, cũng là cách phù động. Tuy nhiên lại hình thành bố cục Lộc Mã giao trì, ở đây nếu dụng ổn định cẩn trọng, tránh phù hợp nhập vận tránh được họa không ngờ đến. Cách cục Cơ Lương Hỏa Linh Hình Kỵ Không Kiếp Tuyệt giao hội với Mã nên càng động thì dễ gặp họa, Cơ Lương là thời cơ,cũng chủ đầu cơ mạo hiểm,mệnh cách tính ổn định tức không nên ưa việc vận dụng cơ hội ngắn để thành tựu nhanh chóng. Với bố cục tổ hợp không thể luận tách riêng rẽ, xét toàn bộ phối hợp chế hóa của từng nhóm giao hội, phân định ra ý nghĩa của toàn tổ hợp. Ở đây bố cục không phải Không Diêu mà là Hình Kỵ Hỏa Linh Tuyệt giao hội Cơ Nguyệt Đồng Lương và Không Kiếp tác động, nhóm sao theo Địa Chi là Phượng Khốc Mã và Thiên Can là Tồn Ấn Bệnh, Khoa có tính cứu trợ, ổn định cách cục. Cách Khoa Ấn nếu không có tại đây thì họa rất nặng nề, có thể vong mạng. Với Phượng thì hai mặt, ở đây thiên về cát hung tương bán, do Phượng Khốc là tổ hợp của nhóm sao này. 

2. Mã Hình Tuyệt Linh Hỏa có tính sát rất nặng. Nhưng cũng vẫn câu hỏi trên, nếu chỉ xét riêng Mà Tuyệt  (hỏng việc, khó khăn ...) thì chế hóa nên là gì?

Không thể xét riêng bố cục một hai sao mà cần xét toàn tổ hợp phối hợp với Chính Tinh, đầy đủ nhóm sao an theo Địa Chi và Thiên Can, tính tác hóa của Sát Kỵ, khả năng chế hóa của Trợ tinh với bố cục, phối hợp như vậy luận cần có thực lý, việc cơ bản hay gặp khi luận tử vi là lắp ráp các sao, luận tách riêng nên không rõ tính chất, đôi khi nhìn cách Kiếp Kỵ trên lá số luận mệnh xấu, yểu tử. Cách cục này cần sự cẩn trọng, giảm động, ổn định cách trước cơ hội ngắn, cẩn trọng không nên suy tính quá nhiều ảnh hưởng tới đầu óc. 

3. Ngoài các sát tinh tại THÂN (Di) PHÚC PHỐI, cũng còn Ấn, Khoa, Tướng (Binh Hình Tướng Ấn đứng từ góc độ của Di). Có vẻ như các sao này cũng có một số tác dụng chế hóa (Ấn Hình), Khoa Kỵ/Linh. Nghiệm lý của tôi trong đại vận 23 - 32 là mặc dù bị phá sản nặng nề năm Mậu Dần 1998, nhưng năm 2000 (Canh Thìn) được đinh cư ở nước ngoài theo cách rât rất đặc biệt, và may mắn này đã khởi phát cách này từ năm  trước 1999 (Kỷ Mão) (Tôi được định cư dưới dạng người có kỹ năng đặc biệt; tại thời điểm đó, tôi là người Việt đầu tiên thành công trong chuyện này, đây cũng là bước ngoặt trong cuộc đời).

Vậy tôi có thể vận dụng các sao trên (Ấn, Khoa, Tướng)  được không ? và như thế nào? 

Đây có bố cục Sát đã được hóa cục sau khi tác họa, đương số tăng cường khí hình, thích nghi và bắt đầu dụng Sát cách. Do đó cổ nhân thường luận đại họa không chết thì phát hồng phúc tức phúc lớn. Hay câu nói khi bản thân chuẩn bị thất bại với khó khăn không thể vượt qua thì đây cũng là lúc cơ hội thành công rực rỡ nhất. Bố cục Sát có đặc tính khi bị chế hóa một phần, nếu cách cục khí hình vượng sẽ thành tựu trong khó khăn. Đúng khi luận bố cục này được dụng do cách Binh Hình Tướng Ấn, tuy hình thành cách Tướng Binh Tử Tuyệt ngộ Khoa Phượng. Ở đây luận theo Tướng Binh Tử Tuyệt do gốc đại vận là Tuyệt Mã Khốc. Chữ Khoa ở đây cứu giải mạnh, cách Lương Khoa thường không gặp đường tuyệt do Thiên Lương khí hóa rất lớn, lại có Khoa  và Hình Ấn trong cái ẩn tàng Sát gặp chữ Quý cứu giải. Tuy nhiên đương số vẫn rất vất vả vì chữ Tuyệt tại đây, sẽ giảm dần theo thời gian của vận khi trợ tinh bắt đầu tăng sức cát hóa. Dụng cách Binh Ấn Khoa là sự kỷ luật của Thiên Hình, cách cục này mang ý nghĩa nghiêm khắc với bản thân trước khi đưa ra quyết định khi gặp cơ hội trước mắt. 


1. Vì tôi tuổi Canh nên Khôi Việt sẽ là Mùi Sửu (Khôi tại Phụ Mẫu), nhưng nhiều chương trình an sao an Khôi tại Mệnh của tôi (Tại Ngọ).  Về thực tế nghiệm lý như sau:

Tôi là cháu đích tôn (Con trai cả, và tất nhiên bố tôi cung là con trai cả). Cũng là người học hành khá chỉnh chu, làm việc khoa học. Cũng là thủ khoa ở trường Đại học lớn ở nước ngoài. Hay có khuynh hướng/hoặc thích khác biệt. Điều này 'có vẻ' ứng với KHÔI tại mệnh (nhưng cũng có thể giải thích bằng CỰ nội cách và KHOA ngoại cách).

Ơ cung Phụ Mẫu, bố tôi là con cả, hiền lành một cách đặc biệt, cả cuộc đời nhường anh em (vật chất và tinh thần). Theo tôi hiểu, tính chất này có thể ứng với Đà Khôi (tại phụ Mẫu). Năm 2015, tiểu vận cung Sửu mua nhà, tôi tự luận là do Việt Vũ phát sinh tài sản.

Nếu có thể xin thầy cho một vài nhận xét để xác định hoặc tiếp tục nghiệm lý về vị trí Khôi Việt đối với tuổi Canh của minh.

Thiên Việt đi cùng nhóm sao Vũ Tham là cách phát triển tham muốn, ở đây toàn bố cục là tinh hệ Tử Vi và Phá Quân xung đột với cách Kình Việt Đại Quyền. Bố cục này chủ sự xung đột và phát triển định hướng. Do cách cục này được kích hoạt bởi Việt và thay đổi bởi cặp Kình Đại, động cách do xung đột giữa hai nhóm sao lớn nên tiểu vận nhập tới hạn Hợi Mão Mùi đều xuất hiện những thứ mới, thay đổi mới, quan trọng nhất là khó khăn mới. Nếu không có Việt tại đây thì cách cục Kình Đại biến đổi không mạng, cũng không phát sinh cái mới, xung đột mới. Nếu ở mệnh cách có bố cục Khôi Việt hình thành cách Cự Nhật Tuế Thanh Khôi Việt là bố cục đứng đầu rất mạnh, cách cục này phát danh lớn, và Việt là phát sinh đi với Cự Nhật khi nhập tới tiểu vận năm Thân bất cứ đại vận nào sẽ xuất hiện khuynh hướng tạo mới, khai tạo, khởi sự. Nhóm Khôi Việt mang tính chất tăng cường tính chất cho nhóm sao, bản thân cũng mang ý nghĩa sự quý hiếm. Ở đây người viết có đăng tải bài viết về Khôi Việt an theo Dịch Lý. Lưu ý Khôi Việt đi với nhóm Cự Nhật rất mạnh về tính khởi tạo. Khôi Việt đi với nhóm Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham là cách phát sinh xóa bỏ, thay đổi hay xây dựng, ở đây là cách Việt Kình Đại. 

2. Đối với tôi vì cuộc sống có khá nhiều gian truân, bôn ba vất vả, tình cảm riêng cũng vậy, nên rất quan tâm đến việc chủ động chế hóa sát tinh (chắc là do dương cách chủ đạo như thầy đã nói). Đây thực sự là điểm vô cùng thú vị của trang Luantuvi. 
Vì sang năm có Lưu Đà, Lưu Kỵ, và Hình tại Tiểu vận, nên tôi muốn hỏi chủ động cách chế hóa của Riêu Đà Kỵ (nếu chỉ xét riêng) có thể là gì? Đọc bài gần đây nhất của Luantuvi có nói, việc nghiên cứu huyền học, lý số có thể là một cách cho Riêu Đà Kỵ. Với thực tế xã hội hiện nay liệu có thể có các cách chế hóa Riêu Đà Kỵ khác nữa không?

Cách chế hóa của Tam Ám là tính chất ngầm, Diêu Đà Kỵ mang tính chất ám, lại mang tính cản trở, thị phi hình khắc. Thực chất ở đây là giao hội của nhóm Đà Hao an theo Thiên Can, tính chất hiển hiện ở bản tính với Hình Diêu và Hóa Kỵ. Trong đó khi luận Tam Ám mạnh ở bố cục Hình Kỵ Đà chủ sự thay đổi và bị ngăn chặn, bế tắc. Tính âm ám tức sự cản trở rất mạnh, cũng cần xét các bố cục Đà Kỵ đồng cung khác, Diêu Kỵ đồng cung khác, việc có một sao xung chiếu và củng chiếu khác. Trường hợp đúng cách xét riêng bố cục này là sự khắc phạt và cản trở, không mang dương tính mà mang âm tính, sự nhẫn nhịn, nhẫn nhục của Đà La. Ở đây nếu mệnh dương tính thì dụng bằng cách chủ động trong dụng tính ám. Như việc một kẻ quyền lực trong bóng tối, danh tiếng khiến nhiều người kính nể khi nhắc tới là một cách chế hóa mạnh của Tam Ám. Cách hay là Kỵ Khốc Đà giao hội Quyền và trợ tinh, bố cục mang tính chủ động. 

3. Các ý kiến luận về tam hợp rất hay. Tôi cũng hơi băn khoăn về mức độ ảnh hưởng của nhị hợp. Với cung nhị hợp của mình có Đà Khôi,  ảnh hưởng sao này tới mệnh cách thế nào?
Một câu hỏi thêm có tính chất hiếu kỳ, nếu Đà Khôi Hình đi với Thiên Lương liệu có thể nói là hợp với nghề như kiến trúc xây dựng (Đà)  hình ảnh (Hình và Lương) đẹp (Khôi) được không (nếu chỉ xet riêng 4 sao này thôi)?  

Với bố cục của nhị hợp là tác động liên quan như người bên cạnh. Bản thân và môi trường là quan trọng, cung nhị hợp có giá trị khi cách cục thuộc trọng điểm và đại vận qua cung độ này. Bằng không nếu xét tiểu đại vận tới mệnh thân là đủ khó khăn để luận, nhị hợp không cần chú trọng lớn trừ các trường hợp mạnh như Ám Lộc,...

4. Thêm một điểm nữa là: Lưu Tuần cho từ 2014 đến 2023 sẽ ở Thìn Tỵ, cũng rơi vào cung tiểu hạn sang năm của tôi. Ảnh hưởng của Lưu Tuần trên thực tế nghiệm lý có mạnh không? và được hiểu thế nào khi đọc tiểu hạn/đại hạn?


Lưu Tuần trên thực tế không đủ sức tác động tới các bố cục Chính Tinh và Trợ Tinh trừ Tử Vi và Thiên Phủ, với hai sao này cũng không quá nặng nề. Qua nghiệm lý và luận đoán không dùng nhiều tới bố cục Lưu Tuần Triệt ở lưu đại vận. Có thể hiểu như Tử Vi ngộ Lưu Tuần là thiếu tính tự chủ, quyết đoán trong một thời gian. Nếu Tử Vi gặp Tuần cố định là tính cố hữu, bản thân thường bị che lấp, làm bình phong cho kẻ khác trục lợi, mất đi thực quyền lại phải chịu nhiều trách nhiệm. Tử Vi kỵ Triệt Tuần do nhiều lý do. Khi xét Lưu cung cần xem tiểu vận các bố cục trọng điểm có mạnh hay không, các sao tăng tính quan trọng, quan trọng nhất là Lưu Kỵ, Lưu Lộc Tồn. Nếu phân các lưu thì phân theo các nhóm sao luận phân bố vào cung độ tiểu vận, đại vận và mệnh thân cố định.