Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Thiên Can. Show all posts
Showing posts with label Thiên Can. Show all posts

Monday, August 2, 2021

Tướng trạng của tinh đẩu trạng thái hóa khí

 Tướng do tâm sinh. Thực tế khi xét đoán tướng số là giai đoạn tương ứng hành khí của tinh đẩu. Lộ tướng và ẩn tướng do tư tưởng sinh khởi của nhân mệnh phát sinh cũng dự đoán một phần giai đoạn hoặc cuộc đời của đương số. Luận đoán tử vi hay tứ trụ cũng thường xét sắc tướng để định về vượng suy của nhân mệnh qua thời kỳ và tính cách của nhân mệnh. Người nghiên cứu tử vi thời gian dài thường thấy tương quan của diện tướng và năng lực, khả năng hoạch tài hay phát quan vị của nhân mệnh trong thời điểm xét đoán. Hành vận thay đổi tương tục, diện tướng cũng xoay dịch theo thời vận không sai khác. Có những ẩn tướng khi hiện lên báo hiệu tai họa tới rất gần, có thể hạn sinh tử của mệnh cách. Qua cử chỉ, phong thái, diện tướng cũng xét khởi một phần tính cách hay bản tính của mỗi người. Tương kiến khi nhìn người, chọn người và dự đoán về năng lực, trình độ, khả năng hoàn thành công việc. Dự đoán về nhân tướng có tương quan rất lớn với tử vi. Tướng trạng các sao trong tử vi tương ứng mà tạo nên sự tương hợp của định hành vận và xét diện tướng. Thường người nghiên cứu tử vi hiểu được Thiên Lương là "Ấm", Thiên Đồng là "Phúc". Chữ Ấm có các đặc tính cơ bản bởi tính nhân quả lành. Tập ấm, thừa ấm. Tính chất tập ấm cao là ấm thọ, thứ tới ấm sinh của tử tức quan lại trong triều đình. Thiên Lương do đặc tính cơ bản trên, đắc cách thường chủ được thừa hưởng, tiếp quản công sức của phụ mẫu, gia tộc. Chữ "Ấm" chủ mang lại rất nhiều ý nghĩa hay. Với chữ Phúc có đặc tính chủ được hưởng, thừa hưởng từ nội lực của bản thân và xét tới may mắn gặp thời vận nhiều hơn thừa hưởng từ phụ mẫu tổ tiên. Thiên Đồng luôn ở vị trí tam hợp chiếu với Thiên Cơ càng rõ tính chất may mắn, phúc phận gắn với thời cơ. Thiên Lương có thể giao hội với Âm Dương hoặc giao hội với Cơ Nguyệt Đồng thành cách Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương và Thái Âm luôn tam hợp chiếu, bên cạnh Thiên Lương sẽ có tính âm thầm che chở của Thái Âm. Do bố cục của tinh bàn, thế đứng của Thiên Lương sẽ tránh được sao Cự Môn. Thiên Đồng trong trường hợp Cự Cơ Đồng sẽ hội Cự Môn. " Công danh đợi tuổi tác cao, giáp Liêm giáp Sát một hào chẳng sai" là cách của Thiên Lương Sửu Mùi. " Lương tại Tị tắt tật du" xét Thiên Lương tại vị trí Tị. 




Thực tế khi xét định phú luận không nằm ngoài tính chất cơ bản khi phát sinh biến hóa của Thiên Lương. Trong cách Âm Dương Lương, đặc biệt khi Âm Dương lạc hãm hoặc đồng cư tại Sửu Mùi. Nếu mệnh cách ở vị trí Thiên Lương sẽ dễ tăng thêm khuyết điểm bởi tính thụ động, hưởng thành quả từ nhân quả lành trước mang lại. Ấm giám là công ơn của quan phụ mẫu được học Quốc Tử Giám. Chữ Ấm khi phát sinh biến cục sẽ khiến nhân mệnh khởi cách giải đãi, dễ hoàn cảnh mang lại tốt, hoặc nội tâm không đặt tham vọng lớn lao khiến giai đoạn tiền vận khó khăn trắc trở. Trong thời loạn lạc, hay thời vận bĩ cực của vận thiên hạ như chiến tranh, bệnh dịch. Cách cục của Thiên Lương và Thiên Đồng càng thể hiện rõ tính phúc ấm của nhân mệnh gặp may mắn. "Phúc ấm tọa Mệnh Thân bất phạ tai ương". Khi nghiệm lý về các cách cục của Thiên Lương hay Thiên Đồng nhập mệnh cung, hội họp Sát Kỵ giao hóa đều có những tai ách và giải cứu vô hình, may mắn tới phù trợ giúp nhân mệnh thoát khỏi hiểm nguy. Xét về diện tướng, Thiên Lương nhập mệnh phân trường hợp độc tọa và đồng độ. Với cách Cơ Lương chủ tướng mạo có phần hiền hòa, nhìn Cơ xét tới lông mày, ắt chủ cong, đặc biệt tại đầu chân mày, Lương chủ hạ đình có phần rộng, tướng mạo thường có nét vuông. Với cách Dương Lương cư Mão chủ mắt có thần sắc, tướng mạo chủ dương. Khi nghiên cứu nghiệm lý lá số tử vi, cần lưu ý tính chất quan trọng của Chính Tinh phối hợp định cách tại Mệnh, cũng tức diện tướng khởi của mệnh tạo. Dẫn tới một kết quả tương đối có ý nghĩa khi người nghiên cứu tử vi thường có khả năng xét đoán tới nhân tướng. Tướng pháp của nhân mệnh còn có thể sử dụng khi xét về chức năng ngũ tạng trong nội thân, bệnh tật tương ứng phát ra bên ngoài. Dịch bệnh gọi là covid-19 lây lan qua các biến chủng mới xuất hiện càng có tác động biến hóa mạnh, tiến hóa về đột biến. Thứ phát triển đột biến cũng chính là ý nghĩa tác hóa của Sát cục. Biến hóa thay đổi triệt để là tác động không hay đối với con người, tuy nhiên với bản thể virus mang ý nghĩa có lợi khi thích nghi và lây lan nhanh hơn. Sự thay đổi và đột biến của những điều tai họa, tai kiếp là điều đáng lo ngại nhất, tương ứng với tính chất của chính lục sát tinh Kình Đà Không Kiếp Hỏa Linh với đột biến không ngờ Thiên Không Địa Kiêp dẫn hóa. 




Tính chất thay đổi là tính chất quan trọng của Sát tinh, dẫn hóa bởi Kình Hao và Đà Hao. Tính chất linh hoạt hay cường động là nguyên căn cho sự thay đổi đột biến dẫn hóa hởi Hỏa Tinh và Linh Tinh. Nếu căn bệnh do virus này không phát khởi biến thể đột biến nhanh chóng, hoặc không có tính lây lan, tấn công đa dạng nhiều nguồn lây thì không là mỗi tai họa lớn. Bằng chính bản chất hoạt động của virus, ta nói virus có khả năng đột biến, biến hóa nhanh. Bằng chính bản tính của một người, ta nói người đó có khả năng hoạch phát mạnh. Thời kỳ của Lộc Tồn hay Lộc Tướng Ấn có tính chất đã biến hóa sai biệt rất nhiều so với thời kỳ lịch sử giai đoạn phong kiến, quân chủ chuyên chế. Thời kỳ hiện tại là giai đoạn của sự thay đổi, dời đổi nhanh chóng. Sự đột biến của một nhân mệnh có thể tới rất nhanh và tạo ra tài sản khổng lồ qua internet kết nối vạn vật so với kinh thương truyền thống, điều này qua nghiệm lý cũng xuất hiện rất rõ qua các lá số nhân mệnh có tuổi đời rất trẻ . Sự táo bạo của Sát tinh tạo ra thời cơ rất lớn cho nhân mệnh trong giai đoạn lịch sử hiện tại so với nhiều thời điểm trong quá khứ bị hạn chế bởi quyền lực trong hệ thống địa vị xã hội. Cơ hội vẫn nằm ở đó, rất nhiều trong một không gian rộng lớn mà mỗi người tiếp cận rất nhanh gọi là không gian mạng. Nơi tập hợp cơ hội rất nhiều, và người mệnh số gặp thời vận, cách cục hành vận hoạch phát vẫn nắm được thời cơ tại đây để tạo đột biến kích phát, người vận bình hòa vẫn không nắm được một cơ hội. Cự Môn hội Lưỡng Lộc vẫn luôn tìm kiếm những tri kiến, kiến thức chuyên sâu từ internet và dễ có thêm khả năng học thêm ngôn ngữ mới là tiếng anh do nghiên cứu chuyên sâu của quốc tế sử dụng ngôn ngữ này là phổ biến. Tính chất thích nghi là yếu tố cốt lõi để định cách tổ hợp Sát của thiên bàn. Không Kiếp là thế bĩ của thời vận, nếu ứng hiềm cách cục thích nghi ắt là thượng cách, có tính chất cát hóa biến hóa vô cùng. Thuộc kỳ cách. Kình Dương và Đà La rất quan trọng. Bốn nhóm sao an theo Thiên Can gồm Lộc Tướng Ấn, Kình Hao, Đà Hao, Thanh Phi Phục tượng cách như tổ hợp phân bố của Chính Tinh tới 12 cung độ. Không xét tính chất khuyết thiếu của tinh đẩu, đều có khả năng tạo hoạch lực đứng đầu xã hội tùy dụng thể hay bất dụng. 




Sự biến đổi phù hợp với thời vận không chỉ là cách Kình Hao, còn chính là cách Đà Hao. Khi rất đông số người đầu cơ nhà đất giai đoạn 2007 đến 2008 sau đó kinh tế suy yếu đã có nhiều gia đình rơi vào cảnh khủng hoảng, vỡ nợ. Trong thời điểm đó. Nếu Đà Hao suy tính cặn kẽ, có tính chờ đợi không táo bạo cướp thời cơ như Kình Hao, có lẽ giai đoạn về sau khi kinh tế phục hồi sẽ tạo nên khối tài sản lớn mang ý nghĩa hay hơn Kình Hao. Bốn nhóm sao chính an theo Thiên Can đều có đặc tính cát hóa hoặc hung hóa phù thuộc vào bố cục tinh đẩu hội họp. Trạng thái của nhóm sao này khi gặp Hóa Khí sẽ hình thành nên tổ hợp sao có tác động kích phát mạnh khi bộc lộ ưu điểm hoặc khuyết điểm của cách cục. Trong trường hợp nhóm Lộc Tướng Ấn, Hóa Lộc hội họp tác động trực tiếp tăng cường tính chất tích lũy, phát sinh lộc tại trong nội tính chất, do vậy cách cục Lưỡng Lộc hay Song Lộc có tính chất lớn mạnh. Với Đà La, khi Hóa Kỵ hội cách trực tiếp tăng cường tính chất âm tàng, thu ám và hình thành tính chất lớn mạnh. Với Kình Dương, khi Hóa Quyền hội cách tăng cường tính quyền biến, uy áp, quyết đoán của Kình Dương khiến cách cũ ý nghĩa tăng mạnh khi hợp hóa. Với nhóm Thanh Phi Phục, tính chất điều hòa, phục khí khởi từ tan rã tức Phi Liêm tới hoàn lại Phục Binh và tiến khí Thanh Long hội cách Hóa Khoa ứng hợp tính chất mạnh. Thanh Long đứng đầu nhóm sao này chủ thanh danh, danh tiếng. Phân định sâu bên trong của bốn cách cục này là cả một nghiên cứu dài. Khi hóa khí hội cách cùng nguyên cục nhóm sao riêng rẽ này sức tác hóa sẽ lớn mạnh hơn rất nhiều. Trong đó nhóm Lưỡng Lộc sẽ thường mang ý nghĩa tốt chủ phát phú, đắc danh lợi, khả năng tích lũy, thịnh vượng. Đà Kỵ sẽ thường mang ý nghĩa không mấy hay chủ cản trở, khi tốt đẹp hưởng chữ kỳ tài, ẩn sĩ, mưu lược. Khi người nghiên cứu nghiệm lý tiếp theo về các vị trí hình thành Lưỡng Lộc hay Đà Kỵ của các thiên can sẽ xét định từng Thiên Can với các vị trí đặc biệt hình thành cách cục này. Với can Giáp, Lưỡng Lộc chỉ xuất hiện khi Liêm Trinh cư tại ba cung Dần Ngọ Tuất. Tại bố cục này, Song Lộc hội nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có thêm Khoa. Cách cục Khoa hội Lưỡng Lộc có lợi với can Giáp rất lớn. Tại can Ất, cách cục Song Lộc hóa khí từ Thiên Cơ hình thành khi mệnh cách gặp nhóm Cự Cơ Đồng tại Hợi Mão Mùi. 




Trong trường hợp này, cách cục thường theo khuynh hướng chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ sinh ra tài lộc. Thường gặp mệnh tốt tại cách Cự Cơ cư Mão ngộ Lưỡng Lộc. Cách cục Kỵ Đà hình thành bởi Thái Âm cư tại Dần Ngọ Tuất. Trừ tại Tuất cung có phần tốt các cách cục còn lại mang ý nghĩa không mấy hay. Xét định gốc niên can sẽ hình thành nên các thế đứng cơ bản của tinh bàn dựa trên hóa khí phối hợp chính tinh và nhóm sao an theo Thiên Can. Phàm khi hội Lưỡng Lộc thường là vị trí đắc thời, tại cách Đà Kỵ dễ có cản trở, khó khăn. Đây là điểm cần chú trọng khi xét định cách cục theo nguyên cục. Nếu hội Không Kiếp hay Hình Sát tại cách cục đều là cách chủ hung. Trong trường hợp này, hành vận sẽ có tác động cát hóa nguyên cục, nếu vận hung thì mệnh khó thành tựu, hạn hành trùng phùng Sát Kỵ, dễ tuyệt mệnh. Trong giai đoạn dịch bệnh lan truyền nhanh, việc hiểu biết và phòng tránh tức Hóa Khoa hay Xương Khúc và Tuần Triệt là điểm quan trọng. Luận khán sinh tử vận là phần luận thường sai biệt rất lớn khi định số. Người viết có cơ may được tiếp cận với một số thai nhi sinh khởi ở tại bệnh viện mắc bệnh di truyền bẩm sinh hoặc một số bệnh tật nặng khác khiến nhân mệnh không thọ trường, tuyệt khí. Cũng trong thời điểm này, các thai sinh khác cùng giờ sinh bình thường. Khai thị vấn đề này, khởi vận cổ nhân truyền lại tính nhân duyên với phụ mẫu. Đa phần các trường hợp sinh khởi bình thường khi xét định lá số tử vi sẽ khán được hạn quá khứ và dự đoán nguyên cục cát hung xét phú, quý, bần, tật, thọ, yểu. Như cách cục Sát Kỵ trùng khởi mệnh và niên vận thứ nhất, xét hạn sinh tử khảo cứu cũng không có tác dụng rõ nét do những sự cố sau khi sinh được y thuật tiên tiến hỗ trợ rất nhiều trường hợp tránh được hạn tử tuyệt. Cổ nhân xét định phần định cách tính chất sao thường luận "Phi yểu tắc bần". Tức mệnh số khí hóa gốc cường vượng không gặp yểu cách thì sẽ bần hàn. Không nên nhầm lẫn bởi Sát cục có thể tạo đột phá lớn tới sự nghiệp, cuộc sống của nhân mệnh tuy nhiên tính Sát liên quan tới bổn mệnh luôn tương động rất rõ. Người viết có người họ hàng ham mê về cờ bạc, dẫn tới tham gia trên mạng thua hết gia sản, số tiền có thể tham gia chơi rất lớn và cách thức chơi không quá khó khăn. Rất nhiều nhân mệnh có khuynh hướng tuyệt mệnh khi mắc phải khoản nợ lớn khi tham gia đỏ đen dẫn tới cuộc sống về sau chuyển hướng hoàn toàn. Không gian kết nối mạng có thể phát sinh những tri kiến, những công việc kinh thương tạo giá trị tài sản rất lớn, cũng có những điều mạo hiểm khiến nhân mệnh có thể thất bại hoàn toàn. Lâm "tứ đổ tường" rất phức tạp, đặc biệt về cờ bạc có thể khiến mệnh cách tiêu tán sản nghiệp nhanh chóng. Trong những vấn đề trên, thường hình thành tại mệnh cách có Thiên Diêu hội nhóm Tang Hư Khách, hoặc hội Hỏa Linh trong cách cục Diêu Kỵ hay Diêu Đà. Tác hóa của tham muốn trở nên loạn động lớn khi tham gia cờ bạc, khiến đa phần mệnh tạo dần trở nên mạnh bạo, mạo hiểm đặt cược số tiền rất lớn sau một thời gian và tạo nên khoản nợ rất lớn. Tướng trạng cách cục Diêu Hỏa Linh có thể gây ra tai kiếp với Tài cách nhiều hơn cách cục Kỵ Kiếp Hình. Đây là điểm rất quan trọng khi luận cách cục định Sát cách. Tại một địa điểm đặc biệt, thí như chịu áp bức lớn, cách cục Khoa Quyền Xương Khúc có thể không tốt đẹp bằng Kình Hổ. Cũng vậy, khi xét định khí hình vận tức tướng trạng thực điểm của tinh đẩu trong thời điểm xét định là điểm quan trọng để định cách cục. Bản chất của tổ hợp cần xét đắc dụng với thời hay không, nếu đắc dụng như vị thế của cung Điền Trạch trong giai đoạn đất đai tăng giá mạnh, cũng là cách Tài vượng. 

Sunday, April 2, 2017

Bố cục lá số tử vi tuổi Nhâm



Bố cục lá số tử vi tuổi Nhâm


Tuổi Nhâm thuộc Thiên can dương, luôn đi với các Địa chi Dần Ngọ Tuất, Thân Tí Thìn. Tuổi Nhâm an Lộc Tồn tại cung Hợi, bộ Lộc Tướng Ấn tại tam hợp Hợi Mão Mùi. Bộ Thanh Phi Phục ở đối cung tại tam hợp Tị Dậu Sửu. Do luôn đi với các Địa chi trên nên không thể đắc cả hai vòng Lộc Tồn và vòng Thái Tuế tại tuổi này. Xét về các sao quan trọng an theo Thiên can ta còn có Kình Dương cư Tí hay bộ Kình Hao tại tam hợp Thân Tí Thìn. Đà La cư ở cung Địa Võng hay bộ Đà Hao tại  cung Dần Ngọ Tuất. Ở vị trí của Đà La mang ý nghĩa xấu vì hình thành cách Đà Võng là mắc lưới, Đà La chủ cái bẫy, gặp Địa Võng tính chất này tăng lên khiến mệnh tạo dễ nhầm lẫn mà mắc sai lầm. Tuổi Nhâm an Triệt tại Dần Mão tương tự vơi tuổi Đinh. Ở cung Mão luôn có sao Bệnh Phù thuộc cách Tồn Ấn Bệnh, ở đây là cách Triệt Bệnh là cách tốt chủ trừ bỏ tính chất xấu của ngôi sao dễ gây tai họa nhất của nhóm Tồn Ấn Bệnh. Lộc Tồn cư Hợi của tuổi Nhâm thường được luận là nhập miếu thực chất là do vị trí của Bệnh Phù được Triệt khiến thay đổi tính cách. Trái với việc Lộc Tồn cư Tị của tuổi Bính luôn gặp Triệt tại bản cung có Lộc Tồn hình thành cách Lộc Triệt nên mang ý nghĩa xấu hơn các trường hợp khác. Tuổi Nhâm an bộ Khôi Việt tại Tị và Mão. Do vậy ở vị trí này có thể đắc vòng Lộc Tồn và hai sao trong là Khôi Việt. Sao Thiên Khôi cư Tị đồng cung với sao Phi Liêm , sao Thiên Việt cư tại Mão có Triệt đồng cung, nhóm Thanh Phi Phục tại vị có sao Phi Liêm hình thành bộ Phi Khôi mang ý ngghĩ khá hay nếu có chính tinh và bàng tinh hợp cách, khi xấu Phi Liêm chủ sai trái khiến Thiên Khôi trở thành tao họa lớn lên. Tuổi Nhâm có tứ hóa theo thứ tự Lương Vi Phụ Vũ. Do Vũ Khúc hóa thành Kỵ nên mang ý nghĩa kỳ nhân, kỳ tài nếu gia cát tinh vì Vũ Khúc là sao có tính chất giải pháp, phương án. Tả Phụ là trung tinh hóa thành Khoa có tính chất trợ giúp, tương trợ bằng kiến thức. Sao Thiên Lương là ngôi sao may mắn hóa thành tài lộc. Tuổi Nhâm chỉ có nhóm Tử Vũ Liêm được hai hóa khí là Quyền Kỵ, không thể hình thành bộ Khoa Quyền Lộc dù có thêm Tả Phù cũng là cách Khoa Quyền Kỵ. Xét tới các sao an theo Địa Chi gồm Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách và Phượng Khốc tại chính ở cung Dần Ngọ Tuất và Thân Tí Thìn. Ở dây nếu gặp sao Thiên Mã trong bộ Tang Mã Khách cư tại Dần Thân hay vì hình thành bộ Mã Khốc Khách có nhóm Tang Hư Khách và nhóm Phượng Khốc.

Saturday, March 4, 2017

Một số bố cục tuổi Giáp



Một số bố cục tuổi Giáp


Thiên Can Giáp thuộc tính Dương Mộc quật cường, phối hợp với các địa chi Thân Tí Thìn và Dần Ngọ Tuất. Giáp tượng trưng cho sự cứng cỏi, gốc rễ bền chặt. Tuổi Giáp an cung Triệt tại Thân Dậu, ở đây thuộc cách Triệt đáo kim cung uy lực lớn. Thường tuổi này cho các cách võ nghiệp. Xét về Tứ Hóa thì hóa Lộc Quyền Khoa Kỵ theo thứ tự Liêm Phá Vũ Dương. Với Phá Quân hóa vi Quyền khiến võ cách Sát Phá Tham dễ mang lại thành tựu do bộ sao này rất cần Hóa Quyền. Tuổi Giáp bộ Khôi Việt an tại cung Sửu Mùi. Do Lộc Tồn an tại Dần nên Kình Dương an tại Mão và Đà La tại Sửu. Sao Lưu Hà an tại Dậu khiến bộ Kình Hà không mấy hay vì xung chiếu lẫn nhau. Tuổi Giáp đi với các địa chi Thân Tí Thìn và Dần Ngọ Tuất nên Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách và Phượng Khốc, Thiên Mã chỉ an trong phạm vi các địa chi trên ở lá số. Với các địa chi Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi trên lá số được bộ Đào Hồng Hỉ, Kiếp Sát, Cô Quả. Tuổi giáp cách võ nghiệp rất dễ thành lập và dễ hợp cách hơn các Thiên Can khác. Với Mệnh cư Dần Ngọ Tuất ta được bộ Lộc Tồn Ấn Bệnh, có thể gia thêm Tuế Hổ Phù, Tang Hư Khách và Phượng Khốc, Thiên Mã. Còn các sao như Xương Khúc Tả Hữu Hình Diêu an theo tháng, ngày giờ. Đặc biệt nếu có cách Sát Phá Tham hay Tử Vũ Liêm tại các vị trí này khá tốt đẹp. Sao Thiên Hình cư tại đây được bộ Binh Hình Tướng Ấn thuộc võ cách. Nhìn chung, bộ Tứ Hóa đi theo các cách cục quyết định phần lớn tính chất thành công của Chính Tinh. Ở cung độ Thân Tí Thìn, được bộ Thanh Phi Phục có thể có các sao an theo Địa Chi của năm sinh như cách ở Dần Ngọ Tuất. Xét tại vị trí cung Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu.




Các cung này luôn chứa cách Đào Hồng Hỉ, Kiếp Sát và Cô Quả. Xét tại cung Hợi Mão Mùi ta được sao Thiên Việt, thêm Kình Dương cư tại Mão được cách Kình Hao Việt. Ở đây tùy địa chi năm sinh dễ gặp cách xấu là Kình Hao Sát có Lưu Hà tại đối xung. Ở cung Tị Dậu Sửu được cách Đà Khôi Hao có Triệt tại cung Dậu tính chất tốt đẹp hơn tại Hợi Mão Mùi. Ở các vị trí này không nên có cách Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm. Cả nhóm Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham tại các cung này hiếm được cách cục tốt. Như mệnh an tại Mão Dậudễ được cách cách Tử Tham, Vũ Sát, Liêm Phá. Tức cả hai nhóm gồm 6 sao Sát Phá Tham Tử Vũ Liêm an tại cung Mão Dậu chủ xấu. Xét tại cung Tị Hợi có cách Tử Sát, Liêm Tham, Vũ Phá cũng là cách cục xấu. Xét tại cung Sửu Mùi có cách Tử Phá, Liêm Sát, Vũ Tham có bộ Vũ Tham khá tốt đẹp, cách khác chủ khó khăn, vất vả. Hơn nữa, các cách cục này bị cách Kình Hao Sát hoặc Đà Hao Sát và bộ Đào Hồng Hỉ tam hợp. Bộ Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm không hoàn chỉnh kỵ gặp bộ Đào Hồng Hỉ. Vì vây, tuy Tứ Hóa là Liêm Phá Vũ Dương nhưng được cách Tam Hóa tại đây do giao hội hai cách cục nhưng bị phá cách một phần cần sự gian khổ ban đầu. Tuy nhiên cách võ nghiệp thành lập vẫn phát vì có bộ Tam Hóa và Khôi Việt với Kình Đà tại 6 cung này. Đã xét ở các cung Dần Ngọ Tuất và Thân Tí Thìn vẫn phù hợp với võ nghiệp cách. Vì vây tuổi Giáp nếu theo võ cách tức Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm dễ thành công, theo cách Cự Nhật hay Cơ Nguyệt Đồng Lương cần thiết tại các vị trí tốt đẹp. Nếu tuổi này không theo binh nghiệp thuộc cách kinh doanh chinh chiến cạnh tranh nhau về lợi ích.

Một số bố cục của tuổi Đinh



Một số bố cục của tuổi Đinh


Mười thiên can chia nửa Âm Dương kết hợp 12 địa chi thành Lục Thập Hoa Giáp. Thiên can Đinh đi với các địa chi Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi. Tử Vi có các sao cố định an theo Thiên Can, một số sao an theo Địa Chi năm sinh và tất cả được biểu diễn tại Địa Chi của lá số. Khi xét tới Tử Vi cần thiết nhất là bộ Triệt Tuần vì tính uy lực rất lớn, tác động tới tính chất mạnh hơn tất cả bàng tinh khác, chỉ yếu hơn tính chất ban đầu của Chính Tinh do Chính Tinh quyết định bản tính chú ý của tâm ban đầu. Như có Thiên Cơ thủ Mệnh từ tiềm thức chú ý tới bản thân, lợi ích cá nhân, cơ hội, thời cơ thay đổi là gốc của suy nghĩ, tất nhiên còn bị ảnh hưởng bởi các Chính Tinh khác trong tổ hợp. Ban đầu trong tâm trí trống rỗng tức ở thể chân sau đó mới lấy một tính chất do ngũ hành tương tác, âm dương phối hợp mà ra, làm bản tính ban đầu. Với tuổi Đinh thì Triệt chú ý đầu tiên, Triệt an tại cung Dần, Mão. Mệnh và Chính Tinh vào đây có sự thay đổi đặc biệt. bộ Khôi Việt cần chú ý thuộc hai trong Lục Cát Tinh. Khôi Việt an tại cung Dậu Hợi. Kế đến là vòng Lộc Tồn. Bộ Lộc Tồn Ấn Bệnh ở cung Ngọ Dần Tuất, bộ Phi Phục Thanh ở cung Tí Thân Thìn. Hai sao Kình Đà có Song Hai đi theo an tại hai bên của Lộc Tồn. Như vậy chia Mệnh thành 4 vị trí chính là Tị Dậu Sửu, Thân Tí Thìn, Dần Ngọ Tuất và Hợi Mão Mùi. Do tuổi Đinh chỉ có địa chi là Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi. Vì vây các sao như Tang Hư Khách, Tuế Hổ Phù, Phượng Khốc, Long Trì Quan Phù, Thiên Mã, Hoa Cái cùng pha với địa chi của năm sinh. Tức cung địa chi trên lá số đồng pha với địa chi của năm sinh nên các sao này an tại Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi. Các sao còn lại như Đào Hồng Hỉ, Cô Quả, Kiếp Sát, Thiên Hỉ an tại cung Dần Ngọ Tuất và Thân Tí Thìn trên lá số


 Cách này thể hiện tính âm dương, phân biệt rõ như hai bộ Tử Phủ Vũ Tướng Liêm Sát Phá Tham không bao giờ giao hội với Cự Nhật Cơ Nguyệt Đồng Lương. Vì vậy, lấy đối chiếu với các câu phú của tiền nhân cho ra nhiều nhận xét về tính chấ t riêng biệt của từng sao khiến việc tìm hiểu tử vi trở nên dễ dàng hơn. Không bao giờ tồn tại việc Đào Hồng đi với Tuế Hổ Phù hay Phượng Khốc. Vì vậy xét trường hợp tốt đẹp nhất của hai nhóm sao chỉ là các sao trong một nhóm tạo ra. Như ở nhóm một là địa chi năm cùng địa chi lá số thì cách cục tốt là Tuế Hổ Phù ngộ Phượng Khốc có Thiên Mã. Đây là cách cục Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long. Đa phần các sao cần thiết được gặp Tuế Phượng nhưng có các Chính Tinh ưa gặp Hư Phượng hay Tang Phượng. Trường hợp hai thường cần thiết có bộ Đào Hồng Hỉ chủ sự tốt đẹp vì đây là cách thịnh vượng. Ở vị trí Dần Ngọ Tuất và Hợi Mão Mùi bị Triệt làm thay đổi tính chất của bố cục, đặc biệt là hai cung Dần và Mão. Ở vị trí cung Mão cung Mệnh bị Triệt được cách Song Hao ngộ Kình Việt có Khôi củng chiếu. Đại hạn đi thuận cung hạn thứ hai được cách Triệt Ấn ngộ Lộc Tồn là cách cục khá tốt, được thêm cách Binh Tướng với nội Tướng ngoại Binh luận. Nếu có Thiên Hình tại đây đích thực là cách đứng đầu một đơn vị. Nếu vận hành nghịch được cách Long cư Long Vị cũng là cách cục hay. Mệnh cư Mão cần thiết được bộ sao Tuế Phượng. Tứ hóa theo cách Nguyệt Đồng Cơ Cự. Nếu có bộ sao này đầy đủ Cơ Nguyệt Đồng Lương tại tam hợp Hợi Mão Mùi là thượng cách do hình thành đủ bộ Khoa Quyền Lộc Kình Việt Song Hao có Khôi xung , nếu có thêm Xương Khúc không cần xét thêm vì bố cục rất mạnh, đắc lực không ngại Hoả Linh hoặc Thiên Hình.