Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Cung An Thân. Show all posts
Showing posts with label Cung An Thân. Show all posts

Tuesday, October 22, 2019

Một lá số Khoa Quyền Song Lộc hội



Nam mệnh khởi hành vận từ đại vận thứ nhất thuộc cung mệnh. Đại vận hành tức sự chuyển dịch theo từng giai đoạn qua các cung độ hình thành sự biến động và tư tưởng, tính chất bố cục của nhân mệnh. Thái Âm độc tọa cư Tuất ngộ Hỏa Hình Lộc Quả là cách chủ Tài vượng, do Thái Âm chủ âm tính, Tài tàng ẩn tính chất rất vượng, luận là ám lộc. Trong Chính Tinh hóa Lộc, Vũ Khúc đứng đầu thuộc tài tinh, thứ tới là Thái Âm và Cự Môn. Đại vận thứ nhất nhập mệnh cách, bản cung nhân mệnh có Hỏa Hình chủ tính nguyên tắc và dễ bộc trực trong tính cách. Đại vận này hình thành phương pháp, năng lực của bản thân, Thái Âm tác động hình thành tính cách. Trong tính chất của cách Âm Hỏa Hình, nội cách mang tính âm nhu, hòa hợp, tuy nhiên có tính phản kháng mạnh từ Hỏa Tinh, tức tính bộc phát. Thái Âm hội Khoa Quyền Lưỡng Lộc Đào Không, cách Binh Hình Tướng Ấn, giáp Khôi Việt chủ cơ trí hơn người, cách cục tuu gặp Thiên Không Không Vong phá Lộc Tồn vẫn là cách rất hay. Cơ Nguyệt Đồng Lương với Thái Âm đắc địa có Đào Hồng Cô Quả là điểm tốt, lại hội Khoa Quyền Lộc và Hình Ấn báo hiệu sự thành công lớn trong cuộc đời do chính tư chất của mệnh tạo tạo nên. Vận Thái Âm tại Mệnh cách, cuộc sống ôn hòa, phát triển bình ổn do Cơ Nguyệt Đồng Lương thành cách, tuy có những bất ngờ do cách Tồn Không tạo ra mang ý nghĩa kết quả không như ý định của mệnh cách, tuy nhiên đây là cách cục rất tốt đẹp với mệnh Thái Âm khi gặp Hỏa Hình Quyền Ấn cát hóa, chủ phát khởi khả năng tính toán, cơ mưu do cách cục tạo ra. Đại vận thứ hai từ 14 tới 23 nhập cung độ Thiên Phủ độc tọa cư Thân trong cách cục Phủ Tướng đơn thủ. Thiên Phủ có khả năng phán đoán, xét đoán các sự việc xảy ra và nhận định, suy xét không vội vàng, thường được luận "Giao long vãn uyên" cách. Thiên Phủ ngộ Tuần Khôi Bật Khúc Hổ Đại Phượng tại bản cung, hội Đà Khốc Phụ Xương đắc vòng Trường Sinh, cách cục thành cách Phủ Tướng hội Tả Hữu Xương Khúc Đà Khốc Hổ Phượng Sinh Vượng là cách cục rất tốt đẹp, Phủ Tướng thành cách, chủ phát triển tài năng, được ngưỡng mộ, đánh giá cao về năng lực của bản thân và giúp đỡ, tương trợ của kẻ khác tới nhân mệnh. 





Thiên Phủ tuy ngộ Tuần dễ do bao bọc thái quá dẫn tới mệnh cách Hỏa Hình Âm khó có thể phát huy năng lực của bản thân. Bố cục Âm Hình Quyền Ấn trong thế Lưỡng Lộc có tính tự lực lớn, do đó trong hành vận Phủ Tướng Tả Hữu được trợ giúp đắc lực của bên ngoài. Trong đại vận này nam mệnh đang gặp cách cục phát triển tốt do được sự tương trợ, giúp đỡ để năng lực, kiến thức phát triển mạnh. Đại vận Thiên Phủ tăng cường tính cẩn trọng khi suy tính của nhân mệnh Thái Âm, cách cục khá tốt đẹp, do đó phương hướng trong đại vận này sẽ có tác động tốt tới các hành vận sau. Thiên Phủ trong nhóm Phủ Tướng đơn thủ là cách cục bình hòa, được trợ lực bởi Tả Hữu Xương Khúc Tuế Phượng là cách cục Văn cách cường vượng, có tính chất ổn định tránh tai họa tới trong hành vận này. Đại vận thứ hai bổ trợ mạnh chế hóa Hỏa Hình Ấn hóa Văn cách, tăng tính chất mưu tính, kiên nhẫn của nam mệnh, cũng hình thành lập trường quan điểm của bản thân do Tuế Phượng hình thành. Đây là lập trường đúng hướng, do " Tuế Hổ Phù hội Khúc Xương, có tài hùng biện văn chương hơn người". Tại đây có Hổ Khốc mang tính bày tỏ ra bên ngoài, đại vận thứ hai là vận tốt đối với nam mệnh, gặp đủ trợ tinh cát hóa mệnh Thái Âm, cách cục khí hình cường vượng. Lá số Thái Âm khi tốt đẹp chủ mệnh tạo có khả năng suy tính sâu xa, âm trầm, tại cách cục rất tốt mang ý nghĩa môi trường gia đình và hoàn cảnh sống tốt. Tuy nhiên tại đại vận thứ hai tốt đẹp sẽ kết thúc cuối năm Kỷ Hợi, nam mệnh nhập đại vận mới tại Thân cung, cách cục VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Lương từ 24 tới 33. Đại vận tại Phối cung là vận rất phức tạp, khi nội cách là bố cục Cự Nhật Kỵ Kiếp Tuần Tuyệt, ngoại cách Đồng Lương Quyền Hồng Triệt xung có phần tốt hơn. Đại vận tới Phối cung, đồng cư cung an Thân là vận then chốt có tính chất khó khăn, xung đột trong chính nội cách. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc cách, khi hành vận lưu tới cách cục Cự Nhật Kỵ Kiếp tính chất hung họa lớn, chủ xung đột, cự cãi và phản đối trong nội bộ. 



Trong đại vận thứ ba, bản cung vận VCD, chịu tác động của tổ hợp chính tinh bên trong tam hợp, bên ngoài xung chiếu. Tại vị trí Thái Dương cư Thìn là vị trí sáng của sao này, ngộ Kiếp Thanh Mộc, thực tế cách cục Thanh Long ngộ Mộc Dục tại can Đinh được đánh giá tốt chủ nổi danh. Tại can Đinh, Cự Môn hóa thành Kỵ, lại hội Địa Kiếp thành cách Kỵ Kiếp. Cách cục này mang ý nghĩa không mấy tốt, kỵ gặp Cự Nhật thành cách cục Cự Kỵ có tính cản trở lớn, bất lợi cho cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Mệnh cách Hỏa Hình tới vận này ắt phát sinh cự cãi, phát sinh xung đột trong nội bộ, Kỵ Thanh hình thành, càng về sau của đại vận, tính chất xung đột, thị phi của Cự Kỵ cát hóa theo khuynh hướng tốt do Văn cách hình thành tại hành vận thứ hai, phối hợp cách Kỵ Thanh. Cách cục Tài cách cực vượng, đây là mệnh chủ phú, tuy nhiên gặp họa về Tài. Thái Âm kỵ gặp Hỏa Hình Không mang tới số không với Lộc Tồn, tức nhân mệnh ít nhất gặp một lần phá tán, phá sản. Đây là điểm quan trọng cần lưu ý khi Hỏa Tồn mang tính chất quyết tâm thực hiện những dự tính, tính toán từ trước. Mệnh cách hữu Sát hội tổ hợp này ắt hành vận Sát cách gặp thăng trầm lớn. Nhân mệnh cách có tư chất tốt, hữu Tam Kỳ tuy nhiên khó tránh khỏi bất trắc do Đào Tồn Không Hỏa tức bản thân tạo ra khi bên ngoài hiển lộ Thái Dương ngộ Kiếp tượng là người đàn ông mang họa, Kiếp xung gây bất lợi hơn so với việc nằm trong tổ hợp Mệnh. Cách cục tiền vận rất khó khăn, vào trung vận hợp hóa từ Tử Phá khai thông, ẩn chứa Sát cục nặng tuy nhiên là giai đoạn Tam Hóa khai phá Tài cách, cầu được tài hơn quan, trong hành vận Tử Phá là vận then chốt dẫn vận Thiên Cơ thành hoặc bại. Nếu dẫn hóa từ đại vận hiện tại theo khuynh hướng ổn trọng tức lấy cách cục cẩn trọng hướng tới tư tưởng, cách cục về sau có thể tránh được một lần bại, tuy nhiên hoạch phát sẽ không lớn. 





Đây là cách cục hay trong tử vi, phân định hai khuynh hướng rất rõ ràng, về sau sẽ có tài sản lớn, đại phú cách do tư tưởng táo bạo, tham vọng lớn, mạo hiểm thành tựu, cũng phá tán bởi lý do này khi lưu vận tới Quan Lộc. Nhân mệnh có tài năng, tinh đẩu hợp hóa hữu tình, Lộc có khố, lại hình thành cách Lưỡng Lộc có Đồng Lương Triệt Không là bạo phát cách khi nhập Sát vận. Trong tử vi phân định rõ về Sát cách có các khuynh hướng khác nhau, cũng như ngũ hành tương sinh, tương khắc, khi khuyết thiếu hoặc thừa vượng quá độ tượng Sát cục, cũng khi hình thành Sát cục được bổ cứu thì phát phúc phi thường. Trong bố cục này ẩn chứa tai họa do Kiếp Không Tồn Đào, nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương khó có thể dụng bố cục này trừ trường hợp Đồng Lương cư Dần Thân nhập Mệnh hội Không Kiếp tại bản cung. Thái Âm có Hỏa Hình có khuyết điểm khi nhân mệnh gặp thất bại, bế tắc lớn sẽ khó có thể xây dựng lại, điểm khuyết thiếu này do thế đứng của Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo. Bản cục ban đầu đã hình thành thế Lưỡng Vượng, cát hung tương bán, không thể mong cầu việc nhân mệnh cuộc đời bình ổn, Không Kiếp Hỏa Hình sẽ tác hóa ngay khi tư tưởng không thể chế dụng. Cách cục này buộc nhân mệnh tự nỗ lực để thành hoặc bại, còn ứng hiềm với chữ Vong. Điểm tốt là Tam Kỳ có Hình Ấn, cái họa mang lại do Đào Hồng Không Kiếp Tồn Hình Diêu tạo ra, Khoa Hồng tăng cường độ của cát hung, nếu phản cục ắt họa không nhỏ, có thể dẫn tới sát thân. Khi luận tử vi, định khả năng chế hóa Sát cũng tương tự như việc đảm nhận Tài Quan của tứ trụ, khi nhân mệnh ở thế cường vượng, có thể gánh được Tài Quan, khi ở thế suy nhược gặp Tài Quan mạnh ắt đổ vỡ. Tại đây điểm tốt là cả hai lưỡng vượng, tức hành vận sẽ quyết định rất lớn tới kết quả. Lá số ắt phát đại phú, tức giai đoạn thịnh vượng sẽ có tài sản rất lớn, tuy nhiên có thể giữ vững, tăng cường hay suy bại với Sát vận phải xét qua từng đại vận. Thái Âm khi cường vượng, trong đa phần các trường hợp có thể lấy Không Kiếp chế dụng, kể cả Không Kiếp Tồn Đào, tuy nhiên lại tối kỵ Hỏa Linh hội do Hỏa Tinh phá tính âm ám, thâm trầm, suy xét của Thái Âm gây nên rối loạn trong nội cách. Trong trường hợp nhập Mệnh cung mang ý nghĩa càng. 





Hình Hỏa Lưỡng Lộc là cách tranh đoạt Tài, cũng do tiền tài sẽ khiến nhân mệnh khổ cực theo đuổi, Quan cách hình thành không mấy hay, khi Quan tàng họa, dụng Quan Cách thăng tiến nhanh cũng hóa thành không, đường quan lợi nếu theo càng khiến nhân mệnh do tham vọng lớn dẫn tới các quyết định sai lầm, đặc biệt khi theo quan lộ, chính trị làm việc trong cơ quan, tổ chức nhà nước. Nhân mệnh thường có những tư tưởng, khuynh hướng khác biệt, trong nội tâm cũng rất nhanh nhạy trước các biến động của xã hội, biến động của thời vận. Thiên Cơ trong cách Cự Cơ Tí Ngọ nếu không gặp Đào Không sẽ mang ý nghĩa hay, tuy nhiên khi nhìn từ mệnh, cách Cơ Không Kiếp mang ý nghĩa chủ không lường trước được các biến động, do tính chủ quan của bản thân dẫn tới tai họa, lưu ý trong hai đại vận Tử Phá và Thiên Cơ. Trong hành vận then chốt, nên hóa khí khai tạo, khai phá của Phá Quân thành tính chất nghiên cứu học thuật, có thể bảo hộ Tài cách, tức khai phá tri kiến ứng hợp tránh một phần phá tán về tài sản. Phàm là nhân mệnh, đều có thể lấy tu tâm để tránh họa kiếp. Tuy nhiên tiền nhân cũng luận bản tính khó dời, tức về nhân tính chịu tác động của Âm Dương Ngũ Hành từ khi thai sinh, dẫn tới luận định về độ số, vận mệnh, tư tưởng là nhân chiêu cảm ứng bên ngoài hợp thành quả. Cách cục Âm Hỏa Hình Không Kiếp Tồn Lộc tạo bởi Hình Hỏa Kiếp trong cách Cơ Lương tượng là hỏa tai, ứng hợp bên ngoài là lửa lớn, bên trong nội tư tưởng là bộc trực, khó kiềm chế dẫn tới tai họa. Cũng như ngũ quan, khi khuyết thiếu nhãn quan tức mắt nhìn thì khó có thể xác định vạn vật chính xác, trong nội tướng là tầm nhìn, tư tưởng khi thiếu tầm nhìn sẽ dẫn tới những hành động chiêu cảm họa nạn. Do vậy Âm Dương tượng là nghe nhìn, hay Cơ Nguyệt Đồng Lương tức nhóm sao cơ hội, thời cơ rất kỵ gặp Hỏa Linh, khó có thể nhận định khách quan vấn đề dẫn tới sai lầm. Hỏa Tinh nhập Mệnh có Hình Ấn cũng mang phần ý nghĩa tốt, do Hình ngộ Khoa chung thân vô tai, tức Hóa Khoa là hóa khí mang ý nghĩa điều hậu, cũng như việc nghiên cứu tri kiến, tri thức, học vấn khiến nhân mệnh tránh được nhiều tai họa. Nếu mệnh cách có Xương Khúc hay Khoa thủ mệnh đã là một điểm hơn người, hoặc Khôi Việt không gặp phá cách mang ý nghĩa hiểu thấu sự việc từ nhỏ tới lớn, Tả Hữu là được lời khuyên, trợ giúp của kẻ khác tới bản thân. 





Tại đây không có Xương Khúc, Tả Hữu, được Khôi Việt giáp và Hóa Khoa cũng là một điểm may mắn. Một số người nghiên cứu tử vi luận Hóa Khoa mang ý nghĩa tăng thêm họa nạn khi cách cục phá cách, hội Sát Kỵ nặng nề là đúng, khi Hóa Khoa chủ điều hậu cách cục, thường được luận đệ nhất giải thần, tượng ngũ hành khuyết thiếu được bổ cứu, phá cách sẽ tạo tai họa lớn. Cũng như Âm, Dương quý nhân tức Khôi Việt phá cách tăng thêm họa như Việt Linh Hình, Khôi Hình. Với Hóa Khoa là hóa khí của Chính Tinh và bốn phụ tinh chịu tác động của Không Kiếp biến đổi bản chất của Chính Tinh hay các phụ tinh khiến nguyên cục phá vỡ. Chữ Khoa tại đây được Đồng Lương có Triệt Hồng tại Dần cung hội là điểm tốt, do Đồng Lương, Triệt và Khoa tăng cường tính chất ổn định bố cục. Trong bản thân đương số đã có tư tưởng đề phòng trước những nguy cơ do Cơ Không Kiếp tạo ra, tránh được phần rất lớn các tai họa. Thái Âm cư Tuất, đối cung là Thái Dương cư Thìn nhập La Võng, đây là cách Nhật Nguyệt xung chiếu, nội cách hình thành cách cục phức tạp, cứu giải bởi Đồng Lương Triệt hội Hình Ấn. Cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách, không mang ý nghĩa bản nguyên của tổ hợp, biến hóa mang tính chất động lớn, tàng ẩn cách cục có tính biến hóa theo vận mạnh. Nhìn chung nhân mệnh không phải mệnh thường, khi hoạch phát như lôi, khi suy bại ắt gặp một số không lớn. May mắn là Thái Âm thủ mệnh, nếu tại đây là vị trí của Thiên Lương hoặc Thiên Cơ khó có thể tránh được tai kiếp do cách cục tạo ra. Âm Hình Kiếp bản thân tự hình, tức có nguyên tắc, tự tạo áp lực tới chính tự thân, có Hỏa Tinh tại đây là điểm xấu, cần lưu ý. Nhân mệnh dụng Tài cách, bố cục cực vượng, Quan cách suy yếu khó có thể dụng. Cách cục về tiền vận phát triển khá tốt.

Monday, September 16, 2019

Luận bàn một cách cục Không Kiếp đắc dụng


Nữ mệnh hình thành cách cục chế hóa Sát đắc dụng, có năng lực rất tốt, cách cục trợ tinh cát hóa mạnh, tuổi trẻ khi nhập vận thứ ba phát triển trở thành quản lý cấp cao của một tập đoàn lớn. Để bảo mật thông tin, người viết không đăng tải lá số của nữ mệnh, chỉ xét bố cục lá số, người nghiên cứu tử vi lấy luận định cách cục làm quan trọng. 

Nữ mệnh ngũ hành Mộc. Cục thuộc Mộc cục. Mệnh cục đồng khí dẫn tới cách cục khi lưu tới các hành vận tác động bổ trợ với bản tính, tức tính cách sẽ tác động mạnh bởi hành vận. Mệnh cách Thái Âm độc tọa cư Dậu là vị trí cường vượng của Thái Âm, được Thái Dương cư Tị rất mạnh chiếu về thành cách Âm Dương Lương. Bố cục cách Âm Bật Khoa Quyền Đào tại bản cung chủ mệnh nữ có năng lực rất tốt. Can Mậu với Thái Âm hóa Quyền, Hữu Bật hóa Khoa. Với Thái Âm khi hóa Quyền chủ quyền ngầm, tính uy tín rất lớn, tính chất của Thái Âm hóa Quyền mang ý nghĩa âm quyền, hội Không Kiếp hóa thành Sát, chủ thành Ám là quyền định đoạt. Hữu Bật hóa thành Khoa giúp ổn trọng cách cục, mệnh cách thuộc thế đứng của Âm Dương Lương có năng lực tạo quan hệ xã hội và khả năng mô phạm rất tốt. Điểm mạnh là khi Hóa Khoa do Hữu Bật hóa khí mang tính chất giúp đỡ, phò tá trợ lực. Đây là mệnh cách chủ gây dựng các mối quan hệ, giúp đỡ lẫn nhau để tạo sự vững chắc. Tuy nhiên thế đột biến của Không Kiếp Tồn sẽ tạo nên hoạch phát, cũng sẽ hoạch phá với bố cục. Tài cung có Cô Thần ngộ Nhật Không Kiếp Tồn sẽ tạo sức biến động lớn với tài sản của bản thân, đặc biệt khi thế đứng của Thái Dương cư Tị có thể chế ngự Không Kiếp khi có Tả Hữu trợ lực. Bố cục Âm Dương Lương tại đây với mệnh nữ trong tính cách sẽ hình thành nên ý nghĩa tư tưởng đột phá, muốn khai phá, tham muốn lớn. Đây là mệnh nữ cường khi Không Kiếp cư Thái Dương cực vượng do có Lộc Tồn. Đào Việt hình thành và Triệt tại bản cung Lương Việt là phát may, trong cách cục này chứa độ số lớn, khi bố cục Không Kiếp hóa thành Lộc tại Tài cung, có Lương Việt Triệt phát may, Triệt ngộ Không thành quý. Mệnh tạo đồng cư cung an Thân được trợ lý bởi Khoa Quyền Việt Tả Hữu, Không Kiếp hỉ cư Tị Hợi gặp Thái Dương đồng độ. Thực tế với mệnh nữ là cách cục rất tốt về khuynh hướng Tài Danh, tuy nhiên về vấn đề tình cảm sẽ bất lợi do tính chất của Không Kiếp bất ổn tại tổ hợp Mệnh, cường cung Phúc Phối Di tại cách cục Đồng Cự Cơ hội Kỵ có Thanh Long tại vị trí Thiên Đồng mang ý nghĩa đồng lòng vượt qua khó khăn. Thực tế cách cục này tuy xung đột bởi Cự Môn trong nhóm Cự Nhật giao hội với Cơ Đồng trong nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương dẫn tới ý nghĩa mâu thuẫn trong nội bộ, trong tình cảm gia đình. Tuy nhiên khi có Đồng ngộ Thanh Kỵ tức do sự cơ biến nên tránh tăng mạnh xung đột dẫn tới cự ly. 





Thái Âm bản chất chủ âm nhu, dù mệnh cách hội Không Kiếp trường hợp này do không hội thêm Kình Dương tính chất không thay đổi, nữ mệnh trong nội tâm có bản tính âm nhu, khi Quyền Không Kiếp hình thành bố cục chủ khả năng tính toán, âm trầm, hóa thành Quyền đồng cư cung an Thân dẫn tới hóa thành uy quyền. Đào Âm tại bản cung có tính chất thu hút rất mạnh, không chỉ do sắc diện, đa phần ở tính cách của bản thân hàm chứa tính âm ẩn của Thái Âm, tuy nhiên lại táo bạo, tính toán suy nghĩ sâu sắc. Mệnh Thân đồng độ với Âm Quyền chính Quyền do Sát hóa một phần tác động khiến Đào Hoa tăng cường tính chủ động tạo tác, xử lý các công việc. Thực tế với cách cục Âm Dương Lương hiền hòa rất khó đắc dụng để khởi phát sự nghiệp nếu không gặp Âm Dương tại vị trí cường vượng hội Sát Kỵ được chế hóa. Cuộc sống của nhân mệnh khi hội Sát Kỵ sẽ gặp một phần đánh đổi là bất ổn định, Âm Dương Lương khi ôn hòa là ngày tháng vui vẻ, khi hội Không Kiếp là sự tính toán, Không Kiếp có lợi với Âm Dương thành cách. Tuy khuyết điểm tác hóa chủ nội tâm thường phù động, khó có được tâm lý ổn định, tuy nhiên bố cục này sẽ giúp cách cục trở nên cường vượng, cát hóa liên tục với mục tiêu khai phá của Không Kiếp khiến mệnh cách giữ vững với mục tiêu và khuynh hướng. Trong nhiều giai đoạn sẽ có biến động mạnh thăng trầm, chủ yếu sẽ tác họa ở mặt bệnh tật và tai kiếp do sai lầm khi nghe theo bởi tổ hợp Linh Xương Đà Vũ thành cách. Tinh hệ Tử Phủ đồng độ cư Thân là tinh hệ có tính ổn trọng cao, do nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham đều cường vượng, tại đây hai bố cục đều thành cách, tuy nhiên Linh Xương Đà Vũ tại nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm làm thế cục biến động có lợi cho Sát Phá Tham. Trong chính mệnh số của nữ mệnh, lý tưởng và sự gách vác sẽ gặp một bước ngoặt khiến thay đổi tư tưởng rất lớn, do nghe theo, tin theo. Tuy nhiên đây là sự thay đổi mang tính hung họa khi không gặp Quyền tinh cát hóa trở nên tinh tường. 





Một bố cục Không Kiếp được Tả Hữu trợ lực hội Khoa Quyền sẽ không đủ để sự phát triển đạt bền vững và lý tưởng, mục đích nữ mệnh hướng tới trách nhiệm được giữ vững, đây là cách cục trong nội tâm ưa sự thay đổi, do sự tích lũy của Lộc Tồn. Do vậy, cách cục của nữ mệnh cần rất lưu ý cần luôn thay đổi tư tưởng, dụng đa nghi của Không Kiếp để tránh ở thế nguy hiểm tạo ra. Cách cục của Âm Dương Không Kiếp khi có Lộc Tướng Ấn, đặc biệt tại Tồn Đào, nhân mệnh trong cuộc đời sẽ gặp những kỷ niệm, dấu ấn của mối quan hệ tạo ra đột biến khi Không Kiếp đắc cách, và tác họa tạo tai kiếp khi Không Kiếp phá cách. Tức khi nữ mệnh gặp khó khăn do tính chu kỳ mạnh của bố cục này, các mối quan hệ sẽ biến hóa thành hung họa lớn do Lộc đảo. Mệnh nữ cần luôn đề phòng tác động hoạch phá của Không Kiếp Tồn, do tính chất của Lộc Tồn chủ tích lũy, phát triển, khi Lộc đảo tai kiếp rất nhanh tạo xuống. Âm Dương Không Kiếp mang lại sự nhay bén, khả năng đảm nhiệm và quyết đoán, linh hoạt với công việc, dẫn hóa bởi tham muốn, tham vọng do Địa Kiếp. Thực tế rất nhiều lá số luận mệnh cách Âm Dương cường vượng hội Không Kiếp có Tam Hóa Tả Hữu trợ tinh giao hội thành tựu nên sự nghiệp nghiệp. Tuy nhiên đa phần sẽ gặp biến động mạnh ngay sau giai đoạn thành tựu lớn, là một bước ngoặc trong cuộc đời khi Không Kiếp Tồn mang ý nghĩa sự việc diễn ra bất ngờ không thể quan phòng. Không Kiếp khi đồng độ có tính sáng tạo, đi nghịch với khuynh hướng chung để theo đuổi mục tiêu. Không Kiếp mang ý nghĩa bất thường, trong trường hợp này là chữ bất thường mang ý nghĩa tốt do một phần hoàn cảnh và đa phần chính tư tưởng, suy nghĩ đổi mới mang lại. Bản cung Mệnh là bản tính của đương số, tam hợp cung là những phản ứng khi hoàn cảnh mang lại. Trong thế Âm Dương Lương mang ý nghĩa ngày tháng an ổn, tính chất khi hội Không Kiếp Đào Tồn biến hóa mang ý nghĩa bất ổn, biến động, do hội Khoa Quyền Tả Hữu nên biến động trở nên có lợi. 




Cung an Thân là hành động, trái với tính chất tác động của Mệnh là bản tính, luôn tồn tại trong tiềm thức, cung an Thân là ý thức, suy nghĩ phát khởi để lựa chọn, phản ứng trước các hoàn cảnh. Mệnh Thân đồng độ tại Mệnh cách tức trong bản tính và ý thức hành động đều chịu tác động cùng một bố cục là Thái Âm trong nhóm Âm Dương Lương. Thái Âm cư cung an Thân mang ý nghĩa kín đáo, âm thầm. Tính chất của Thái Âm trách nghịch với Thái Dương. Trong tam hợp chiếu có Thái Dương cực vượng là những mặt bản thân muốn lộ ra, công khai. Thái Dương có hai cách cục, một trong bố cục Cự Nhật do tính ám của Cự Môn tác hóa, bố cục thứ hai là cách Nhật Nguyệt Lương, với bố cục Nguyệt Lương tính âm của Thái Âm tác dụng. Trong hai trường hợp, Thái Dương khi công khai, dương lên luôn có vấn đề che giấu, bí mật. Rất nhiều bí mật quan trọng như kinh doanh, bí mật về kế hoạch phát triển, thăng tiến công danh, quan hệ. Do vậy, Thái Âm tại bản cung có Khoa Quyền không gặp Triệt, Hổ tại đây là tốt. Rất lưu ý khi nhị hợp với Thái Âm gặp Vũ Khúc cư Thìn phá cách nặng nề. Vũ Khúc là năng lực giải quyết vấn đề, thế nhị hợp của Thái Âm và Vũ Khúc có chứa tính âm ám lớn, Vũ Khúc chủ linh hoạt, cơ biến tuy nhiên mang Sát tính, chủ độc đoán, táo bạo. Khi gặp phá cách bởi Linh Xương Đà Vũ đồng cư tại cung Tật Ách mang ý nghĩa   xúi giục, mang hàm ý bên ngoài chủ động tạo tai họa cho bản thân, dẫn tới Thái Âm gặp sai lầm. Với tổ hợp rất biến động tại mệnh cách và toàn cục. Nữ mệnh dụng cách lấy sự ổn trọng lâu dài làm gốc. Khi Lộc Tồn vẫn tụ, cách cục sẽ phát triển khi Không Kiếp Tồn đang ở thế tích lũy, chủ động. Thường trong xã hội thời nay, rất nhiều người học tử vi qua sách vở không nắm rõ định cách các bố cục. Dẫn tới câu phú "Nhan Hồi yểu chiết do hữu Kiếp Không Hồng Đào Đà Linh thủ mệnh". Lại cách Lộc Tồn thường người học tử vi thời nay thường luận tối kỵ hội Không Kiếp, do man thư lưu truyền, hoặc không nắm rõ bản chất của các cách cục. Hoặc cách cục "Cự phùng Tồn tú, cát xứ tàng hung" đều là các cách cục mang tính tích lũy hình thành tổ hợp Sát vượng. Khi luận cách cục nếu thành cách có tính đột phá rất lớn. 





Cách cục Không Kiếp kích động liên tục bởi Thiên Việt tại Sửu cung hội Đào Triệt tăng tính biến động, phát sinh, Cô Quả khiến bố cục thêm chuyên nhất. Cặp Cô Quả là cặp sao có các tính chất rất đặc biệt trong tử vi, khi giao hội có thể khiến một số cách cục thành cách. Tài cung hình thành Tài cách, Mệnh cung rất mạnh, đường Quan Lộc theo chính trị sẽ khó có thể thành tựu lớn. Nữ mệnh theo khuynh hướng thương nghiệp là phù hợp. Thực tế lá số tử vi này không có nhiều khuyết điểm, vấn đề cần lưu ý do hai tổ hợp Âm Dương Lương và Vũ Linh Xương Đà hình thành hai tổ hợp cung trọng điểm là bố cục mang tính quyết định tới độ số. Hai tổ hợp đều tàng ẩn tai họa do Sát cách cực vượng được chế hóa tạo nên. Tuy nhiên cách cục này thuộc thế Lưỡng Sát câu tranh, bố cục Âm Dương Lương hội Khoa Quyền Việt Không Kiếp Tả Hữu Tồn Đào rất dễ phát họa khi Lưu Việt kích động bố cục tại Mệnh cách. Cách cục Không Kiếp là bố cục luôn phải đánh đổi, đặc biệt tại cách Tồn Không Kiếp là được và mất. Với nữ mệnh, chế ngự Không Kiếp là mệnh nữ cường, trong tổ hợp này có cách cục khi rơi vào thế khó khăn, bế tắc sẽ thường quyết định có tính mạo hiểm, khó có thể nhượng bộ, Không tính hình thành, lại hội Cô Quả tức càng về sau có khuynh hướng ưa độc tĩnh, mệnh nữ may mắn khi Thái Âm thủ mệnh có thể hóa tính chất cao ngạo, không quen bị kẻ khác đè nén trở nên nhu nguyễn hơn. Bố cục Âm Dương Tả Hữu Không Kiếp có thể theo hai con đường lưỡng đạo để phát triển sẽ dụng được tính chất của Địa Kiếp khi nhập miếu. Bố cục này may mắn không nhập tại cung Mệnh, nếu không ắt cuộc đời thăng trầm biến động vô cùng, khi tại tam hợp chiếu, tính chất của Không Kiếp tác hóa đa phần gắn với Thái Dương, nữ mệnh thường không áp suy nghĩ của bản thân theo nguyên tắc, gắn với tính Không của Thiên Không Không Vong. Điểm mạnh của bố cục khi Không Kiếp Tả Hữu tam hợp chiếu là nhân mệnh có thể dung hòa cả chữ chính và bất chính, bố cục này một phần tương tự như cách Minh Lộc Ám Lộc tức một Lộc tại bản cung và một Lộc tại thế ám hợp tức nhị hợp, luận tốt đẹp hơn cách Lưỡng Lộc. 





Trong bố cục Cự Cơ Đồng luôn tàng ẩn tính chất xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình. Trong trường hợp này, nữ mệnh gặp cách cục cường vượng, có tính chất táo bạo, ưa trái truyền thống và suy nghĩ chung, tính sáng tạo, khai sáng mạnh, chịu hưởng lớn của Việt Không Kiếp, lại hội Cô Quả trong thế Âm Dương Cô Quả. Bố cục Phối cung gặp cách cục Cơ Kỵ Binh thực tế là cách cục bình hòa không xấu tuy nhiên cũng không cát hóa tới cách Cự Đồng trở nên giảm xung đột. Lá số nữ mệnh rất cẩn trọng khi kinh thương, hợp tác đầu tư. Một chữ Vũ Linh Xương Đà Tuế đồng độ ngay bản cung Thìn trong thế ám hợp với Mệnh là cách cục mang tính nguy hại lớn. Mệnh cách lại thuộc cách cục Không Kiếp Đào Việt tự tạo tác tai họa với bản thân, có tính chất khi ở thế khó sẽ rất liều lĩnh dẫn tới hoạch phát như câu phú " Không Kiếp Tị Hợi miếu vì, hoạch phát hoạch phá tựa thì sấm ran". Hành vận trong giai đoạn 3 đại vận từ vận Thiên Cơ đều thuận lợi, bố cục Tài cách đắc cách, trong hành vận Thái Dương sẽ gặp biến cố lớn về bệnh tật, sau đó phá tán rất lớn cần lưu ý. Lá số này là một trong số ít mệnh nữ có thể chế hóa Không Kiếp thành tựu, để nắm lệnh cách cục Không Kiếp, trong tất cả trường hợp đều cần dụng tính Không tưởng của Thiên Không Không Vong và sự quyết tâm, tham vọng của Địa Kiếp. Do tính chất có phần trái nghịch giữa Không và Kiếp, một sao chủ mất, đánh đổi, một sao chủ tham vọng đạt được ẩn chứa tai họa. Cách cục này nên khai sáng một triết lý hoặc sách vở nghiên cứu kinh nghiệm của bản thân, hướng tới tham muốn về vấn đề này, lý tưởng xây dựng rất lớn, có tính Không tưởng về lĩnh vực bản thân hướng tới, tức Văn cách làm gốc, Tài cách trợ dụng. Khi đó sẽ giảm tính hoạch phá của cách cục và phát triển vững chắc hơn. 


Wednesday, July 10, 2019

mệnh lý toán mệnh và số phận



Trong xã hội từ lịch sử tới nay luôn tồn tại các giai cấp, phân công chức trách, nhiệm vụ để tồn tại một quốc gia, một thể chế hoặc một tổ chức. Người gánh vác, có trách nhiệm to lớn là Tử Vi. Tử Vi là chính tinh đứng đầu vòng sao Tử Vi, được luận là đế tinh, là tên của môn toán mệnh này. Tử Vi cư 12 cung đều mô tả một phần bản thể mệnh cách. Nhân mệnh bình thường luôn hướng tới sự nghiệp, địa vị, tài lộc, tật ách, gia đình. Tuy nhiên thường nhân mệnh hữu khuyết vô thập toàn, lấy khởi phát từ tham vọng, tham muốn phân định ra các định cách cục độ số khác nhau, cũng chính tư tưởng tạo nên thành tựu và thất bại. Cặp đại sát tinh trong tử vi là Không Kiếp để đắc cách là đánh đổi, hoạch phát một mặt ắt mất mát ở mặt khác. Các thành tựu lớn đều được đánh đổi rất lớn bằng nỗ lực, quyết định ở những thời cơ, nhạy bén và táo bạo. Là những bước ngoặt cuộc đời. Các môn huyền học đều lấy dịch lý ứng hợp làm gốc luận, do đó sẽ có sai biệt trong từng trường hợp riêng rẽ đặc biệt khi khí hình biến động lớn. Các môn huyền học đều mang tính dự đoán, tuy nhiên đã được xác thực qua nghìn năm xuyên suốt. Thực tế ngoài cuộc sống, bản thân mỗi nhân mệnh đều thường hay đưa các dự đoán về diễn biến do có quy luật hoặc thông tin ban đầu. Một dự đoán trong quá khứ khiến bản thân lưu nhớ trong quân ngũ. Cách đây khoảng 30 năm. Trong một đơn vị sư đoàn chủ lực thuộc quân đội. Lúc đó nguyên bộ trưởng bộ quốc phòng, đang giữ chức vụ sư đoàn trưởng khi kiểm tra huấn luyện của sư đoàn đi qua một anh trung đội trưởng đang huấn luyện chiến sĩ và nói rằng tướng ở đây, sau này anh ta sẽ là một vị tướng. Thực tế hiện tại đã thành sự thực. Các môn nhân tướng học, lý số, toán mệnh đều dựa vào quy luật của biến động đúc rút từ giai đoạn dài lịch sử chứng nghiệm. Như nhìn khí sắc của một người để xét bệnh tật tai ách, thọ yểu sắp tới. Nhìn vào mệnh lý để xét toàn bộ nhân mệnh cuộc đời theo dự đoán. Nếu anh trung úy kia gặp tai kiếp thương vong trong khi thực hiện nhiệm vụ ắt khó có thể dự đoán thành sự thực, toán mệnh cũng có sai khác, tuy nhiên mệnh lý huyền học là thể bao trùm tổng quan về cuộc đời, tính dự đoán rộng hơn về khuynh hướng sự nghiệp, khi Mệnh Thân Vận tới cửa tuyệt, ắt khó có thể thoát nạn. 





Mệnh cách thành tựu có bố cục đặc biệt, tức cách cục sai khác do tổ hợp phối hợp Chính Tinh và Bàng Tinh thành thế đứng có tính cát hóa rất lớn, phối hợp hành vận phù hợp nếu mệnh quý ắt thành tựu. Cách luận định cách của Tử Vi về nhân mệnh bất sai khác, tuy nhiên trong mỗi thời đại xã hội biến chuyển về tất cả các tầng lớp, khuynh hướng, hành pháp dẫn tới kết quả tính chất của bố cục ứng hợp bên ngoài có sai khác. Giai đoạn hiện nay mạng xã hội kết nối rất phát triển. Có những người có thể đổi đời do nổi tiếng trên cộng đồng mạng, hoặc chữ đổi đời cũng thường hay nhắc đến khi phẫu thuật thẩm mỹ thay đổi diện tướng. Đổi đời là vận hoạch phát. Thực tế trong vạn người có năng lực chỉ một vài người có thể hoạch phát hiển lộ tài năng. Ở kết nối cộng đồng càng nhận ra rõ sự thay đổi này. Sự bứt phá là khác biệt, với còn lại, tính chất của các tổ hợp tác hóa tạo kết quả được nhìn thấy rõ hơn khi mạng xã hội rộng mở. Các ngành nghề được mở rộng rất lớn, tính chất đào thải hoặc hoạch phát trong thời gian ngắn hơn, thay đổi liên tục nếu không ắt sẽ không thể đứng vững. Một vị lãnh đạo của một doanh nghiệp về vận tải lớn trong giai đoạn năm 2011 thường chia sẻ về chuyện kinh thương và được mất, sống còn tới gần như phá sản vì nợ vay trên số vốn đã rất lớn, xuất phát từ người lính, buộc đưa ra quyết định lớn cắt giảm chi tiêu và các chi nhánh, sa thải nhiều bộ phận, xác định kỷ luật, trong giai đoạn hiện nay đã có phần phục hồi và phát triển trở lại. Vạn vật biến dịch dời đổi liên tục, tác động thay đổi của thời vận khiến kẻ có niềm tin và tham vọng luôn chờ thời để thành tựu. Rất nhiều người chủ doanh nghiệp lớn, chỉ một nước sơ suất dẫn tới việc phá tán một cơ đồ gây dựng. Xây rất lâu tuy nhiên phá sẽ nhanh. Do tính chất của phá tán, khai phá của Sát Tinh, xây dựng là Tử Vi. Sát tinh luôn hàm chứa Sát tính đặc biệt Không Kiếp " Hoạch phát hoạch phá tựa thì sấm ran". Thường người khi đầu tư muốn đặt cược tất cả từ số ban đầu rất nhỏ, qua mỗi lần thành công theo lũy tiến tạo được tài sản lớn. Tuy nhiên khi tâm tưởng ở giai đoạn tương ứng tài sản lớn thường đầu tư rất lớn so với ban đầu, ít người trong giai đoạn này chỉ lấy một khoản rất nhỏ bằng số vốn ban đầu để đầu tư sinh lợi. Khi thành tựu kế tiếp là một nấc thang tiếp theo trên đoạn đường rất dài, tuy nhiên khi thất bại tại một giai đoạn là phá tán gần như tất cả công sức. Đó là khởi phát và duy trì tham vọng, tham muốn từ bản tính. Người nhận rõ và có thể chế ngự được tính chất này là kẻ mệnh phú. 






Trong khởi phát tham muốn cũng bất sai khác, vật được chóng nhàm chán, vật chưa sở hữu được ắt sinh vọng tưởng không ngừng. Tham cầu về trường tồn, tham cầu về thụ hưởng. Tham vọng không ngừng là Hỏa Tham, để Hỏa Tham tương ngộ đắc cách là cách luận rất phức tạp, nếu luận sơ lược như phú ắt sẽ sai lầm, có rất nhiều nhân mệnh được cách Hỏa Tham đồng độ, tuy nhiên thành tựu đắc cách là bố cục khác nhau, nếu có Vũ Tham ở thế đồng độ có bất lợi, trường hợp hay nhất là bố cục Tham cư Thìn ngộ Hỏa Tinh đồng độ có Vũ Khúc xung nếu chỉ xét thế đứng Chính Tinh là cách cục đắc cách của Tham Hỏa đồng độ. Vũ Khúc rất cần thiết với Tham Lang, do Sát Phá Tham cách chủ tìm kiếm, khám phá cơ hội và hành động theo mục đích của Tham Lang, tuy nhiên Vũ Khúc là tinh đẩu đứng đầu nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm về giải quyết công việc, tìm phương án, giải pháp thực hiện. Tham Lang có Vũ Khúc bên ngoài tức chủ khi ra ngoài gặp thời cơ và cách giải quyết. Tại giao hội bố cục bàng tinh, các nhóm sao an theo Thiên Can và Địa Chi tạo thành các cách cục mang ý nghĩa riêng biệt. Đây là cách cục phát phú do kinh thương rất hay gặp trong tử vi. Nhân mệnh vô thường, người viết đã luận có lẽ đã hơn ngàn nhân mệnh, phú quý thọ yểu, thiện ác quý tiện đều gặp, từng cuộc đời khởi điểm là một thai khí, thai sinh, trưởng thành, tới bệnh lão và tử không nằm ngoài quy luật của tạo hóa, trong tư tưởng bản tính nguyên phát, hay cát hung toán mệnh đều khởi từ quy luật tuần hoàn của thiên địa. Trong mỗi nhân tâm người đều có tồn tại tâm thiện, bất thiện, không có kẻ thập toàn, tuy nhiên lại có người hạ căn, hạ trí, sai biệt khác nhau. Trong tất cả các bố cục định cách thiên bàn, mỗi lá số gồm bốn tổ hợp tại các tam hợp Tị Dậu Sửu, Thân Tí Thìn, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất, miễn nhân mệnh không gặp bệnh tật nan y, tai kiếp nặng nề, việc phân định các tổ hợp đều sinh ra thời vận. Tức mỗi nhân mệnh đều có ít nhất một giai đoạn hoạch phát, thời cơ mang lại. Thay đổi hoàn cảnh thực tại rất khó khăn do sự tác động của nhiều mặt dẫn tới tính ưa ổn định của mỗi mệnh tạo, lực kích phát thường tới do đè nén, bế tắc, tham vọng mỗi nguyên nhân mang ý nghĩa về bố cục khác nhau. Nhiều đương số tuổi đời còn trẻ có hỏi người viết về định hướng cuộc đời, mất phương hướng và kế hoạch để thành tựu trong sự nghiệp. Thường cuộc đời nam mệnh khi thai sinh tới trưởng thành lấy công danh làm mục tiêu quan trọng nhất, tuy nhiên hoàn cảnh và vị thế cản trở lớn việc táo bạo, quyết tâm để thành tựu. 






Tùy vào bản tính để định hướng sai biệt khác nhau. Mệnh Thiên Phủ đắc cách tính chất cẩn trọng rất lớn, tuy nhiên thường thiếu khả năng chớp thời cơ. Mệnh Tử Vi đắc cách thường có năng lực, khả năng gánh vác tuy nhiên thường thiếu tính cơ mưu tính toán lợi ích riêng rẽ. Phá Quân đắc cách khả năng nhìn nhận, suy xét vấn đề tốt, khai phá mấu chốt, tuy nhiên thường tư tưởng phù động. Cách đây hơn 7 năm người viết có luận một lá số về mệnh cách Thất Sát ngộ Kỵ Hình Hổ hội Kiếp Tuần là mệnh rất phức tạp. Thường phú luận " Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên". Cách cục " Thất Sát lưu niên Bạch Hổ tai ương". Với bố cục Thất Sát hội Kỵ Hình Hổ có Kiếp Tuần là mệnh cách không mấy hay. Đương số từng một lần gặp tai nạn giao thông rất nặng tuy nhiên chưa tới tuyệt mạng, nam mệnh cách đường học bất thuận, tới tuổi nhập ngũ, do bố cục Thất Sát ngộ Kỵ Hình Hổ tính tất cương, ưa bày tỏ, bộc trực ra bên ngoài. Mệnh tạo trong quân ngũ thường vi phạm kỷ luật, ứng số Thất Sát ngộ Kỵ Hình. Sau đó nam mệnh rời xa xứ, buôn bán đồ gỗ, hạn Cự Cơ phát dã như lôi, hoạch phát đại phú, tài sản rất lớn có phần vào thời cơ và táo bạo lách luật. Thực tế Kỵ Hình là cách cục thường vượt quá quy định, kỷ luật, trong nhiều trường hợp là pháp luật. Tuy nhiên tại đây Thiên Hình được hóa thành Quyền, tính kỷ luật, nguyên tắc rõ ràng. Quân đội là một môi trường hoàn cảnh xã hội, do tính chất thay đổi nhân cách, biến hóa khi ứng hợp khí hình rất lớn. Có thể chế hóa được Thiên Hình thành Quyền. Môi trường tốt có thể phần hóa bản tính thành ứng hợp phẩm chất tốt. Nếu nhân mệnh Thất Sát Kỵ Hình Hổ không nhập ngũ ắt giai đoạn thiếu thời ắt gặp tai kiếp lớn. Mệnh cách Thất Sát ngộ Kiếp Kỵ Hình thường gặp tai họa thương tích do tính chất của Sát cục, khi đại tiểu vận trùng phùng Sát Kỵ tượng là tuyệt mệnh, rất nhiều Thất Sát như vậy. Thất Sát khi hóa âm quyền, tính chất tinh anh hiển lộ, nhạy bén chờ thời và kỷ luật là đặc tính quan trọng. 







Với một số sách tử vi thường phân miếu, vượng, bình, hãm địa của chính tinh. Cũng phân các bàng tinh cần gặp, hoặc kỵ gặp chung cho các trường hợp thường gây nhầm lẫn tới người nghiên cứu. Cũng Thất Sát hội Kỵ Hình Tuần Kiếp Hổ ắt người mới luận thường đánh giá cách cục tối hung, tuy nhiên các trường hợp mệnh cách thành tựu lại đạt thành tựu rất lớn thường không thể tự nghiệm lý nguyên cớ. Do khi định cách phối hợp không rõ tính chất giao hội của toàn cục dẫn tới sai lầm, cũng chưa rõ việc xét khí hóa của Sát Kỵ tức khả năng chế hóa bố cục Sát của mệnh cách. Chỉ Thiên Hình hoặc cách Kỵ Hình luận đã rất sai khác. Thực tế trong giai đoạn phong kiến, có kẻ lách luật, quan thương cấu kết là quý khí, chế hóa Sát cách thành tựu. Kẻ chịu tù tội do phạm pháp, hoặc kẻ bị giết nhầm, oan sai, bị trừ bỏ do thù oán cũng là Kỵ Hình. Kẻ đắc cách bất phân thiện lương, bất nghĩa đều thành tựu lớn, phá cách ắt chịu họa tai kiếp. Sở vốn mệnh số vậy, khi về sau tử vi lưu truyền bên ngoài, chịu ảnh hưởng của xã hội rộng rãi mới định ra quân tử, tiểu nhân, thiện ác để xét bố cục cát hung thành bại theo khuynh hướng này thực tuy mang ý nghĩa tốt nhưng khiếm khuyết sai lầm tới người nghiên cứu. Đồng Lương cách, phú luận " Thiên Đồng ngộ Không Kiếp bất cát, Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung". Lưu ý đây là câu phú xét tùy trường hợp. Thiên Đồng trong cách cục Đồng Lương cư Dần Thân ngộ Không Kiếp đồng độ thường luận thăng trầm, Đồng ngộ Không thành phá cách. Tuy nhiên bố cục Đồng Lương ngộ Không Kiếp tại đây là quý cách trong tử vi. Với cách Đồng Kiếp chủ đan tâm tất ám, mưu tính sâu sắc. Thiên Lương giỏi việc thông tin bên ngoài để che giấu việc bên trong, cách Đồng Lương ngộ Không Kiếp tại đây có một phần tính chất giống Thiên Phủ, tuy nhiên Đồng Lương tại đây hàm ý khó có thể mang tính lương thiện, đặc biệt nếu giao hội thêm Mã Khốc Khách hoặc Tang Hư Mã. Xét về thành tựu chế hóa Sát, đây là cách cục chế ngự Không Kiếp rất mạnh. 

Friday, March 1, 2019

Lá số Cự Cơ xung của một mệnh cách tốt.





Cách cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ xung thường được luận thượng cách khi đắc cách. Thực tế bố cục do khắc chế khuyết điểm của Cự Cơ so với mệnh Cự Cơ Mão Dậu tuy tài năng nhưng có phần xét lợi ích và thế xung đột của Cự Cơ Đồng gây khó khăn trong bố cục. Với nội cách Âm Dương Lương tăng tính chất chính nghĩa, chủ ổn định không xung đột mạnh trong nội cách, ngoại Cự Cơ xung là mặt bên ngoài, tức khả năng hiểu biết sâu, tài năng của mệnh tạo. Nghiệm lý với các cách mệnh VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ nếu phá cách cũng là cách cục chủ có độ số cao. Khi đắc cách là cách cục thường đứng đầu một tổ chức. Khi xét bố cục mệnh cách của một vụ phó thành tựu khá sớm bởi tài năng. Nam mệnh ngũ hành Mộc. Cục thuộc Mộc cục tức tương trợ. Hành vận phối hợp Mệnh cách theo khuynh hướng bố trợ. Cách cục mệnh thuộc VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ với mệnh cung an tại Mão. Đây là cách cục được đánh giá tốt do hội giữa khả năng chuyên môn của bản thân và khả năng xã giao, bày tỏ mối quan hệ xã hội ra bên ngoài tốt. Mệnh cách VCD nội Âm Dương Lương ngoại Cự Cơ nếu đắc cách ắt là mệnh đứng đầu một tổ chức, do khắc phục được tính chất tự lực không ưa quan hệ xã hội của Cự Cơ mà thành. Thế cục Âm Dương Lương nội và Cự Cơ ngoại là thế cục bổ trợ khuyết thiếu. Cách cục này có khả năng dung hòa giữa hai cách cục, tuy mang thị phi và ắt có bất lợi về mặt tình cảm gia đình nhưng định Tài Danh luận tốt. Mệnh cách VCD cư Mão bản cung có Hư Phá Phi Tả hội Âm Dương Quyền Thanh Thai Tọa và Lương Mã Sinh Bật. Mệnh cách đắc vòng Trường Sinh ở nội cách lại hội Mã hội Thanh Phi Phục trong cách cục Âm Dương Lương chủ khả năng tạo mối quan hệ, được trợ giúp do có Phụ Bật hội Tang Mã, có khả năng linh hoạt là Mã Sinh Vượng đắc cách. Mệnh cách có Hư Phi tại cách cục Âm Dương hỉ được Thanh Long có Thiên Hư là những vấn đề giao tiếp xã giao. Thiên Hư nhập mệnh trong cung độ VCD mang tính hư vọng, trái với Thái Tuế ưa việc bày tỏ quan điểm lập trường của bản thân. Tang Hư Mã về thể cách linh hoạt, có thể tùy biến. Mã Sinh là cách cục cường vượng, tính động thay đổi tuy nhiên Mã nhập Hợi cung có phần không mấy hay, được Mã Thai Tọa tăng tốt đẹp tuy nhiên cũng không thích hợp thay đổi nhiều dẫn tới phù động. Thiên Hư tại Mệnh có dụng và bất dụng, tốt do Thiên Hư hợp với Âm Dương Lương tại việc xã giao, có thể dụng trong giao tiếp. Tuy nhiên Thiên Hư có khuyết điểm ở tính chất bất thực, ở vị trí Tang Môn hay Thiên Mã phù hợp với Âm Dương hơn Thiên Hư. Thiên Hư trong bố cục Phi Liêm ngộ Thiên Hư có ảnh hưởng một phần tới Tài cách. 





Mệnh cách thuộc cục Cự Cơ xung là mệnh tạo có tính chất phù hợp với việc quảng giao, tạo mối quan hệ, có thể đứng đầu xã hội hoặc một tổ chức bên trong hoặc bên ngoài nhà nước. Tuy nhiên nên lưu ý trong cách cục này có hàm chứa bố cục đa nghi, nghi kỵ của Cự Cơ đối cung. Mặt tốt là khả năng nhìn nhận về sâu bên trong các mối quan hệ, cũng là cách tránh tự gặp tai họa do tin tưởng của bản thân. Khi thái quá hay trong bố cục tác hóa của Sát cách chủ ở thái cực khuynh hướng bất mãn, tạo mâu thuẫn trong nội bộ khi Cự Môn đinh chủ thị phi, cách cục này có đặc điểm quan trọng là tư tưởng có tính biến động, lấy thay đổi để thành tựu, không phải bố cục ổn định như cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh khi Tử Vi nhập mệnh. Ba sao Tử Vi, Phá Quân, Cự Môn có khuynh hướng lãnh đạo khác nhau. Với Cự Môn là khả năng nhìn nhận sâu về sự việc, khuynh hướng ngôn luận. Dẫn tới mệnh cách Cự Môn thường hướng tới luật sư hoặc chính trị theo khuynh hướng bày tỏ quan điểm chính trị bằng khả năng thuyết phục. Phá Quân chủ tranh đoạt, Phá Quân phá bỏ tạo đột phá, hàm chứa Sát cách cường vượng là cách cục bạo lực rất khó đắc cách, thường ở trường hợp trong xã hội xung đột, mâu thuẫn hay chiến loạn. Tử Vi chủ đứng đầu do ưa gánh vác trách nhiệm, chủ ưa ẩn, ổn trọng, suy tính sâu xa. Cự Môn chủ lộ, tính âm ám, quyền biến thuộc âm quyền không lớn, chủ mạnh do khả năng tạo lý tưởng dẫn dắt quần chúng do quan điểm phù hợp. Bố cục VCD nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ thuộc thế cục này. Mệnh cách VCD man thư thường luận là cách cục xấu, mang ý nghĩa thăng trầm biến loạn, thực tế do không rõ lý giao hội hợp hoá của các cách cục. VCD tại đây chịu tác động bổ trợ của hành vận khá lớn. Cung an Thân nhập Hợi cung phối hợp luận cách cục Lương ngộ Trường Sinh có Bật Mã Tang Binh. Trong nội tâm nam mệnh thường khi chịu ảnh hưởng của suy nghĩ, tức bản thân làm chủ tư tưởng hướng tới tự kiểm điểm bản thân, đánh giá bản thân sau mỗi hành động tác động tới đạo đức, lương tính. 




Thiên Lương ngộ Trường Sinh là thể khí có sức cát hóa rất mạnh. Nhập bất cứ cung độ không phá cách đều hóa sinh khí, tức gặp họa và cứu giải lớn. Khi nhập Phúc cung hóa " Lương ngộ Trường Sinh cư phúc địa thân thượng hữu kỳ tài" tức trong dòng họ có nhiều người hiển hách. Nhập Tài cung là cách phát tài, gặp may mắn về tiền bạc. Cung an Thân cư tại đây rất quan trọng, chủ về thân thể hay thân phận được sự may mắn, còn mang hàm ý thọ, tránh được tai kiếp thương tích, trừ việc nhập vận Tuyệt khí. Thiên Lương có Phụ Bật càng tăng mạnh tính chất này. Trong giai đoạn chiến tranh trước đây, với cách cục Thiên Lương cư Ngọ hội Khoa là cách cục mệnh tạo thoát được nhiều tai kiếp binh đao, thứ tới là bố cục Đồng Lương đắc cách. " Lương xung tọa thủ kiêm thọ toán". Tuy nhiên Thiên Lương cư Hợi ắt có họa mới được phúc, không ổn định như bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương. Thiên Lương cư tại đây luôn có thế khó khăn trước khi được cứu giải. Đây là mệnh cách may mắn về quan hệ xã hội, tức Âm Dương Lương cách. Có năng lực lãnh đạo, khả năng dẫn chứng lý lẽ, tọa lợi ích cho người khác do tính chất cơ biến của sao Thiên Cơ. Tuy nhiên bản cung Cự Cơ Lưỡng Lộc có Tuế Kiếp Khốc bản cung hội Thiên Không thành cách cục Lộc Đảo Tuế Đào kỵ hội Không Kiếp ám cục. Chủ việc tai họa tới bất ngờ có tính tai kiếp do Lộc Tồn hội Không Kiếp. Cự Môn có thể chế hóa Không Kiếp trong trường hợp không có Lộc Tồn. Tại đây Lộc Tồn đứng đồng độ ngay tại bản cung là cách cục cần lưu ý. Thái Tuế là quan điểm, tại đây quan điểm của Cự Môn ắt tạo thị phi, cũng ồn ào từ bên ngoài mang lại ảnh hưởng tới tư tưởng của mệnh cách. Thiên Lương tại cung an Thân có thể hóa nguy thành an tuy nhiên nhiều giai đoạn chịu tổn thất. Thiên Lương cư cung an Thân nếu có khuynh hướng tôn giáo, lấy tư cách làm trọng là phù hợp cách cục. Mệnh Thân gặp Thiên Lương không phá cách thường được đánh giá cao do tính chất có phần nông nổi, không thâm sâu khó đoán như Thiên Đồng. Thiên Đồng tượng là đứa trẻ, bụng dạ. Thiên Lương tượng là người già, đỉnh đầu. Do tư tưởng thông suốt khi hướng tới phẩm chất, cái tâm của bản thân dẫn tới Sát cách có thể chế dụng, tuy nhiên tối kỵ Không Kiếp. 




Tại đây tuy có Tồn Kiếp xung khi nhìn tại Mệnh không quá xấu do chịu ảnh hưởng từ bên ngoài cách Cự Cơ thị phi. Thiên Mã nhập Trường Sinh tọa thủ tại bản cung Tài Bạch khi phát ắt sức cường vượng chủ được lâu dài. Thiên Mã tại Hợi cung là thế bí, khi tích lũy tài sản ắt gặp nhiều lần phải sử dụng tới hao hụt nếu không họa tác động ắt tới các mặt khác như bệnh tật. Phối hợp Mệnh cách xét định khả năng tạo ra tài sản của mệnh tạo. Với cách cục này tiền bạc cần nên lưu chuyển thì có lợi hơn do Lưỡng Lộc xung gặp Cự Tồn ở thế rất bất lợi khi tiền bạc giữ trong kho, tức gửi tiết kiệm. Nên sử dụng cách kinh thương chỉ giữ một phần nhỏ ổn định. Lưỡng Lộc cách là bố cục mạnh nhất về Tài trong tử vi, khi hội Hỏa Tham thì phát đứng đầu thiên hạ, khi ngộ Cự Cơ hóa thành phù động, đặc biệt là trong thế đồng độ có khuyết điểm lớn khi gặp Tồn Kiếp. Xét toàn cục không hình thành bố cục treo trọng điểm Sát cách, trừ cung độ của tổ hợp Cự Cơ Đồng có phần bất lợi với Tài cách khi là cách cục bế tắc vì tiền, gặp họa về tài sản, tuy có hoạch phát bất ngờ nhưng cũng gắn với nguy hiểm khi Tồn Kiếp cùng cư Dậu cung. Cự Cơ Đồng là thế bế tắc phá vỡ thế cục mạnh của Song Lộc đồng cung. Khi định Tài cách lấy Tài cung làm gốc do củng chiếu cách Lộc Mã giao trì. Cách cục Lộc Mã khi Thiên Mã cư Tài hội Thiên Di chiếu về là cách cục Lộc trùng điệp, Mã dịch lộc thì hoạch phát. Tài cách có khuyếm khuyết của Cự Tồn dụng cách hóa tư tưởng thành việc luôn bất mãn về tình trạng tiền bạc, tham muốn tích lũy ngày càng lớn so với kẻ khác bên ngoài là phù hợp. Cự Tồn sinh ra khuynh hướng đố kỵ, bất mãn ưa vượt lên về Tài cách tức Mã luôn ở thế động sẽ kích phát cách Lộc Mã bội Ấn. Địa Kiếp tại bản cung tăng thêm tính Sát hóa, biến tham vọng theo khuynh hướng cực đoan, với bố cục bình thường ắt xấu, tuy nhiên ở đây là cách Cự Cơ Lưỡng Lộc có Kiếp Tuế tham vọng lớn, tuy nhiên hành động lại cần chờ thời, do Cự Tồn trong cách Cự Đồng Cơ phá thế bất mãn cần Thiên Mã tức dụng từ Tài cách. 




Thiên Lương nhập Tài cung lại ưa bộc trực, bộc phát sẽ gặp tai họa khi kinh thương, đầu tư. Lưu ý một việc, khi cơ hội phát sinh, thường là cơ hội dẫn tới kết quả sau cùng là phá tán. Do thế cục của thiên bàn ứng hợp. Thiên Lương cứu giải do may mắn tuy nhiên sẽ mất đi các giai đoạn tích lũy do phải phá vỡ thế bế tắc. Tài cách không nên làm cách cục chính, chỉ phù hợp dẫn hóa cho Quan Cách. Tức Quan Cách làm gốc, Tài cách làm dụng. Quan Cách định hình do toàn tổ hợp Âm Dương Lương và Cư Cơ xung. Tại đây cần tinh đẩu đóng góp công trạng và tài năng của bản thân, thứ tới là khả năng lãnh đạo. Với cách cục Cự Cơ đứng đầu do khả năng khai sáng theo một khuynh hướng dị biệt của sao này. Có thể định hình tướng của Cự Môn sức cát hóa do tính hiệu triệu bằng khẩu ngữ. Tử Vi tính chất chủ ngầm, ở trong tổ chức xây dựng bằng tình cảm, lý tưởng xây dựng của bản thân. Phá Quân lấy thế chính nghĩa, khai phá xung đột bên ngoài. Cự Môn tượng có thể hình dung như trong tư tưởng hành động của tổng thống Mỹ hiện tại. Tuy nhiên tại đây Cự Môn ở vị trí đối cung tức chịu ảnh hưởng tác động tới bên ngoài, được đánh giá tốt hơn tại bản cung do không nhiều thị phi như cách cục Cự tại bản cung Mệnh, với tính bất mãn bộc trực cũng không lớn như tại Mệnh. Cự Môn bên ngoài tức lấy ngôn ngữ làm trọng, để định Quan cách. Một lãnh đạo ở Đảng đối lập nổi lên gần do phản đối, nhìn nhận lại so với Đảng chính để lôi kéo quần chúng là cách cục của Cự Môn. Cự Môn là cách nhìn trái nghịch, sâu bên trong tuy nhiên để tìm khuyết thiếu, phần sai sót khác với Tử Vi hướng tới lý tưởng khai sáng ban đầu, gánh vác trách nhiệm. Phá Quân khi xung đột lấy chính nghĩa để khởi binh. Cách cục nội Âm Dương Lương là cách cục tình cảm, giảm tính xung đột của Cự Môn bên ngoài. Quan cách hình tượng của cách cục như trên là định cách sơ khởi. Cách cục do Cự Cơ Tuế Khốc Tồn Lộc ngay bản cung có khuynh hướng ứng với chữ bất đồng quan điểm rất rõ. Khi Cự Cơ Đồng ở thế Tồn Tuế Kiếp Hỏa tức xung đột tới từ bên ngoài. 






Cách cục Quan Cách tại đây không thâm sâu, tuy có thể lấy Thiên Lương làm gốc tức chính nghĩa để xét khuynh hướng đứng đầu do bản thân của tổ chức hướng tới. Tuy nhiên Quan cách tại đây ở tính chất tham mưu hơn việc gánh vác trách nhiệm ắt sẽ có thị phi tác động trong hành vận. Cách cục này có thể hoạch phát đứng đầu tổ chức lớn do Tài cách trợ dụng, tuy nhiên cũng sẽ hoạch phá do thị phi. Nếu đứng đầu ở tổ chức kinh thương có phần phù hợp hơn. Trong nội bộ của tổ chức mệnh tạo gánh vác ắt luôn gặp trường hợp xung đột, mâu thuẫn về lợi ích, hướng tới cái chung phục vụ ứng Đồng Tang là cần thiết. Cách cục Cự Cơ hội Kình Song Hao là thay đổi phá bỏ cái tồn tại bất mãn, Cự Cơ hội Tồn Kiếp là việc luôn tồn tại bế tắc. Thành hay bại cũng do  biến hóa của cách cục Cự Cơ tác động. Cách cục này lưu ý không phải bố cục hướng tới Văn cách chuyên môn sâu về một lĩnh vực, là cách cục chủ tổng thể. Âm Dương Quyền Thanh là tiếng nói, có ý nghĩa như việc uy tín, được sự tín nhiệm của kẻ khác. Thanh Long tại đây hội Thiên Mã là hai nhóm sao phù hợp nhất với Âm Dương Lương. Tuy thiếu Xương Khúc được Thai Tọa hội họp, đồng độ tại Mùi cung thành cách Mã ngộ Tam Thai anh hùng do Bát Tọa ưa ngẩng cao đầu, có khả năng linh hoạt theo thời cuộc. Hiềm nỗi Sát Phá Tham phá cách nếu không ắt có địa vị đứng đầu xã hội sớm. Cách cục này phù hợp về tham vấn, nếu khởi tư tưởng đứng đầu tới vận Tử Tướng sẽ gặp thời vận. Thiên Lương cư tại Hợi có chữ Ấm thiếu Phúc, tức được ngắn không được dài. Thiên Đồng là hưởng phúc lâu bền, Thiên Lương có giá trị cứu giải khi nguy khốn. Âm Dương Lương tại đây hóa cách cục hành sự có phần chưa thực cẩn trọng, cũng là cách phấn đấu thất thường, tùy sở định của Cự Môn tác động. May mắn là điểm mạnh của cách Âm Dương Lương do trợ lực rất mạnh. Bản thân nếu không tự dụng Cự Cơ ắt được một giai đoạn cũng phải hoạch phá. 

Thursday, June 14, 2018

Luận tử vi mệnh cách ứng hợp

Trăm mệnh Cự Kỵ Hình đều là cách hình tướng khẩu lệch, tướng mệnh méo. Cách Cự Môn hóa Kỵ ở can Đinh nhập mệnh. Người nghiên cứu tử vi có thời gian nghiệm lý thì biết được Thiên Hình an theo cách khác với lệnh tháng là theo giờ sinh. Với mệnh tạo sinh giờ Sửu sao này an tại Tài cung. Sinh giờ Tị thì an tại Mệnh. Sinh giờ Dậu an tại Quan cung. Ba giờ sinh này có thể định cách sao Thiên Hình trong bộ Hình Diêu tác động mạnh tới mệnh cách. Do đó thường người viết định lá số chưa xác định thời gian lệch nhiều canh giờ hay khán hạn định số thường dùng các bộ sao an theo Giờ tác động tới tính cách để phối hợp đinh số. Mệnh tạo nếu có Cự Môn thuộc can Đinh, sinh giờ Tị Dậu Sửu trăm mệnh cả trăm đều có tướng trạng như vậy. Đây là nội cách bởi bản tính. Các bố cục Sát thường tác động quyết định mạnh tới bản tính. Tử vi diệu dụng ở định cách nội tâm. Khi chịu tác động bên ngoài xã hội, các bố cục như Cự Kỵ Hình bắt đầu ứng hợp và tác hóa phối hợp khí hình sinh ra biến hóa sai biệt với bên ngoài. Với bố cục này, mệnh tạo theo khuynh hướng hình pháp thì đắc dụng, theo khuynh hướng Quan Cách thì có họa do khẩu nghiệp. Sự biến hóa do chủ ý hay vô ý dẫn hóa bởi hoàn cảnh thực tế bên ngoài dẫn tới kết quả khác nhau, trong nội tâm tướng, bố cục ý nghĩa cơ bản vẫn không đổi. Cũng vậy nếu mệnh tạo gặp cách cục Cơ Kỵ Kình Hỏa Kiếp đồng độ trăm mệnh tất cả đều có vấn đề về đầu não, tư tưởng. Đây là cách cục ý nghĩa cơ bản của Thiên Cơ giao hội Sát cách lấy Hỏa làm nòng cốt. Thường là cách cục tâm ý cuồng loạn, luận rất nhiều lá số cách cục này mệnh tạo tâm thần bất ổn, có bệnh về dạng này, sát ý lớn có thể gây ra những hành vi tội ác. Trăm mệnh cách cục này đều luận vậy. Cũng với bố cục Tướng ngộ Đào Hồng Xương Khôi hay Tướng Phượng Khôi Khúc bản cung nhan sắc đều tốt đẹp. Trăm mệnh cách đều luận vậy. 



Khi biến hóa ứng hợp bên ngoài theo hoàn cảnh. Có mệnh tạo tạo tai họa hình pháp, có mệnh tạo cuồng loạn, có mệnh tạo dụng được bố cục Sát vượng tuy mưu tính nhưng thành tựu lớn. Cổ nhân luận toán mệnh chính tông nhắc tới trợ cách. Tuy nhiên an định cục diện xã hội không lưu truyền ngoài. Tử vi đông a luận cách cục lấy trợ cách là
Cũng vậy như cách Cự Kỵ Hình hay Cơ Kỵ Hình Hỏa Kiếp, hay cách Cơ Khốc Kỵ chủ bệnh tật về phế tức phổi là cách cục chắc chắn mang kết quả như vậy. Trong tử vi hình thành các bố cục trọng điểm tạo tai kiếp tuyệt mạng khi ứng hợp với hoàn cảnh bên ngoài thực, cũng có cách cục hoạch phát tài danh với các hoàn cảnh khác nhau bên ngoài hay khí hình. Hoàn cảnh bên ngoài tức thực tế, trên lá số tử vi chỉ là bố cục là Khí, hoàn cảnh thực tế là Hình. Ứng hợp là Khí Hình. Tử vi đông a dụng trợ cách là dụng bởi Khí Hình. Hình tác động để dẫn hóa Khí mang ý nghĩa ngoài thực tế của cách cục. Do vậy khi Hình tức hoàn cảnh bên ngoài như vận nước gặp chiến loạn thì dẫn các cách cục của tổ hợp mang ý nghĩa hóa theo. Mệnh tạo các khuynh hướng thời bình khác nhau hay mệnh tốt, mệnh an ổn đều ứng hợp dẫn hóa nếu Hình suy tuyệt thì Khí không có điểm dẫn. Tới cách cục mạng vong mặc mệnh cách tốt. Ở thời chiến loạn biên giới phía Bắc năm 1979. Quân Trung Quốc sang xâm lược bất ngờ nước ta với vũ khí, sát thương, sát ý lớn chủ tiêu diệt, tạo thành Hình mang Sát khí cực vượng. Những người dân thường và bộ đội nhiều mệnh cách tốt xấu đều dẫn hóa bởi Hình khiến các bố cục biến hóa dẫn tới tuyệt mạng cả mệnh tốt xấu. Những mệnh cách xấu mang tổ hợp ứng hợp cách như có Kỵ Hình Linh Việt quyết định cách chắc chắn tuyệt khí. 




Ở vị trí và thời gian khác nhau Sát cách của Hình biến động khác nhau. Vạn vật luôn biến đổi là lý thực của trời đất. Với mệnh cách xấu Kỵ Hình Linh Việt ở Hà Nội thì chắc chắn không vong mạng với Hình vậy, tuy nhiên dễ chết ở thời điểm khác. Ở trong hoàn cảnh vậy, mệnh cách Sinh khí cực vượng sẽ thoát được tai kiếp này. Nếu mệnh cách bố cục Lương Sinh Việt Tồn bất giao lai Sát Kỵ thì tổ hợp hình thành trọng điểm cách mang ý nghĩa phát may, thoát tai kiếp ứng với Hình vậy có thể thoát nạn. Tuy nhiên nếu Hình cách tạo Sát bởi vũ khí sát thương lớn hủy diệt mạnh hơn như hạt nhân ở Nhật Bản thì bố cục cần cát hóa cực vượng. Nếu hình thành cách cục mệnh vận Đồng Lương Sinh Tồn Kỵ Khoa Việt là cách cục bất phạ tai ương, đa phần may mắn rời đi khỏi tai kiếp họa hoạn. Lấy thí như vậy để rõ hơn về Khí Hình. Vì vậy nếu mệnh vận khá tốt đẹp khi vận thiên hạ xấu vẫn phải gặp tai họa.  Với hoàn cảnh tai họa thì vòng Trường Sinh có khả năng tác hóa cát rất mạnh, cũng có khả năng chế hóa Sát tuy nhiên nhiều người luận tử vi thường không coi trọng vòng sao này coi để luận sức khỏe. Các bố cục tai kiếp đa phần dẫn tới tuyệt khí tới tuyệt mạng. Với cách cục bệnh tật nan y cũng vậy. Vòng Trường Sinh tác động lớn tới Sát cách ở điểm trên, có thể chế hóa Sát cách. Trong tử vi có các mệnh cách nhất định hoạch phát tài danh, đây là cách cục do tổ hợp sao hợp hóa mang ý nghĩa tốt, bất luận xuất thân hoàn cảnh ban đầu đều có thành tựu lớn. Tuy nhiên các bố cục này không thường gặp như phú luận và có phần sai biệt với thường luận, đa phần ở bàng tinh, Lục cát tức Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc với Lục sát gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp với Khoa Quyền Lộc và Kỵ Hình, ba vòng Lộc Tồn, Thái Tuế ( Phượng Khốc ) và Trường Sinh và quan trọng tại tính đồng độ của các sao khiến tính chất hóa hợp của các bố cục. Có mệnh thượng cách và hạ cách. Mệnh hạ cách không phải chỉ bởi Sát tinh trùng phùng, nhiều khi là bởi Khôi Việt Xương Khúc phối hợp sai cách dẫn tới mệnh ưa an nhàn, không có chí tiến thủ, vượt qua khó khăn bế tắc. 



Sunday, May 27, 2018

Bàn luận tử vi về cách cục nhập Mệnh Thân




Phần trao đổi bàn luận về cách cục tử vi người viết giản lược một số phần bàn luận để ngắn gọn hơn. Với tam hóa nên bỏ những kiến chấp về Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc, Khôi Việt, Tả Hữu. Như so sánh bố cục tam hóa như sau. Mệnh cách có Thái Âm ngộ Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc hội mệnh. Mệnh cách thứ hai Thái Âm ngộ Hình Kỵ Kiếp Khốc Linh Quyền Ấn nhập vòng Trường Sinh. Lá số thứ nhất mệnh tạo yểu mệnh, có vài lá số vẫn có cách cục khá tốt, thành đạt, nhưng mệnh không tạo nên thành tựu đột biến lớn. Lá số thứ hai tuy tính cách sát phạt, táo bạo, âm quyền thành tựu phát đại quý, giữ chức vị rất cao trong quốc gia. Lá số thứ nhất sinh trưởng tốt, được nuôi dưỡng, giáo dục tốt, cuộc sống ổn định. Mệnh tạo tới trung niên thì phát. Lá số thứ hai sinh trưởng bần tiện, thuê mướn, không có học vấn, tuy nhiên tham vọng rất lớn, bản tính khác biệt với cùng lứa, ưa sát phạt, thâm trầm, vượt qua nhiều giai đoạn bế tắc, khó khăn. Trung niên hoạch phát khi nhập vận tam hợp Mệnh. Một điểm quan trọng khi nhìn mệnh cách của tử vi đông a là nhìn vào khí hóa của Sát, nếu cường vượng, mệnh tạo đảm nhiệm và dẫn hóa được. Sát cách có đặc điểm phối hợp ngũ hành, Hỏa Kim là gốc. Nhìn vào bởi phát xung lực. Mệnh tạo với tham vọng lớn, hành động thể hiện quyết tâm không dời là phát Kim sáng. Mệnh tạo nhiệt huyết, táo bạo với tham vọng là Hỏa sáng. Mệnh tạo liên tục bám nắm, không thay đổi với tham vọng nhưng linh hoạt với hành động là Thủy sáng. Trong bế tắc không tuyệt vọng, đâm gốc rễ sâu vững chắc, hướng tới phát triển liên tục là Mộc sáng. Ổn trọng, giữ vững không để những tính cách vượt qua kiểm soát, là Thổ sáng. Chữ sáng ở đây là hợp, hữu tính, chế hóa thành cách. 



Ngũ hành khi người nghiên cứu hiểu nhầm với tên gọi. Vạn vật từ vô tình tới vật có sinh mạng đều chịu tác động bởi các quy luật, không thể nằm ngoài các quy luật này. Vạn vật đều có các thuộc tính Âm Dương và phân Ngũ Hành tác động, nằm sâu trong tính chất.  Ở đây Thủy ở cách dùng vật diễn giải, chỉ đặc tính chuyển dịch, linh động, lấy tên làm tượng, không phải mang ý nghĩa là nước. Do bản tính nằm trong Ngũ Hành nên giản đơn lấy Tử Bình chỉ gồm Vòng Trường Sinh, Âm Dương, Ngũ Hành biến dịch luận mệnh thọ yểu. Vạn vật luôn biến động, đây là lý thứ nhất là quan trọng nhất, thâu suốt. Vạn vật phân làm Âm Dương là lý thứ hai. Vạn vật đều có thịnh suy, vượng tuyệt là lý thứ ba. Vạn vật khi biến động sinh ra các tính chất, đó là Ngũ Hành là lý thứ tư. Cũng như phương tây, nghiệm lý bởi khoa học thiết bị hiện đại không nằm ngoài sự thực. Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm nắm được diệu dụng của Thái Ất Thần thư mà dự đoán được vận nước. Về lý toán mệnh, luận ở thế vận động, kết quả của biến động lý Âm Dương Ngũ Hành dụng y học hay các môn khác không phải thua kém hoàn toàn với Phương Tây. Do cùng lấy nguyên lý xuất phát từ quy luật chung vạn vật. Như trong một cộng đồng, một tập thể kẻ nổi trội là đứng đầu. Sức vượt trội trong quần chúng, là sự khác thường. Kết hợp từ Ngũ Hành thiên lệch. Do bất bình thường nên hợp hóa hữu tình là mệnh quý, bất bình thường nhưng hợp hóa vô tình là tuyệt mạng. Đó là tính quân bình. Các tính chất sao trong Tử Vi không nằm ngoài vậy. Vòng Lộc Tồn tác động rất lớn không nằm ngoài vị trí Lâm Quan vượng khí của vòng Trường Sinh bởi Thiên Can lưu trên vòng Địa Chi. Có một phần người viết đưa ra thường gặp phản đối, thực lấy ngũ hành để phân tính cách, bản tính mệnh tạo tức quy về bản thể chung là điểm nên dụng trong tử vi, cũng là cách phân loại tránh rối loạn của Tử Vi Đông A. 




Tuy nhiên người nghiên cứu thường nói rằng việc này gán ghép vô tình giữa Tử Bình và Tử Vi. Thực hai môn này không khác nguồn gốc. Lý đơn giản chỉ lấy ngày tạo sinh, hấp thụ khí, khai tạo như việc thời điểm khai tạo một tổ chức, xuất hiện lý nhân duyên. Lý nhân duyên sinh ra do biến động của vạn vật. Rồi lấy Khoa Quyền Lộc Kỵ gán cho tứ mùa Xuân Hạ Thu Đông là lấy xuôi bẻ xuôi, không đi ngược lên nguồn gốc. Tứ thời gồm 4 mùa cũng chỉ là sự biến hóa của Ngũ Hành. Ở những nơi không có bốn mùa này lẽ nào không có mệnh lý. Thấy tương đồng nhưng không ngộ nhận. Khi luận có người luận Tứ Trụ lấy khí
Sự diệu dụng của các môn Toán mệnh nằm ở sự khởi tạo tương liên giữa Thiên Văn và khai tạo ra bản thể một mệnh tạo. Sự khai tạo của một bản thể cũng như sự khai sinh một tổ chức, một vận đều liên quan tới trời đất. Cổ nhân dụng Thiên Văn phối hợp định cách rõ được thời gian liên quan tới hành khí của Ngũ Hành là Lục Thập Hoa Giáp từ một điểm truy được toàn bộ các năm khác theo Can Chi, tới ngày nay cũng vậy. Đó là mối tương quan đầu tiên của thời gian kiến với Âm Dương Ngũ Hành, mối quan hệ mà Phương Tây không nhìn ra, cũng không quan tâm nhiều do sự phát triển lịch sử. Phương Tây thường hướng tới bên ngoài trợ lực, phương tiện tạo ra. Sau đó hướng tới định cách bởi vạn vật đều chịu tác động của Âm Dương Ngũ Hành, khi khởi tạo truy nguồn gốc của hành khí theo quy luật thì ra được Mệnh Lý. Do đó lá số tử vi là một tờ giấy ghi trước số mệnh, tuy nhiên nhìn cuộc đời khi tới mệnh vong bởi Tuyệt cách thực chẳng sai lầm, đại vận hoạch phát hay bệnh tật cũng vậy. Người đời sau khi nghiên cứu về mệnh lý do không có tài liệu, kinh sách không còn nhiều người rõ được nên khi luận nắm đuôi không nắm đầu nên có phần thiếu sót. Cũng không biết rõ khi biến động mạnh bởi dòng khí điểm thì mệnh tạo mỗi người thực chẳng có ý nghĩa so với tác hóa của Thiên Địa lớn hơn ta, theo thứ tự là làng, nước, thiên hạ, thiên địa. 




Một cơn sóng thần hay nổ bom nguyên tử khiến số mệnh bản thể không còn mang ý nghĩa. Trong chiến loạn cũng vậy. Lá số tử vi mỗi người là bản tính, sự biến động của ngũ hành tới bản tính, ai cũng có số mệnh nên đồng khí tương liên, dẫn tới diệu dụng khi toán mệnh. Xét về khảo cứu khoa học hiện đại của Phương Tây rất đột phá. Tuy nhiên kiến thức của chúng ta cũng rất uyên thâm, rất nhiều điểm khiến họ nể phục. Bản chất vạn vật không có Thiện Ác. Chỉ tư tưởng mỗi người khác nhau phân Thiện Ác. Vật ta thích thì sợ hãi khi thấy chữ Diệt, vật ta ghét thì sợ hãi khi thấy chữ Sinh. Cổ nhân luận rằng nếu ta không có suy nghĩ của con người thì đã có thể nắm được lý của trời đất. Trạng thái Không chỉ là một trạng thái không bất biến của vạn vật. Tư tưởng của ta nhận lầm về tính cố định. Bản thân hôm qua tới hôm nay như không khác biệt. Nhưng nếu gặp một biến cố lớn thay đổi hoàn toàn nhận thức trong một khắc thì tâm nhận biết rõ về thay đổi thành người khác. Ta thường chấp vật tại một thời điểm là bất biến. Khi nhìn vạn vật không nhìn sinh diệt, vì thực không có sinh diệt, do nhận thức sai biệt mà ra sinh diệt. Không có vật bất biến. Cổ nhân luận vật qua ba trạng thái. Trong đó có trạng thái Không cũng  chỉ mang tính tạm thời. Khi thực lý bởi dịch lý uyên thâm, cố nhận định ra toàn cục về y lý dụng âm dương ngũ hành chữa bệnh khi không phát triển như tây y với phẫu thuật bên trong. Thứ hướng tìm tới bản nguyên nguồn gốc trong nội tâm. Sinh được các kinh thư cổ qua nhiều giai đoạn biến cố thời gian thực đã gần như thất truyền. Trong đó có phần định về Không cách rõ, thì mệnh lý được rõ. Trong cuộc sống, nhiều thời gian bản thân mỗi người rơi vào trạng thái Không, tức không nhận thức. Mắt đôi khi nhìn nhưng không thấy. Tai nghe không nghe. Đứng ở một vị trí nhưng không biết. Đó là ứng hợp đặc tính của Không. Tất cả đều sợ một điều là. Cái chết. Tất cả hoàn Không khi chết. Do nhầm lẫn về Sinh Diệt. Tất cả đều rõ khi chết vạn vật không biết, không nghe, không thấy, không nhận thức. Những việc về linh hồn hay cõi âm đều do tưởng tượng ra về một thế giới tốt đẹp hơn. Do sợ chữ Không và tư tưởng luận nhầm lẫn bởi Sinh Diệt mà không rõ là thực không có Sinh Diệt mà chỉ có biến đổi. Ta thở một cách đều đặn từ sinh ra tới khi chết, phần lớn ta không biết. Các nội tạng, ta không cảm nhận được từng nội tạng của ta. Khi bị biến đổi cơ thể ung thư nguy hiểm, ta không nhận thấy. Lời nói vừa ra khỏi miệng, không nhớ rõ. Hôm qua làm việc nọ, nhớ chưa làm. Khi sợ hãi về Không cách thì ngay việc giác quan không hoàn chỉnh, bám nắm lấy. Tiền nhân để lại hậu thế tri kiến uyên thâm khi tuổi cao. Khi già, sáng làm, trưa quên. Mắt thấy không còn rõ như xưa, không sợ hãi, hoảng loạn. Tai chuẩn bị điếc, không sợ hãi, hoảng loạn, Làm nhớ chưa làm, không sợ hãi, hoảng loạn, quên gần hết chuyện xưa kia, không sợ hãi, hoảng loạn.  Tới gần chết, mắt không còn nhìn thấy, không sợ hãi cố chấp. Cuộc đời theo quá trình thì không sợ hãi. Nếu biến đổi ngay tức khắc từ trẻ tới già thì hoảng loạn. Sinh Lão Bệnh Tử một người, nằm trong quy luật tức Sinh Vượng Tuyệt Không. Vạn vật không nầm ngoài quy luật. Cũng vì quy luật đúng vạn vật tới mức không sai sót. Nên mệnh lý và huyền học phương Đông rõ hơn về chữ Tử. 





Do Không cách mang tính tạm thời. Thực tế khi mỗi người sống. Đôi khi tâm tách khỏi thân, còn sự thực không làm chủ hoàn toàn với thân tức cơ thể như ở trên. Do vậy, Tâm tức Mệnh và Thân tức cung an Thân. Hiện nay người luận tử vi thường chỉ nhìn Mệnh và Thân không rõ lý tiền nhân để lại sau này. Chỗ quy về đại ngã với quan niệm một số tôn giáo do nhìn nhận về Không cách. Mệnh sinh khởi trước Thân, là nguồn của Thân, tuy nhiên về sau phụ thuộc song hành với Thân. Đây là cách khởi nguyên định của Mệnh Thân. Thân sinh khởi do Mệnh mà có.  Sau này hỗ hoán tác động lẫn nhau. Do Thân khởi từ Mệnh khi ứng hợp bên ngoài, tức với vật chất, nên Mệnh không làm chủ hoàn toàn Thân. Nơi này thì phát triển như vậy, ở nơi khác phát triển khác. Thân là phần ngoài ứng hợp, Mệnh là phần trong. Tử Vi hay các môn toán mệnh chỉ là một phần nhỏ trong trí uyên thâm của cổ nhân, chỉ đáng tiếc là man thư nhiều nhưng kinh thư ẩn không có duyên không gặp. Ta nhìn sợ hãi chữ Không. Do đó không rõ Không cách. Tâm khi chết quy về Không. Cũng như trong suốt thời gian sống, tức biến đổi liên tục bản thân mỗi người đã trải qua trạng thái này. Sau đó sẽ khởi nhập vòng Trường Sinh do tính quy luật của vòng Trường Sinh tác động vạn vật, không có ngoại biệt. Do khởi biệt như vậy, sinh ra các việc luận đoán về quá trình của khởi phát tiếp theo. Sinh ra nhiều thuyết về sinh tử hồn phách đầu thai. Trong cuộc sống, khi trạng thái Không xuất hiện, các hoạt động vẫn diễn ra bởi ngũ hành luôn biến động, Thân là ngũ hành nên các hành vi vẫn vô thức diễn ra. Do đó khi tuyệt mạng các hành tức hành vi vẫn vô thức diễn ra tới khi biến đổi khỏi trạng thái Không, khởi tạo được vòng Trường Sinh. Bản thể ta hay thế giới vẫn tuân theo các quy luật trời đất như vậy. Tức Nam và Nữ, Chính và Tà, Thiện và Ác cũng vậy, len lỏi qua từng vật, từng quá trình nhỏ nhất. Người thường nhầm lẫn vật hữu tình, vật sống do hoạt động nên không chịu tác động của nguyên tắc trên. Lại phân định nên sai lầm. Người viết luận cho học trò sâu hơn một chút về định cách. Thực tế người xem tử vi cũng không cần rõ về nguyên lý của Mệnh Thân. Khi luận cần thiết nghiên cứu rõ về tính chất của cách cục và phối hợp cách khi luận mệnh vận là đủ để có thể tự luận tử vi cho bản thân.