Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Vòng Trường Sinh. Show all posts
Showing posts with label Vòng Trường Sinh. Show all posts

Thursday, August 5, 2021

Con đường công danh

Phàm nam mệnh khi sinh khởi lấy chí tạo lập công danh làm đầu. Vượt qua những phép Đào hoa sắc hay vật dục để hóa cục tinh hệ tham muốn khởi phát thì được hưởng thành quả sau này. Điều quan trọng là sự tồn tại thực tế của thành tựu khởi đầu luôn khởi nguyên căn từ Đào hoa cách luận. Thí như khởi gốc từ vòng Trường Sinh tới giai đoạn Trường Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan tới Đế Vượng. Vòng tác hóa khởi một vòng của tư tưởng cũng khởi phát theo nguyên tắc này. Do vậy thực tế, định cách của một thời vận trong thời gian chỉ một niệm rất ngắn đã phân đủ giai đoạn của Sinh Vượng Tuyệt tại ý niệm. Dài hơn là công danh một đời. Động lực là gốc cho việc cần hướng tới. Động lực khởi thường do Đào Hoa cách. Do vậy ngay khi khởi khí Trường Sinh, tiến khí chính là Mộc Dục, tức tư tưởng tham muốn của nhân mệnh sau đó mới chuyển sang hành khí của Quan Đới. Khi định cách lá số tử vi, nếu tham vọng bất kiến loạn, tức ẩn tính tham muốn vật dục, chuyên nhất vào mục tiêu lớn cách cũ đó thành cách. Thường hóa khí của tinh đẩu có tác dụng điều hướng thông qua tư tưởng của nhân mệnh ứng hợp với tính chất của Chính Tinh và phụ tinh hóa khí. Khi Cự Môn hóa thành Kỵ, trong tính chất của Cự Môn luôn hóa tồn nghi, lo sợ, loạn tâm về những vấn đề hình thành. Hóa khí Khoa Quyền Lộc tức dẫn hành khí tới về tư tưởng nghiên cứu, học hỏi hoặc xây dựng uy tín, quyền hạn, hoặc tích lũy, phát triển hướng lên khi dẫn cục. Hóa khí trong một quá trình tư tưởng có vai trò quan trọng để thành cách. Tuy nhiên tham muốn, tham vọng tức vị trí Mộc Dục của tư tưởng khởi phát trước vị trí Quan Đới có ý nghĩa quan trọng hơn rất nhiều. Lưu ý Mộc Dục người viết xét không nằm trên tinh bàn, chỉ quá trình vận hành của một vòng Trường Sinh ứng công danh khởi phát. Đây là điểm thường tương tự khi xét đoán khởi ý định cách tới như vòng Trường Sinh Bay của dòng Phúc Tông. Luận định về cực điểm của tứ tượng cũng không nằm ngoài suy vượng của khí hóa xét đương nhiệm. Thực tế, tính tất yếu sinh trụ dị diệt của toàn bộ khí hóa xét trong toán mệnh lý cần nắm rõ là điểm không thể tách rời với định cách độ số tử vi. 




Hung nhược bất hung, cát nhược bất cát điểm xét vượng suy khi phối hợp như âm hỏa đắc lợi rèn kim, hỏa vượng kim sắc, dương hỏa cực vượng kim chảy hóa thủy. Phàm bất quá thành hư nhược, phản tượng. Khí hóa của vòng Trường Sinh khi định cách của Đông A bản chất không xét định trên lá số tử vi, người viết đã có xét tại các lá số phát khởi thai tạo cùng ngày giờ tháng năm sinh, có đứa trẻ mang tai kiếp bệnh tật bẩm sinh, có thai sinh vừa khởi sinh đã lưu tới tử tuyệt. Vòng trường sinh của Đông A phái xét theo nguyên căn khởi gốc, có tính riêng biệt rất mạnh của mỗi nhân mệnh. Khi xét định Sát cách lấy vòng trường sinh khí hóa làm trọng, để luận định cát hung họa phúc. Một số người nghiên cứu tử vi có gửi tới người viết về những lá số chịu ác nạn của bệnh dịch hiện nay và xét định cách của đương số. Thực tế khi nghiệm lý xuất hiện có những sự tương ứng khí. Có nhân mệnh đang thời kỳ sự nghiệp rất mạnh, hành khí của đại vận cát hóa cường vượng, tiểu vận tương ứng khi xét Tài Quan cách mang ý nghĩa cát. Tuy nhiên khi xét gốc đại vận gặp Mã hội Lưỡng Lộc trùng phùng đại tiểu vận trong bố cục Cự Cơ Đồng. Thiên Di cung nguyên cục ngộ Sát Cô Hồng Đà Kiếp Bệnh. Một lá số nam mệnh đang làm chủ một doanh nghiệp lớn khi hội cách cục Mã Khốc Khách có Quyền Ấn trong tổ hợp Vũ Tham thành cách trùng phùng đại vận lưu về Tài cung gặp biến loạn bệnh ách. Thực tế phái Đông A khi xét khởi nghiệm lý rõ về tính khẩn yếu của Sát tỏa vận đồng khởi, từ vận làng, vận nước và vận thiên hạ có tính chất thấu triệt rõ ràng. Thí như quốc gia Ấn Độ khi đỉnh điểm dịch tới với khoảng 300 nghìn người mắc cũng như nạn diệt chủng tại Campuchia giai đoạn chiến loạn khiến khoảng 1/4 tầng lớp tri thức, tư sản của Campuchia tuyệt mệnh. Khi đó Khoa Quyền Lộc chỉ là cái áo bên ngoài, không thể vượt khỏi cương tỏa của Sát cục vận quốc gia. Khi xét tính chất của bệnh dịch covid-19 có điểm phát sinh là ngoài tính chất khu vực khi lây nhiễm xét nguyên cục hành vận sẽ chịu tác động lớn hơn. Thí như tại khu vực có khả năng lây nhiễm lớn, hành vận có Kỵ Hình Mã Kiếp hoặc Mã Khốc Khách hội Lưỡng Lộc trong thế đứng Cự Cơ Đồng hoặc Kình Mã Phượng khi hội vận Thiên Mã ứng cách phát sinh chuyển động phối hợp sao chủ Bệnh dễ gặp tình trạng bệnh tật khi di chuyển. 




Tại cách cục dịch chuyển ứng với tiếp xúc và truyền nhiễm bệnh. Qua khoảng 18 lá số nghiên cứu nghiệm lý mắc dịch bệnh có 10 lá số gặp cách cục chuyển động do Thiên Mã hội cách. Tuy nhiên khi nghiên cứu về mệnh lý nhập vận tử tuyệt số lượng chỉ 3 lá số. Trong đó 2 lá số hành vận có Thiên Mã hội Song Lộc trong thế Cự Cơ Đồng và Thiên Mã hội Quyền Ấn trong thế Vũ Tham. Hai lá số bất kiến Không Kiếp Kỵ Hình. Lá số thứ ba hành vận cách cục đắc cách may mắn Dương Lương cư Mão trong thế Âm Dương Lương có tính giao tiếp xã hội lớn. Tính khả  cứu của Dương Lương rất lớn khi hoàn chỉnh cách tuy nhiên do gốc Âm Dương Lương có tính xã giao, giao tiếp, Sát vận ứng vận làng tại vị trí địa lý sinh sống dẫn tới tai kiếp. Khi người viết đọc tin tức trên mạng, có trường hợp một gia đình có 9 người cùng mắc bệnh, trong 9 mệnh số này có người mệnh cách nhập hành vận bình hòa, bất hung, có thể có người đang lưu vận cát. Vấn đề nhiễm bệnh tại đây liên quan tới vận gia đình và tính chất của việc bệnh tật lây lan rất nhanh chóng khi tiếp xúc. Hạn bệnh tật liên quan tới sinh tử do nội thân tác động và do hoàn cảnh bên ngoài tác hóa. Có những nhân mệnh ăn uống không khoa học, uống nhiều rượu bia và hút thuốc tuy nhiên khi lão niên mới gặp vấn đề lớn tới sức khỏe. Tuy nhiên cũng rất nhiều nhân mệnh trong thế hệ thanh niên hoặc độ tuổi ban đầu của trung niên gặp ác bệnh trong cơ thể, các bệnh nan y như ung thư, tiểu đường, suy thận, xơ gan,...là những bệnh không thể chữa trị. Do vậy, thực tế trong nội cơ thể mỗi nhân mệnh phân định sai biệt. Kẻ gặp Tham ngộ Trường Sinh gia cát hay cách Đồng Lương đắc cách thường cơ thể sẽ có thể phòng chống được bệnh tật rất tốt. 




Một số nhân mệnh hạn tử tuyệt hiện trên diện tướng, tức tướng mạo đặc biệt tại vị trí ấn đường chủ Mệnh cung. Lại nhãn tướng biểu hiện. Suy xét khi nhân tướng tại tướng trạng hình tù pháp lý ứng hợp tính khả tín rất lớn. Tức diện tướng là nơi khí phát ra ngoài có thể dự đoán, huống tới nội khí trong luân chuyển tuần hoàn, khắc phá tương hợp có hữu tình hay không cũng phần dự đoán thời kỳ tiếp theo của nhân mệnh. Cách biểu thị nhân tướng để người đọc có thể thấu rõ hơn về toán mệnh tính dự đoán do sắc tướng là sắc, hiển lộ ra bên ngoài có thể dễ hình dung. Khi định vòng trường sinh khí hóa xét từ nguyên khí của tinh đẩu, sức cường vượng sai biệt. Như việc tướng quý, mệnh hỏa chủ vượng, tinh thần nhiệt huyết, thường cách cục dễ tạo nóng nảy dẫn tới tai họa. Khi hóa tú khí, nhân mệnh nhiệt huyết nghiêm chỉnh với lý tưởng đặt ra, tham cầu tới cùng. Xét đoán vòng Trường Sinh khí hóa, tức dẫn hóa của khí hình tinh đẩu có thể nhìn thấu triệt chủ khách khi định cách. Thí như một trường hợp, nam mệnh trong trường hợp chủ động thực hiện hành vi buôn bán chất cấm, khi bị bắt chịu xét xử hình pháp tử hình. Khởi của Mộc Dục tại đây, hay tham muốn của cách cục là lợi nhuận, tiền bạc. Bố cục liều lĩnh ắt thiếu Khoa, Xương Khúc trừ một số trường hợp rất đặc biệt có Văn tinh hội củng, tuy nhiên xét cách cục thường xảy ra nằm tại Hình Kỵ hội chiếu. Khởi vòng Trường Sinh, ý niệm là tài phú, phương cách hoạt hóa là quyết tâm ắt Sát Kỵ phải hội họp để định cách cục này. Trường hợp này, mệnh cách dẫn hóa là Chủ. Trường hợp một nam mệnh trong tình cảnh nợ nần áp lực rất lớn, phát khởi tham muốn kiếm tiền nhanh chóng để trả nợ vay lớn, mệnh cách dẫn nguyên cục là Khách. Khởi nguyên căn ban đầu thực hiện một hành động chính là khởi của một vòng Trường Sinh khí hóa. Khí hóa này cực vượng, có thể hóa toàn bộ thiên địa nhân, cơ định xung quanh phải theo nó. Khi nghiên cứu trên mạng thông tin, có bài báo người viết đọc được liên quan tới việc tác động của tâm thức khiến xoay chuyển về nhân duyên hoàn cảnh để thúc đẩy tham muốn của bản thân. "Khi mong muốn mãnh liệt sẽ khiến thế giới xung quanh hợp lực xoay quanh bản thân". Vòng trường sinh khí hóa của Đông A Phái xét nguyên khởi từ gốc nội tâm này. Thứ như xét định cách chế dụng của Sát cách cũng mang tính biến hóa từ nguyên căn trên. Vị trí Mộc Dục của tư tưởng có tính thiết yếu để định cách của vòng trường sinh khí hóa. 





Giai đoạn năm 2005, người viết có nhớ về một nữ mệnh với cách cục Vũ Phá Kình Kiếp. Trong thời điểm này, nữ mệnh lên thành phố Hà Nội và làm rất nhiều công việc nặng của nam giới để kiếm sống và chưa trị cho bệnh của mẹ nữ mệnh bị tai biến, cả dòng họ đều ở vùng nông nghiệp. Bản thân người viết có điều trị ở cùng nơi thời điểm này với mẹ của nữ mệnh. Bệnh tình mẫu thân trở nặng và có hỏi về cuộc đời của nữ mệnh sau này có được ổn định vui vẻ hay gặp nhiều sóng gió. Xét đoạn về nhân tướng, diện tướng lưỡng quyền cao, mắt nhạn, ngưu tỵ phối hợp. Khi xét luận về lá số, định cách cục Vũ Phá Kình Kiếp này, thành bại yếu tố chính do cách cục Phá Quân hội Kình Dương. Sau đó có hỏi nữ mệnh về dự định thành gia lập thất sớm tại quê nhà hay đi xa làm việc ? . Nữ mệnh đáp sẽ rời bản xứ tới đây để tạo lập sự nghiệp, trước lập thất sẽ tạo dựng tài sản và khi ổn định sẽ kết hôn. Xác định khí hóa của Vũ Phá Kình khi nhập hành vận này, phát sinh hai khuynh hướng do hành hóa vượng nhược biểu hiện khí ra bên ngoài sẽ phát sinh lựa chọn sai khác. Khi nghe bộc bạch của nữ mệnh, biết rõ nữ mệnh không nói lời phiếm. Sau khi người mẹ khuất núi, nữ mệnh tiếp tục ở lại lao động. Tới năm 2007 người viết được biết đã tạo lập một doanh nghiệp về chế biến vật liệu xây dựng, năm 2011 đã trở nên rất giàu có khi nhập vận VCD có Cự Nhật nội cách hội Lưỡng Lộc sau đó lập thân với một doanh nhân của Pháp. Khí hóa của Kình Dương hiện tướng ngưu tỵ thường khi hóa nguyên cục thành cát. Vũ Phá Kình tượng hóa nữ cường, thực tế bất kiến Hóa khí, với mệnh nữ vẫn có thể bạo phát lớn chỉ dụng cầu Không Kiếp thành cách. Khởi niệm của nữ mệnh rơi vào thời điểm biến cố loạn động của gia đình ứng với Tử Vũ Liêm hội Sát Phá Tham là cảnh bế tắc, Sát cách dẫn hóa cực vượng bởi khởi một niệm cương quyết, tạo dựng và phát triển tại đây. 

Thursday, August 9, 2018

Luận về mệnh cách Cự Đồng.



Lá số mệnh cách Cự Đồng cư Sửu đắc cách, có địa vị cao trong xã hội. Phần luận cách cục này học trò luận. Về cách cục đã có cái nhìn tổng thể về tử vi, ứng hợp đúng với mệnh tạo ngoài thực tế người viết đã từng luận, trình bày luận tương đối đầy đủ về định cách cơ bản, xóa bỏ được một phần cách luận thiên lệch trước đây. Người nghiên cứu tử vi không nên nóng vội, nghiệm lý từng cách cục nhỏ, từ cơ bản nắm rõ, thực lý rõ thì gốc vững, gốc vững thì luận không gặp rối loạn. 

 Bố cục chung Thiên bàn phân thành 4 nhóm sao đó là TPVTL, SPT, Cự Đồng Cơ và Âm Dương Lương.  Tinh hệ này là tinh hệ Tử Vi cư Ngọ, đương số sẽ có những phẩm chất hơn người, chí ít là ở hoàn cảnh. Tử Vi độc tọa, lý tưởng và tính chất bộc lộ rõ ràng, không bị ảnh hưởng  và bộ Âm Dương sáng tạo điều kiện tốt cho đương số. Trò luận đương số có chính kiến, có lý tưởng. Đó là xét về chính tinh. Xét tiếp đến Bàng tinh, Không Kiếp Kỵ Hình Linh Hỏa không tụ tập. Các sao tăng mức độ quan trọng tụ tập nhiều ở cung độ Thái Âm Khoa  Khôi  Việt Đại. Thực ra trò vẫn khó phân biệt cung trọng điểm. Các trường hợp rõ ràng như lá số của trò có thể ngay lập tức nhận ra. Nhưng nhiều lá số rất khó. Ở đây trò vẫn nhận định cung trọng điểm là cung quan lộc với chính tinh Thiên Cơ ngộ Hữu Việt Hư  Mã Không Kiếp nhập Sinh. Ở đây là bố cục khá xấu nhưng may mắn nhập được Sinh Vượng mà hóa cát. Người này sẽ gặp nhiều nghịch cảnh nhưng lại vượt qua được mà thành công. Tuy nhiên cũng không hoàn toàn hạnh phúc.


Mệnh cung chủ ý chí, nghị lực con người, cũng là nơi bộc lộ phẩm chất và tính cách. Bố cục chung Mệnh Tài Quan là Cự Cơ Đồng ngộ Tả Hữu Việt Quyền Kình Tiểu với Tang Hư Khách có Tuần Triệt Không Kiếp nhập Sinh Vượng. Cự Cơ Đồng là nhóm sao chủ bất mãn, phản đối, dễ sinh thị phi, bất đồng mà đưa đến phản bội, mang tính chất nội bộ. Ở đây Cự Đồng Cơ ngộ Kình Hao, tính phản kháng càng thêm mạnh, nhưng chỉ là Tiểu Hao, tính chủ động bị hạn chế, trong lòng chứa nhiều bất mãn. Cự Đồng cơ ngộ Tang Hư Khách, can Quý Cự hóa Quyền, Tang Hư Khách hợp với Thiên Đồng chủ từ thiện, làm phúc, lại có Thiên Việt thật tốt quá, đương số tốt bụng, thương người, hay giúp đỡ người khác mà cũng được giúp đỡ lại. Tuy nhiên cũng hình thành các cách xấu như Đồng Không Kiếp, Cự Không Kiếp, nếu không làm phúc sau này tai họa tất đến, dù cho Không Kiếp đắc địa đi chăng nữa. Bố cục nhập Sinh Vượng nên vượt qua được những khó khăn, năng lượng lớn, có ý chí, có sức khỏe: “Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ hoặc cư Tuyệt xứ. VCD hoan phùng Tả Hữu Sinh Vượng hóa hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài”. Đương số lại được sinh ra trong gia đình giàu có, được học hành đầy đủ, do vậy hưởng phúc tài lại càng đúng. (Câu phú nói đến VCD nhưng trò nghĩ là tính cả chính tinh, không biết đúng k thầy?). 
Mệnh cung cũng là đại vận đầu tiên là Cự Đồng ngộ Tang Kình Quyền nhập Vượng  có Tuần Triệt án ngữ. 



Mệnh Thân đồng cung, đương số khá thống nhất trong suy nghĩ và hành động, ngôi sao Tử Vi độc tọa tại Ngọ chủ lý tưởng. Người này có ước mơ và phấn đấu theo ước mơ đó.  Mệnh Thủy, Đồng Cự cũng đều là hành Thủy, luận theo cả 2 sao. Ở đây dụng Thiên Đồng có lẽ tốt hơn so với Cự Môn do hình thành cách Đồng Tang hay hơn Cự Kình không có Phượng. Cái hay là Tuần Triệt án ngữ nên được hưởng 2 chữ phòng tránh, hai cung Tài Quan tuy rằng không đẹp nhưng cũng khó ảnh hưởng đến Mệnh Thân. Mệnh có Tang Môn, đương số có nét buồn trên gương mặt. “Tang Hổ Điếu Binh vị chi tứ Hung, nhược ngộ Đồng tinh nhi hóa cát”, đương số phẩm chất tốt, đây là người tốt bụng, tuy nhiên công việc không tốt, dễ gặp tai họa tác động trở lại cung Mệnh, khiến Mệnh cung có điều bất mãn, lo nghĩ. Cung Quan Lộc với cách Cơ ngộ Hư Mã Không Kiếp có Việt chủ phát sinh khó khăn, tai họa và đánh giá sai thời cơ. Mệnh cung phản kháng lại bằng sự bất mãn Cự Kình nhưng chỉ là Tiểu hao, phản kháng và sự thay đổi cũng không mạnh mẽ, không được ủng hộ của Phượng Các. Tuổi nhỏ đi học, có lẽ đương số kết quả học tập không được tốt.
Phú có câu: “ Cự hãm tứ Mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm” Đa ngôn là nói nhiều, lại nói tầm bậy cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối. Từ chỗ cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối đến vô tình hay cố ý phản bội người. Mệnh tại đây ta là người có khuynh hướng tạo phản, đồng thời cũng là kẻ bị hại.


Đại vận thứ hai nhập cung độ Tham Lang. Tham Lang ngộ Tuần Triệt Đào Tồn Kỵ. Tham Đào ham chơi, lại gặp cách cục xấu “Kình Đà hiệp Kỵ vi bại cục”. Tam hợp là Phá Tướng Ấn nhập Tuyệt và Thất Sát ngộ Xương Hồng Bệnh. Đại vận này bất lợi cho tình cảm, lại Phá Quân nhập Tuyệt không lợi cho phá bỏ.  Mệnh Cự Đồng đến hạn Cáo Phụ, Tồn Kỵ khéo còn mang tiếng hỗn láo với người trên, trong lòng tồn tại bất mãn. Tuy nhiên Tham ngộ Tuần Triệt lại hướng đương số đến Không cách, huyền học tu đạo: “Tham Đào tại nhàn cung, nữ mệnh độc phụ chi nhân ngộ Triệt Tuần tâm hồn thư thái”. Ở đây trò nghĩ cả nam và nữ, Triệt Tuần ở đây giúp đương số bớt ham chơi mà thay vào là được giáo dục tốt, nhưng bại cục vẫn là khó tránh khỏi. Ở đây luận khí hình biến đổi theo hướng tĩnh, đi theo Thiên Đồng, dụng ngôi sao này, ở đây trò khó khăn trong việc luận khí hình vận, mong thầy giảng thế nào để đánh giá là khí hình mạnh/cao, thế nào là khí hình thấp ạ. Đương số sinh ra trong gia đình giàu có nên khí hình gốc vượng. 

Đại vận thứ 3 hội họp nhiều sao quan trọng, đến đây đương số bắt đầu gặt hái được thành công, nhưng nhìn chung nếu là một người xuất thân bình thường các đại vận trải qua trò thấy không nổi bật cho lắm, thành công cũng không được vang dội. Ở đây có lẽ do hoàn cảnh đương số sinh ra trong gia đình như vậy nên mới được làm Tổng giám đốc, nếu không có lẽ cuộc đời sẽ rẽ sang hướng khác.

Sunday, May 27, 2018

Bàn luận tử vi về cách cục nhập Mệnh Thân




Phần trao đổi bàn luận về cách cục tử vi người viết giản lược một số phần bàn luận để ngắn gọn hơn. Với tam hóa nên bỏ những kiến chấp về Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc, Khôi Việt, Tả Hữu. Như so sánh bố cục tam hóa như sau. Mệnh cách có Thái Âm ngộ Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc hội mệnh. Mệnh cách thứ hai Thái Âm ngộ Hình Kỵ Kiếp Khốc Linh Quyền Ấn nhập vòng Trường Sinh. Lá số thứ nhất mệnh tạo yểu mệnh, có vài lá số vẫn có cách cục khá tốt, thành đạt, nhưng mệnh không tạo nên thành tựu đột biến lớn. Lá số thứ hai tuy tính cách sát phạt, táo bạo, âm quyền thành tựu phát đại quý, giữ chức vị rất cao trong quốc gia. Lá số thứ nhất sinh trưởng tốt, được nuôi dưỡng, giáo dục tốt, cuộc sống ổn định. Mệnh tạo tới trung niên thì phát. Lá số thứ hai sinh trưởng bần tiện, thuê mướn, không có học vấn, tuy nhiên tham vọng rất lớn, bản tính khác biệt với cùng lứa, ưa sát phạt, thâm trầm, vượt qua nhiều giai đoạn bế tắc, khó khăn. Trung niên hoạch phát khi nhập vận tam hợp Mệnh. Một điểm quan trọng khi nhìn mệnh cách của tử vi đông a là nhìn vào khí hóa của Sát, nếu cường vượng, mệnh tạo đảm nhiệm và dẫn hóa được. Sát cách có đặc điểm phối hợp ngũ hành, Hỏa Kim là gốc. Nhìn vào bởi phát xung lực. Mệnh tạo với tham vọng lớn, hành động thể hiện quyết tâm không dời là phát Kim sáng. Mệnh tạo nhiệt huyết, táo bạo với tham vọng là Hỏa sáng. Mệnh tạo liên tục bám nắm, không thay đổi với tham vọng nhưng linh hoạt với hành động là Thủy sáng. Trong bế tắc không tuyệt vọng, đâm gốc rễ sâu vững chắc, hướng tới phát triển liên tục là Mộc sáng. Ổn trọng, giữ vững không để những tính cách vượt qua kiểm soát, là Thổ sáng. Chữ sáng ở đây là hợp, hữu tính, chế hóa thành cách. 



Ngũ hành khi người nghiên cứu hiểu nhầm với tên gọi. Vạn vật từ vô tình tới vật có sinh mạng đều chịu tác động bởi các quy luật, không thể nằm ngoài các quy luật này. Vạn vật đều có các thuộc tính Âm Dương và phân Ngũ Hành tác động, nằm sâu trong tính chất.  Ở đây Thủy ở cách dùng vật diễn giải, chỉ đặc tính chuyển dịch, linh động, lấy tên làm tượng, không phải mang ý nghĩa là nước. Do bản tính nằm trong Ngũ Hành nên giản đơn lấy Tử Bình chỉ gồm Vòng Trường Sinh, Âm Dương, Ngũ Hành biến dịch luận mệnh thọ yểu. Vạn vật luôn biến động, đây là lý thứ nhất là quan trọng nhất, thâu suốt. Vạn vật phân làm Âm Dương là lý thứ hai. Vạn vật đều có thịnh suy, vượng tuyệt là lý thứ ba. Vạn vật khi biến động sinh ra các tính chất, đó là Ngũ Hành là lý thứ tư. Cũng như phương tây, nghiệm lý bởi khoa học thiết bị hiện đại không nằm ngoài sự thực. Thầy Nguyễn Bỉnh Khiêm nắm được diệu dụng của Thái Ất Thần thư mà dự đoán được vận nước. Về lý toán mệnh, luận ở thế vận động, kết quả của biến động lý Âm Dương Ngũ Hành dụng y học hay các môn khác không phải thua kém hoàn toàn với Phương Tây. Do cùng lấy nguyên lý xuất phát từ quy luật chung vạn vật. Như trong một cộng đồng, một tập thể kẻ nổi trội là đứng đầu. Sức vượt trội trong quần chúng, là sự khác thường. Kết hợp từ Ngũ Hành thiên lệch. Do bất bình thường nên hợp hóa hữu tình là mệnh quý, bất bình thường nhưng hợp hóa vô tình là tuyệt mạng. Đó là tính quân bình. Các tính chất sao trong Tử Vi không nằm ngoài vậy. Vòng Lộc Tồn tác động rất lớn không nằm ngoài vị trí Lâm Quan vượng khí của vòng Trường Sinh bởi Thiên Can lưu trên vòng Địa Chi. Có một phần người viết đưa ra thường gặp phản đối, thực lấy ngũ hành để phân tính cách, bản tính mệnh tạo tức quy về bản thể chung là điểm nên dụng trong tử vi, cũng là cách phân loại tránh rối loạn của Tử Vi Đông A. 




Tuy nhiên người nghiên cứu thường nói rằng việc này gán ghép vô tình giữa Tử Bình và Tử Vi. Thực hai môn này không khác nguồn gốc. Lý đơn giản chỉ lấy ngày tạo sinh, hấp thụ khí, khai tạo như việc thời điểm khai tạo một tổ chức, xuất hiện lý nhân duyên. Lý nhân duyên sinh ra do biến động của vạn vật. Rồi lấy Khoa Quyền Lộc Kỵ gán cho tứ mùa Xuân Hạ Thu Đông là lấy xuôi bẻ xuôi, không đi ngược lên nguồn gốc. Tứ thời gồm 4 mùa cũng chỉ là sự biến hóa của Ngũ Hành. Ở những nơi không có bốn mùa này lẽ nào không có mệnh lý. Thấy tương đồng nhưng không ngộ nhận. Khi luận có người luận Tứ Trụ lấy khí
Sự diệu dụng của các môn Toán mệnh nằm ở sự khởi tạo tương liên giữa Thiên Văn và khai tạo ra bản thể một mệnh tạo. Sự khai tạo của một bản thể cũng như sự khai sinh một tổ chức, một vận đều liên quan tới trời đất. Cổ nhân dụng Thiên Văn phối hợp định cách rõ được thời gian liên quan tới hành khí của Ngũ Hành là Lục Thập Hoa Giáp từ một điểm truy được toàn bộ các năm khác theo Can Chi, tới ngày nay cũng vậy. Đó là mối tương quan đầu tiên của thời gian kiến với Âm Dương Ngũ Hành, mối quan hệ mà Phương Tây không nhìn ra, cũng không quan tâm nhiều do sự phát triển lịch sử. Phương Tây thường hướng tới bên ngoài trợ lực, phương tiện tạo ra. Sau đó hướng tới định cách bởi vạn vật đều chịu tác động của Âm Dương Ngũ Hành, khi khởi tạo truy nguồn gốc của hành khí theo quy luật thì ra được Mệnh Lý. Do đó lá số tử vi là một tờ giấy ghi trước số mệnh, tuy nhiên nhìn cuộc đời khi tới mệnh vong bởi Tuyệt cách thực chẳng sai lầm, đại vận hoạch phát hay bệnh tật cũng vậy. Người đời sau khi nghiên cứu về mệnh lý do không có tài liệu, kinh sách không còn nhiều người rõ được nên khi luận nắm đuôi không nắm đầu nên có phần thiếu sót. Cũng không biết rõ khi biến động mạnh bởi dòng khí điểm thì mệnh tạo mỗi người thực chẳng có ý nghĩa so với tác hóa của Thiên Địa lớn hơn ta, theo thứ tự là làng, nước, thiên hạ, thiên địa. 




Một cơn sóng thần hay nổ bom nguyên tử khiến số mệnh bản thể không còn mang ý nghĩa. Trong chiến loạn cũng vậy. Lá số tử vi mỗi người là bản tính, sự biến động của ngũ hành tới bản tính, ai cũng có số mệnh nên đồng khí tương liên, dẫn tới diệu dụng khi toán mệnh. Xét về khảo cứu khoa học hiện đại của Phương Tây rất đột phá. Tuy nhiên kiến thức của chúng ta cũng rất uyên thâm, rất nhiều điểm khiến họ nể phục. Bản chất vạn vật không có Thiện Ác. Chỉ tư tưởng mỗi người khác nhau phân Thiện Ác. Vật ta thích thì sợ hãi khi thấy chữ Diệt, vật ta ghét thì sợ hãi khi thấy chữ Sinh. Cổ nhân luận rằng nếu ta không có suy nghĩ của con người thì đã có thể nắm được lý của trời đất. Trạng thái Không chỉ là một trạng thái không bất biến của vạn vật. Tư tưởng của ta nhận lầm về tính cố định. Bản thân hôm qua tới hôm nay như không khác biệt. Nhưng nếu gặp một biến cố lớn thay đổi hoàn toàn nhận thức trong một khắc thì tâm nhận biết rõ về thay đổi thành người khác. Ta thường chấp vật tại một thời điểm là bất biến. Khi nhìn vạn vật không nhìn sinh diệt, vì thực không có sinh diệt, do nhận thức sai biệt mà ra sinh diệt. Không có vật bất biến. Cổ nhân luận vật qua ba trạng thái. Trong đó có trạng thái Không cũng  chỉ mang tính tạm thời. Khi thực lý bởi dịch lý uyên thâm, cố nhận định ra toàn cục về y lý dụng âm dương ngũ hành chữa bệnh khi không phát triển như tây y với phẫu thuật bên trong. Thứ hướng tìm tới bản nguyên nguồn gốc trong nội tâm. Sinh được các kinh thư cổ qua nhiều giai đoạn biến cố thời gian thực đã gần như thất truyền. Trong đó có phần định về Không cách rõ, thì mệnh lý được rõ. Trong cuộc sống, nhiều thời gian bản thân mỗi người rơi vào trạng thái Không, tức không nhận thức. Mắt đôi khi nhìn nhưng không thấy. Tai nghe không nghe. Đứng ở một vị trí nhưng không biết. Đó là ứng hợp đặc tính của Không. Tất cả đều sợ một điều là. Cái chết. Tất cả hoàn Không khi chết. Do nhầm lẫn về Sinh Diệt. Tất cả đều rõ khi chết vạn vật không biết, không nghe, không thấy, không nhận thức. Những việc về linh hồn hay cõi âm đều do tưởng tượng ra về một thế giới tốt đẹp hơn. Do sợ chữ Không và tư tưởng luận nhầm lẫn bởi Sinh Diệt mà không rõ là thực không có Sinh Diệt mà chỉ có biến đổi. Ta thở một cách đều đặn từ sinh ra tới khi chết, phần lớn ta không biết. Các nội tạng, ta không cảm nhận được từng nội tạng của ta. Khi bị biến đổi cơ thể ung thư nguy hiểm, ta không nhận thấy. Lời nói vừa ra khỏi miệng, không nhớ rõ. Hôm qua làm việc nọ, nhớ chưa làm. Khi sợ hãi về Không cách thì ngay việc giác quan không hoàn chỉnh, bám nắm lấy. Tiền nhân để lại hậu thế tri kiến uyên thâm khi tuổi cao. Khi già, sáng làm, trưa quên. Mắt thấy không còn rõ như xưa, không sợ hãi, hoảng loạn. Tai chuẩn bị điếc, không sợ hãi, hoảng loạn, Làm nhớ chưa làm, không sợ hãi, hoảng loạn, quên gần hết chuyện xưa kia, không sợ hãi, hoảng loạn.  Tới gần chết, mắt không còn nhìn thấy, không sợ hãi cố chấp. Cuộc đời theo quá trình thì không sợ hãi. Nếu biến đổi ngay tức khắc từ trẻ tới già thì hoảng loạn. Sinh Lão Bệnh Tử một người, nằm trong quy luật tức Sinh Vượng Tuyệt Không. Vạn vật không nầm ngoài quy luật. Cũng vì quy luật đúng vạn vật tới mức không sai sót. Nên mệnh lý và huyền học phương Đông rõ hơn về chữ Tử. 





Do Không cách mang tính tạm thời. Thực tế khi mỗi người sống. Đôi khi tâm tách khỏi thân, còn sự thực không làm chủ hoàn toàn với thân tức cơ thể như ở trên. Do vậy, Tâm tức Mệnh và Thân tức cung an Thân. Hiện nay người luận tử vi thường chỉ nhìn Mệnh và Thân không rõ lý tiền nhân để lại sau này. Chỗ quy về đại ngã với quan niệm một số tôn giáo do nhìn nhận về Không cách. Mệnh sinh khởi trước Thân, là nguồn của Thân, tuy nhiên về sau phụ thuộc song hành với Thân. Đây là cách khởi nguyên định của Mệnh Thân. Thân sinh khởi do Mệnh mà có.  Sau này hỗ hoán tác động lẫn nhau. Do Thân khởi từ Mệnh khi ứng hợp bên ngoài, tức với vật chất, nên Mệnh không làm chủ hoàn toàn Thân. Nơi này thì phát triển như vậy, ở nơi khác phát triển khác. Thân là phần ngoài ứng hợp, Mệnh là phần trong. Tử Vi hay các môn toán mệnh chỉ là một phần nhỏ trong trí uyên thâm của cổ nhân, chỉ đáng tiếc là man thư nhiều nhưng kinh thư ẩn không có duyên không gặp. Ta nhìn sợ hãi chữ Không. Do đó không rõ Không cách. Tâm khi chết quy về Không. Cũng như trong suốt thời gian sống, tức biến đổi liên tục bản thân mỗi người đã trải qua trạng thái này. Sau đó sẽ khởi nhập vòng Trường Sinh do tính quy luật của vòng Trường Sinh tác động vạn vật, không có ngoại biệt. Do khởi biệt như vậy, sinh ra các việc luận đoán về quá trình của khởi phát tiếp theo. Sinh ra nhiều thuyết về sinh tử hồn phách đầu thai. Trong cuộc sống, khi trạng thái Không xuất hiện, các hoạt động vẫn diễn ra bởi ngũ hành luôn biến động, Thân là ngũ hành nên các hành vi vẫn vô thức diễn ra. Do đó khi tuyệt mạng các hành tức hành vi vẫn vô thức diễn ra tới khi biến đổi khỏi trạng thái Không, khởi tạo được vòng Trường Sinh. Bản thể ta hay thế giới vẫn tuân theo các quy luật trời đất như vậy. Tức Nam và Nữ, Chính và Tà, Thiện và Ác cũng vậy, len lỏi qua từng vật, từng quá trình nhỏ nhất. Người thường nhầm lẫn vật hữu tình, vật sống do hoạt động nên không chịu tác động của nguyên tắc trên. Lại phân định nên sai lầm. Người viết luận cho học trò sâu hơn một chút về định cách. Thực tế người xem tử vi cũng không cần rõ về nguyên lý của Mệnh Thân. Khi luận cần thiết nghiên cứu rõ về tính chất của cách cục và phối hợp cách khi luận mệnh vận là đủ để có thể tự luận tử vi cho bản thân. 

Wednesday, November 15, 2017

Phá Quân bí cấp luận chế hóa cách




Bài viết này luận có phần khác với các cách giao hội cơ bản với bàng tinh của Phá Quân, nếu nghiên cứu tử vi ở mức sơ khai chỉ nên tham khảo ở phần kiến thức cơ bản của các tinh hệ Phá Quân tránh luận sai lầm với một số trường hợp đặc biệt của Phá Quân thủ mệnh khi luận giao hội tính chất biến hóa bất định và mức khí hình của đương số khác nhau chịu ảnh hưởng tính cách xã hội nơi sinh sống. Ở câu phú thường được luận " Lộc phùng xung Phá cát xứ tàng hung". Trong đa phần các trường hợp mệnh tạo khi luận thì cách cục Phá Quân ngộ Lộc Tồn là cách cục mang ý nghĩa xấu vì sự xung đột tính chất của chính tinh Phá Quân và sao Lộc Tồn  đứng vị trí quan trọng của nhóm sao an theo Thiên Can. Tuy nhiên nếu người nghiên cứu tử vi nghiệm lý một thời gian dài với các lá số mệnh Phá Quân ngộ Lộc Tồn sẽ gặp các trường hợp đặc biệt biến hóa với mức độ khí hình ban đầu thấp, tức mệnh tạo thuở nhỏ trợ lực ở về kiến thức lẫn tài sản từ phụ mẫu để lại không lớn, một số trường hợp bôn ba vất vả kiếm sống qua ngày. Tuy nhiên theo vận chuyển động thì mệnh cách có sự tăng cường mức khí hình rất vượng, tham vọng và tầm nhìn trở nên lớn khi tiếp xúc với thành phần địa vị cao trong xã hội hoặc một trường hợp đặc biệt của Phá Quân do chính nội tâm của bản thân tạo ra cách cục này. Với bố cục được tạo ra thì chế hóa được gần như tất cả các cách cục xấu Sát Kỵ Hình giao hội của Sát Tinh.


Phá Quân khi đắc cách là vượt qua thay đổi hoàn toàn, phá vỡ các chuẩn mực với lẽ thông thường, đi tới việc nắm giữ, trụ vững và khám phá sâu cơ hội trong khó khăn lớn. Một số kẻ gây dựng từ tay trắng có cách cục này đều xuất hiện ngã rẽ lớn khi trưởng thành nếu ban đầu Phá Quân có khuynh hướng phá phách, chơi bời, đánh nhau hóa thành văn cách có trợ cách. Trước khi biến đổi Phá Quân việc Tham Lang cần thay đổi tầm nhìn, tham vọng cho nhóm Sát Phá Tham. Cách cục Phá Quân ngộ Lộc Tồn là tạo ra sự mâu thuẫn nội tại của bản thân, một bên cố gắng phá bỏ những khuyết điểm, một bên cố gắng giữ lại, ổn định dẫn tới trong một vài trường hợp, thường có mặt có Hỏa Linh, đặc biệt là Hỏa Tinh nhập cung độ Sinh Vượng tính cát hóa càng lớn. Tức Tham Lang đồng độ với Hỏa Tinh đắc vòng Trường Sinh thì Phá Quân ngộ Lộc Tồn trở thành cách cục tốt đẹp. Một trường hợp khác là Tham Lang ngộ Văn Xương cũng được luận ở cách cục này. Cách cục Phá Quân ngộ Lộc Tồn mang tính mâu thuẫn, nếu gặp thêm Hóa Kỵ tăng cường khuyết điểm. Cách cục này chịu tác động rất lớn từ vận kích phát, đặc biệt với bố cục Tham Hỏa hay Tham Xương khả năng định hướng bố cục theo khuynh hướng tài cách rất mạnh, do đó cổ nhân thường luận Hỏa Tham tương ngộ là bạo phát cách.



Đây xét với Hỏa Tham cách chính yếu chưa biến hóa, nếu giao hội với bàng tinh khiến tính chất thay đổi mang ý nghĩa khác. Phá Quân là sao của thay đổi, tính động nặng do vậy chủ sự thành bại thất thường, nếu gặp Lộc Tồn thành hai khuynh hướng. Thứ nhất biến hóa theo chiều hướng luôn giữ vững, nắm vững mục tiêu khi đặt ra từ Tham Lang, chủ động hướng về phía trước. Cách cục còn lại biến đổi theo chiều hướng thất thường, cần thay đổi lại phần ôm giữ không chịu thay đổi, dẫn tới cách phá sản, thất vọng. Phá Quân thủ mệnh, đặc biệt bố cục Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm hoặc các cách cục khi Cự Môn giao hội với Cơ Đồng, Âm Lương giao hội với Thái Dương đều cần thiết đắc vòng Trường Sinh là cách tiến khí, phát triển trong khó khăn, mâu thuẫn. Với Phá Quân gặp Lộc Tồn, đặc biệt là Tồn Không Kiếp hay Tồn Kỵ rất cần đắc Sinh Vượng để cát hóa cách cục. Nhược bằng không gặp bố cục trên tránh Hỏa Linh Hư Khốc giao hội, hay Đào Hồng Không Kiếp đều là cách cục xấu. Phá Quân ngộ Tam Không tức Tuần, Triệt, Thiên Không cũng thuộc cách đặc biệt của sao này. Phá Quân nếu trong nhóm Sát Phá Tham hoàn chỉnh rất ưa gặp Tam Không, đặc biệt là cách Tam Không   giao hội với các sao tăng tính chuyển động như Kình Hao, Đà Hao. Với Phá Quân gặp Tồn Kỵ, nếu mệnh cách thuộc Phá Quân chủ nắm giữ, vững với tham muốn của Tham Lang và lý tưởng của sao này thì hoàn toàn khiến Tồn Kỵ thành trợ cách đặc biệt.



Về biểu hiện của cách cục đương số luôn gặp mâu thuẫn với các việc làm, Phá Quân ưa phá bỏ thay đổi tuy nhiên lại xuất hiện bất mãn mới theo chiều hướng phát triển, với Hóa Kỵ ở đây chủ sự cạnh tranh, ghen tị khiến mệnh cách luôn cố gắng hết tham vọng này tới tham vọng lớn hơn, nếu có Tham Hỏa Kỵ ngộ Tam Không tính chất này rất mạnh. Tham Lang thuộc cách Tham Hỏa trợ lực cho Phá Quân phân thành nhiều bố cục đắc cách. Trường hợp này gặp các sao tăng tính quan trọng rất tốt, tuy nhiên kỵ các cách cục ổn định như gặp Khoa Xương Khúc luận xấu do động lực của tham muốn không mang tính liên tục do mâu thuẫn. Nếu Phá Quân ngộ Tồn Kỵ Hỏa có Sinh Vượng ngộ Tam Hóa là cách cục thượng cách, ứng với tài cách rất lớn, mệnh tạo có phẩm chất giữ vững mục tiêu, vượt qua khó khăn, giỏi thay đổi cho phù hợp mà thành tựu. Khi luận giải lá số cần nhận rõ tất cả các bố cục giao hội của mệnh, trợ lực của cung an Thân tới mệnh. Các đại vận đặc biệt đại vận thứ hai khiến bố cục Mệnh cách thay đổi. Nếu Phá Quân ban đầu ngộ các trường hợp kỵ như Lộc Tồn, Kiếp Kỵ,...cơ bản, nếu có trợ lực từ các bố cục khác luận là cách cục được đắc thời. Do vậy, khác với luận thông thường việc xét các trường hợp kỵ của Phá Quân hay các Chính Tinh khác phối hợp để luận kết cục. Ứng với câu phú " Sát tinh đắc địa phát dã như lôi". Đa phần các bố cục này đều xuất phât từ khó khăn, có đặc điểm đặc biệt mà tạo nên kỳ tích. Vòng vận hành đi tối quan trọng với Phá Quân dạng này.

Tuesday, November 14, 2017

Lá số mệnh Thiên Tướng bạo phát phú cách




Người viết nhận được nghiệm lý về vận bạo phát của lá số khá hay tới trang nhà với mệnh tạo của Thiên Tướng. Nam mệnh sinh ngày 10 tháng 12 năm 1993 giờ Tí. Mệnh cách có Thiên Tướng đồng độ tại vị trí cung Sửu có cách Phủ Tướng đơn thủ thuộc tinh hệ Tử Phá cư Mùi. Mệnh Thiên Tướng ở đây có cung an Thân đồng độ nên Mệnh và Thân luận hợp nhất. Ở đây cách cục mâu thuẫn giữa Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham không mấy hay, chủ cuộc sống vất vả, khó khăn khi nhập cung đại vận này. Mệnh cách có Thiên Tướng ngộ Thanh Phi Phục, với Thanh Long đồng cung Mệnh. Tam hợp với nhóm địa chi chỉ gặp Đào Hoa, không có Trợ Tinh khác, tuy nhiên cũng không gặp Sát Kỵ giao hội tại mệnh. Mệnh tạo này đại vận đi khó khăn, ở cung vận Đồng Lương cư Dần ngộ Triệt thiếu thời cuộc sống rất vất vả, cách Đồng Lương ngộ Triệt Hỏa Mã Phượng có Hóa Lộc ở đại vận thứ hai thuộc tài cách, ở đại vận thứ hai quyết định rất lớn tới khuynh hướng định hướng về các cách cục tham muốn của mệnh. Với Đồng Lương ngộ Hỏa Lộc là tham muốn làm giàu, mang ý nghĩa riêng, thiên về khuynh hướng chớp thời cơ để tạo ra lợi lộc. Đại vận gặp Đồng Lương ngộ Đà Hao và Tang Mã Khách nghị lực lớn, tuy nhiên xuất hiện sự chậm trễ và lỡ thời trong đại vận này để thay đổi.



 Đồng Lương ngộ Phượng Mã Hỏa Lộc tính chất nghị lực lớn, cũng chủ sự thay đổi để chống đỡ các khó khăn. Hỏa Tinh một phần được đắc dụng bởi Hóa Lộc. Tuy nhiên do hình thành cách cục Linh Xương Đà Khốc có Địa Võng thì mệnh cách qua vận này phải chịu nhiều cay đắng, một phần do nghe theo, tin theo lời người khác nên có hướng đi sai lầm, ở đây liên quan tới trong gia đình và việc tình cảm. Cách Linh Xương Đà Khốc có Tuần là mắc họa, đại vận này gặp nhiều khó khăn trong việc kinh thương, hay gặp những lời can ngăn mang tính thận trọng, lỡ cơ hội tại đây. Đại vận này cũng gặp khó khăn trong tình cảm, mang nhiều rối loạn và xa cách. Qua đại vận Đồng Lương, ngay khi nhập đại vận Vũ Sát. Mệnh cách bạo phát khi nhập vận Vũ Sát cư Phúc Đức. Nếu mệnh tạo có cách Thiên Phủ cư Dậu với bố cục trên khi nhập cung độ Vũ Sát tai họa rất lớn mang ý nghĩa xấu tới cả tình cảm và có cả nguy hiểm về khả năng định hướng cuộc sống, mất định hướng khi Thiên Phủ tới vận Vũ Sát tính Kim nặng có Tam Không. Tuy nhiên với Thiên Tướng cùng thuộc nhóm Phủ Tướng đơn thủ tại đây, thủ mệnh là thời vận tới. Đương số nhập cung vận này chỉ sau 2 năm từ buôn bán nhỏ trở nên hoạch phát tay trắng có một cửa hàng lớn về linh kiện, tiền bạc rất nhiều, mệnh cách ở đây đắc dụng vì theo hướng kinh thương, nếu theo quan cách thì cũng đạt hoạch phát như trên, tuy nhiên sẽ thăng trầm xuống nhanh.


Khi luận nhiều lá số Vũ Sát thủ mệnh hay Vũ Phá nhiều mệnh cách có bố cục khuynh hướng bạo phát theo khuynh hướng này tuy nhiên do khí hình và trợ cách ban đầu thấp, đại vận thứ hai và mệnh đều thuộc văn cách, nếu khi luận bình thường xét tới Xương Khúc Khôi Việt Khoa là hay như vậy sai lầm khi luận đoán, rất nhiều mệnh cách ưa gặp Lục Sát để cách cục trở nên đủ lực tác động khiến trợ cách phát huy, nếu các cách mệnh trên gặp văn cách hay Lộc Tướng Bệnh trong quá trình luận giải đưa trợ cách theo khuynh hướng Tài Cách đương số không thể dụng, mệnh tạo bản tính và hoàn cảnh khiến ưa làm việc trong tổ chức, ổn định, khó có thể thay đổi. Nếu theo tài cách thì trải qua nhiều vất vả, khó khăn nặng nề tuy nhiên thành tựu lớn. Nhập cung độ Vũ Sát cư Mão ở đây rất tốt, tại bản cung có Việt Khoa Kỵ giao hội Tả Hữu Quyền Hồng Ấn đi với Tử Phá và Không Kiếp Tồn Sinh ngộ Liêm Tham là bố cục Sát được chế. Đặc biệt do cách Liêm Tham ngộ Sinh Không Kiếp tính hóa thành Vượng, tiến khí nên không ngại Sát Kỵ, cho cách cục Tử Vi đồng độ với Phá Quân, sự giao hội các vòng sao hình thành ba cách cục lớn là Tam Không tức Tuần, Triệt Thiên Không. Thứ đến, Đắc vòng Trường Sinh ở vị trí Đế Vượng tại bản cung đại vận và Khoa Quyền Kỵ ngộ Lộc Tướng Ấn. Mệnh cách bình thường tuy nhiên đại vận này tối hỉ hợp Mệnh Thân có Thiên Tướng không kỵ gặp Tam Không và Không Kiếp, mang tính hoạch phát bất ngờ, do đó đương số vừa nhập hạn thời cơ tới chỉ trong thời gian ngắn lấy được tài danh.



Trong bài luận về Phá Quân tiếp theo sẽ đưa ra ý nghĩa biến hóa khác việc của Phá Quân khi gặp hung cách. Trường hợp mệnh cách Thiên Tướng này gặp đại vận rất tốt đẹp như trên ít thấy, do sự giao hội của Tam Hóa và hai vòng Trường Sinh và Lộc Tồn với Tam Không có Không Kiếp miếu tại Hợi, bản cung là Vũ Sát không ngại gặp Tam Không và Không Kiếp. Bản mệnh Thiên Tướng chế được Không Kiếp khi có Phụ Bật hỉ với Phủ Tướng. Đặc biệt vòng Trường Sinh hoàn toàn ngăn chặn Tồn Kiếp tác họa. Mệnh cách xuất phát từ khí hình thấp, do đó hoạch phát ở mức độ vượt trội so với khí hình. Nếu đương số có điểm xuất phát tốt hơn thì ắt mức độ hoạch phát bao trùm lớn. Ở đây luận rõ thêm cho người nghiên cứu tử vi nắm vững cơ bản do thuộc cách cục chế hóa cần nắm rõ lý tính của từng sao và từng tổ hợp, xuất hiện một điểm chế hóa lớn ở cách cục thường hay đánh giá xấu là cách Phá Quân ngộ Lộc Kỵ lại có Tồn Kiếp như phú hình thành hai cái cục xấu.
" Lộc Tồn Không Kiếp đồng quy, cũng là vô dụng hóa vi cơ hàn".
" Lộc phùng xung Phá, cát xứ tàng hung".
Nếu luận tử vi như trong sách thì khó có thể đánh giá được các bố cục phức tạp, do đó khi luận cần thiết nghiệm lý nhiều lá số qua nhiều năm sẽ tự rõ tính chất của các tổ hợp. Trong các bố cục đứng đầu là Tam Không, tuy nhiên cũng rất khó đắc cách. Thứ đến là vòng Trường Sinh, tới Hóa Kỵ và Không Kiếp. Các bố cục này phân thành rất nhiều cách cục khi giao hội với tính chất biến hóa nặng, nắm rõ thì luận các trường hợp bạo phát hay nổi danh đơn giản hơn nhiều phần. Trước đó chỉ cần xét tới việc xuất hiện các bố cục này thì mệnh cách không phải mệnh thường.

Wednesday, November 1, 2017

Luận vận cách Tham Lang cư Ngọ

Mệnh tạo ban đầu vận hành với tính chất hay bản tính được xuất phát từ cung vận đầu tiên nằm ngay tại Mệnh. Ở đây cũng hình thành các nhân cách vô thức tức gắn bó suốt đời với đương số. Việc tạo họa hay phúc là một chuỗi dài kết quả của tính cách gây ra khi tác động với hoàn cảnh. Như hình thành tính cách nóng nảy, ưa gây gổ thì khi đại vận chứa Sát tính của kim khí sẽ tạo tai họa thương tích cho người khác hoặc chính bản thân tùy vào cách cục chủ động hay bị động gây ra. Ở đây Tham Lang hay khi bản cách cục Chính Tinh không đặc sắc nhưng trợ lực rất tốt. Tham Lộc ngộ Kình Tang Phượng Khúc lại nhập vị trí Đế Vượng là cách cục tốt đẹp, có phần tiếc nuối khi không gặp đủ Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc Tam Hóa để cát hóa toàn bộ cách cục mà chỉ gặp cách Tả Khúc bên trong gặp Kình Phượng nên có phần thiếu sót. Ở đây Xương Bật mang tính chất quyết đoán trong hành động, trong khi ở cách Tham ngộ Kình Phượng thì có phần chủ động nhưng thường không có sự dứt khoát bắt lấy cơ hội trong khó khăn mà có phần do dự thiếu quyết đoán. Đây là đặc điểm yếu của Tham Lang khi mệnh tạo gặp vị trí Tham cư Tí Ngọ ngộ Tả Khúc. Mệnh cách như vậy có Tham ngộ Kình Lộc Phượng là hay vì được cách Mã Phượng hay Mã Khốc Khách, tuy nhiên Thiên Khốc không ở bản cung mệnh thì không khắc chế được tính do dự, thiếu quyết đoán. Tham Lang thì giỏi nhìn nhận, phát xét trước khi hành động hơn Sát Phá, tuy nhiên cung an THÂN ở tại vị trí của Thất Sát vì vậy hành động dễ mang tính chất tự gây khó khăn, trắc trở hơn so với kế hoạch, dự tính ban đầu. Thuộc cách khi đặt ra mục tiêu và đường lối thì hay nhưng thực hiện thì không tốt, dễ gặp thất bại hay chữ mất tại đây.



Một Tham Lang thiếu Hỏa Tinh và Linh Tinh thì như đã luận chữ táo bạo không thành cách, lưu ý Tham Kình táo bạo khác Tham Hỏa, ở đây Hỏa Tham là ham muốn về vật chất, vật dục làm động lực để Tham Lang tìm kiếm, tạo ra cơ hội riêng ở cái chung. Tham Lang ở đây chủ giỏi về sự cạnh tranh, ở đây tức nếu trong công việc xuất hiện sự cạnh tranh thì Tham Lang tại đây mới phát huy tác dụng, cách Mã Khốc Khách có Phá Đại Kình cũng tùy thức thay đổi theo cho phù hợp. Nhìn chung Tham Lang này nặng tính lợi ích, vì Hóa Lộc nên khó có thể nhường nhịn kẻ khác để tạo đà, ứng với Đà La mà chủ ở phần cạnh tranh, ít thỏa hiệp nên khó có thể tạo thành tựu lớn. Tham Lang nếu ưa lợi ích nhỏ, ít đặt tình cảm lên đầu cũng do ý nghĩa khuyết điểm của bố cục Sát Phá Tham, vì vậy nên Tử Phủ Vũ Tướng Liêm tuy có Tử Vũ Liêm mang tính có phần tương tự như Sát Phá Tham tuy nhiên ở nhóm Phủ Tướng tình cảm, tương trợ nên dễ được thành tựu lớn. Ở đây mệnh tạo cầm lưu ý các tính cách hay bản tính nằm trong vô thức mà hành động dễ dẫn tới các kết quả khó thành công lớn. Nhìn chung cần nhìn thấy khuyết điểm lớn của bố cục để có cách giải quyết. Mệnh Tham Lang qua đại vận đầu tiên hình thành nhân cách, có khuynh hướng ưu điểm mang tính nổi danh nhiều hơn khuyết điểm, tuy nhiên nếu có tham vọng lớn cần thiết rất lưu ý ở tính cộng tác, đồng lòng nếu kinh doanh chung, tuy Kình Dương ở đây tốt là có khuynh hướng rất chú trọng tới sự nghiệp, cần chế hóa các tính chất xấu ở cái nhìn lợi nhỏ, tính cạnh tranh, ương bướng tuy nhiên lại không có sự quả quyết kiên trì. Ở đây Tham Lang đi với Kình Dương muốn tốt đẹp cần Hỏa Linh tại đây.



Đại vận tiếp theo sẽ định hướng sự biến đổi của mệnh Tham Lang, khi đó lá số tử vi chuyển động mạnh hơn và tính chất hoàn toàn thay đổi. Cung mệnh như hiện tại là gốc để phát triển khi chịu tác động của các đại vận, nhưng sự phát triển này qua các đại vận tiếp theo không mất đi mà tiếp tục luận kế tiếp với gốc ở vận trước. Đại vận tiếp theo từ 16 tới 25 ngộ Cự Đồng Diêu Kỵ bản cung có Thanh Long hình thành cách Cự Thanh. Khôi an tại Mùi hình thành cách Cự Thanh Khôi Kỵ thì bản thân có sự khác biệt, thường tìm ra hướng đi khác lạ so với bình thường xung quanh. Cách Cự Kỵ Diêu hình thành cũng dễ bị coi là gàn dở, lập dị nếu trong vận này. Cách cục Cự Cơ Đồng mang tới bất ổn, là đại vận gặp nhiều lo lắng, tự bản thân gây khó khăn cho chính mình, ở đây là cách cục của sự bế tắc, thêm bộ Diêu Kỵ rất ngại đi với Cự Môn, may ở đây là cách Cự Thanh có một phần chế hóa Nhị Ám. Đại vận này chủ khiến mệnh tạo thay đổi các khuynh hướng, tham muốn của bản thân. Một chữ Cự Khôi thì tham vọng được đặt lớn hơn, ở tính khởi tạo rất lớn, có tham vọng mở cửa hàng hay đứng đầu về một lĩnh vực nào đó, cũng tạo ra hướng đi khác biệt tuy nhiên trợ cách rất quan trọng là Hỏa Linh và Tam Hóa không gặp mà chỉ có Khôi Việt nên khó có thể thành công lớn khi phối hợp với Mệnh Thân. Ở đây cách cục tính Ám khá lớn, nếu lợi thì có cách Cự Thanh là lão bạng sanh châu, thuộc cách sử dụng ngôn ngữ tốt là lợi thể lớn, đại vận này có nhiều khó khăn cần thay đổi là điều kiện để kích phát mệnh cách Sát Phá Tham theo khuynh hướng khám phá, nghiên cứu sâu và chống đỡ với khó khăn để phát triển tiếp theo.



Nhìn chung đại vận này tuy thiếu Hỏa Linh và Tam Hóa để thành cách cục mạnh tuy nhiên do hình thành khó khăn bế tắc và Cự Thanh là hiểu rõ vấn đề bản chất kiến thức sâu rộng và Cự Thanh khả năng quyền biến tốt, với Cự Môn tăng cường tham vọng, tham muốn cho sao Tham Lang ở mặt khởi dựng sự nghiệp, thường hay mở cửa hàng hay làm việc lớn mang tính chất chủ trì, đứng đầu thường tới vận Cự Môn, đặc biệt là cách Cự Nhật. Đương số đang còn trẻ là lợi thế rất lớn để chế hóa sao Tham Lang bằng trợ cách một phần đã luận ở trên. Với sao Tham Lang do tính chất khuyết điểm dễ mang ảo vọng do tham muốn và tham vọng khó hoàn thành mục tiêu bởi sự cương quyết khi có Hỏa Linh, vì vậy thường cổ nhân luận trung niên thì phát nếu đắc cách. Thực chất mệnh cách Tham Lang nếu luận từ gốc thì có thể thành công từ rất sớm, tùy thuộc vào cung độ đại vận thứ hai và gốc đại vận đầu tiên tại Mệnh. Một sự phá cách là cần thiết cho Tham Lang không có trợ tinh mạnh. Đại vận này là nơi để đặt ra những mục tiêu lớn và hướng đi khác, lối đi riêng cho mệnh tạo. Qua đại vận thứ hai với cách Cự Đồng chủ bất ổn, dễ chia rẽ, gặp khó khăn, lo âu bước sang đại vận cung độ Vũ Tướng ngộ Linh Xương Đà Vũ nhập La Võng có Khoa Bật và Tuế Hổ Phù, ở đây Long Trì ở bản cung. Cách Vũ Tướng nằm trong bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm có tính cát hóa rất mạnh. Cách cục Vũ Tướng ở đây gặp tổ hợp Sát trọng điểm có chiều hướng biến đổi theo chiều hướng cực đoan, tai họa gặp do tính Kim quá nặng, thường biểu hiện ra thực tế ở những sai lầm khi nghe theo, tin theo lời người khác bằng tình cảm tức Phủ Tướng. Các làm ơn mắc oán cũng dễ gặp tại đây nên cần thiết cẩn trọng. Cổ nhân luận Linh Xương Đà Vũ là cách cục xấu trong các bố cục Sát cách của tử vi. Ở đây Vũ Xương Linh tại bản cung càng chịu tác động mạnh của bố cục này.



Nếu với cung Mệnh khi luận Tham Lang cần thiết táo bạo, liều lĩnh để thành công thì vận hạn này tạo thành bố cục tai kiếp nặng nề nếu mệnh cách hướng như vậy, trong trường hợp này sự cẩn trọng của đương số với mệnh cách Tham Lang như luận lại mang ý nghĩa hợp cách, giúp tránh khỏi phần lớn các tai họa do cách cục Sát trọng điểm gây ra. Đại vận này cần sự cẩn trọng lớn, trong các sự tương trợ, các mối trợ giúp đều cần sử dụng Phá Quân và Thất Sát tinh tường để nhìn nhận. Một cung an THÂN với Thất Sát không mấy giỏi quan sát, nhìn nhận thì lại càng phải cẩn trọng trước những cái lợi trước mắt, hay những cơ hội tưởng chừng dễ dàng. Ở đây luôn tồn tại một cái bẫy giăng sẵn cần dùng hiểu biết tức Khoa để tránh tai họa, ở đây Khoa đi với Hữu Bật thì những lời khuyên của quý nhân hay người thân cũng cần lưu tâm, người viết luận rất nhiều bố cục đại vận như trên đa phần cuối vận đều gặp cách cục rất khó khăn, có trường hợp nặng nề trầm cảm, có ý định tự tử do bản thân cách cục gây ra, do chỉ ở đại vận nên hết đại vận thì không còn tác động mạnh. Các năm Dần, Mão, Tuất nếu gặp trong đại vận thì cẩn trọng hơn. Đại vận này có thể được thành tựu nếu khéo léo, vì bố cục lưỡng Sát tài cách, chứa đựng cách vượng tài do Vũ Phủ Khoa mệnh Lộc tại đây. Do Tham ngộ cả Hỏa Linh tại vận này thì mệnh tạo sẽ có tư tưởng bạo phát, làm giàu nhanh chóng, lưu ý như đã luận ở trên cần sự cẩn trọng rất lớn, nếu không dễ thành tro tàn.



Qua đại vận Vũ Tướng cư Thân tới cung độ Dương Lương cư Dậu ngộ Không Đào Tướng tại bản cung, thực chất là tổ hợp Âm Dương Lương ngộ Không Kiếp Triệt Đào Hồng giao hội Lộc Tướng Ấn Cô Quả. Đặc biệt hình thành cách Đào Cô Việt Triệt có tính biến động lớn với Thiên Việt tạo nên nguyên nhân sự việc. Thái Dương ưa gặp Thiên Không tuy nhiên ở đây là Dương Lương với Thiên Lương tối kỵ giao hội với Không Kiếp. Đại vận này thuộc vận 36 tới 45, vừa vượt qua đại vận Vũ Tướng thì tới vận này có phần chế hóa được một số cách cục xấu mang tính bất ngờ. Ở đây Âm Dương Lương nhập hãm do Thái Dương cư Dậu và Thái Âm cư Tị. Bất ổn căn bản mang ý nghĩa chuỗi thời gian khó khăn phía trước. Cách cục Âm Dương Lương ngộ Đào Hồng Cô Quả là hay nhưng ở đây đi với Không Kiếp thì luận biến đổi theo chiều hướng xấu, là cách phát sinh tai họa do bản thân tạo ra. Chữ Triệt Kiếp Ấn vừa ngăn tai kiếp của cặp Không Kiếp cũng để lại dấu ấn khó quên. Khi Không Kiếp ngộ Đào Hồng lại gặp Lộc Tướng Ấn nếu mệnh xấu là yểu cách.
" Thầy Nhan Hồi yểu tử do hữu Đào Hồng Không Kiếp Đà Linh thủ mệnh ".
Cách cục Đào Hồng Không Kiếp ngộ Lộc Tồn độc hơn khi ngộ Đà Linh, tuy là chỉ ở cung đại vận, bản mệnh vững nhưng cũng cần đề phòng các tai kiếp dễ gặp bất ngờ trong vận này. Ở đây với mệnh Tham Lang khá tốt nhưng đại vận đi gặp nhiều khó khăn phải vượt qua, quan trọng khí hình phải vượng thì cách cục biến đổi theo chiều hướng tốt, chủ vượt qua khó khăn trắc trở mà bạo phát. Cung Tật Ách được Triệt nhưng có Việt Triệt Kiếp nên ắt có bệnh rồi mới được chữa khỏi, ở đây chủ dễphát sinh bệnh và chữa trị.



Cách cục Âm Dương Lương là thời gian biến động lớn trong vận này. Lưu ý khi có Đào Tướng tại bản cung đại vận là cách tự tạo ra tai họa cho bản thân, ở đây tính chất không nặng như đại vận trước với cách Vũ Tướng mà ở cách cục này mang tính thăng trầm, đúng sai bất phân vì vậy nên tạo bất ngờ. Đào Hoa chủ tình ái nên cũng lưu ý chuyện tình cảm tránh các mối quan hệ không tốt, ảnh hưởng tới sự nghiệp của bản thân. Một điểm tốt là Thất Sát ở cung an THÂN có thể dụng được Không Kiếp, với Thất Sát là hành động táo bạo, quyết liệt có suy xét rõ ràng, cũng hàm chứa tính Sát ở trong đi với Không Kiếp thực chất là sự bất thường, trái truyền thống nên dễ gặp thất bại tuy nhiên Thất Sát này có thể dụng được. Vì vậy đại vận này có phần hơn đại vận trước ở điểm dụng Sát để thành tựu trong khó khăn. Mệnh cách tự mâu thuẫn khá lớn ở các cung đại vận thì có khả năng gây dựng được cơ đồ lớn theo tài cách, tuy nhiên khó khăn rất nhiều không thuận lợi, gặp thời cơ mà dễ gặp nhiều cạm bẫy trong các đại vận này. Ở vận Dương Lương thì có sự không may mắn ở đây, với Thái Dương cũng không sáng, tối tăm nên cần chuẩn bị trước khi nhập vận này, khi qua vận Vũ Tướng cần định hướng lại tham vọng và kế hoạch nhằm thay đổi mức khí hình cơ bản. Đại vận Dương Lương này cũng dễ gặp vấn đề về tật bệnh cần lưu ý trước, mệnh cách tốt khi vận không tốt đẹp thì để thành tựu phải qua thăng trầm nhiều, ở đây cũng là khi Tham Lang trung niên nên khả năng cát hóa cách cục cao hơn các vận trước.


Sau vận Dương Lương cư Dậu tới vận Thất Sát trùng với cung an THÂN thì tăng tính quan trọng của cung độ này vì là Mệnh Thân lưu động tác động lên cung an THÂN cố định. Cung độ Thất Sát cư Tuất tránh được Kỵ Hình Hỏa Linh Không Kiếp nên luận tốt đẹp. Ở đây Thất Sát ngộ Tả Phụ có Hữu Bật xung gia hội Đà Hỏa thì không xấu. Vận này tới Thất Sát thì gặp thời, cách Sát Phá Tham ở đây khá tốt, có thể đối trọng với Liêm Phủ bên ngoài. Thất Sát tại đây tính Sát không lớn, xét về công danh có chiều hướng tốt đẹp. Tuy nhiên cung an THÂN tại đây thì cẩn trọng với thân thể, thương tích. Câu phú có luận " Thất Sát lâm Thân chung thị yểu". Tuy nhiên là khi trường hợp gia Sát Kỵ Hình, ở đây chủ gặp áp lực tới bản thân, dễ bị đè nén. Đại vận này khá tốt, dễ nổi danh vì gặp bố cục Mã Khốc Khách Phượng Kình. Sát Tuần nhập tại cung Mộ ở vị trí suy của vòng Trường Sinh. Ở đây bố cục này cũng mang ý nghĩa khó khăn phải trải qua ở mặt tinh thần, thành tựu ở vận này lớn, đặc biệt nếu các đại vận trước vượt qua thì vận Thất Sát đi qua khá dễ dàng tuy sẽ gặp một số thất vọng, sai lầm.

Tuesday, February 7, 2017

Bàn luận về vòng trường sinh




Bàn luận về vòng trường sinh


Vòng Trường Sinh và Vòng Thái Tuế, Vòng Lộc Tồn chính là ba vòng sao nên có tại Mệnh Thân. Ở thời trước việc Vòng Thái Tuế bị tranh cãi bởi tính tốt xấu vì thường Thái Tuế ở lý số thường biểu hiện cho điều xấu. Nhưng sau đó do mâu thuẫn của người có Thái Tuế đắc đủ cả bộ Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long và cụ Thiên Lương lấy nền tảng luận đoán tính cách quân tử dựa vào nhóm Tuế Hổ Phù mới được khôi phục lại bản chất quan trọng của bộ này. Việc Vòng Trường Sinh không được nhắc đến nhiều trong các cuốn sách bây giờ không phải lí do sự căn bản mà đa phần chỉ coi trọng các Chính Tinh và Bàng Tinh. Cuốn Tử Vi Đẩu Số Phú Giải vẫn đưa ra các câu phú liên quan tới vòng Trường Sinh và kết quả khi giao hội với các sao. Thường khí Trường Sinh tác động mạnh tới Phúc cung, bộ Phúc Phối Di là những điều tiếp xúc khi ta ra bên ngoài xã hội, rất quan trọng đặc biệt trong cuộc sống tính xã hội đặt lên cao hơn bao giờ hết như bây giờ. Một cung Di tốt có thể hơn cung Tài tốt tùy tính cách của bản thân tức Mệnh. Mệnh đứng đầu tam hợp với Tài Quan chi phối tính cách là quan trọng, vì vậy cần thiết Tài và Quan tốt để Mệnh trở nên tốt đẹp, cải biến các cung khác theo chiều hướng tốt. Tuy nhiên bộ Phúc Phối Di cũng đặt vào sự quan trọng và tác động trở lại tới tính cách của Mệnh. Ra ngoài xã hội được người khác chỉ dạy cho cách trở nên thành công tốt hơn tự lực mà xây dựng sự nghiệp. Khí Trường Sinh cư tại cung Khúc tức tam hợp Phúc Phối Di được Sinh Vượng Mộ là cách có Phúc, nếu bạn đã tìm hiểu tử vi lâu sẽ thấy được sự may mắn của Thiên Lương, và nếu sao này Thủ Mệnh sẽ càng cảm nhận được sự may mắn. Cung Phúc có khí Trường Sinh chủ phúc đức tốt, khiến nhiều tai họa không trở nên nguy hiểm mà có thể thoát đơn giản. Vòng Trường Sinh thể hiện sức mạnh của sao, đặc biệt các sao cần khí trọng.



Nếu Tam Hóa được thêm Sinh Vượng tốt đẹp hơn nhiều. Thiên Lương và Thiên Đồng khí phúc và thọ có thêm Sinh Vượng càng thịnh. Nhưng cần lưu ý, Trường Sinh tăng sức mạnh của dòng khí, nên Ám Tinh có Trường Sinh cũng chưa hẳn tốt đẹp, xấu hơn không có.
"Lương ngộ Trường Sinh ư Phúc địa thân thượng hữu kỳ tài".
"Tử Phủ ngộ Trường Sinh đa phúc hậu".
Trường Sinh cần thiết gia tăng khí tốt cho các Chính Tinh và Bàng Tinh. Vòng Trường Sinh biểu hiện sức sống của sao. Tuy nhiên, nếu cần quan tâm chỉ cần đến Sinh Vượng Mộ. Nếu tụ tập các sao xấu cần xem có ở vị trí của Tử Tuyệt. Xem Tử Vi cần xem Mệnh, xem Đại Hạn, xem Tiểu Hạn, xem cung Thân. Gồm nhiều phần nên giản bớt được sẽ tốt hơn, không gây loạn khi xem. Trường Sinh có giá trị nhất khi cư tại Phúc Địa vì Phúc cần sự tích lũy dồi dào. Cư cung nào, cung ấy được sự tích lũy. Mệnh nằm ở Trường Sinh thì khí thường thịnh. Tử vi lấy từ Ngũ Hành và thế Sinh Vượng của Ngũ Hành liên quan mật thiết tới cách an sao của Tử Vi. Như việc Lộc Tồn là vị trí Lâm Quan của Vòng Trường Sinh. Hay cách an Khôi Việt. Vòng Trường Sinh liên quan đến Cục Số của lá số. Nếu Trường Sinh cư tại cung an Thân thì nhìn chung hạn trung bình không xấu sẽ nhận ra thân thể có nguồn sinh lực cường tráng, tuy nhiên nếu ngộ Sát Tinh vẫn bệnh tật và bệnh tật lâu khỏi. Có một số cách an vòng Trường Sinh khác với truyền thống theo thuyết Trường Sinh an tại Tứ Sinh và Mộ an tại Tứ Mộ. Bạn chỉ cần đọc các câu phú tiền nhân để lại ở các cuốn sách như Tử Vi Đẩu Số Phú Giải sẽ ngẫm được những cách đặc biệt sách đưa ra để nhìn rõ vị trí an vòng sao này. Quan trọng hơn, việc vị trí Trường Sinh dễ nghiệm lí trong Tử Vi, trừ trường hợp có Triệt đồng cung phức tạp, loại bỏ trường hợp đó cũng cho ra kết quả đúng. Ngay cả bộ Khôi Việt và Tứ Hóa nhiều người còn tam sao thất bản ra các cách an khác nhau, tuy nhiên việc nhìn lại kiểm chứng không khí vì đây là các phụ tinh mạnh tác động lớn tới cách cục.