Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Phương Đông. Show all posts
Showing posts with label Phương Đông. Show all posts

Thursday, November 25, 2021

Quy luật sinh tồn cuộc đời

 Trong thời kỳ lịch sử, kinh thuyết giải và nhận định của đa số tiền nhân thời kỳ luận thuyết vạn vật, cho rằng trái đất là trung tâm vạn vật, đứng yên để vạn vật xung quanh sao, tinh tú chuyển động theo. Cũng có thuyết luận mặt trời đứng yên, trái đất quay xung quanh. Sau này khoa học phát triển, chiêm nghiệm thấy trái đất tự chuyển động quanh trục và chuyển động theo quỹ đạo của thái dương hệ. Thực tế tinh hệ này di chuyển với tốc độ hơn 200km/ giây. Về sau, xuất hiện internet phổ biến dần, tra cứu nhiều điều mới về tri kiến trên mạng mới được rõ hơn vậy. Vật lớn như hành tinh tự quay quanh trục. Tới vật nhỏ, quả bóng đứng yên cũng cấu tạo từ rất nhiều hạt nhỏ chuyển động rất nhanh xung quanh nguyên tử. Điều muốn nói lên việc tự vận động, và chịu tác động xung quanh là bản chất của vạn vật. Tất cả đều có sự vận động trong nội tại và cân bằng tạm thời. Cũng như vậy, ngũ hành xung khắc chế hóa lẫn nhau, đạt được cân bằng tạm thời. Âm Dương đối nghịch, trong dương có âm, trong âm có dương đạt sự cân bằng tạm thời. Điều khoa học nghiên cứu thực tế xảy ra xung quanh tự nhiên là điểm quan trọng để nghiệm lý những tri kiến của sở học của học thuyết Phương Đông. Điều này xác định sự thay đổi liên tục của vạn vật ngay mỗi sát na, không tồn tại sự tĩnh lặng, đứng yên. Sự chuyển động này tới từ vạn vật trong chính nội tại. Điều này là lẽ hiển nhiên, khi nhân mệnh cảm thấy bế tắc của cuộc đời, giai đoạn bế tắc cũng mang tính chất tạm thời. Kế tiếp là hướng đi của bản thân dẫn tư tưởng để thay đổi. Sự thay đổi của nhân mệnh trong giai đoạn bế tắc cùng cực, hoặc khi tuyệt mệnh, miễn là bước đi, sẽ có sự thay đổi lớn. Tuy nhiên một số nhân mệnh lựa chọn việc chấm dứt, dừng lại, bằng cách đâm đầu xuống sông tự tử, hạn chí đầu hà. Đặc tính của Sát tinh tại tính chất biến động lớn. Điều quan trọng khi Sát tinh hội cách là lực ép rất lớn tới nội tâm. Một trong các pháp khán hạn sinh tử, là xét thể khí hóa động hay tĩnh, nhận hay thông, khí áp khinh trọng. Thế tĩnh ứng hiềm tuyệt khí, hoặc khí chặn bởi Lưu Kỵ là giai đoạn nguy khốn. Hóa Kỵ, Đà La, Hình Diêu, Tồn Bệnh, Tang Môn, Địa Kiếp, là các tinh đẩu chủ thế tĩnh. Người ngưng hô hấp là tuyệt mệnh. Ngưng trao đổi chất với bên ngoài là tuyệt mệnh. Nhìn nhân tướng một người có thể đưa ra một số dự đoán về nhân tâm tính cách kể cà khi bản thân không hiểu về mệnh lý. Việc nhân tướng và mệnh lý thuận hợp không gặp mâu thuẫn khi dự đoán từ cổ chí kim. Mệnh hành bạc nhược, loay hoay với cuộc sống. Thứ nhất đứng đầu là Sát cục đắc lệnh, là mệnh đại quý. Thứ nhì thành cách, trợ lực không gặp phá, hành vận Sát vận tuy thăng trầm vẫn đạt thành tựu lớn. Thứ ba định cách quý cục, hội cát trợ tinh bất kiến Sát, các cung độ trở nên thiên khô trên tinh bàn, thực tế tại đây còn hàm chứa cách hung họa. Nhìn bên ngoài, loài săn mồi và loài thành thức ăn cho kẻ khác. Tại xã hội cũng có những tranh đoạt quốc gia chỉ cách đây khoảng trăm năm, dẫn tới loạn lạc, giết trẻ em, cưỡng đoạt phụ nữ là điều thực tế diễn ra. Nơi của kẻ yếu, trong loạn lạc là sợ hãi, khốn cùng, và chịu mất đi sinh mạng. Cũng vậy, khi xét về các bố cục trong tử vi, người tinh anh là mệnh quý, để bảo vệ bản thân, và suy tính mưu lược. Nhật Bản với chế độ phát xít, chủ nghĩa quân phiệt cũng như loài săn mồi, tội ác là sự thực, còn hiển hiện thảm sát nam kinh. Nếu xét cát tinh dùng bởi chữ cát tác động mang ý nghĩa phù trợ tốt đẹp, sát tinh mang ý nghĩa nguy khốn là khuyết thiếu khi luận định cách cục. Kỵ Kiếp Hỏa Diêu thành cách hợp hóa khí hình gốc, kẻ đắc lệnh mệnh ác, tuy nhiên quý hiển. Người lành tinh thần hôn ám, Sát tinh vượng địa hóa thành bệnh u uất, mệnh yểu tử. 




Trong một thời khắc ngắn việc thay đổi của nội thân thông qua việc hô hấp. Vạn vật nhờ hô hấp, khí thở ra vào trong từng thời khắc để duy trì sinh mệnh. Nếu việc thở không diễn ra trong vô thức việc chú tâm tới sẽ gây ra khủng kiến nặng nề. Thói quen cũng vậy, bản tính có nhân mệnh ưa đọc kinh sách thánh hiền, nghiên cứu sâu sắc về tri kiến. Có nhân mệnh thấy được lợi ích của kinh sách nên thường thói quen đọc sách. Có nhân mệnh làm việc tại thư viện tuy nhiên không đọc dù một cuốn sách. Bộ Xương Khúc rất giá trị, đặc biệt tại vị trí thủ mệnh cung, đủ cặp tại Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi được đánh giá rất hay. Gặp Xương Khúc tránh được Không Kiếp, tức thế nhu nhuận, hiểu biết của Xương Khúc tại tri kiến tác động mạnh tới hành khí của bản mệnh. Giáo dục là nguyên căn để phát triển nhân mệnh. Xương Khúc mang ý nghĩa này. Do vậy, nếu nhân mệnh hội cách Xương Khúc định hướng để thành cách khác biệt với trường hợp hội cách Không Kiếp. Xương Khúc Khoa Khôi được đánh giá hay. Tuy nhiên Không Kiếp Khoa Khôi là cách cát hung tương bán. Trên mạng hiện nay có thể thực hiện mua bán, trao đổi tài sản với số khoản tiền rất lớn, không cần có mặt và trong một số trường hợp, không biết rõ có thực là đích danh. Điều này cũng dẫn tới việc đa cấp, tệ nạn phát triển trên không gian này. Internet kết nối vạn vật khiến tri kiến phát triển rất lớn, từ tham quan các quốc gia qua màn hình tới việc nghiên cứu ngôn ngữ, hay giao thương. Trong môi trường rất lớn đa quốc gia này, việc kết nối con người trở nên gần hơn bằng việc khi truyền tin tới vài nghìn km nhanh chóng, kể cả hiển thị hình ảnh, hoạt động hiện tại. Phát triển vượt bậc này phục vụ tới con người tuy nhiên khi xét vận thiên hạ, còn nhiều nơi nghèo khổ cùng cực, thống kê tới hơn 20 quốc gia, hoặc nơi chiến tranh binh biến, không được tiếp cận với internet, điện, điều kiện sinh tồn liên quan tới tính mạng, khắc nghiệt do dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh. Cũng là con người, nhân mệnh hoàn chỉnh, rất nhiều nhân mệnh khi khởi sinh đã gặp khó khăn trắc trở . Môi trường khiến sức chịu đựng của con người trở nên mãnh liệt, cũng có cuộc sống đầy đủ vật chất, hòa bình tuy nhiên nhân mệnh trầm cảm, sa vào tệ nạn, nội tâm suy xét sự việc là điểm quan trọng, cũng là điểm xét nhân mệnh có thể xoay chuyển tình huống trong nguy khốn hay không. "Đất nghèo nuôi những anh hùng. Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên. Đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa". Khi xét tính chất này, thích ứng với thời vận là điểm quan trọng, như sự tự quay, tự vận động của nguyên tử rất nhỏ cho tới hành tinh lớn. 






Phát triển cơ bắp và sức mạnh trong tự nhiên là khuynh hướng của Kình Dương. Phát triển khả năng phòng thủ, đưa mồi vào bẫy là Đà La. Tuy nhiên xét tới một sự phát triển thích ứng tạo bởi Kình Kỵ Kiếp. Kình Dương chủ tấn công, tuy nhiên không chỉ vì sức mạnh, cách Kình Kỵ Kiếp tượng cách như loài mang độc dược. Không to lớn và mạnh khỏe như Kình Lực Đại, tuy nhiên có thể sát thương rất mạnh. Bốn đối tượng nhỏ không nên xem thường. Hoàng tử nhỏ, rắn nhỏ, đốm lửa nhỏ và vị tu sĩ còn nhỏ. Với những cách tượng trưng khác nhau. Vạn vật dời đổi, thích nghi biến đổi phức tạp. Không nhiều người có thể nhận định rằng những bệnh dịch do covid mang lại có sức lây lan qua tiếp xúc lớn như vậy. Khoảng 250 triệu người bị dịch nạn này trên thống kê, có thể vẫn còn số lượng người chưa thể kiểm đếm toàn diện, cũng hơn 5 triệu người tuyệt mạng, số người chịu ảnh hưởng tới trong cơ thể lâu dài. Tai kiếp này phát khởi có tính địa phương, có những nơi không gặp tai họa về dịch nạn này. Việc chuyển dịch liên tục của thời vận, tại các vận khí lớn hơn như vận thiên hạ xuất khởi những điểm dị nguyên trong toán mệnh. Hiện nay, là thời đại của những điều đáng bất ngờ tức Không Kiếp, tưởng chừng những thứ không thể mới cách đây nửa đời người không thể nghĩ bàn, tới nay đã thành hiện thực. Không Kiếp hoạt động rất mạnh, tượng cách bởi những đột phá không ngờ gây thay đổi toàn bộ nhân loại, tức vận thiên hạ. Khi tài sản không cần cất giữ trong kho tàng bí mật, mà hiển hiện chuyển đổi trong chính thiết bị liên kết mạng thông tin. Nơi thậm chí quy đổi vài cân vàng bạc chuyển mua bán rất chóng vánh. Với một số người tư tưởng có phần cổ hủ khi nhìn nhận sự thay đổi lớn trong thời gian ngắn có thể phát kiến bằng hàng nghìn năm lịch sử trước đây. Thời đại hiện nay với sự công bằng chung được cải thiện một phần lớn khi thông tin được chuyển dịch nhanh chóng, các thiết bị, mạng xã hội nơi cá nhân bày tỏ quan điểm và có nhiều người từ xa tới gần có thể đọc với những minh họa, bằng chứng bằng đoạn phim hay hình ảnh lưu lại. Một giai đoạn cuộc đời cũng có thể lưu tại mạng cá nhân. Cũng trong sự thay đổi, chuyển động tự nhiên theo quy luật này. Nhân mệnh ở thế bĩ cực có thể vượt qua những khó khăn trong thời gian ngắn hơn. Nhịp chuyển động của xã hội rất mạnh, thay đổi nhanh chóng theo từng thời gian ngắn. Bản thân một số nhân mệnh có cách cục quý cách người viết thường nhìn thấy sự vui tươi trong giai đoạn khó khăn bế tắc lớn của nhân mệnh. Nhắc tới có nhớ một nhân mệnh thời gian cũng hơn 10 năm, khi đó trung vận phá tán nặng nề, mắc khoản nợ rất lớn. Vẫn thấy trong Sát vận hiện hành vui vẻ kể về việc may mắn ở thời kỳ này không phải đặt tính mạng như thời chiến trận ác liệt. 




Tham vọng phát tài bằng cờ bạc, dù thua hoặc thắng đều rất có động lực để chú tâm vào canh bạc tiếp theo, kể tới khi lâm vào cảnh nợ nần mất mát lớn. Với việc phát triển mạng thông tin, trên báo tin tức cũng thông báo một số vấn nạn này với số lượng tiền rất lớn. Rất nhiều những tri kiến tốt trên mạng kết nối, cũng rất nhiều nguy hiểm lớn như có thể chỉ một vài thao tác có thể chuyển dịch vài trăm triệu để lao vào đỏ đen hoặc đầu tư, mua bán sinh lời cao như một chiếc bẫy Đà La giăng bởi lợi nhuận, lời lãi cao Lộc Mã. Cách Mã Kiếp Tồn là cách cục nguy hiểm nếu mệnh cách không chế áp được định cách này. Tính hai mặt của Sát tinh tác động rất mạnh bởi các bố cục then chốt hình thành. Rất nhiều ngưởi nghiên cứu tử vi phân định giữa Mệnh và Thân sai khác khi cung an Thân hoạt động từ khoảng tuổi tam thập. Trên mạng tìm kiếm có một bài viết về việc tâm linh hay duy vật phát triển, hai ngưỡng đã định hình hai chủ nghĩa duy vật và duy tâm và rất nhiều nhà khoa học, triết học xét khởi về vấn đề này. Thiền sư Thích Nhất Hạnh có đưa ra thí dụ về vật lý nguyên tử, xuất hiện cùng dạng hạt và sóng tại cùng một thực tại. Bỏ đi tính nhị nguyên, xét tới tính đồng nhất của duy vật và duy tâm có thể cùng chung gốc. Tâm là Mệnh, vật là Thân, xuất phát từ một thể, tác động ngay từ khi thai sinh. 

Saturday, October 12, 2019

Tử vi với hai mặt sáng tối ( Phần 2 )





Trong một xã hội luôn có sự phân công vị trí của mỗi thành phần theo trách nhiệm gánh vác. Các tổ chức trong xã hội về chính trị hoặc kinh tế,... Trong một tổ chức, hoặc cá nhân có người làm bác sĩ, kỹ sư, giáo viên, bộ đội, công an, chính trị, kinh doanh,... lại có người làm việc lách luật, phạm pháp, xã hội đen,... Tử vi cũng phân định các cách cục như trên không sai khác. Định hướng của một xã hội tùy vào xu thế phát triển được số đông hướng tới, hoặc do sự tác động của thời thế tại quốc gia. Trong giai đoạn chiến tranh, lực lượng quân đội bảo vệ chủ quyền nắm lệnh, được hưởng chính danh trong xã hội. Nhân mệnh trong giai đoạn xã hội thời kỳ này chứa Sát tính phát khởi sẽ giảm nghề nghiệp khác để hướng tới binh nghiệp. Trong giai đoạn tổng động viên đất nước, những tri thức và thanh niên xung phong trước khi định hướng các ngành nghề của bản thân theo các bố cục, đều sẽ gặp kết quả nhập ngũ chuyển thành binh nghiệp cách. Sự phân công của xã hội hình thành nên các nghề nghiệp, mỗi nghề nghiệp thăng tiến phát triển và cơ hội tới một giới hạn nhất định. Trong thời bình, định hướng của xã hội sẽ có sự thay đổi với giai đoạn bất ổn, biến loạn về chính trị hoặc an ninh quốc gia. Sự nghiệp của nam mệnh được đánh giá bằng ba chữ Khoa, Quyền, Lộc. Trong giai đoạn chiến tranh biên giới phía Bắc, sự bất ngờ do Trung Quốc tiến công theo đường biên giới gây ra cảnh tàn phá nặng nề ở nhiều tỉnh phía bắc. Tai họa tới vận làng khi chiến sự khởi tại biên giới, Sát khí cường vượng khiến nhiều người chết. Trong giai đoạn này, nếu nhân mệnh thai sinh tại đây sẽ chịu tác động bởi khí Sát tạo ra do xung đột của vận nước. Tương tự vậy, trong thời gian, có những vùng được sự phát triển lớn do vị trí thuận lợi, nhân mệnh tại đây thành tựu lớn hơn ở các vị trí khác. Trong bản mệnh luận, trong quá trình phát triển của đương số về tham vọng với tài bạch, danh tiếng, địa vị, sự phát triển này luôn tới một giới hạn nhanh chóng buộc mệnh tạo phải đưa ra các quyết định quan trọng để thay đổi khi tiến tới giai đoạn thoái lui. Thường sự giải đãi đến từ việc không tập trung vào công việc hoặc tư tưởng hưởng tới hưởng thụ thành quả sau một giai đoạn cố gắng. 





Hóa Kỵ trong đa phần các trường hợp đều mang ý nghĩa cản trở, khó khăn đương đầu, tuy nhiên một vài cách cục phản vi kỳ cách cầm gặp sao này để thành cách. Sự hưởng thụ và khoảng cách giữa giàu và nghèo ngày càng lớn trong giai đoạn thời vận hiện nay. Có những mệnh quý tử thường là Thiên Lương hay Thái Âm sinh ra trong gia đình rất giàu có, khi sự phát triển rất mạnh phục vụ tri kiến, phát triển giáo dục, bằng cấp Hóa Khoa cũng phát sinh những dịch vụ nâng cao theo chi phí. Phú cách tức Lộc sinh ra Khoa. Truyền đạt những kiến thức, tri kiến về kinh doanh hoặc kiến thức sống để thành tựu. Xã hội dần phát triển lấy tri thức làm trọng, cần thiết hơn trong giai đoạn chiến loạn với ưu tiên là giải phóng đất nước. Cũng như vậy, trong chủ nghĩa tư bản với động cơ lợi nhuận, bất bình đẳng trong giàu nghèo mang tới khuyết điểm, cũng là cơ hội để tạo kích phát do phát khởi từ tham muốn tiềm thức của mỗi nhân mệnh. Trong sự tranh đoạt của xã hội là Sát Phá Tham giao hội Tử Vũ Liêm, và xung đột, bất mãn, mâu thuẫn là Cự Cơ Đồng, là động lực phát triển và đào thải như trong tự nhiên. Cũng do tham vọng nên những phát kiến mới thay đổi đời sống xã hội trở nên tiên tiến, hiện đại cũng xuất phát đa phần từ phương Tây. Mỗi nhân mệnh là một thành phần của xã hội, tùy tư chất của mệnh tạo đóng góp ở một vị trí nhất định. "Thiên địa bất nhân , dĩ vạn vật vi sô cẩu. Thánh nhân bất nhân , dĩ bách tính vi sô cẩu". Trong vận hành của xã hội phát khởi tham vọng là Tham Lang, sau đó thỏa hiệp, tới luật pháp để thiết lập trật tự là Thiên Hình. Phát khởi tham muốn chiếm hữu, sở hữu là bản tính của nhân mệnh, tuy nhiên, khi tích lũy lớn, hao tâm tổn sức, nhân mệnh vẫn không thoát khỏi được kiếp số, quy luật sinh trụ dị diệt. Dẫn tới sự phát triển lịch sử hàng nghìn năm về tìm kiếm tri kiến để giải đáp ngay bên trong chính mỗi nhân mệnh, sinh và tử được cổ nhân nghiên cứu tới hiện nay tri kiến là dòng nối tiếp giai đoạn rất dài. Cũng chính vì sinh diệt nối tiếp vạn vật, do vậy các tư tưởng khởi phát nghịch truyền thống Không Kiếp và Không Vong, hay mất định hướng Tử Tham Triệt hình thành, nhìn nhận vạn vật sinh diệt tới Không, dẫn tới việc từ bỏ các tham muốn tạo khổ cực tố bản thân, hướng tới hưởng thụ tinh thần. Tuy nhiên khi tư tưởng chú trọng tới sinh diệt do sự kích phát của Không Vong trong bản mệnh, cũng hình thành một khuynh hướng tích lũy bởi Tham Hỏa Khốc Triệt Tồn Không, mang ý nghĩa khi nhìn nhận cuộc đời là sự sinh diệt cuối cùng về Không, dẫn tới tư tưởng táo bạo, làm những việc gan góc. 



Hai khuynh hướng của Không Vong tuy nhiên tính chất hoàn toàn trái biệt nhau. Thượng cách hay hạ cách là do cách nhìn và phán xét trong thế giới quan của mỗi nhân mệnh tới cách cục này. Tham muốn, nhìn nhận một vấn đề của mỗi cá nhân là khác nhau, vui vẻ, khổ cực cũng sai khác, dẫn tới sự phát khởi ứng hợp rất đa dạng của các tổ hợp tinh đẩu tới mỗi nhân mệnh. Lý tưởng dẫn dắt toàn bộ cuộc sống của nhân mệnh, do vậy nên môn này có tên Tử Vi. Hưởng thụ cuộc sống là cách cục cơ bản, tuy nhiên rất dễ khiến các bố cục tạo bởi Sát cách trở nên phá cách do tính chất hoạch phát, hoạch phá của Sát tinh. Phàm là nhân mệnh, đáp ứng về nhu cầu của bản thân là tất yếu, khi khát đều cần nước, khi đói đều cần vật thực. Trong một số trường hợp khác, có những kẻ lập dị có sở thích sai trái pháp luật. Trong thế âm có dương, trong dương chứa âm là nguyên cục của ngũ hành. Vượng quá hóa suy, đây là điểm quan trọng khi luận định cách cục tử vi. Lạc quan là yếu tố dẫn tới thành công, nhân mệnh hình thành bố cục Sát cách đắc lệnh nếu ở cách thiên lệch dù thành tựu sự nghiệp lớn ắt sẽ sớm gặp tai họa dẫn tới bế tắc, thử thách tới nhân mệnh. Khi xét định các bố cục nghiệm lý qua các thời kỳ, những vị trí quan trọng chính trị, trọng trách gánh vác, đứng đầu xã hội được nhân mệnh Tử Vi, Cự Môn và Phá Quân nắm giữ. Thứ tới là Thiên Phủ, Vũ Khúc, Thái Dương, Thái Âm. Trong bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, cách cục Tử Tướng, Tử Phủ và Tử Vi cư Ngọ. Trong bố cục Cự Nhật với Cự Nhật cư Dần, Cự Môn cư Tí Ngo, VCD có Cự Cơ xung. Với Phá Quân trong cách cục Phá Quân Tí Ngọ. Nghề nghiệp bác sĩ thường ứng với Thiên Tướng, Thiên Lương, Thiên Đồng hội Hình Diêu, Lộc Tướng Ấn. Kinh thương là cách Vũ Tham, Cự Cơ hội Kình Đà Hao. Nghề luật sư thường ứng Cự Môn. Nghề giáo viên thường ứng Thiên Lương, Thiên Cơ. Nghề quản lý, giảm sát, điều tra là Liêm Trinh, Thiên Phủ. Nghề cơ khí, kỹ thuật là Thiên Cơ. Nghệ thuật ứng với Âm Dương Lương hội Xương Khúc. Mỗi lá số do bản tính của nhân mệnh sẽ ứng phù hợp với các nghề nghiệp trên, cũng sẽ có một số trường hợp khí hình gốc vượng hoặc ứng hợp hoàn cảnh xã hội, hay tác động hiện tại của đương số dẫn tới nghề nghiệp sai khác. Lại có các cách cục ly hương, xuất ngoại như Cự Môn hội Lộc Tướng Ấn, đặc biệt là Cự Nhật. Hoặc cách Vũ Sát, Vũ Phá, Liêm Phá có tính ly hương rất lớn. 





Cách cục hình thành ứng hợp, nhân mệnh sẽ phát triển theo khuynh hướng này, hoặc thay đổi do hành vận tác động biến hóa cách cục. Khi luận cách cục, có những tinh đẩu mang tính chất rất đặc biệt như Không Kiếp nếu luận không nắm rõ phân định ắt sẽ không thể luận được kết quả, đặc biệt là hạn hung sát, hạn tử. Chỉ riêng cách cục Đào Hồng Không Kiếp đã phân định rất nhiều trường hợp, tuy đa phần các trường hợp nhập vận trên tạo tai họa với nhân mệnh, nhưng các mức độ tác họa hoàn toàn khác nhau. " Hồng Đào Không Kiếp đồng danh, Ấy phường yểu tử đã đành một hai". Cách cục Đào Hồng hội Không Kiếp tác họa rất lớn khi cặp sao này đồng độ tại Tí Ngọ. Đào Hoa là vị trí Mộc Dục của vòng Trường Sinh theo tam hợp cục. Có 8 địa chi gặp Đào Hoa tại Tí Ngọ là các địa chi Tị Dậu Sửu và Hợi Mão Mùi. Trong đó hai trường hợp Đào Hồng đồng độ là năm Mão và Dậu. Nhân mệnh sinh trong hai niên chi này luôn gặp cách Đào Hồng đồng cư Tí hoặc Ngọ. Nếu hội Không Kiếp trong trường hợp này chỉ gặp một trong hai sát tinh, trường hợp Địa Kiếp tam hợp chiếu, hình thành cách cục Lưỡng Kiếp đồng độ, đặc biệt khi hội thêm Kình Đà tại tuổi Ất Mão thành Kình Kiếp và Ất Dậu thành Đà Kiếp. Tại đây cách Đà Lưỡng Kiếp hội Đào Hồng mang tai họa lớn hơn Kình Kiếp, do nhập thế La Võng mang ý nghĩa kiếp số, khi Đà Nhị Kiếp hội La Võng là kiếp nạn do thiên địa tạo, khó có thể tránh thoát, đặc biệt khi mệnh cách  cư Dần Thân hội Không Kiếp trừ Phá Quân, Thiên Tướng, Cự Nhật, các cách cục chính tinh còn lại đều khó có thể tránh được tai họa lớn, thậm chí là hạn tử tuyệt. Khi luận định tính chất của tổ hợp Đào Hồng Không Kiếp thuộc hạn tử tuyệt không mang ý nghĩa do tính chất đào hoa dẫn tới nhân mệnh tuyệt khí số. Điểm quan trọng tại đây tại một tính chất của Đào Hoa là sự bất ngờ, ở vị trí Mộc Dục của vòng tam hợp cục, đây là vị trí mờ ám, tức có tính mê muội như Thiên Diêu trong cách Hình Diêu. Thiên Diêu mê muội dẫn tới Thiên Hình tam hợp chiếu là hình khắc. Tính chất của Đào Hoa cũng vậy, một mặt hình khắc là điểm ít thường chú ý của Đào Hoa do Kiếp Sát tam hợp chiếu tạo ra. Hồng Loan cũng mang ý nghĩa máu huyết.  Khi Hồng Loan xấu cần chú ý đến các bệnh về đường máu. Với hai chính tinh Thiên Cơ và Tham Lang do tính chất âm mộc và Cự Môn thuộc âm thủy, là hai tinh đẩu khi hội Sát Kỵ rất gặp bệnh nan y, đặc biệt là ung thư. Xét định nghiệm lý các lá số tỉ lệ cao, đặc biệt là chính tinh thuộc ngũ hành Mộc. 





Với cách cục Vũ Sát, Vũ Phá, tuy mang ý nghĩa không mấy hay nhưng thường gặp họa do hình sát, thương tích khác với các sao trên. Đây là điểm rất quan trọng để đương số đề phòng. Khoảng 6 năm trước, người viết nhớ tới một lá số mệnh tạo Tham Lang trong đó có một lá số Đào Hồng Kỵ Kiếp, lưu đại vận nhập vận xung sát mắc bệnh ung thư. Khi đó nữ mệnh tuổi đời còn trẻ, diện mạo rất thanh tú, mệnh cách Đào Hồng Thanh Kỵ Kiếp Linh, tới đại vận thứ hai gặp ách nạn tại cung độ Cự Đồng lạc hãm hội Quế Sứ Hoa Thương cách. Trong năm trước, một nữ mệnh cách VCD nội Cự Nhật Hỏa Linh Kiếp Tuế, ngoại cách Cơ Âm gặp tật ách khi nhập vận Thiên Lương.  Tính chất của Không Kiếp khi hội Tứ Sát Kỵ Hình tác họa lớn, để cách cục thành cách trở nên đắc dụng là rất khó khăn. Lá số của nhân mệnh đứng đầu xã hội khi chế hóa Sát cách mang một đắc tính riêng biệt, yếu tố thiết yếu hướng tới là đóng góp xã hội, do vậy lý tưởng của Tử Vi trở nên cao viễn, đủ sức chế ngự Sát cách cường vượng và ứng thế bộc phát khi nhập vận. Tương ứng như Phá Quân đắc lệnh tượng là quân tử, sinh tử ắt bất trọng bằng thanh danh. Trường hợp này cũng như một số cách cục ứng hiềm tự tử do trầm cảm khởi bởi Sát cục tác động, tính mất định hướng của Không Vong. Khi lý tưởng trở nên cao viễn, Sát cách tự đắc dụng, hợp hóa. Tử vi xuất phát từ Trung Quốc, tuy nhiên thường phát sinh dị biệt do các phái luận hình thành mới tại đây, các môn khoa học huyền bí và tôn giáo vẫn thường giữ được bản chất sau khi truyền tới Việt Nam, khi đại cải cách văn hóa Trung Quốc khiến rất nhiều kinh điển sâu sắc, uyên thâm của cổ nhân về dịch lý, toán mệnh thất lạc hoặc phá hủy. Tử Vi Đông A lưu truyền không mấy rộng rãi, đa phần sử dụng trong nội bộ triều, cách an sao cũng không phức tạp, tuy nhiên tính lý của tổ hợp dẫn hóa và tinh đẩu quả thực giai đoạn tử vi phổ biến hiện nay đã biến đổi khá nhiều. Khí hóa hình, hình hóa thế, thế hóa vận, vận phân định hung cát do khí hình tạo. Thường người nghiên cứu nếu chưa thể xét khí hình nhân mệnh thì lấy xem tướng để phối kết hợp việc chịu tác động và phối kết hợp của tổ hợp sao tới nhân mệnh. Cự Kỵ là cách miệng méo, tuy nhiên Cự Kỵ Hình thường sẽ có vết trên khóe miệng, nếu có Quyền Linh hóa cục thành Quyền, khóe miệng hướng xuống, hóa cục thành thâm trầm, nếu độc tọa môi thâm, có Hình Ấn theo binh nghiệp nắm đại quyền, tuy nhiên hậu vận sẽ phá tán do Cự Kỵ phản cách về sau. Đây là trường hợp khí hình vượng tương ứng ngoài tướng số. Trong trường hợp cách cục phá cách, tuy bố cục Cự Kỵ Hình Linh Quyền chủ mắt lộ, môi thâm, răng thưa, thường ưa phản trắc là nguyên cục không thể chế hóa Sát cách, hình tướng tương ứng chỉ là khí hóa của ngũ hành biểu thị cho kết quả của các tổ hợp giao hội, hành vận Sát Phá cẩn trọng hình tù. Tử Vi Đông A lấy khán hạn quá khứ làm trọng, để nhìn rõ độ số của nhân mệnh trước các tổ hợp Sát Kỵ giao hội, định hướng của các cách cục. Lá số tử vi là mặt sáng, việc hợp hóa bên trong ứng với từng mệnh tạo riêng biệt là mặt tối, việc nhìn sự giao hóa với khí hình khó khăn hơn rất nhiều với định cách cục trên lá số tử vi. Mỗi nhân mệnh một tính cách, một bản thể riêng rẽ, tính cách cũng vậy đại đồng tiểu dị. Cũng thường nghe " Sinh bất phùng thời" chỉ người có năng lực tuy nhiên thời thế khó dụng thân. Chính sự tiểu dị có thể tạo nên thành tựu hay thất bại với các cách cục Sát trọng cực vượng. Thí như một lá số Liêm Sát Kình Hình Hổ Kỵ Xương hội là một lá số tự nội cách hàm chứa nguy khốn lớn với cách Kỵ Hình Thất Sát có Xương Liêm dễ gặp bất mãn, yểu tử khi không có Khoa, Quyền, Lộc cát hóa, cũng sẽ nhiều đương số gặp tử tuyệt với bố cục này tại tiền vận. Tuy nhiên đây là lá số của một chánh án rất nổi tiếng trong thời kỳ trước người viết có luận, là điểm huyền diệu của mệnh lý, khi nhân mệnh có thể điều hòa Sát cục mang ý nghĩa tử tuyệt rất rõ ràng. 

Saturday, October 5, 2019

Tử vi với hai mặt sáng và tối


Trong cuộc sống mỗi người đều chú trọng  bởi ba mặt quan trọng là sức khỏe, công việc và tình cảm. Đôi khi số phận đưa tới những nguy hiểm liên quan tới tính mạng trong cuộc đời. Tai nạn bất ngờ xảy ra đối với mọi nhân mệnh, đặc biệt trong các tai họa tập thể, thường chung số kiếp tuyệt mạng. Tuy nhiên cũng thường thấy những nhân mạng may mắn thoát khỏi các tai nạn. Tai nạn tại Việt Nam đa phần liên quan tới các tai nạn giao thông, tai nạn lao động, các biến cố do thiên tai, hỏa hoạn. Còn lại đa phần do bệnh tật tác động dẫn tới nhân mệnh tuyệt mạng. Thực tế để một lá số tuyệt khí rất khó xảy ra, Mệnh Thân Hạn đều trùng phùng Sát Kỵ phá cách, hoặc cách cục hung họa ứng hợp hoàn cảnh tác động. Như mệnh cách có Vũ Sát Hình Linh Việt nếu nghề nghiệp cơ khí, liên quan tới đồ điện ắt rất dễ gặp tai nạn do nghề nghiệp ứng hợp. Hoặc nhân mệnh gặp cách Cơ Lương Tồn Kiếp Tang Điếu rất cẩn trọng khi nghề nghiệp liên quan tới độ cao. Tai kiếp, họa hại bất phân biệt nhân mệnh phú quý, cao thấp đều có thể xảy ra, phát sinh từ sự kiện ngẫu nhiên bất ngờ, hoặc do âm mưu của kẻ khác tác động. Việc phân định thiện ác, tham muốn của nhân mệnh được dự đoán bởi bản tính của nhân mệnh trên lá số tử vi là điểm huyền diệu của mệnh lý. Trong các trường hợp tai nạn, yếu tốt bất ngờ là điểm quan trọng để tạo ra tai họa, cặp Không Kiếp đứng đầu tạo ra tai kiếp khi xét về tính chất, tại các vị trí Tị Hợi Dần Thân Mão Dậu Sửu Mùi là các vị trí đầy đủ cặp sao này, tính chất tác động rõ rệt, tùy giao hội với các cách cục sẽ phát sinh tai nạn tương ứng. Nếu ngộ Vũ Sát Phá Liêm phùng Sát Kỵ là tai họa do thương tích búa đao, nếu ngộ Cự Kỵ Đà là tai họa do thủy tai. Chỉ ba chữ Cự Kỵ Đà nhập hạn xấu đã gây rất nhiều tai nạn thủy tai, đặc biệt trong giai đoạn trước đây khi lứa tuổi thiếu niên thường tắm tại các con sông, rạch nước. Nếu hội Linh Xương Đà Vũ là tai họa do tin lời kẻ khác. Sát tinh có hai mặt đối lập rõ ràng, trường hợp đắc dụng là tạo kình lực hoạch phát lớn về công danh hoặc tài lộc trong thời gian rất ngắn. Trường hợp phản cục tạo tác tai họa bất ngờ khiến không đương cự nổi, sát thân. Do chứa Sát tính, thường các cách cục mang tính chất ác hóa về tư tưởng, đặc biệt Cự Kỵ Diêu Kình Linh là cách cục bản thân hàm chứa tính chất nguy hiểm khi thành cách. Cự Môn khi xấu là bản thân gặp họa ly biệt, từ biệt. 




Trong tự nhiên, sự sinh tồn biến hóa theo nguyên lý mạnh yếu, ngay cả loài mạnh cũng cần sự tinh tường, kiên nhẫn chờ thời cơ để săn mồi. Trong tình thế xã hội là âm mưu, thủ đoạn để triệt hạ kẻ khác, hoặc để thu lợi về bản thân. Sự tinh tường do Sát tinh khi đắc cách là một khuynh hướng thường ít được đề cập chuyên sâu trong khi luận giải tử vi, đa phần xét tới tính tai nạn. Bản thân ta thường thấy những sự thực phơi bày ra trước mắt, ngoài cuộc sống xã hội hiện tại, về lòng tham để thực hiện được mục đích . Âm mưu, tính toán có thể xuất hiện trong tình cảm, do tài sản,....Trong các cách cục về nữ mệnh, bố cục liên quan tới sao Thiên Đồng và Thái Âm khi Sát Kỵ trùng hội mang ý nghĩa âm ám rất lớn. Thái Âm đắc cách khi Hóa Quyền tượng chủ người phụ nữ quyền lực, với khả năng tinh tường, nhìn thấu rõ được vận hành bên trong thể âm của các sự vật. Thí như việc âm thầm liên kết để loại trừ kẻ khác trong kinh thương, hoặc trong chính trị. Thiên Đồng tượng là nhi đồng, tuy nhiên khi giao hội Sát Kỵ trùng phùng thành cách lòng dạ thâm sâu. Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao hiền hòa, tuy nhiên rất dễ phá cách trước Sát Kỵ. Khi Đồng Âm ngộ Kiếp Đà không có trợ tinh hội họp, ta có thể luận nhân mệnh thâm sâu, có tính âm ám, mưu tính sâu bên trong. Nghiên cứu tử vi để phòng tránh, để nắm rõ về bản mệnh, tính cách để chấn chỉnh, khắc phục khuyết điểm để thành tựu. Cổ nhân luận " Địa Kiếp độc thủ, thị kỷ phi nhân". Tức luận về tính chất khi thành cách của Địa Kiếp. Các cách cục còn được dẫn hóa bởi khuynh hướng của tinh đẩu, lý tưởng, mục tiêu do Chính Tinh và tổ hợp hướng tới. Có nhân mệnh hướng tâm tới cuộc sống bình ổn, vật chất đủ. Có nhân mệnh hướng tới tham vọng địa vị cao của xã hội, hoặc tham vọng về tiền bạc. Các cách cục dựa vào tham muốn để ứng hợp nội ngoại số mệnh. Người nghiên cứu tử vi thường nghe thấy cách cục Mệnh Không Thân Kiếp, đây là cách cục mang ý nghĩa khác hoàn toàn Mệnh có Địa Kiếp. Trong câu phú trên ứng hợp với mệnh cách có Địa Kiếp độc tọa, trường hợp Không Kiếp đồng cung tại Tị Hợi tính chất hoàn toàn khác. Địa Kiếp tượng do âm hỏa cực vượng tác động, thế của Địa Kiếp khi ngộ Chính Tinh chủ âm ám dễ hướng tới khuynh hướng cực đoan. Âm Đà Kiếp khi Thái Âm tại vị trí lạc hãm nhân mệnh bị Sát tinh tác họa, khi Thái Âm tại vị trí sáng hóa Quyền cách cục mang ý nghĩa rất tốt đẹp, chủ nữ mệnh có quyền lực lớn do tính âm hiểm, mưu kế khiến Hóa Quyền thành quyền sát. Trong xã hội, song song với những việc bên ngoài nhìn thấy công khai là một xã hội ngầm với những nguyên tắc riêng biệt, vì vậy cách cục Khoa Minh Lộc Ám hoặc Minh Lộc Ám Lộc được đánh giá tốt đẹp hơn cách cục Khoa Lộc và Lưỡng Lộc tại cùng tổ hợp. 





Tính chất Địa Kiếp mang tính âm hỏa tư tưởng có phần bộc phát, khi hội Thiên Không thường muốn phá bỏ những suy nghĩ lối mòn. Tính chất này có phần tương tự cách cục Cự Tồn bất mãn, tạo cách cục của Địa Kiếp âm hỏa tồn tại, ắt sẽ mang tính bộc phát trong tư tưởng. Với cặp Không Kiếp tùy hội tổ hợp Chính Tinh để luận định tính chất. Sự xung đột của xã hội gắn với đạo đức có phần lệch lạch do tính chất của tiền. Khi đất đai giai đoạn trở nên đắt giá, việc người thân trong gia đình do mâu thuẫn, xung đột dẫn tới xuống tay làm hại diễn ra nhiều. Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh là tứ sát bởi tính chất loạn động khi bộc phát rất lớn. Tả Hữu Xương Khúc là tứ trợ tinh do tạo sự ổn định trong các bố cục. Lá số tử vi tốt đẹp là giao hòa của Sát Tinh và Trợ Tinh với các bố cục Chính Tinh hợp lý. Sự nguy hiểm luôn tồn tại xung quanh hoàn cảnh mỗi nhân mệnh, khi cách cục ứng hợp, sẽ mang họa lớn hay nhỏ tùy độ số của mệnh tạo. Với nữ mệnh, cách cục Đồng Âm là cách thuần âm, giữa sự giao hội của Thiên Đồng và Thái Âm thành cách cục bổ khuyết lớn cho nhau. Nữ mệnh Đồng Âm thực tế trong tất cả các mệnh cách này đều có khả năng suy tính sâu sắc do Thái Âm và Thiên Đồng là hai tinh đầu chủ lòng dạ và cơ tính, trái với Thiên Lương ưa phơi bày, nông nổi ra bên ngoài. Trong xã hội cũng vậy, cách cục Đồng Âm được đánh giá tốt đẹp do tính chất âm nhu tạo ra, tuy nhiên cũng sẽ dễ trong tình cảm ẩn chứa sự suy tính, tính toán. Thiên Đồng là cùng chung, Thái Âm là tư tưởng, lắng nghe. Tại thời kỳ phong kiến, mệnh nữ chu tác động bởi những vấn đề đức hạnh, hoặc đạo đức theo hệ thống chuẩn mực Nho Giáo, tuy nhiên giai đoạn hiện nay là thời kỳ dân chủ, các tinh đẩu biến hóa theo hoàn cảnh xã hội, tuy nhiên bản chất cách cục sẽ không thay đổi. Thiên Lương đắc cách vẫn thường ưa bày tỏ quan điểm, lối sống của bản thân ra bên ngoài, ưa sáng hơn tới. Thiên Đồng trái nghịch tính chất, chủ bên ngoài có tính nhi đồng, trong nội tâm sẽ suy nghĩ sâu sắc. Tượng của Thiên Lương là người già, niên lão. Tượng của Thiên Đồng là nhi đồng. Khi Thiên Đồng đồng độ với Thái Âm sẽ tăng tính suy tính, tùy tinh đẩu giao hội có thể hóa thành âm hiểm, lòng dạ sâu xa. 




Cách cục Đồng Âm cư Tí được đánh giá tốt hơn cư Ngọ. Do cách Đồng Âm tại Tí với Thái Âm sáng, là cách cục chủ có tính thành tựu sớm, gặp may mắn, phúc phận hơn bố cục Đồng Âm cư Ngọ. Đồng Âm cách là cách cục thượng cách tại can Đinh, khi hội Khoa Quyền Lộc Thanh Long. Tại vị trí cư Tí thành cách Lưỡng Lộc đối củng, có Thanh Long lợi cho Đồng Âm. Cách cục Đồng Âm cư Ngọ tại đây cũng vẫn được đánh giá rất tốt khi Song Lộc tại bản cung, có Khoa Quyền tam hợp chiếu. Trái với Cơ Nguyệt Đồng Lương khi tốt là hòa hợp, ngày tháng vui vẻ về tinh thần và may mắn về vật chất. Bố cục Cự Nhật ngay cả khi đắc cách cũng hàm chứa ý nghĩa cự ly. Can Đinh nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương luôn gặp Tam Hóa và nhóm Thanh Liêm Phục hoặc Lộc Tướng Ấn mang ý nghĩa rất hay thì cách cục Cự Nhật với Cự Môn Hóa Kỵ đặc biệt trong tam hợp Dần Ngọ Tuất là cách cục hạ cách, cự ly, tư tưởng thường tự tạo khổ cực, không có một ngày yên ổn về tinh thần. Mệnh tạo có Chính Tinh tọa thủ mệnh là Cự Môn thuộc can Đinh là cách không mấy hay, trường hợp Cự Môn cư Thìn được đánh giá giảm hung do có Thanh Long đồng độ Hóa Kỵ. Cự Môn thường ưa phản đối, cho tới làm phản, là sao đứng đâu trong các bố cục ý nghĩa cự ly. Âm mưu là Đồng Âm, cự ly là Cự Nhật. Thế đứng của Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật tại can Đinh là hai thái cực của cách cục. Âm mưu hãm hại, hay mưu kế giữ vững chủ quyền cho đất nước, tại mọi vị trí xã hội trong các công việc đều mang tính chất này, là các sao chủ ẩn. Trong vận nước, khi sự phá hoại của bên ngoài và bên trong. Âm mưu tới từ bên trong khó phòng bị hơn bên ngoài. Cơ Nguyệt Đồng Lương với Thiên Đồng là trong tổ chức, Thái Âm phối hợp với Vũ Khúc có thể tạo tai họa từ bên trong. Cự Nhật cách không mang ý nghĩa âm mưu dù Cự Môn hóa Kỵ thành cách Cự Kỵ do Cự Nhật cách mang ý nghĩa chống đối công khai, trừ trường hợp hội thêm bàng tinh mang ý nghĩa ẩn tàng. Cự Cơ Đồng là nhóm sao mang rõ ý nghĩa âm mưu từ bên trong, với phối hợp của Cự Môn và Thiên Cơ dễ khiến Thiên Đồng tổ chức tan rã. Sự xung đột, phá tán là duy trì trật tự thiết lập của vạn vật, có sinh phải có diệt, có tụ ắt phải tán. Là hai mặt đối lập của âm dương không thể tách rời. Người nghiên cứu tử vi thường lưu ý để xét vận số thời của bản thân. Vật phát triển tới cực vượng, cân bằng, thoái lui, rồi diệt, không có ngoại biệt. Tuy nhiên thời gian thịnh vượng có thể kéo dài trong giai đoạn cần thiết của cuộc đời là việc cần hướng tới. Bất luận khởi tạo một kế hoạch hoặc lý tưởng lớn, nếu duy trì được thời gian tồn tại và liên tục táo bạo thay đổi, giai đoạn tích lũy càng lớn thì sức bộc phát càng lớn, thăng hoặc trầm. Sự bất ổn và khó khăn luôn tồn tại trong mỗi sự việc là tất yếu. 




Mỗi thời các thể chế chính trị khác nhau dẫn tới các thay đổi khác nhau về Quan cách. Có giai đoạn đất nước chiến tranh, hoặc giai đoạn còn tồn đọng các vấn đề sơ hở về quản lý, giai đoạn loại trừ các ung nhọt. Tác động của thời cuộc trực tiếp. Người viết có truy cập qua một số trang mạng diễn đàn, có rất nhiều người nghiên cứu tử vi có tri kiến thâm sâu với mệnh lý, tuy nhiên cũng có một số người nghiên cứu tử vi xét đoán cho những nhân mệnh chưa thực chuyên sâu về xét giao hội các cách cục của tử vi, dẫn tới lo lắng tới nhân mệnh. Một trường hợp gần đây người viết có gặp một trường hợp khi bình giải cho lá số nam mệnh VCD cư Mùi ngộ Không Triệt với nội cách Dương Lương cư Mão và Thái Âm cư Hợi hội Khoa Lộc Đà Linh Không Kiếp đắc vòng Trường Sinh là mệnh hung họa, hành vận VCD nội Cự Cơ Đồng hội Kình Kỵ Hỏa, ngoại cách Dương Lương là hành vận hung họa, khó khăn, khó có thể thành tựu. Thực tế đây là cách cục khá hay, thế đứng của Âm Dương thường thiếu tính kích phát của Sát Kỵ, đặc biệt trong trường hợp Âm Dương nhập miếu có Khoa Lộc lưu tới hành vận Cự Cơ Đồng rơi vào thế bế tắc buộc nhân mệnh phải đưa ra các quyết định táo bạo để khai thông, cách cục Cự Kỵ Kình khi định bố cục Sát rất lưu ý về tính chất của toàn bố cục. Câu phú thường luận về can Canh " Kình Dương đối thủ tại Dậu cung, Tuế điệt Dương Đà canh mệnh hung" và cách " Cự Môn Hóa Kỵ giai bất cát, Mệnh Thân Vận kỵ tương phùng". Trong tử vi khi nghiên cứu không nằm ngoài quy luật sáng tối của cuộc sống, xã hội, những tri kiến, kiến thức bên ngoài công khai rộng rãi thường có khuyết điểm về tính xác thực. Nhìn độ số của cách cục là nhìn vào tham muốn, lý tưởng và bản tính của mệnh tạo để xác định cát hung, bại thành. Lá số tử vi phân định cách cục hiển hiện để luận định bản tính khởi phát, tuy nhiên phần ẩn bên trong chỉ có thể xác định khi xét tương ứng các sự kiện của nhân mệnh để nhìn hướng đi của toàn bộ cách cục mới có thể luận đoán. Khám phá về huyền học mệnh lý đã rất nhiều thế hệ qua nhiều giai đoạn lịch sử cả nghìn năm, những tri kiến trong kinh điển phổ biến bên ngoài là một phần nhỏ trong kho tàng lớn về dịch lý Âm Dương Ngũ Hành. Khi nghiên cứu huyền học rất dễ tự ngộ nhận về tri kiến, khả kiến của bản thân, tự đánh giá bản thân cao dẫn tới bỏ qua những kiến thức giá trị. Khi nghiên cứu tử vi, người nghiệm lý thời gian lâu dài sẽ nhìn thấy sự vận hành của lý nhân duyên quả hợp rất thâm sâu, tử vi chỉ là một môn toán mệnh, là hóa thực lý về kiến thức của tiền nhân với thuyết Âm Dương Ngũ Hành, nối tiếp vào tri kiến của huyền học Phương Đông, nơi những sự huyền bí vẫn chưa sáng tỏ. Ngoài tham vọng về tiền bạc và địa vị, là tinh thần, ý thức, một phần song song với vật chất, như Mệnh và Thân, nối tiếp của cuộc sống là cái chết hay sự luân chuyển của số kiếp ?. 

Tuesday, September 10, 2019

Thay đổi hoặc là chết.



Trong một xã hội giàu có tức đất nước phát triển, thời thịnh sẽ sinh nhiều nhân mệnh phát tài do các cơ hội vận nước tạo ra. Trong một xã hội biến động thăng trầm thì kẻ có khả năng tinh tường sẽ đứng vững. Trong một xã hội suy yếu, những kẻ luôn tự thay đổi bản thân, thay đổi tất cả miễn có thể tồn tại là cách cục quý. Sự thay đổi do cạnh tranh dẫn tới, hoặc do bị đè nén, thua thiệt chính là nhóm Kình Hao và Đà Hao. Với nhóm Chính Tinh, thường người nghiên cứu Tử Vi đánh giá sai đế tinh tức sao Tử Vi về tính chất của tinh đẩu này. Trong tùy các cách cục, Tử Vi có tính khai sáng mạnh, khả năng gánh vác trách nhiệm và lấy đạo lý, được chúng tôn làm gốc. Mệnh cách Tử Vi luận tính chất thường xét tại tính chất ổn trọng, bệ vệ, uy nghi, trung hậu. Tuy nhiên thực tế, tính chất khai tạo, khởi tạo trong nội tâm của tinh đẩu này rất mạnh, tuy nhiên đây là cách cục hướng tới tư tưởng lấy số đông để tạo dựng, lấy mối quan hệ trợ lực để thành tựu, nếu không gặp Tả Hữu vô lực trừ một số cách cục mang ý nghĩa kế thừa, kế tục. Thực tế cách cục Tử Vi nhập mệnh không gặp phá cách, cách cục hoàn chỉnh Tử Phủ Vũ Tướng Liêm lại có Văn tinh củng chiếu nhân mệnh xã hội hiện nay gặp tuy nhiên cuộc đời khó thành tựu lớn. Thường có nhiều đương số hỏi về bố cục đắc cách của Tử Vi. Giai đoạn hiện nay xã hội không còn ứng hợp toàn cục như tượng Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là triều đình và quân chủ. Cách cục hiện tại thế đứng của Tử Vi nếu không gặp Tả Hữu trợ lực, cách cục Tử Tướng là bố cục mang ý nghĩa tốt hơn do Thiên Tướng đồng độ với Tử Vi hóa thành Ấn tín. Tử Tướng đồng độ là cách cục hay, được đánh giá tốt hơn vị trí Tử Vi cư Ngọ và Tử Phủ Dần Thân nếu hội Sát Kỵ, nhân mệnh gặp cách cục này thường kế tục sự nghiệp của phụ mẫu phát triển lớn mạnh hoặc tự lực gây dựng sự nghiệp, tính chất cát hóa Tài cách hình thành, do thế đứng của Vũ Phủ đồng độ cư Tí Ngọ, Phá Quân xung chiếu kích phát tư tưởng khai sáng của Tử Vi. Nhân mệnh cách Tử Tướng đồng độ không gặp phá cách thường có địa vị cao trong xã hội, có mệnh tạo là chủ tịch một tập đoàn lớn, có mệnh tạo theo khuynh hướng kinh thương phát đại phú do uy tín, có mệnh cách theo khuynh hướng chính trị đứng đầu một cơ quan, tổ chức lớn. 





Với mệnh cách Tử Vi cư Ngọ, cách cục này khó thành cách do tính chất sắp xếp của tinh đẩu rất kỵ Không Vong và Sát Kỵ, do đó tuy là bố cục đứng đầu trong tử vi, nhiều đương số gặp bố cục này không gặp thời, bất đắc chí. Trong khuynh hướng phát triển của xã hội trọng dụng với Tài Cách hơn Quan Cách, do thể chế dân chủ hoặc ảnh hưởng của phần hội nhập kinh tế, tổ chức của chính trị thay đổi, địa vị và khuynh hướng của Tam Hóa tức ba thứ quan trọng tú khí của tinh đẩu khi hóa là Khoa, Quyền và Lộc cũng thay đổi theo. Một ý nghĩa quan trọng người luận tử vi thường hay thiếu sót là việc định cách của các tổ hợp Chính Tinh và sức chế hóa của Mệnh cách. Với cách cục Âm Dương Lương với Âm Dương ở vị trí tối tăm, tức thất địa, khi giao hội Không Kiếp Tồn Đào thường là mệnh gặp nhiều tai nạn, bệnh tật. Tuy nhiên nếu trường hợp Thái Dương hoặc Thái Âm nhập miếu địa, như Thái Dương cư Tị Ngọ, Thái Âm cư Hợi có thể hóa dụng bố cục thành hoạch phát cách. Trường hợp Không Kiếp đồng độ cư Tị Hợi nghiệm cổ nhân luận rất nghiệm khi xét cặp Không Kiếp nhập Miếu khi cư Tị Hợi. Trong tử vi, mệnh cách gặp bộ Không Kiếp đồng độ phân định hai khuynh hướng rất rõ nét, khi phá cách thường là mệnh chủ gặp tai nạn, tai kiếp bất ngờ dẫn tới giảm thọ, trường hợp thứ hai là mệnh cách chế dụng cặp sao này cuộc đời cũng gặp thăng trầm lớn, khi bạo phát như lôi. Phân định mệnh cách giao hội các thế đứng của Không Kiếp mỗi cách cục tính chất khác nhau. Không Kiếp đơn thủ tại Tí Ngọ Thìn Tuất , tam hợp chiếu tại Mão Dậu Sửu Mùi, xung chiếu tại Thìn Tuất, đồng độ tại Tị Hợi. Khi Không Kiếp đơn thủ cách là vị trí tác động không mạnh, gặp Không chủ bất ngờ, gặp Kiếp chủ tai họa. Do Không Kiếp là cặp sao mạnh, Khi xét đoán thiên bàn, nhìn thế đứng của Không Kiếp có thể luận được một phần độ số của các cách cục. " Địa Kiếp nhập mệnh đan tâm tất ám". Thiên Không Không Vong có nhiều sách luận là Địa Không có tính Không lớn, tính chất tác họa của Thiên Không trái nghịch với Địa Kiếp, với Thiên Không là hư, Địa Kiếp là thực. Thiên Không chủ hư vọng, trong tư tưởng có tính chất phù động. Địa Kiếp chủ đa tâm, trong tư tưởng có tính chất tham muốn. Hai khí hóa của cặp Không Kiếp đều mang tính chất cường vượng của Sát Tinh, đứng đầu trong Lục Sát Tinh, họa nhiều hơn phúc, luôn hàm chứa tính bất ổn, xung đột mâu thuẫn trong nội tính chất tác động tới tính cách của mệnh tạo. 





Thực luận, cách cục Không Kiếp khi đồng độ tại Tị Hợi mới là chính cách của cặp sao này, khi tam hợp chiếu tại Mão Dậu Sửu Mùi tùy vị trí tại bản cung để luận định. Với cách cục Không Kiếp xung chiếu cư Dần Thân, mệnh cách tại vị trí Địa Kiếp tính chất khác với Thiên Không. Khi đơn thủ tại Tí Ngọ Thìn Tuất, tính chất bình hòa, cách cục Không Kiếp bất thành cách, luận theo tính chất riêng rẽ của tinh đẩu. Cũng như bộ Khôi Việt Quý Nhân, Thiên Khôi Quý Nhân tính chất khác hoàn toàn Thiên Việt Quý Nhân. Cách gặp họa thường do có Thiên Việt hội Sát Kỵ do tính chất của Việt chủ phát khởi sự, Thiên Khôi thành cách lớn nhất tuy nhiên khi đã phá cách họa rất lớn. Rất nhiều sách nghiên cứu tử vi luận chung tính chất của bộ sao này, an sai vị trí tuy nhiên vẫn tồn tại. Cách cục Không Kiếp thường bị nhận định sai với thực tế. Đồng Lương hỉ được Không Kiếp cư Dần Thân là cách cục hoạch phát tài lộc. Thái Âm cư Dậu và Hợi, Thái Dương cư Tị gặp Không Kiếp đồng độ tại Tị Hợi là mệnh quý bất khả ngôn. Tuy nhiên bản tính của Không Kiếp bất sai biệt, đều là nhân mệnh có khuynh hướng suy tính, tính toán, bộc phát khi nhập Mệnh, tại trường hợp tam hợp chiếu chịu tác động một phần tới bản tính. Cách cục thành tựu của Không Kiếp trong trường hợp đắc cách cũng không bền, nhân mệnh ắt sẽ có biến động lớn đại bại trong cuộc đời. Mệnh cách sinh nguyệt lệnh tại tháng Hợi tức tháng 10 tất cả đương số đều gặp Thiên Không thủ Mệnh. Do chỉ gặp 4 vị trí Không Kiếp đơn thủ là Tí Ngọ Thìn Tuất trên 12 vị trí nên tỉ lệ giao hội bộ Không Kiếp rất lớn với nhân mệnh sinh tháng Hợi. Trợ Tử Vi là Tả Hữu do đây là trợ tinh thuộc trung tinh, có tính phò tá mạnh, ổn định. Với Không Kiếp hội Tử Vi tính chất khai sáng của Tử Vi tăng mạnh, tuy nhiên bên trong cách cục hình thành phản cục, trừ trường hợp Tử Phá, Tử Sát và Tử Tướng có thể dụng bố cục này. Với hai cách cục Tử Phá và Tử Sát hội Không Kiếp, cách cục Tử Sát đồng độ cư Tị Hợi, cách cục Tử Phá gặp bộ Không Kiếp một tọa thủ, một tam hợp chiếu là hai mệnh cách cuộc đời sẽ gặp thăng trầm, sóng gió lớn. Ngay nội cách Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham mang tính chất xung đột , mâu thuẫn trong nội cách. Nhân mệnh gặp cách cục này, thời loạn nắm ấn lệnh, đứng đầu xã hội, bản tính có mưu kế, quyết đoán, táo bạo. Tuy nhiên trong thời vận hòa bình, đây là cách cục bôn tẩu, cuộc sống khó có thể an định, bại nhiều hơn thành. Cách cục này nếu hội Kình Hao hóa thành Quyền Sát, đặc biệt cách Tử Sát có Quyền Không Kiếp hội trợ tinh là mệnh đại quý, thượng cách bất luận xuất thân và khí hình gốc, tuy nhiên khó có thể tránh lao tâm, khó khăn bế tắc trong nhiều giai đoạn cuộc đời. 





Khi luận về khó khăn trong cuộc sống, mỗi nhân mệnh theo hoàn cảnh sẽ ứng với cuộc sống hiện tại của bản thân. Tử vi thực tế có thể suy xét về bản chất của sự việc, mâu thuẫn, xung đột hoặc các vấn đề. Như trong các mâu thuẫn gây thương tích, đố kỵ ra tay hãm hại, động lực phát khởi mâu thuẫn hay cách phản ứng mang khởi từ bản tính của nhân mệnh. Sớm muộn mệnh cách Cự hội Kình Hình Linh Kỵ Việt cũng sẽ mang họa do bất mãn, cự cãi gây xung đột. Tùy bố cục hình thành và tác họa, có thể dẫn tới hình tù, thương tích hoặc vong mạng. Cũng cách cục như vậy, mệnh tạo có thêm Hóa Quyền, toàn cục diện thay đổi, thay vì tai kiếp ứng tới bản thân, chữ Quyền biến hóa cách cục theo nhiều khuynh hướng, bố cục hay nhất là có tính định đoạt, Quyền tinh hóa Sát, nếu hội Văn tinh lại ưa hình luật, hình pháp, binh nghiệp cách. Song song với ý nghĩa gặp họa về thương tích, cách cục trên tức Cự Kình Hình Linh Việt không có Quyền mang thêm ý nghĩa về bệnh tật, họa do bệnh tật thường thấy khi Sát cách tác họa. Rất nhiều mệnh tạo đang tuổi trẻ gặp bệnh tật đột ngột hoặc bệnh nan y. Ngay khi nhân mệnh khởi tạo tức bắt đầu thai sinh, ở nước ta có khoảng 18/1000 mệnh cách tử vong mỗi năm. Pakistan với dân số khoảng 200 triệu người với tỉ lệ 1/22. Trong một quốc gia với vận nước và xã hội tương đồng khởi hình tính chất chung của các cách cục từ thấp tới cao, Quốc Ấn là quốc gia, Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hội Quốc Ấn là tổ chức chính trị. Đất nước xung đột hoặc khó khăn như Triều Tiên, Syria rất sai khác về cuộc sống của người bình thường, người nghèo, cho tới tính chất thành tựu của các bố cục so với các quốc gia mạnh như Nhật Bản, Đài Loan,.. Đôi khi mệnh tạo gặp họa chỉ ngay do vận nhà. Việc người anh do tranh chấp đất đai dẫn tới truy sát gia đình em khiến 4 người chết là tai kiếp tập thể. Tử vi có thể luận được tác họa do nhân mệnh tạo, hình tù do Sát cách hình thành tác động, tuy nhiên khi luân mệnh tử tuyệt rất phức tạp do tính chất đồng bệnh tương lân, mệnh số có thể đang ở thời vận tốt đẹp chịu tai họa tập thể bởi nhân mệnh khác gặp bố cục tai kiếp. Đây là phần khuyết điểm của môn tử vi khi luận bố cục sinh tử, khi lập quẻ dịch tại thời điểm phát sinh dị tượng có thể chiêm đoán, tuy nhiên lá số tử vi xét đoán số mệnh từ khi thai sinh, luận về toàn cục cát hung thành bại và tư chất, bản tính của nhân mệnh rất huyền nghiệm, tuy nhiên thời khắc thay đổi tương tục, xã hội vận động dẫn tới có những ứng hợp tạo nên tai kiếp tuyệt khí, do giai đoạn phong kiến nhân định về số mệnh và thiên mệnh có một phần chính trị củng cố quyền lực, an dân dẫn tới tư tưởng có phần sai biệt với hiện nay. Tuy mệnh cách vận tốt có thể gặp tai họa do hoàn cảnh ứng hợp mang tới, tuy nhiên nếu hành vận hung họa, Sát Kỵ trùng phùng ắt là vận xấu, đại hung, có thể gặp họa sát thân không thể luận tốt đẹp. 





Sự tác động của hoàn cảnh có thể nằm ngoài dự đoán của lá số tử vi, tuy nhiên khi hành vận hung họa tức bản thể mệnh cách tạo tác ắt luận hung. Hiện nay một số nghiên cứu tử vi có phần chưa rõ về môn toán mệnh, luận giải từ lá số tử vi nguyên khởi từ khi sinh ra để xét luận về việc đương số có bao nhiêu điền sản, hoặc năm thành hôn phối,... trong tử vi có luận các tính chất của bố cục trên tuy nhiên thực tế sẽ mang tính dự đoán do các yếu tố tổ hợp hình thành, cũng cần khán hạn về hoàn cảnh thực tế. Bản chất của môn tử vi là toán mệnh, tức luận về cuộc đời, những tính cách, bản tính ứng hợp để thành bại, hoặc các bệnh tật bên trong, thời vận thành tựu hoặc đại vận gặp tai họa, về tình cảm gia đình, sơ lược về tình duyên, Tài Quan của mệnh tạo, hành vận cát hung,.... Cũng cách cục Cự Cơ cư Mão hội Kình Linh Kỵ Hình Quyền Việt, có mệnh tạo trở thành tướng lĩnh trong quân đội, có mệnh cách trở thành luật sư, có mệnh tạo theo con đường nghiên cứu học thuật huyền học, có mệnh cách kinh thương. Một bố cục phát sinh rất nhiều cách cục, cũng như một lá số có rất nhiều nhân mệnh thai sinh trong thời điểm đó, tuy nhiên mỗi lá số giống nhau sẽ ứng với các nghề nghiệp khác nhau tại mỗi đương số. Trong thời điểm chiến loạn, nếu mệnh cách Cự Cơ trên theo binh nghiệp ắt sẽ tử trận sớm, trong thời bình bố cục trên theo binh nghiệp sẽ phát danh lớn. Cũng vậy, theo hình luật sẽ thành cách lách luật để trở nên giàu có. Cũng như Tử Vi, có người trở nên đứng đầu một tổ chức, một quốc gia, có kẻ trở thành ăn mày, người dân bình thường. Số phận có một phần do mệnh lý, còn lại đa phần do mệnh tạo định đoạt. Lá số tử vi đắc Tài cách, nhân mệnh ắt sẽ phát phú, tuy nhiên có thực phát hay hoạch phát hoạch phá cần xét toàn cục diện và hoàn cảnh bên ngoài. 




Trong thế giới thay đổi, quốc gia thay đổi và xã hội thay đổi, việc từ kẻ đại phú trở về tay trắng hoặc kẻ có địa vị cao gặp tai họa hình tù đã trở nên thường gặp, cũng xã hội hiện tại các khuynh hướng làm giàu bất chính, hoặc chuẩn mực đạo đức cũng thay đổi. Tuy nhiên với người nghiên cứu tử vi, để bản thân thay đổi về cách nhìn tính chất hoặc cách an sao tuy đã qua nghiệm lý là rất khó. Việc luận tử vi, chỉ luận từng cung để đánh giá về Quan Lộc hoặc Tài Bạch, Phối Ngẫu, Điền Trạch, Nô Bộc, Thiên Di,... của nhân mệnh là khuyết thiếu rất lớn. Mọi mệnh cách đều lấy hành vận để luận, trong hành vận như nhập cung Phối, cách cục hình thành Vũ Phủ Lưỡng Lộc Tả Hữu là cách phát tài rất lớn, tuy nhân mệnh Tham Lang có Tài Bạch cung là Phá Quân chủ hao tán, nhập vận Vũ Phủ cũng là cách tích lũy, phát tài lớn. Đây là cách cục của một doanh nhân rất nổi tiếng của nước ta. Điểm chung của nhân mệnh này không phải xuất phát gia thế tốt, là không ngừng tìm kiếm cơ hội mới để thay đổi. Cũng vào giai đoạn cách đây 10 năm, rất nhiều nhân mệnh phát tài bởi điền sản, đất đai tăng mạnh, nhiều mệnh tạo trở thành đại phú hỏi người viết về phú và quý và phát triển bền vững. Sau quá trình phát triển cực thịnh là suy yếu một thời gian dài. Cũng giai đoạn hiện tại, đất đai tăng giá và có thể những nhân mệnh phát phú do điền sản cũng sẽ đối mắt với sự thăng trầm của thời vận. Sự thay đổi, thay thế, đào thải liên tục của lớp người thành và bại, lớp người thành công sau khi phá bại sớm bị thay thế, xã hội và cuộc sống vẫn tiếp diễn. 

Wednesday, February 13, 2019

Tiểu vận Kỷ Hợi mạn đàm tử vi




Mỗi tiểu vận qua chữ Suy Bệnh lại tới gần. Cổ nhân lưu lại hậu thế thực không chỉ những tri kiến thường về dịch lý, phong thủy, âm dương ngũ hành, còn cả quy luật của vạn vật không sai khác, quy luật chung của vũ trụ và tương quan sâu bên trong của phát triển, vấn đề trong hai chữ sinh và tử, nghiên cứu bản thể của toán mệnh, lý số, nhân duyên, nghiệm lý thực hư. Tài liệu về sau phổ biến không còn nhiều về tri kiến tiền nhân tác động tới tôn giáo, tư tưởng của Phương Đông sai khác với Phưng Tây. Thuật phong thủy chủ sắp xếp thế cục phù hợp với quá trình Sinh tới Vượng, phá bỏ thế Hưu Tù. Vật hanh thông thì phát triển, vật tắc thì phá bại. Cũng giống như khối u tại cơ thể, thể khí không lưu thông trăm bệnh sinh. Khí huyết lưu thông trăm bệnh đều diệt. Tuy nhiên trong thế cùng cực có nhiều trường hợp sai biệt, sinh dị, tốt là dị nhân có khả năng đặc biệt, khi xấu là bệnh nan y hiếm gặp. Khi vật bình hòa phát triển lưu thông ổn định thường khó đột phá. Luận về thực tốt phân làm hai loại phát triển và đột phá, để hoạch phát là giai đoạn cùng tắc biến, tức ở giai đoạn đánh đổ bĩ dẫn tới thái. Như việc tôi luyện than chì thành kim cương, áp lực đè nén và tập trung lớn, Hỏa dẫn động bất tán loạn, lại tụ là thể của hoạch phát. Trong đời người chỉ một cơ hội hoạch phát có thể thay đổi cả cuộc đời, tuy nhiên ta thường hau gặp cơ hội bệnh nan y nhiều hơn cơ hội thành công. Tất cả đều xét qua giai đoạn tích lũy, thường luận là khí tụ và khả năng chế hóa của mệnh tạo với khí hình. Tinh hoa phát tiết là khi khí hình đủ thời cơ tới bộc phát ra bên ngoài theo ý nghĩa tốt. Tinh hoa là tốt đẹp. Trái với phát bệnh, phát điên. Chữ khởi phát và mức độ để xét được mất thành bại. Ngay bệnh tật nan y không tự sinh, cần giai đoạn tích lũy ứ trệ, hoặc chịu tác động lớn từ bên ngoài và bên trong thay đổi đột ngột. Thể khí hội khiến tướng số hiện hữu bên ngoài. Mệnh cách nếu không hội quý cục ở Mệnh Vận phù hợp cần thiết gặp đại vận hoạch phát. Người luận tử vi đôi khi có cái nhìn thiên lệch về các tổ hợp. Các bố cục Tham Xương, Cự Đà, Kình Khốc đồng độ thường không được luận tốt đẹp trong các câu phú. Tuy nhiên tổ hợp sao trên rất quan trọng để đánh giá mức độ thành tựu do đều hàm chứa bố cục Sát đã chế ngự khi phối hợp với nhau. Cổ nhân luận phú tử vi, trong các câu phú thường thuộc trường hợp đặc biệt mang ý nghĩa phối dụng cách cục phức tạp, đời sau thường lấy kiến giải của tự thân giải đáp các câu phú dẫn tới có người kiến giải phần sai lệch về ý nghĩa các cách cục trong luận giải tử vi. 





Cũng Tử Vi hội Tam Không tuy nhiên phân định sai khác, không mang ý nghĩa vong mạng. Một số cách cục hoạch phát lớn, một số cách cục mạng vong là trường hợp dị biệt như ở trên đã luận về thế đột biến. Trong ngũ hành Kim, Thủy, Mộc, Hỏa, Thổ là và sinh khắc của ngũ hành biểu thị hai mặt thuận lợi và cản trở. Thuận là thái, Cản là bĩ. Thời cuộc là nơi xoay vòng của bĩ và thái. Một tổ chức hay một quốc gia có thể được thời kỳ thịnh trị ắt cũng phải suy vi. Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim là tương sinh. Vấn đề tương sinh không chỉ nằm ở tính sinh trưởng, mà gắn với sự biến đổi khi chịu tác động của phụ tá liên tục. Kim sinh Thủy cần Hỏa trợ. Với phần khắc kỵ cũng không nằm ngoài tính phối hợp. Hỏa khắc Kim có Thủy thành quý. Người thường đa phần ưa sinh bất ưa khắc, ưa thuận bất ưa nghịch, ưa cầu hạnh phúc, an nhàn thụ hưởng sâu dày tránh sự khổ cực, áp lực, lao tâm. Do đó dẫn tới mệnh tạo quý cách thường nghịch khuynh hướng chung. Do nghịch chuyển lại tú khí nên dẫn tới hòa hợp là mệnh quý. Vật tốt đẹp do hiếm gặp, thế cùng tắc biến là thế hiếm gặp. Bệnh nan y cũng vậy, nhưng mang ý nghĩa xấu. Thường người luận về sau lấy thể hình áp dụng với bốn mùa xuân hạ thu đông trong năm, lại lấy tiết khí ứng hợp nơi khí hậu đầy đủ để luận định. Khí xuân ứng Mộc vượng cây cối phát khởi mạnh. Khí hạ Hỏa vượng nhiệt sáng vật hoạt động mạnh. Khí thu tức Kim vượng ứng cây cối vạn vật chịu khắc phạt. Khí đông Thủy vượng trời đất lạnh lẽo. Thời tiết thuộc Xuân khí Mộc đương vượng, muôn vật sinh sôi khởi đầu là giai đoạn sang năm mới tức Tết Nguyên Đán. Tuy nhiên khí hậu hay phân tiết khí có sai biệt giữa các vị trí địa lý khác nhau. Ở vị trí của hai cực thuộc Thủy khí cực vượng, tiết khí sai biệt do ngũ hành thiên lệch. Hoặc các quốc gia thời gian mặt trời chiếu sáng dài nhiều ngày. Phân định thời gian trong một ngày là điểm quan trọng để định bát tự trong toán mệnh. 





Tại thời điểm quan trọng xét lịch tiết khí cổ nhân định tại vị trí của Lục Thập Hoa Giáp phối hợp từ 10 Thiên Can và 12 Địa Chi trong vị trí địa lý Trung Hoa và Việt Nam xác định về khởi định thời Mệnh ban đầu. Thời phong kiến thường dùng chu kỳ 60 liên tục ứng thêm niên hiệu của thời kỳ cai trị của vua. Trong Lục Thập Hoa Giáp lặp lại theo kỳ xác định một điểm thời gian đúng tức có thể xác định hoàn toàn tất cả những giai đoạn còn lại trong quá khứ hay về sau. Trong Âm Lịch thường gọi là lịch Âm Dương. Tại đây lưu ý về tháng Nhuận tức tháng trùng lặp về Can Chi của Nguyệt vận trong năm. Trong tử vi không xét tới Can Chi của Nguyệt lệnh. Lấy an cung Mệnh tức cung độ quan trọng nhất trên thiên bàn bởi số tháng sinh và giờ sinh. Tháng sinh quan trọng do ảnh hưởng tới cách an của Cục số và vòng Chính Tinh phối hợp các bàng tinh an theo Tháng. Như việc trong tháng 6 năm Đinh Dậu là tháng nhuận. Nếu trong khoảng giữa hai Đông chí chỉ có 12 điểm Sóc tương ứng với 12 tháng âm thì năm đó không có tháng nhuận. Còn nếu trong khoảng thời gian này có 13 điểm Sóc thì sẽ xuất hiện một tháng âm dư ra không tương ứng với trung khí nào và tháng đó sẽ là tháng nhuận. Điểm sóc và trung khí là gốc để tính tháng nhuận khi một năm hình thành 13 lần điểm sóc ứng có 13 tháng do mỗi năm xét âm lịch có thiếu một số ngày, ít hơn so với dương lịch chỉ thiếu khoảng hơn 5 giờ. Nếu năm có tháng nhuận chỉ có một tháng có trung khí thì đây là tháng nhuận. Tuy nhiên sẽ có năm nhuận nhiều tháng không có trung khí, lấy tháng ngay sau tháng Đông Chí tức tháng 11 là tháng nhuận. Xét trung khí ở trong một tháng Âm Lịch dùng tới vị trí hoàng đạo của Thái Dương tức mặt trời đi vào. Trong yếu tố tháng Nhuận xét trong tử vi như trên. Thực tế khi luận tử vi cũng không cần thiết nghiên cứu sâu về lịch tiết khí, tuy nhiên để thấy tiền nhiên nghiên cứu về thiên văn rất sâu rộng. Nếu sinh vào tháng 7 âm lịch năm Đinh Dậu tính vị trí Mệnh tạo như tháng 6. Vị trí an Mệnh tạo là mối tương quan giữa sự phát khởi một sinh mệnh tương ứng với dịch chuyển của thiên địa. Tức ở thời điểm tác động của Nhật Nguyệt tinh đẩu tới mệnh khí hình thành số mệnh bản tính. 




Do tính biến chuyển của thiên văn là liên tục dẫn tới sai biệt về vị trí địa lý với góc tọa độ ứng hợp và ngay mỗi khắc đều thụ khí sai biệt. Chưa bao gồm việc thể khí của thai tức từ di truyền phụ mẫu ứng hợp dụng cũng sai biệt. Đây là điểm các lá số tử vi gặp sai biệt. Cổ nhân lưu ý rõ về tính chất của khí hình là cái khác nhau của mỗi mệnh số. Vị trí địa lý tuy thiên lệch một quãng rất ngắn khi xét tọa độ lập cách cũng có sai lệch. May mắn khi định vị trí lập Mệnh cách cũng ở thế luân chuyển biến động như thiên văn. Như một vật được vật khác kéo theo cùng quỹ đạo dẫn tới không gặp thay đổi quá nhiều sai lệch lớn và có thể dự đoán. Trong chu trình sinh trưởng của mỗi nhân mệnh vẫn chịu tác động liên tục theo quy luật của các tinh đẩu và thứ tới là vòng Trường Sinh tức hành khí mạnh suy của vòng đời và hành khí tác động từ ban đầu tạo nên bản tính. Một số man thư luận sai lầm biểu kiến việc chỉ chịu tác động tại thời điểm thai sinh. Thực tế trong ngay hiện tại sức tác hóa của tinh đẩu vẫn tác động tới mệnh thể. Cũng như việc nếu sinh sống ban đầu ở vị trí địa cực lạnh ắt chịu ảnh hưởng trong tư tưởng từ Thủy vượng dẫn tới hình thành tính cách riêng biệt có thể dự đoán. Xã hội tại nơi vậy là tập hợp con người, tức chịu tác động như vậy. Định cách của khí hình là sự biến đổi trong nội tâm do sự sai biệt của môi trường xã hội từng vị trí nền văn minh đã có biến đổi. Tuy nhiên tư tưởng trong mỗi cá nhân xét chung vẫn không sai khác. Cũng do vậy Không cách tức ứng thể thoát được khỏi tác động của quy luật trên trong một giai đoạn là cách cục đứng đầu trong tử vi khi vô luận định. Càng về sau biến đổi xã hội đa dạng việc tiếp nhận và xét dụng ứng hợp như một cái cây sinh ra nhiều cành lớn và cành nhỏ mở rộng. Xã hội là tập hợp tư tưởng mỗi nhân mệnh, do đó mang tính chất đã chịu ảnh hưởng từ tinh đẩu của nhân mệnh. Do đó tử vi toán mệnh vẫn luận không sai khác tới hiện tại. Tuy nhiên một số trường hợp đặc biệt sẽ có dấu hiệu và khí hình rất khác thường. Như việc một hồ sen mọc lên nhưng bông hoa khác lạ, có thể rất tốt đẹp hoặc xấu. Khi chịu tác động gần như một làng ung thư ô nhiễm nguồn nước thì mệnh quý cách cũng vong mạng. 




Chiến tranh thế giới cũng khiến tử vi không thể dự đoán mệnh quý yểu đều vong mạng không sai biệt. Thể tú khí có ứng hợp cứu là cách an về Thiên Lương. Khi mệnh tạo gặp cách may mắn thì trước sự tác động của tai họa, tai kiếp như động đất đã hình thành thế thông linh, thoát một cách kỳ lạ thực tế sự vận động đã diễn ra từ trước, tiền nhân thường gọi nhân duyên sắp đặt. Trạng Trình nhìn thấu được một phần sự việc về thời lịch sử sau. Cổ nhân định về nhân quả, luân hồi như một vòng chịu ảnh hưởng tác động liên tục không thoát khỏi, tác động liên tục khi trời đất vạn vật còn tồn tại. Thực nhân mệnh là một vòng Trường Sinh, nếu định được Không cách thì ở giai đoạn Không thoát được trong chu kỳ Sinh Vượng Suy Tuyệt Không lặp lại. Còn thực bên ngoài chữ Tuyệt không tới sự mất hẳn, vẫn chịu tác động của bên ngoài tới chữ Không cũng chỉ là tạm thời không hoàn toàn. Như một quả cầu gần như kín bên trong chứa các vật đại diện thể tính luôn tác động lẫn nhau biến đổi dạng này tới dạng khác. Đây là vũ trụ đại đồng tiểu dị. Đại ngã và tiểu ngã trong nghiên cứu của Ấn Độ. Một phần khi nghiên cứu thực tại việc ngay bản thân nhân mệnh không nắm rõ, điều khiển toàn bộ thân thể, trí lực. Các trường hợp ngoại biệt không chỉ xác định ở bất tự chủ, tức cái tự ngã ở thân thể. Các bộ phận bên trong, thế giới thu nhỏ tồn tại của vật ký sinh. Cũng như vậy xuất hiện thần nhật nguyệt cai quản hai tinh tú, các thần khác. Sự vận động trong cơ thể vẫn theo quy luật, do tính không toàn vẹn của tự chủ. Trong tư tưởng bản thân nhân mệnh cũng không toàn vẹn tự chủ. Như việc kẻ bị tâm thần loạn động, kẻ gặp rối loạn đa tính cách thường gọi ma nhập. Hai thể tính không tự chủ dẫn tới bản thân nhân mệnh không tự chủ hoàn toàn, hoặc ngộ nhận là tự chủ. Trong trí tưởng hay ý niệm phân biệt do thể tính bên ngoài xã hội tạo ra, khởi phát do tham muốn. 





Nếu không có mặt trời tức Thái Dương ắt vạn vật cả nhân mệnh phát triển theo khuynh hướng khác. Sự sinh phát của xã hội do giai đoạn lịch sử tạo thành. Sự khai biến của vòng luân chuyển nhân quả cũng do hành thức tác khởi. Khi phân định dòng tư tưởng và thể xác đã phân định phát khởi về Mệnh và Thân. Với mối tương quan là nhân duyên, dẫn tới giai đoạn Không trong thể Sinh Vượng Tử Tuyệt Không, không trụ vững ở giai đoạn Không. Dẫn tới tiền nhân ra sức hướng dòng tư tưởng, tức phân tách Mệnh và Thân qua thiền định, hướng tới theo quá trình phát triển thiền định, phân rõ tâm thân để hướng tới thế đại ngã, nhất nguyên. Tuy nhiên thực tế sức thiền định có tác động khai phát do thức ấm tác dụng nghịch lại hành ấm, hay gọi là hành vi. Như việc trong quá trình phát triển, con người từ săn bắn hái quả thụ động về sau nhận thức cao tự gây trồng mang thế chủ động. Từ thế bị động của vật vô tri kiến thể Không, hướng tới thế chủ động tri kiến của Không dẫn tới sai biệt về thành tuy không sai khác về tính chất. 



Khi định cách cục phân phối hợp tính chất một lá số là sự tác động từ Mệnh Thân Vận và khí hình của mệnh tạo. Một mệnh tạo thai sinh là khởi nguồn của vòng Trường Sinh bắt đầu tại vị trí Thai. Tử vi bắt đầu khởi phát cung Mệnh từ lệnh Nguyệt Vận đi thuận từ Dần địa là khởi của Mộc, thứ tới nghịch tới giờ sinh là phép định tọa độ của bản thân so với Nhật Nguyệt và tinh hệ tác động. Tức dòng khí tác động tới ngay từ Thai sinh tới khi Tử Tuyệt. Do tính chất tác động suốt cuộc đời và các chu kỳ tác động của tinh đẩu tới Mệnh tạo rất mạnh nên tạo ra các tính cách và thói quen. Do đó thực tế trong tư tưởng trong cả cuộc đời từng sát na, giây phút luôn chịu tác động của hệ thiên văn gần đây. Nhật tức mặt trời không chỉ thể hiện thể hình tức chiếu ánh sáng, nhiệt độ khiến vạn vật tồn tại, Nhật còn biểu hiện ở thể khí tức tác động một dòng khí tới mỗi mệnh cách. Khởi giờ tháng năm sinh lập ra lá số tử vi hay tất cả các môn bát tự khác không ngoài nắm bắt chu trình của tinh hệ tác động tới mỗi nhân mệnh tạo ra và thời điểm gắn quy luật sẽ gắn Tinh đẩu ở dòng khí hình tới bản thân. Cũng như một chiếc xe chạy theo quỹ đạo trên đường đi cho trước trên bản đồ. Bản thân sinh mệnh khởi ở vị trí đầu, giữa hay một điểm cũng như xét ở giai đoạn bắt đầu tác khởi tới một vị trí của chiếc xe để nhận định sự biến động đưa ra dự đoán. Và khi bản thân thai sinh là khi bắt đầu một điểm trên bản đồ trên chuyến đi của nhân mệnh như ngồi lên chiếc xe và dự đoán chu kỳ tác động của tinh đẩu đã biết tới mệnh tạo. Trong dịch lý và xét khởi của Tử Vi Đông A phần định nguyên cách khí hình có xét rõ về tính dự đoán của toán mệnh và tinh đẩu khí tác động tới nhân mệnh như sự dịch chuyển quy luật ở trên. Do tính chất tác động theo quy luật dẫn hóa thành các tinh đầu hành vận qua trên lá số tử vi. Thường tiền nhân lấy việc trăng hút nước thủy triều là sức vô hình dạng khí tác động tới thủy khí ở biển hồ và nhân mệnh. Trong cuộc đời của nhân mệnh, luôn chịu tác động từng sát na, lại tính chất biến đổi có quy luật chu kỳ như thủy triều. Lấy một chính thể làm gốc tức ở thời gian Mệnh thai sinh nhập cung độ để dự đoán vận mệnh. Dụng trợ cách của Tử Vi Đông A thực tế dụng ở giai đoạn hóa hiện khi thể tác động tới tư tưởng mà thay đổi tư tưởng dẫn tới thể tính thay đổi. Như việc một cái cây phát triển theo hướng mặt trời, đặt ở nơi khác sẽ xoay theo khuynh hướng vậy. Thế phong thủy lấy cái bên ngoài tuy không mạnh nhưng ở gần thay đổi tư tưởng bố cục của phương vị xét. 

Thursday, August 16, 2018

Tính chất cách cục ứng thành tựu



Từng cách cục dẫn tới khuynh hướng thành tựu khác nhau. Luận riêng rẽ và luận toàn tổ hợp nhóm giao hội khác nhau. Từng nhóm sao mang ý nghĩa khác nhau về đặc trưng. Mỗi người đều có tất cả các đặc tính của toàn bộ tinh đẩu. Với tinh đẩu nhập Mệnh là bản mệnh hướng mạnh, tụ hội với tính chất của tinh đẩu hình thành tính cách bản thể. Lưu ý cách cục mệnh là bản tính, không phải toàn tư tưởng. Mệnh tạo có Tuế Hổ Phù không phải luôn nói sự thực. Mệnh tạo có Hư Mã Tang không phải luôn nói lời xã giao, giả dối. Trong tính cách của mỗi mệnh tạo hàm chứa toàn bộ cách cục trên lá số. Người luận tử vi thường nhìn vào bố cục mệnh cách đánh giá về tính cách, bản tính tốt xấu của mệnh tạo dẫn tới sai lầm khi luận giải về sau. Lưu ý về Bản tính, tính cách và lý tưởng khác nhau. Bản tính chủ hình thành có tính vô căn. Tính cách là thể động, thay đổi biến động theo vận. Lý tưởng chủ đường lối của mệnh tạo hướng tới. Lý tưởng, hoạt động đã thành hành động, thành kết quả, do đó có giá trị so với suy nghĩ trong nội tâm. Bản thân có tồn tại thì có tham muốn, sinh ra vị kỷ. Bản thân khi ngũ hành còn hợp hóa thì nhân mệnh còn, ngũ hành tan rã thì tuyệt mạng. Bố cục ngũ hành tan rã khi một hành khắc chế quá lớn khiến vòng tương sinh không cân bằng. Cũng do tính bất ổn vậy nên mệnh cách thành tựu lớn cũng thường thiên lệch về ngũ hành tương sinh, tương khắc. Như Hỏa lấn át thì Kim suy. Mệnh tạo khởi Kim thì gặp hung hiểm. Sự ổn định không tạo nên đột phá. Lại Kim được cứu giải bởi Thổ sinh thành bổ cứu rất quý. Sự thiên lệch của ngũ hành sinh khắc khiến mệnh tạo biến động mạnh trong cuộc sống. Tính cách hay bản tính có thể quy về ngũ hành, vạn vật cũng vậy. Vật cùng tắc biến, hay vật cực tất phản là biến hóa căn bản của dịch lý. 




Thể dụng của chế hóa tử vi bởi lý quy luật căn bản của vạn vật, không phải thứ kỳ bí, hữu thần. Một dân tộc khi bị xiềng xích phải đứng lên đấu tranh. Một kẻ bị áp bức sẽ đứng lên phản kháng. Khi lâm vào thế cùng thì vật phản kháng rất mạnh. Trong trợ cách chế hóa Sát tính tích lũy qua khó khăn, bế tắc trước khi tới thời điểm hoạch phát rất quan trọng. Trong quá trình dịch biến tạo áp lực, đè nén lớn tới bản thể, dẫn tới rối loạn, loạn động do Sát cách hoạt động mạnh bởi tính chất cơ bản. Một người thành tựu từ chữ không sẽ luôn có giai đoạn quyết định khó khăn. Trong trường hợp này kẻ liên tục bám nắm, lâm nguy không loạn, không sớm từ bỏ hoặc ra quyết định sai lầm thì thời cơ phá vỡ thế bế tắc, hoạch phát tới. Đây là điểm cát hóa khí hình của Sát cách. Hữu cách cục chế hóa Sát có hai mặt, là dao hai lưỡi bởi Sát tinh là tinh đẩu có sát tính, có tính chất tác họa, trực tiếp tới chữ Sát, được mất, đánh đổi, khi hội đủ cách cục liên quan tới tài, danh hay nặng hơn là tính mệnh. Lại mỗi mệnh tạo do bản tính, tính cách giao hội Sát cách mang tính dụng khác nhau. Bố cục này chỉ luận cho mệnh cách, tức vận số của bản thân khi xét lá số tử vi của mệnh tạo. Với vận làng tới vận nước, vận thiên hạ có sai khác. Với vận thiên hạ như bệnh dịch hạch tại Châu Âu. Ở vận làng có nơi gầm như cả làng tử mạng. Ở vận nước tức khu vực này tử mạng khoảng 1/3 dân số. Ở vận thiên hạ xét thế giới cứ 5 người có 1 người vong mạng. Dịch bệnh hầu hết xảy ra tại Châu Âu tác động chủ tới vận nước. Chỉ khoảng 4 năm chưa đầy nửa đại vận cũng gần một nửa dân số Châu Âu tử mạng. Vận nước trong nạn đói năm 1945 Ất Dậu. Tại Thái Bình có làng ngàn người chết chỉ còn vài người. Trong chưa đầy tiểu vận nạn đói khiến cả triệu người tử mạng, nhiều làng quá nửa dân số chết vì đói. Khi Sát cường vượng không thua kém trong thời vận chiến loạn. 




Những cách cục vậy, không phải tất cả đều có lá số tử vi hạn tam hình, sát kỵ giao hội. Cũng không phải do ứng hợp cách cục tuyệt khí hay do mệnh ác nên chịu quả báo như phú thường luận. Khí hình vận tác hóa của vận nước nặng nề, đều không nằm ngoài quy luật  nhân quả. Nguyên nhân do chính sách của Nhật, chính quyền Pháp. Luận tử vi phải rõ lý biến dịch bất biến của vạn vật. Trợ cách của Tử Vi Đông A là khởi từ mệnh tạo, trường hợp không gặp tai kiếp bởi vận nước, vận thiên hạ là ngoại tác. Thực tế là chỉ thay đổi trong tư tưởng dẫn hóa cách cục,  dụng trợ cách biến hóa bố cục mệnh cách. Như một kẻ có tài năng nhưng chưa bản thân chưa tận dụng, hoặc một kẻ có tai kiếp báo trước trên lá số cần phòng tránh ở nội sự việc trong chính lá số. Với ngoài lá số tức các vận khí lớn hơn tác động không mạnh trừ việc khí hình cường vượng ứng hợp. Lá số tử vi chỉ là một tờ giấy ghi cố định bố cục  mệnh thân vận, lập từ tứ trụ, cần khí vận ứng hợp thấu xuất ra ngoài nên phải thua vận làng, vận nước. Trợ cách dụng cũng không thể vượt qua, chỉ điều hòa cát hóa cách cục theo khuynh hướng hợp cách. Thời hiện nay, thời vận bình ổn các lá số đều có khuynh hướng luận theo khí hình tương ứng khí Sát không lớn, lá số tử vi vận hung họa tác động mạnh tới mệnh tạo. Ở thời vận làng, vận nước xấu, mệnh hạn tốt đẹp còn gặp họa lớn, nếu  trùng phùng Sát Kỵ dễ tuyệt mạng. Ở thời vận làng, vận nước bình ổn, mệnh hạn tức vận của bản mệnh, số mệnh trùng phùng Sát Kỵ cũng dễ gặp hung họa. Vận nước là bên ngoài tác động. Vận số mệnh là tự bên trong tác họa.





Một số định cách cơ bản khi luận quan trọng tuy nhiên do thường cố hữu nghiên cứu các sách tử vi do một người biên soạn chứa quan điểm của bản thân người luận dẫn tới định kiến sai khi luận giải lá số nên có điển tích người viết sử dụng lại tùy bài viết luận khác nhau. Cốt rõ được lý của luận tử vi. Trong luận cách cục định cách tương ứng. Sát Phá Tham là nhóm sao đánh đổi, có tính độc lập lớn, ưa đột phá, khám phá, chịu áp lực lớn do sức tác hóa của toàn cục. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là nhóm sao xây dựng, chủ đường lối đứng đầu trong bộ máy tổ chức. Cự Nhật là nhóm sao chủ lập trường, thái độ, ngôn ngữ. Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao hướng tới tinh thần, mối quan hệ tình cảm xã hội. Mỗi cách cục có tính chất khác nhau, thành cách khác nhau, tác họa cũng sai biệt, dụng Sát cách biến hóa tùy tính chất phù hợp. Thay đổi bản thân trước mới có thể thay đổi thiên hạ với tu thân đứng đầu. Với người trẻ khi gặp bế tắc lớn luôn là trước lúc thành tựu đột phá. Khi lắm kẻ bỏ cuộc, đầu hàng thì một số ít chịu áp lực tìm kiếm thời cơ vượt qua. Trong thiên hạ, cũng chỉ rất hiếm kẻ thành tựu lớn lưu danh. Cuộc đời như cõi mộng, thoắt đã tới gần tuổi trời cho,  thực công danh trước mắt trôi như nước. Người theo binh nghiệp thời loạn thường nhìn thấy rõ thế sự cuộc đời sinh tử phút chốc. Nếu có tham muốn lý tưởng theo đuổi là ý nghĩa của sao Tử Vi. Đây là chính tinh có tính chất rất quan trọng trên lá số cũng là tên của môn toán mệnh tử vi lý số. Thời phong kiến tiền nhân khuyên an phận thủ thường. Thời hiện nay nếu có tham muốn, lý tưởng lớn nhất định nên cố gắng thực hiện, nếu không gây hại đã là tốt, đóng góp được tới xã hội thì không nên do dự.