Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Tuesday, June 26, 2018

Vận may và số phận


Mệnh Thiên Cơ hay Cự Môn hóa Kỵ trong bố cục Cự Cơ Đồng chủ bế tắc. Ở đây thuộc can Đinh và can Mậu. Mệnh cách có cách Kỵ Diêu hoặc Kỵ Đà, mạnh hơn với Diêu Đà Kỵ. Khi tiểu vận nhập cung độ có bố cục Sát Phá Tham hay tại tổ hợp Cự Cơ Đồng có Hỏa Tồn nhập bản cung hoặc giao hội là cách cục mang tính chất âm ám rất lớn. Tiểu vận có chữ Mậu, Đinh. Nguyệt vận can trùng phùng vậy thì trong tháng hình thành Lưỡng Kỵ hợp Kỵ đây là cách cục gặp ám tinh tác họa rõ rệt bởi vận rủi. Như trong tiểu vận năm nay thuộc Mậu Tuất tức năm 2018. Nguyệt Vận thuộc tháng Mậu Ngọ. Mệnh cách có Thiên Cơ nhập mệnh trong bố cục Cự Cơ Đồng tức Thiên Cơ cư tại Mão Dậu, Tị Hợi, Sửu Mùi sinh năm Mậu. Mệnh cách sinh Giờ Sửu với Thiên Diêu nhập mệnh. Hình thành cách Cơ Diêu Kỵ thì bản tính có Đào Hoa thuộc tham dục vọng, dâm tính mạnh. Đây là cách cục thuộc bản tính. Tới nguyệt vận như trên nếu đại vận tại bố cục Sát Phá Tham có Hỏa Tồn chủ nội tâm rối loạn lớn, gặp áp lực đè nén tới đầu óc. Cũng hình thành cách cục âm ám rất nặng. Nếu nhập vận Tham Hỏa Tồn do tiền tài mà mang họa. Nếu nhập Sát Hỏa do áp lực đè nén bản thân. Nếu mệnh Cự Môn luận với can Đinh trường hợp đồng độ với Thiên Cơ tại Mão Dậu tính chất tác động lớn như vậy. Thiên Cơ ở đây nhập Mệnh chủ bản tính, cũng chủ cơ hội, thời cơ. Khi chịu tác động lớn của Kỵ đặc biệt Lưu Kỵ phùng Kỵ có tác động rất mạnh. Đặc biệt nếu trong vận này với dụng Tài cách ưa kinh thương hay đầu cơ, may rủi thì dễ thất bại dẫn tới thất vọng bế tắc tuyệt mệnh. Tứ đổ tường cờ bạc hút sách. 




Trong các sao lưu kích động thì Hóa Kỵ tác động mạnh tới cách cục. Đặc biệt Lưu Kỵ gặp bố cục Sát tại mệnh vận. Với bố cục này người viết nhớ tới lá số của người cháu họ, nam mệnh cách cục Thiên Cơ cư Tị. Cách cục tuyệt mạng khi nhập vận Sát Phá Tham. Mệnh cách Cơ Tang Kỵ Diêu tại bản cung, giao hội Kình Linh Việt thuộc cách cục Cự Cơ Đồng với Thiên Cơ cư Tị. Tinh hệ trên thiên bàn có Tử Vi độc tọa cư Ngọ. Nam mệnh tính cách lễ phép, diện tướng thư sinh ứng hợp hoàn toàn Thiên Cơ. Mệnh tạo thuở nhỏ gia đình bất hòa, khó khăn, thường gặp nhiều nghịch cảnh về gia đình và cuộc sống. Mệnh cách Cự Cơ Đồng giao hội Kỵ Hình Tang Hư Mã đặc biệt với Cơ Tang đồng độ thì gia đình bất hòa. Thiên Cơ có Kỵ Diêu Tang trong nội tâm suy nghĩ có phần khác với người bình thường. Trong tư tưởng thường tự tồn tại mâu thuẫn, trường hợp nam mệnh xuất hiện chữ ám, từ nhỏ thường nghe thấy tiếng nói xui khiến trong đầu. Nhập vận Tham Hỏa đồng độ giao hội Tồn Phá Không Triệt Đào Hồng. Trong đại vận này nam mệnh xuất hiện tham muốn phát phú rất mạnh, Tham Hỏa Tồn với mệnh Cơ Diêu Kỵ Kình trong đầu óc chỉ suy nghĩ tới việc làm giàu, cả phi pháp, đương số theo đường cờ bạc. Khi lưu Lộc nhập vận thành cách Tham Hỏa ngộ Lưỡng Lộc có Không Triệt bất ngờ được thắng tiền theo cờ bạc. Lưu Kỵ về cung Mệnh hợp Kỵ nguyên thủy hình thành cách cục Cơ ngộ Lưỡng Kỵ Hình Linh Việt. Đương số gặp khá may trong đỏ đen nhưng gặp bế tắc lớn trong sự nghiệp bên ngoài. Nhập đại tiểu vận trùng phùng Sát Kỵ, trong đại tiểu vận Sát Phá Tham có lưu Kỵ vay nợ tin vào thành công khi dự đoán theo cờ bạc mà thất bại nợ lớn, hình thành cách cục áp lực lớn. 




Sát Hỏa Tồn dẫn tới tuyệt mệnh do " Hạn chí đầu đà". Cơ Kỵ Việt Khoa tạo cách cục thời cơ thời vận khi ứng hợp vận Tham Hỏa Lưỡng Lộc giao hội Không Triệt. Tuy nhiên tại đây cũng hình thành bố cục đại tiểu vận hóa Sát do Phá Hỏa Tồn tối kỵ với mệnh Cơ Kỵ Hình Kình Việt chủ không thể phá bỏ thay đổi thế bế tc, hình thành cách cục áp lực lớn mà trầm ải, Sát cách tác họa tai kiếp khó thoát với Cơ nhập Sát Hỏa Tồn là cách cục rất xấu với mệnh Thiên Cơ tác động lớn tới đầu óc. Bố cục Sát xoay vần chủ khách do khả năn tác hóa chế hóa Sát. Khi bố cục tác họa thì hoạch phá bế tắc. Khi bố cục thành tựu dụng Sát chủ hoạch phát tài danh. Chữ bất động biến động là tính chất chủ yếu của bố cục Sát. Do thay đổi linh hoạt nên Sát cách đắc dụng. Tử Vi Đông A luận mệnh rất trọng lý sinh tử. Khi đại họa tới thì Sát các nhập hóa tác họa lớn nhất, bố cục Sát phối hợp cách gây tuyệt mạng do Sát. Luận nguy khốn sinh tử cũng là việc quan trọng trong luận tử vi. Tuyệt mệnh tử vong bởi nhiều nhân duyên như bệnh tật, tai nạn,  tự ải,... tạo bởi các bố cục Sát Kỵ đa phần. Do đó Sát cách đặc biệt Hóa Kỵ là con dao hai lưỡi, mang tính Sát vượng, cũng mang tính thành tựu khác biệt. Mệnh có Thiên Cơ cuộc đời là duyên phận, thời thế, bản tính luôn hướng tới cơ hội, thời cơ. Do đó bố cục này tính toán lợi ích dễ bị đánh giá thấp nếu mệnh cách tần thường. Trời đất có thịnh suy, con người có thời vận. Sao Thiên Cơ nhập mệnh là chữ thời vận gắn với số phận mệnh tạo. Trong thời vận xuất hiện thường tạo ra khi khai thông bế tắc. Bố cục Cự Đồng Cơ là thế bế tắc. Cơ Nguyệt Đồng Lương là thế bình ổn. Mệnh cách thành tựu hoạch phát thường bởi cách Cự Cơ Đồng hóa Sát cách thành tựu. Nắm được thời vận là yếu tố thành tựu của mỗi mệnh tạo. 

Thursday, June 14, 2018

Luận tử vi mệnh cách ứng hợp

Trăm mệnh Cự Kỵ Hình đều là cách hình tướng khẩu lệch, tướng mệnh méo. Cách Cự Môn hóa Kỵ ở can Đinh nhập mệnh. Người nghiên cứu tử vi có thời gian nghiệm lý thì biết được Thiên Hình an theo cách khác với lệnh tháng là theo giờ sinh. Với mệnh tạo sinh giờ Sửu sao này an tại Tài cung. Sinh giờ Tị thì an tại Mệnh. Sinh giờ Dậu an tại Quan cung. Ba giờ sinh này có thể định cách sao Thiên Hình trong bộ Hình Diêu tác động mạnh tới mệnh cách. Do đó thường người viết định lá số chưa xác định thời gian lệch nhiều canh giờ hay khán hạn định số thường dùng các bộ sao an theo Giờ tác động tới tính cách để phối hợp đinh số. Mệnh tạo nếu có Cự Môn thuộc can Đinh, sinh giờ Tị Dậu Sửu trăm mệnh cả trăm đều có tướng trạng như vậy. Đây là nội cách bởi bản tính. Các bố cục Sát thường tác động quyết định mạnh tới bản tính. Tử vi diệu dụng ở định cách nội tâm. Khi chịu tác động bên ngoài xã hội, các bố cục như Cự Kỵ Hình bắt đầu ứng hợp và tác hóa phối hợp khí hình sinh ra biến hóa sai biệt với bên ngoài. Với bố cục này, mệnh tạo theo khuynh hướng hình pháp thì đắc dụng, theo khuynh hướng Quan Cách thì có họa do khẩu nghiệp. Sự biến hóa do chủ ý hay vô ý dẫn hóa bởi hoàn cảnh thực tế bên ngoài dẫn tới kết quả khác nhau, trong nội tâm tướng, bố cục ý nghĩa cơ bản vẫn không đổi. Cũng vậy nếu mệnh tạo gặp cách cục Cơ Kỵ Kình Hỏa Kiếp đồng độ trăm mệnh tất cả đều có vấn đề về đầu não, tư tưởng. Đây là cách cục ý nghĩa cơ bản của Thiên Cơ giao hội Sát cách lấy Hỏa làm nòng cốt. Thường là cách cục tâm ý cuồng loạn, luận rất nhiều lá số cách cục này mệnh tạo tâm thần bất ổn, có bệnh về dạng này, sát ý lớn có thể gây ra những hành vi tội ác. Trăm mệnh cách cục này đều luận vậy. Cũng với bố cục Tướng ngộ Đào Hồng Xương Khôi hay Tướng Phượng Khôi Khúc bản cung nhan sắc đều tốt đẹp. Trăm mệnh cách đều luận vậy. 



Khi biến hóa ứng hợp bên ngoài theo hoàn cảnh. Có mệnh tạo tạo tai họa hình pháp, có mệnh tạo cuồng loạn, có mệnh tạo dụng được bố cục Sát vượng tuy mưu tính nhưng thành tựu lớn. Cổ nhân luận toán mệnh chính tông nhắc tới trợ cách. Tuy nhiên an định cục diện xã hội không lưu truyền ngoài. Tử vi đông a luận cách cục lấy trợ cách là
Cũng vậy như cách Cự Kỵ Hình hay Cơ Kỵ Hình Hỏa Kiếp, hay cách Cơ Khốc Kỵ chủ bệnh tật về phế tức phổi là cách cục chắc chắn mang kết quả như vậy. Trong tử vi hình thành các bố cục trọng điểm tạo tai kiếp tuyệt mạng khi ứng hợp với hoàn cảnh bên ngoài thực, cũng có cách cục hoạch phát tài danh với các hoàn cảnh khác nhau bên ngoài hay khí hình. Hoàn cảnh bên ngoài tức thực tế, trên lá số tử vi chỉ là bố cục là Khí, hoàn cảnh thực tế là Hình. Ứng hợp là Khí Hình. Tử vi đông a dụng trợ cách là dụng bởi Khí Hình. Hình tác động để dẫn hóa Khí mang ý nghĩa ngoài thực tế của cách cục. Do vậy khi Hình tức hoàn cảnh bên ngoài như vận nước gặp chiến loạn thì dẫn các cách cục của tổ hợp mang ý nghĩa hóa theo. Mệnh tạo các khuynh hướng thời bình khác nhau hay mệnh tốt, mệnh an ổn đều ứng hợp dẫn hóa nếu Hình suy tuyệt thì Khí không có điểm dẫn. Tới cách cục mạng vong mặc mệnh cách tốt. Ở thời chiến loạn biên giới phía Bắc năm 1979. Quân Trung Quốc sang xâm lược bất ngờ nước ta với vũ khí, sát thương, sát ý lớn chủ tiêu diệt, tạo thành Hình mang Sát khí cực vượng. Những người dân thường và bộ đội nhiều mệnh cách tốt xấu đều dẫn hóa bởi Hình khiến các bố cục biến hóa dẫn tới tuyệt mạng cả mệnh tốt xấu. Những mệnh cách xấu mang tổ hợp ứng hợp cách như có Kỵ Hình Linh Việt quyết định cách chắc chắn tuyệt khí. 




Ở vị trí và thời gian khác nhau Sát cách của Hình biến động khác nhau. Vạn vật luôn biến đổi là lý thực của trời đất. Với mệnh cách xấu Kỵ Hình Linh Việt ở Hà Nội thì chắc chắn không vong mạng với Hình vậy, tuy nhiên dễ chết ở thời điểm khác. Ở trong hoàn cảnh vậy, mệnh cách Sinh khí cực vượng sẽ thoát được tai kiếp này. Nếu mệnh cách bố cục Lương Sinh Việt Tồn bất giao lai Sát Kỵ thì tổ hợp hình thành trọng điểm cách mang ý nghĩa phát may, thoát tai kiếp ứng với Hình vậy có thể thoát nạn. Tuy nhiên nếu Hình cách tạo Sát bởi vũ khí sát thương lớn hủy diệt mạnh hơn như hạt nhân ở Nhật Bản thì bố cục cần cát hóa cực vượng. Nếu hình thành cách cục mệnh vận Đồng Lương Sinh Tồn Kỵ Khoa Việt là cách cục bất phạ tai ương, đa phần may mắn rời đi khỏi tai kiếp họa hoạn. Lấy thí như vậy để rõ hơn về Khí Hình. Vì vậy nếu mệnh vận khá tốt đẹp khi vận thiên hạ xấu vẫn phải gặp tai họa.  Với hoàn cảnh tai họa thì vòng Trường Sinh có khả năng tác hóa cát rất mạnh, cũng có khả năng chế hóa Sát tuy nhiên nhiều người luận tử vi thường không coi trọng vòng sao này coi để luận sức khỏe. Các bố cục tai kiếp đa phần dẫn tới tuyệt khí tới tuyệt mạng. Với cách cục bệnh tật nan y cũng vậy. Vòng Trường Sinh tác động lớn tới Sát cách ở điểm trên, có thể chế hóa Sát cách. Trong tử vi có các mệnh cách nhất định hoạch phát tài danh, đây là cách cục do tổ hợp sao hợp hóa mang ý nghĩa tốt, bất luận xuất thân hoàn cảnh ban đầu đều có thành tựu lớn. Tuy nhiên các bố cục này không thường gặp như phú luận và có phần sai biệt với thường luận, đa phần ở bàng tinh, Lục cát tức Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc với Lục sát gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp với Khoa Quyền Lộc và Kỵ Hình, ba vòng Lộc Tồn, Thái Tuế ( Phượng Khốc ) và Trường Sinh và quan trọng tại tính đồng độ của các sao khiến tính chất hóa hợp của các bố cục. Có mệnh thượng cách và hạ cách. Mệnh hạ cách không phải chỉ bởi Sát tinh trùng phùng, nhiều khi là bởi Khôi Việt Xương Khúc phối hợp sai cách dẫn tới mệnh ưa an nhàn, không có chí tiến thủ, vượt qua khó khăn bế tắc.