Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Wednesday, January 24, 2018

Tử vi với trận đấu hay vận nước



Ý chí và quyết tâm là quan trọng, nhưng chữ khát vọng là yếu tố quyết định để xác định thành tựu, vì khát vọng là biến hóa, là hành động hợp cùng tư tưởng. Nếu ý chí và quyết tâm có thể chưa thực hiện một cách mạnh mẽ như khát vọng. Việc này liên quan tới Sát. Trên lá số tử vi luôn tồn tại thế đối đầu giữa Tử Vi, Phá Quân và Cự Môn. Với Tử Vi là trách nhiệm, gây dựng khai sáng là sao đứng đầu trong khoa tử vi. Phá Quân là sự phá bỏ, xung đột đối đầu với đế tinh. Sức mạnh của Tử Vi nằm ở chữ chính, tình nghĩa, trách nhiệm và luôn bám nắm. Phá Quân giành được thế khi Cự Môn tác động tới Tử Vi, gây rối loạn trong nội bộ. Tất cả mọi vật nội phản tất loạn, hay chỉ là sự xung đột sẽ gây phá hoại. Phá Quân và Cự Môn hợp hóa và khi Tử Vi trở nên xấu thì bố cục bắt đầu tan rã. Người viết và đa phần người dân nước ta đều xem các trận bóng đá Việt Nam gần đây. Ở nước ta, việc làm nên kỳ tích do nỗ lực, sức quyết tâm, cùng hướng đích lại thể hiện qua các trận đấu gần đây. Qua các trận đấu hay trong chiến trận từ thời nhà Trần chống Nguyên Mông, việc chống quân Pháp Mỹ thu nhỏ như thế trận của tử vi. Phân địch ta là Tử Vi và thế Phá Quân và Cự Môn. Tất nhiên Phá Quân không phải là xấu, nhiều khi cần thiết sự phá bỏ những thứ lạc hậu, những tham lam, hư hỏng. Ở Phá Quân hay Tử Vi đều mạnh ở tính đồng lòng, cùng chung chí hướng. Và sự liên kết này gắn liền với bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật. Trong thời loạn, ngay khi chống các thứ quân xâm lược rất hùng mạnh nếu lý tưởng là chính, được quần chúng, tức có hộ ứng là tất thành. Nếu gặp phản cách, ngay trong thời bình, hay chỉ trong những việc nhỏ ắt bại. Tử vi đông a lấy cái dụng của tiền nhân, cái diệu dụng của mệnh lý để luận trợ cách chế hóa Sát. 



Ở đây Sát là nỗ lực, cũng là khó khăn, cản trở nặng nề. Khi Sát cách được chế hóa bất luận cách cục đều là mệnh quý. Do vậy nhiều kẻ học không rõ chữ, theo man thư an thêm các sao, luận lấy cát tinh làm trọng, bố cục Lục Sát, Kỵ Hình đều luận mệnh hung, khiến không giải thích được nhiều trường hợp, sáng tạo ra các thuyết mới, lại các trường hợp phản vi kỳ cách khiến tử vi ngày càng rối loạn. Đặc biệt là thay đổi vị trí của Kình Đà, Hỏa Linh, Không Kiếp luận sai cơ bản. Tử vi đông a từ thời Trần, lấy đạo dụng mệnh lý huyền học mà tạo nên thành tựu lớn, chế hóa được Không cách mà đánh bại cả đội quân hùng mạnh Nguyên Mông qua 3 lần tấn công, 3 đời vua. Sức mạnh của cách cục này không nằm ở bố cục cát tinh. Trong tử vi lưu rõ những dấu tích sử dụng mệnh lý chế hóa vận. Đứng đầu khi luận mệnh cần xét ở khí, tức mang tính dòng, không rối loạn, chuyển động mạnh. Hào khí đông a, khí mạnh như vũ bão,... ứng với Sát cách. Trên lá số tử vi ứng mỗi cách cục khí hình là gốc của sự phát triển. Các môn phong thủy, tướng số, mệnh lý đều luận lấy khí làm gốc. Từ khí vượng tụ mộ, khí vận trên tướng số,... tới tiết khí ngũ hành trong Tử Bình đều là gốc để luận biến hóa. Trong tử vi nếu không rõ khí hình thì luận ắt sai. Khí tuyệt thì mệnh vong, khí vượng ắt trường thọ. Vòng trường sinh là gốc của khí, do đó làm gốc của mệnh lý, lấy âm dương ngũ hành để phát triển. Trong trận bóng đá thì sức cổ vũ là ngoại cách tác động tăng nhuệ khí, trong chiến tranh lấy tư tưởng, văn chương như hịch khích lệ, âm nhạc, lời hiệu triệu như vạn binh mã. Những lời hịch đa phần mang tính Sát vượng, kẻ tội kẻ thù, bất công tức Cự Môn chúng mang lại, về phe tà tức Phá Quân gây ra, khí thế như câu " Đánh một trận sạch không kình ngạc, đánh hai trận tan tác chim muông" là lời nói mang tính uy lực tăng sĩ khí lớn. 



Trong cuộc sống mỗi người thì ngoại cách tác động lớn tới khí hình. Tuy nhiên về tham vọng,  lý tưởng của mỗi người trong nội cách là gốc để khí hình biến hóa. Trong nội cách tức chính bản thân, trong bản thể của mệnh cách tạo ra. Hai lá số giống nhau gốc khí hình khác nhau, biến hóa ứng hợp của bố cục sao như Tham ngộ Tam Không Sinh Kỵ Hỏa khác nhau, một bên mang ý nghĩa tham vọng không đáy, khí hình rất vượng, một bên mang ý nghĩa sự từ bỏ về tham muốn. Một chữ Tam Không có thể khiến kẻ này chết nhưng kẻ khác làm được việc không tưởng. Như mệnh cách của tướng quân thời này bố cục trên có thể tạo nên võ cách uy chấn. Tuy nhiên với lá số như vậy thời bình lại yểu mạng. Một mệnh khác theo nghiệp kinh thương hoạch phát phú cách rất lớn. Tử vi đông a hướng tới trợ cách chế hóa mệnh tạo do đó trước đây không phổ biến ra ngoài tránh gây rối loạn, chỉ truyền ra ngoài tử vi đẩu số lấy cát tinh làm trọng, luận lục cát hay bố cục chính tinh vượng làm mệnh cát. Thực chất bố cục Sát Kỵ thường mang hai mặt, khi biểu hiện khuynh hướng cái là tính phản, gây tai họa cho xã hội. Thực tế ngoài cuộc sống ta vẫn gặp trường hợp kẻ ác, bóc lột vẫn sống thành tựu, tất nhiên sẽ gặp phản cách tuy nhiên nhiều trường hợp về sau già chết nên không rõ tội phúc. Trong bố cục Sát thì bố cục chế hóa Không cách là mang tính chất mạnh nhất. Bố cục này được dụng từ Triệt Không, Tuần Không và Thiên Không ( Địa Không theo nhiều sách). Sức mạnh của Không cách mạnh ở chữ bất. Đa phần các thành tựu rất lớn, hoạch phát ở chữ bất ngờ, bất thường. Thứ đến là trường hợp mang tính trường tồn, do nằm ngoài vòng Trường Sinh nên bố cục Không có tính chất biến hóa rất mạnh, bất diệt, sống mãi. Do bố cục Sát cách này là bố cục Sát nặng, mang tính chất Không nhưng gắn với chữ Vong là Tuần Trung Không Vong, Triệt Lộ Không Vong và Thiên Không Không Vong, tức mất, trường hợp xấu nhất là mất mạng, vong mạng, cái hay ta thường gặp là biến không thành có, biến không thể thành có thể nằm trong chữ bất thường của Không cách. 



Cái danh trường tồn, hào khí đông a chính là một chữ Không lớn. Nơi tử vi đông a phát khởi, nơi Không cách được dụng bởi Phật Giáo mở rộng tới toàn thể, bản thân của ba vị vua Trần tức Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông đều là thiền sư. Khi vận nước vượng thì trăm họa tự lui, phát phúc, khi vận nước suy trăm họa tự tới. Sát cường mệnh vượng tắc phát bất nghi, Sát cường mệnh suy ắt lụi bại. Lộc Tồn là trường tồn, cần thiết trong bố cục mệnh tốt do nắm vòng Lộc Tướng Ấn, là vị trí Lâm Quan trong vòng Trường Sinh theo Thiên Can, vượng tiến khí, không ở vị trí cực vượng như Đế Vượng rồi Suy. Quốc Ấn mang tính quốc gia, tổ chức. Lộc Tồn mang tính ổn định, cố giữ cần thiết để cát hóa bố cục Sát, khi cát là quyết tâm nỗ lực, khi hung là tai họa tồn tại không dứt. Một trận bóng luôn có yếu tố của thời vận, tức thời cơ. Nếu kiên trì trong định hướng sai lầm là mù quáng. Như trường hợp đào hố tự chôn bản thân. Bản chất của dụng Sát tùy bố cục. Vạn vật biến hóa đều trải qua thịnh suy, giữ cố chấp là diệt, biến hóa ứng hợp là cửa của sinh. Do sinh diệt tương tục nên thay đổi cũng liên tục rõ lý hợp tình. Sát cách phải động, nếu cách cục bế tắc là Tuyệt, nếu có cứu giải là Tuyệt xứ phùng sinh, bố cục này bạo phát lớn. Kẻ thành tựu lớn rất rõ việc khó khăn, thay đổi, tìm ra giải pháp lại gặp khó khăn lớn hơn, khí hình càng vượng. Tới ngay công ty, tổ chức lớn, hay thậm chí quốc gia tưởng như trường tồn vẫn phải suy và diệt. Dịch lý chữ Bĩ khi động hết thời thành Thái, xoay vần liên tục. Từ quy mô nhỏ tới lớn , lớn như quốc gia cũng sẽ được định hướng bởi hai phần, nhà nước chủ hoạt động, đảng chủ tư tưởng như Mệnh và Thân. Cái Nhỏ là bản thân mỗi người cũng ứng hợp với các cách như vậy,  cái tư tưởng của bản thân thường khó điều phục, rõ biết việc bình tĩnh trước mọi việc là cách thức của thành tựu tuy nhiên đa phần người thấy cơ hội sẽ khó quan sát được toàn cục. Phần còn lại là hoạt động, như lý trí suy nghĩ và hành động. Tách rời nhưng gắn kết, Mệnh và Thân tương tự như vậy. 




Bố cục của tử vi để đánh phá mệnh cách cũng như cục diện một trận chiến hay trận đấu là thế của Tử, Phá, Cự. Mệnh cách có ba sao này thủ mệnh ưa đứng đầu, lý tưởng sống làm đầu. Tổ chức như một khối thống nhất là Tử Vi sẽ tan rã ở các cách. Thứ nhất nội phản, ngoại ứng. Thứ hai phòng bị nhiều hướng, nhiều mục tiêu dẫn tới rối loạn. Đây là hai cách phản của Cự Môn, tức trong nội cách. Thứ đến gặp chia cắt, đánh phá bên ngoài là cách của Phá Quân. Do đó Cự Môn nằm lục hội với Tử Vi, tức lục hại. Phá Quân phân hai trường hợp, bên ngoài chưa xâm phạm thuộc cách Tử Vũ Liêm giao hội Phủ Tướng thành cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, đối xung Sát Phá Tham, Cự Môn giao hội Cơ Đồng, chưa tiến khí. Trường hợp thứ hai Phá Quân xâm phạm với Tử Vi tác động bên trong khi đó Cự Nhật hình thành ứng hợp chủ công khai phản đối, cách cục này rối loạn, xung đột lớn. Những trận chiến, trận đấu với ý nghĩa sao ứng hợp khác, cũng bố cục như vậy mô tả chính nội tâm mỗi người. Xét lớn mang ý nghĩa tổ chức, đoàn thể , xét nhỏ cách cục trên là chính là bản thân nội tâm, tư tưởng mỗi người. Do đó người luận tử vi đa phần thấy mệnh cách trong bố cục Sát Phá Tham giao hội Tử Vũ Liêm thường mệnh cách gặp nhiều khó khăn, bế tắc, mâu thuẫn nội tâm, bất ổn là do vậy. Bố cục của lá số Tử Vi là bố cục ứng hợp với mỗi cá nhân, do mỗi người đều có một lá số nên cũng ứng với toàn xã hội. Trận bóng đá hay trận chiến cũng có thể mô tả bởi bố cục tử vi. Điều hay là những thứ như vô tri cũng có số mệnh của chúng, âm dương ngũ hành bao trùm vạn vật, do đó vạn vật có thể biểu diễn, dự đoán được biến động vượng suy. Khởi tạo là sinh, ắt phải trải qua diệt. 

Monday, January 22, 2018

Mệnh cách VCD nội Cự Nhật, ngoại Đồng Âm



Nam mệnh ngũ hành Kim, mệnh cách thuộc vô chính diệu với nội cách là Cự Nhật đồng độ tại Dần và ngoại cách là Đồng Âm cư Tí tại đối cung. Ở nội cách tức nội lực bản thể của mệnh, nhưng khả năng tư chất của bên trong. Cự Nhật cách ngộ Tuần Phi Kiếp Liêm. Cách cục tổ hợp Cự Nhật giao hội với nhóm Tuế Hổ Phù và cách cục Thanh Phi Phục là bố cục khá phù hợp với Cự Nhật cách. Tuy nhiên vị trí của Thanh Long bất hợp, vị trí cần ở tại cung độ Cự Nhật hóa Cự Môn thành Quyền, chủ linh hoạt không gặp. Cự Nhật may được Hóa Lộc lại có Phi Liêm chủ thị phi, cách cục VCD có bản cung Bạch Hổ và Phục Binh là cách cục Binh Hổ chủ lời nói có phần thể hiện quan điểm, khả năng hùng biện, diễn đạt tốt. Sao Bạch Hổ và Phục Binh đồng cung khá hợp cách, điểm mạnh là đương số có sự cương quyết, táo bạo khi hành động, các chủ trương và lập luận quan điểm tốt. Cung độ Thanh Long ngộ Thái Tuế hình thành cách cục làm thầy, truyền đạt các kiến thức, chuyên môn là Cự Môn tới người khác, tuy nhiên bố cục này không dụng được thực cách của mệnh tạo. Cách cục Cự Nhật có Không Kiếp tại Dần Thân là sát cách, Cự Môn và Thái Dương có thể dụng được Không Kiếp hóa Kiếp thành sự khác lạ, vượt qua khuôn khổ, trái truyền thống. Cung độ VCD là bản cung mệnh qua đó ngộ Tam Không có Hóa Lộc và Hổ Binh tại bản cung là cách cục mạnh, thuộc cách Vô Chính Diệu kiến Nhị Không.



Ở đây may mắn khi Cự Nhật gặp Tuần Triệt là nội tâm ổn định. Lưu ý mệnh cách VCD nội cách ngộ Triệt Tuần có Cự Nhật thì có thể phòng tránh tốt trước những việc không ngờ tới trong cuộc sống, bố cục này may mắn khá ổn định, điểm tốt là Cự Môn  được cát hóa bằng Sát cách. Cự Nhật ngộ Kiếp Không bất kiến Sát Kỵ giao hội là cách cục khá tốt. Sát cách hóa thành Quyền tuy nhiên không mấy toàn vẹn do trợ tinh không mạnh, đương số khi Không Kiếp tác họa do đại tiểu vận bố cục ổn định biến thành do tham muốn nhanh chóng mà gây ra thất bại. Ở đây Cự Môn là miệng lưỡi, lời nói, là chuyên môn, điền sản, sự phản đối, đứng lên là tính chất được cát hóa. Đặc biệt với Cự Môn phản đối và khai sáng rất vượng, đương số nếu khí hình mạnh tự kinh thương, gây dựng sự nghiệp, tự đứng đầu khai sáng tuy gặp hoạch phát, hoạch phá nhưng thành tựu khi qua khó khăn rất lớn. Một biến cố do quá khứ bất dụng đúng trợ cách và do khí hình mà mệnh tạo theo Tài Cách khai phá vào thời điểm vận xấu và khuynh hướng nỗ lực không lớn nên gặp thất bại khiến khí hình trở thành suy. Nội cách Cự Nhật ở đây thuộc cách cục phẩm chất tốt, hướng vào khả năng làm chủ tình huống, tính chất khám phá, đi sâu vào vấn đề tốt nhưng điểm yếu của bố cục này là sự giữ vững tâm lý khi gặp bất ngờ do cách cục Tam Không gặp Cự Môn thành lo âu.



Bố cục nội cách cần lấy sức nỗ lực và nắm giữ, giữ vững ý chí tìm hướng thay đổi, phản ứng là trợ cách. Do Cự Môn luôn cùng trợ lực với Phá Quân và Tử Vi xung đột với Cự Phá là toàn bộ bố cục của các sao đứng đầu và khai mở các sự việc ban đầu trong tử vi. Do đó Cự tốt khi Phá Quân giỏi phá cũ đổi mới tốt, cũng do Phá Quân chủ giữ vững đường lối tuy nhiên luôn thay đổi để phù hợp. Khác với sao Tử Vi chủ sự ổn định với đường lối. Cách cục Cự Nhật đầy đủ khi Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh và Sát Phá Tham đang xung đột với Tử Vũ Liêm do lý tưởng mâu thuẫn giữ xây dựng và phá bỏ, thay đổi và ổn định. Cự Môn tại đây mang ý nghĩa khai sáng, dẫn đầu thì phù hợp do trong thời cảnh Phá Quân và Tử Vi xung đột lớn, cơ hội của Cự Môn xuất hiện do phản đối với Tử Vi, và Cự Nhật cách là phản đối cách, chủ đứng lên can gián, phản đối như thời phong kiến theo Quan Cách. Cự Nhật theo Quan Cách thường theo nghề nghiệp liên quan tới ngôn luận, các tổ chức ngoại giao. Với Cự Môn ở đây do cách cục là Cự Phi Lộc theo Quan Cách có thị phi. Cự Môn cũng chủ sự tài năng, am hiểu cặn kẽ do luôn bất mãn và tự vấn trước các kiến thức và tình hình thực tế. Tuy nhiên bố cục này là cách cục Cự Tồn hay trong nhóm Cự Cơ Đồng. Với cách Cự Nhật ngộ Thanh Long chủ danh, cách cục Thanh Tuế có thể theo ngành tư pháp, tư vấn, từ lời nói sinh ra tài lộc. Cự Nhật nội cách tại đây hợp với Tài Cách kinh thương hoặc theo nghiệp tư vấn, môi giới sử dụng ngôn ngữ phù hợp, với Quan Cách thực chất đương số do có khả năng linh hoạt, thay đổi tốt và Thanh Long ở đây khá tốt đẹp nên Cự Nhật quan phong tam đại là bố cục khi Cự Nhật đắc cách. Ở đây tuy thăng trầm do Không Kiếp và bố cục trợ tinh không mạnh nhưng về thành tựu cũng không xấu. Tuy nhiên vòng đại vận ở đây khiến quan cách chỉ trở nên tốt đẹp khi mệnh tạo tầm trung niên.


 VCD ở đây ngoại cách là Đồng Âm cư Tí ngộ Khoa Tang Phượng Linh Kỵ, trong bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn Không là bố cục mang ý nghĩa tai họa nhiều hơn may mắn với cách Mã Khốc Khách Tồn Tuyệt là bế tắc, chuyển động nhưng khó thoát khỏi bế tắc, tính động mạnh. Điều quan trọng là cung Thiên Di tại ngoại cách tuy nhiên cung an THÂN an tại cung này, cung an THÂN là sự tác động liên quan tới hành động, chủ sự ý thức khi tiềm thức, tính cách ban đầu của Mệnh chủ xây dựng lớn dần. Cung an THÂN gắn liền với cái nghiệp, cái bản thân và thân phận của nam mệnh. Cung an THÂN tại Đồng Âm với bố cục Sát tinh hội họp gồm Hỏa Linh Hình Kỵ Tồn thì hành động thường mang tính bộc phát, đi liền với tai họa. Về mặt tình cảm hay về việc gắn liền với ra ngoài thường không gặp yên ổn, đặc biệt với cung an THÂN tại Thiên Di hội họp cách Mã Tuyệt Hình Kỵ Hỏa Linh là cách cục càng chuyển động càng mắc lưới, chỉ xét bố cục Mã Hình Kỵ Tuyệt đã là cách cục xấu. Với nội cách là Cự Nhật khi tới vận này càng mang nhiều mâu thuẫn, sự khó khăn chật vật do hình thành hai cách cục bất lợi cho nhóm Cự Nhật không có Thanh Long là Cự Kỵ và Cự Tồn Kiếp. Cũng bất ổn với mệnh Vô Chính Diệu. Chữ chuyển động, nỗ lực khi gặp nghịch cảnh cần rất lớn tuy nhiên cũng không có được kết quả tốt đẹp.


Sao Thiên Mã trong nhóm Tang Mã Khách là nghị lực vượt qua nghịch cảnh nhưng ở đây là cách cục Hình Kỵ Tuyệt đương số thường gây thái quá, tính chất ổn định không có nhiều. Do đó mệnh cách cần thiết ổn định và thời cơ. Thiên Mã là lao động, mệnh cách hướng tới vạch đường lối rõ ràng sẽ tránh được khó khăn gặp phải. Một sao Phượng Các đi với Đồng Âm, sự nhất trí đồng lòng được giúp đỡ là quan trọng để hành động, thực hiện các quyết định. Lưu ý đương số nên tránh tự động sẽ tự tạo khổ cực cho bản thân, làm việc cùng chung sẽ mang ý nghĩa tốt đẹp hơn. Tài cách ở đây trục Tài Phúc có Không Kiếp Song Lộc ngộ Cự Nhật là trọng điểm của Tài Cách. Hình thành bố cục Lộc Mã giao trì là bố cục hay thuộc phú cách do Tài động, tuy nhiên Thiên Mã phá cách nên tiền vào chưa tích tụ đã phải sử dụng, tiền cũng thăng trầm do thêm cách Không Kiếp Hình Kỵ ở đây. Phúc Đức cung không mấy tốt nên tai ách gặp phải tuy mệnh cách có bố cục khá may mắn nhưng đa phần lại gặp nhiều tai họa mới được trợ giúp. Do đó cách cục phát may phá cách ở tại Thân và Phúc, đương số không nên cầu cạnh vào may mắn mà dụng cách Binh Hổ Cự tức bản thân đưa ra quyết định một cách chắc chắn không trông chờ trước mọi việc. Quyết sách hành động của bản thân tự tạo sẽ mang lại kết quả khả quan do ở đây Đồng Âm cư Tí ngộ Tang Phượng Khoa Kỵ, trong khi ngôi sao may mắn Cơ Lương gặp Hỏa Hình tức cơ hội tới nóng vội sẽ dẫn tới thất bại. Ổn định là cần thiết để bố cục này chế hóa được cách cục nặng như Kỵ Hình Linh Hỏa ngộ Cơ Lương ở tại cung an THÂN tức hành động, bản thân của đương số.



Do đó nếu đương số vận theo Tài Cách tuyệt đối không nên có khuynh hướng đầu cơ hay làm việc thiếu cẩn trọng, trông chờ vào may mắn ắt khó thành tựu, tổn thất lại lớn . Đương số cần chú trọng với bản thể nội cách là Cự Nhật Binh Hổ, chờ đợi đúng thời điểm là quan trọng, luôn cẩn trọng trước những lợi ích trước mắt, nhanh chóng vì cách cục không may mắn nằm ngay tại cung an THÂN. Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương phá cách sẽ ảnh hưởng tới khả năng thụ hưởng của bản thân, mệnh cách đa phần luôn ứng hợp phải lao lực, vất vả ít được thảnh thơi.  Do đó nếu không dụng trợ cách phù hợp hóa cách cục thành nỗ lực phấn đấu, gây tạo sự nghiệp thì cách cục lao lực trở nên phí hòi công sức. Chữ chờ thời điểm và chủ động tránh do yếu tố bên ngoài như tham muốn nhanh chóng tác động là rất quan trọng với đương số. Mệnh tạo có cách cục tốt về hậu vận. Đương số ở tại hai đại vận sau bố cục càng ngày tốt, đặc biệt vận Thiên Phủ độc tọa ở cung Hợi. Nam mệnh với cách Cự Nhật Lưỡng Long. Thiên Mã là sao chủ nghị lực nhưng cũng mô tả khó khăn bản thân gặp phải. Qua đại vận của Mã Tuyệt và đại vận Liêm Tham mệnh cách Cự Nhật có khuynh hướng tăng tính chất trầm ổn, dần ứng hợp được với Địa Kiếp tại cung độ Cự Nhật và ngoại cách Kỵ Tồn. Mệnh cách VCD có nội Cự Nhật và ngoại Đồng Âm xung các đại vận hiện tại rất nên tự khởi tạo, xây dựng sự nghiệp hay tổ chức riêng, cách cục của Cự Môn chủ gừng càng già càng cay, Cự Môn là hiểu biết, Cự Nhật cách ở đây tuy không có Khoa Quyền Lộc nhưng được Không Kiếp, ngoại cách lại gặp Song Lộc có thể dụng được cách Cự Nhật.