Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Âm Dương Ngũ Hành. Show all posts
Showing posts with label Âm Dương Ngũ Hành. Show all posts

Wednesday, December 29, 2021

Ứng nghiệm với quẻ gieo

 Trong toán mệnh, vật quân bình là cát. Sự quân bình của âm dương là điềm lành. Trong đời người, không tật ách, bệnh hoạn là phúc. Chữ phúc là suy xét của quá trình phát triển, cứu giải qua hạn hành tai nạn và khi về các hành vận thăng trầm có thể vực dậy. Có người bạn lâu năm người viết hơn nửa đời theo dưỡng sinh khí công, đi khắp đây đó tìm các môn khí công biệt truyền để nghiên cứu, học hỏi không quản tiền bạc công sức. Tuy tài quan vận không lớn, được thân thể tráng kiện vô bệnh hoạn, tinh thần sảng khoái. Lại mở lớp truyền đạt, theo nghiệp y đức giúp người lợi thân. Cũng là điểm mừng của mệnh số. Cũng có nhiều người rơi vào suy tính cả đời tiền bạc, danh tước, được ít mất nhiều, cũng là niềm vui khi được mất, tuy nhiên khi bệnh tật khổ ách khó cam chịu.  Sức thể tráng kiện, tinh thần sáng suốt là cần thiết để có thể tạo những điều phi thường từ việc bình thường. Rất nhiều việc phi thường tạo ra từ những điều bình thường, đơn giản trong đời sống. Cũng vậy, có những điều bất ngờ tới tai họa nặng nề từ những sơ suất tạo ra. Cổ nhân tất luận "Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí". Điều họa phúc là phép định tính, thí như hỉ mừng, khổ não. Phúc là điều tốt đẹp, họa là điều mất mát, hung họa. Việc trong đám cưới chạy tang là chuyện có thực tế. Kẻ vui mừng khi tranh giành được đất đai, người buồn khổ vì cảnh tương tàn. Việc Hỉ thường có mặt khi đạt được mong muốn, cũng thường xuất hiện khi đoạt được, tranh đoạt, tranh đấu cho tới tranh cướp. Hoặc có kẻ mua được giá rẻ, người bán mừng vì bán được giá đắt. Cùng vật mua bán, cách định tính hai bên có thể suy tính khác nhau. Điều này dẫn tới một điểm quan trọng, việc vui mừng nên có tri kiến, hoặc khả năng suy tính, luận định tốt đẹp hơn việc thiếu khả năng xét đoán, nhận định sai về giá trị. Việc hỉ mừng đặc trưng cho tất cả tinh đẩu không riêng Đào Hồng, Song Hỉ. Đặc biệt, đa phần tất cả hung sát tinh đều phát sinh tính tranh đoạt và hỉ mừng khi hợp hóa cách cục. 




Do vậy, thực tế điểm vui mừng của mỗi nhân mệnh đều ẩn một cách cục Sát cách cường vượng. Thí tới, việc hỉ mừng mỗi nhân mệnh có tính sai biệt. Khi người có tiền bạc đầy kho, việc mất mát tiền của có thể không quan trọng bằng sức khỏe, người nghèo phải đánh đổi sức khỏe để mưu sinh. Xuất hiện sự bất bình đẳng là thực tại được công nhận. "Nhất tướng công thành, vạn cốt khô". Trong nội bộ một xã hội, cũng xuất hiện những bữa ăn có giá trị bằng khoản nợ tiền chữa bệnh nan y của người nghèo, liên quan trực tiếp tới sinh mạng. Trên phương tiện xã hội tiếp cận càng lớn, việc nhìn nhận sự tách biệt càng rõ. Điều quan trọng, là có những sự bất mãn thực tế hiển hiện xảy ra, tức Cự Môn chính là một nguyên nhân để thúc đẩy mỗi nhân mệnh. Sự bằng lòng vô định hướng không khiến nhân mệnh vươn lên mạnh bằng việc ôm bất mãn nỗ lực. Cự Môn chủ tinh của nhóm sao chỉ hai chữ Cự Nhật có thể vượt trôi hơn 2 nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham. Với việc mất định hướng, vô định cũng là điểm khó khăn dẫn tới Tử Vi là tinh đẩu quan trọng để vươn lên. Thăng quan, tiến chức, phát tài, đắc danh, cầu duyên đều dễ là điểm hỉ mừng. Tuy nhiên có một số trường hợp việc lên chức mang lại khá nhiều phiền muộn, giữa hư quyền và thực quyền, giữa vị trí thăng tiến thường sắp xếp để bị luận tội, hay việc phát tài do bán chất cấm, buôn lậu có việc thất kinh trong khi phát tài. Việc ám lộc có sức phát lớn hơn chính lộc nhiều do nguyên nhân từ ám lộc cách có thể phát kiến từ những trao đổi ngầm. Do vậy thực chất cách Vũ Phủ Lộc hay Thái Âm Lộc đều mang tính chất tài cực vượng khi thành cách. Hỉ kỵ và dụng thần là phần quan trọng khi định cách ngũ hành và thần sát trong bát tự tử bình. Hỉ và kỵ khi hội cách trong tử vi cũng mang tính chất quan trọng. Một cách cục hay bởi Tham Hỏa Lộc Kỵ rất bất lợi khi hội thêm Thiên Hình. Dịch lý là tổng quyết của pháp, là sự biến chuyển dịch biến của vạn vật mô tả khởi phát từ hơn bốn ngàn năm trước. 



Nhìn dịch học thấu triệt được chứ ứng. Phàm nhân mệnh khi tâm tính tương thông, vắng lặng khởi sự, gieo quẻ tính dự đoán một phần tính chất việc diễn ra, có những kỳ nhân dự đoán về vận nhân thế diễn ra bởi những khí tượng của quốc gia. Khởi một niệm là tương ứng một kết quả. Cũng vậy khởi một con người thai sinh là điểm quan trọng tương ứng, toán mệnh tới số phận. Vì bản chất khởi sinh một nhân mệnh thể thức, tinh, khí, thần rất mạnh, thường gọi thông linh. Các môn toán mệnh, hà đồ dẫn hóa tới lạc thư, biến chuyển dịch biến có khởi và kết. Hà đồ là thường, Lạc thư là biến. Thái ất, Độn giáp, Lục nhâm mang tính dự đoán sự việc là gốc khởi. Thông linh tương ứng là tính chất đặc biệt của dịch lý tương quan với sự tồn tại của mỗi người và tương thông với đạo hay phật giáo. Việc thiền tưởng khiến tâm vắng lặng để phát sinh những năng lực tâm linh cũng tương tự như việc khởi tâm dụng quẻ, khán định được cát hung sự việc như kinh dịch. Phàm việc cùng khởi nguyên và kết quả, chỉ khác phương pháp truy cầu. Suy cùng đạo cùng chung đường, truy cầu đạo quân tử, dịch lý biến ảo khôn lường. Cũng điểm cốt yếu là nhất tâm. Vật khởi biến dịch luôn có nhân nguyên, cũng biến động nằm trong vòng quy luật thiên cơ. Hỉ mừng của người truy cầu đạo là con đường dẫn tới chứng nghiệm cảnh giới. Hỉ mừng của người binh sĩ có khi chỉ là được về thăm nhà đoàn tụ gia đình. Hỉ mừng của người tu hành là giải thoát. Tâm nhất quán dẫn tới thông linh, nếu không có điều này liệu đoán quẻ dịch tại thời khắc truy cầu liệu có thể ứng nghiệm. "Vạn pháp duy tâm tạo"  là cổ ngữ chứa đựng nhiều huyền cơ và chứng nghiệm của rất nhiều giai đoạn và hệ thống khoa học huyền bí xuất hiện nhiều tại quốc gia tu tập con đường của đạo. Những tinh đẩu tác động vào tâm tính, bản tính phản ứng trước những vấn đề bất ngờ phát sinh, khi bản thân nhân mệnh không làm thể chủ tâm trí và tác động từ định tính xã hội có thể dẫn tới trầm uất tự sát. Với tình cảnh vậy mỗi nhân mệnh giải quyết vấn đề riêng biệt. Bẩm sinh có nhân mệnh khuynh hướng nhường nhịn chịu thiệt phần mình, có nhân mệnh tranh đoạt mạnh mẽ, có nhân mệnh lý lẽ, nhân mệnh ưa hành động. 



Một vòng tròn sắp xếp bởi mệnh số "Đại phú do thiên, tiểu phú do cần". Thiên địa vận hành là cái lý dẫn động cát hung, người sống trong thể thiên định tuân định theo quy luật, thai sinh khởi thời khắc xuất nhập ngũ hành tú khí, luận định trên là sự tác định của những đúc kết tiền nhân. Tuy có một phần tác động của thời kỳ phong kiến lập định mệnh thiên tử ứng do trời lập để ứng với thần quyền. Vận số là vậy, có thể thay đổi vận khí chính là dựa vào thế mạnh ứng hợp của bản tính. Thứ tới là sự khởi quyết của tâm với những thói quen từ tưởng thức hóa nhập thành hành thức. Thí như trên mệnh số rất nhiều khuynh hướng tương ứng, rất nhiều cách cục phát sinh, tuy nhiên nhân mệnh thọ thai gia đình quyền thế sẽ có nền lực phát triển mạnh hơn. Có lá số cùng thời nhân mệnh theo nghiệp kinh thương phát tài thập vạn, có người theo nghiệp công chức đắc danh mà không có lợi, hư danh. Có những sự mô tả những hạn hành tử tuyệt, thời kỳ hiểm nguy của nhân mệnh khởi phát trên bát tự. Bia đá cổ ngữ vẫn còn đó, chỉ có người trông qua còn nhớ hay vô tình đi qua. Toán mệnh lý xưa nay vẫn còn tồn tại sau bãi bể nương dâu, gặp những người hữu duyên làm thú vui nhàn nhã kinh sách. Cũng như pháp phật cao thâm, cũng người tín kẻ không, người thấy huyễn hoặc, người chứng tâm thông. Trong lưỡng nghi, quẻ liền 2 vạch là dương, ứng thể chủ động, quẻ đứt 2 vạch là âm. Vạch thể này là tượng hình của âm dương. Mỗi quẻ 4 hào sinh Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm. Từ quẻ trên thêm 2 hào sinh bát quái. Luận lưỡng nghi mặt âm dương. Trong thực tế Thái Âm tức mặt trăng ẩn tàng, mượn sức sáng của mặt trời chiếu để lộ ra bên ngoài, ban ngày thì mờ ẩn, mặt trăng sáng thứ hai khi nhìn trên trời. Điểm quan trọng là luôn nhìn thấy chỉ một nửa thái âm, nửa còn lại tuy được mặt trời chiếu sáng tuy nhiên không thể nhìn thấy do góc quay tương đồng của địa cầu và mặt trăng. Ứng với điểm âm chứa dương và dương chứa âm của thái âm. Do vậy, tính âm dương lưỡng nghi được xác tính chuẩn xác qua tính chất của Nhật Nguyệt. 




Từ sự tương tác liên quan tới thực tại, Nhật Nguyệt là cặp âm dương đối ngẫu. Nắm điểm này rất cần thiết, cũng như khi cho phương trình số ẩn, thay số ẩn là điều thực tế tức nhật nguyệt và khoảnh khắc thai sinh, được điểm dự báo theo quy luật của tự nhiên và vạn vật. Từ thế lưỡng nghi sinh tứ tượng, cũng là sự tương hóa rất kỳ lạ của tự nhiên, phân định mô tả về bản chất của tứ giao mùa hoạt hành. Những điều thực tế này như bài toán cụ thể về dự đoán thứ nằm bên trong thiên địa, là nhân mệnh qua thời khắc ứng hóa với một số quy luật kế tiếp. Lục thập hoa giáp, khởi phát kế tiếp ứng với chữ thời. Điểm hóa này rất quan trọng, chia nhỏ cụ thể thêm bài toán về quy luật biến dịch. 12 địa chi phối định 10 thiên can, ứng thế âm dương theo luật, được 60 hoa giáp ứng với thời năm. Lại xét chỉnh thêm khắc của tháng xét nhập năm nhuận. Xét nhập phân cắt gần hơn là ngày, tới giờ tức thời khắc. Xét một thời điểm khớp với thời của lục thập hoa giáp khởi bởi ngũ hành 10 Thiên can gồm 5 âm và 5 dương. Phối địa chi chính là thời khắc, ứng với chuyển dịch nhật nguyệt. Ta được lục thập hoa giáp. Khi ứng điểm bắt đầu của vòng là Giáp Tí bắt ứng với thời khắc quy luật vận hành ngày đêm, tháng năm của mặt trăng, mặt trời. Vào rạng sáng ứng giờ Tí, tháng Tí ứng tiết trời đại hàn, năm Tí là khởi lục thập hoa giáp. Khởi phát tuần hoàn 60 năm kiến tập, xác tính thấy 1 năm sai biệt, khởi nhuận ứng nghiệm đúng. Người đời nghiên cứu thấu tường được lý lẽ nghiệm của quy luật là thực tế ngoài đời, thời khắc, thời gian đã hàm chứa thông tin, quy luật tại chính thời điểm. Do vậy khi khởi ứng quẻ thành tâm thông linh đoán tượng đúng, cũng thực chủng tử vô thức vận hành theo quy luật thiên địa. Xét truy nguồn gốc, thời khắc âm lịch tạo bởi bát tự 8 chữ là nguồn căn vậy. Như một bộ máy đếm từ 12 giờ, điều quan trọng nhấn đúng thời khắc chính mặt trời chiếu đứng bóng, đã bao hàm tượng khí dương cực thịnh, bao hàm quy luật trong nội tại. 




Do vậy chữ thời, hay bát tự là điểm quan trọng nhất để xét định dự đoán quẻ hay luận mệnh. Tương ứng vậy, thời khắc thai tạo một nhân mệnh còn ứng thêm một lý của vòng Trường Sinh, xét định vận trình dự đoán cát hung họa nạn cuộc đời. Vi diệu nên gọi là Huyền. Có tri kiến bên trong nên gọi là Học. Khi đếm 12 giờ ắt hiểu được đây là thời khắc thái dương chiếu mạnh nhất. Tuy nhiên hậu học về sau lại lấy 12 giờ làm gốc, như lấy tử tức bỏ phụ mẫu. Tại một số vị trí vùng cực, buổi đêm suốt nhiều tháng. Nếu lấy 12 giờ làm chính ngọ không có khí dương, dịch lý sai biệt không ứng với quy luật của nhật nguyền, không có cái thực tại, ắt mô tả dự đoán không thể xác định. Cũng như xem địa lý phong thủy vận, nơi không có dương hỏa, vật hàn lạnh, khí sát thấu độc. Những nơi phong thủy vậy gây họa hơn phúc. Nơi địa lý vùng cực, hay xích đạo, cũng là điểm thiên lệch của thiên địa. Cũng vậy, xuất nhiên vòng lặp lục thập hoa giáp mỗi 60 năm. Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử, người kiệt xuất sinh bởi thời định sai biệt không lặp theo vòng trên. Cuối cùng, điểm cốt yếu của nhân sinh. Người viết gặp cảnh biến động của thời cuộc, thời điểm quốc gia gặp nạn. Có điều xuyên suốt từ xưa tới nay, có những nơi người nghèo khổ nhất, lại chứa đựng chủng tử lương thiện hành động không suy nghĩ thiệt hơn. Người bươn trải ngụ cư đầu đường, cho đi đồng tiền rách nát tới người  lâm cảnh bệnh tật nan y, bệnh hoạn khổ cực, khi nhận lại sự trợ giúp từ chối giữ sự thanh bạch của Liêm Trinh Thiên Lương. Thời điểm khẩu hiệu " một nắm khi đói bằng một gói khi no " cùng cực, về sau thời hòa bình có người được phụng dưỡng, nhiều người sau khi trải qua thời điểm hoạn hạn đùm bọc, tới giai đoạn đầy đủ chính gia đình rời bỏ, coi như gánh nặng. Có những trường hợp, nhận một điều tốt như bất ngờ xúc động không thể kiềm, vì người thân tử tức còn không lo tới, già sức yếu tự lo bản thân, người ngoài vì lòng thương người, giúp đỡ không vì sự liên quan lại có thể hết tâm ý giúp đỡ. Dẫn trong bản thức, hoàn cảnh khó khăn cùng cực, giữ được chữ Nhân. Người thân không có điểm nương tựa, nhiều nguyên do được giải thích. Tuy nhiên suy xét rõ cũng là chữ bạc. Ứng câu " Cò ơi cò bạc như vôi " như sự thực hiện thực không thêm bớt nửa lời, nhận định không phiến diện. Những nhân mệnh vậy, thường lại xuất hiện các tổ hợp Sát vô tình,  mệnh Sát hữu tình thì phát tiết hợp hóa bạo phát. Mệnh Sát vô tình thừa nhập cơ tới giai đoạn đảo nghịch vận lâm thế nguy cấp, cũng ứng hiềm nhân quả tuần hoàn. Tới khi chung cuộc, vật đều trạng thái hòa, tất cả đều bỏ, danh sắc tài không còn là thứ quan trọng, đều trôi như nước, chỉ còn tâm hoan hỉ hay khổ não, luyến tiếc. 

Monday, July 8, 2019

Ngũ hành Mệnh và Cục số



Ở vạn vật, tất cả đều ở hai giai đoạn, tụ và tán, do vận động mà tụ, cũng do vận động luân hồi nên tán. Tụ và tán đã xuất hiện chấp niệm phân biệt từ nhận thức. Thực tế tụ là biến hóa Thái Dương, Thái Âm, tán là biến hóa Thiếu Dương, Thiếu Âm. Âm cực Dương tử, Dương cực Âm tử, khi Âm và Dương tiến tới trạng thái phát triển cực là tụ, khi phân tán tới tuyệt là tán. Tụ và tán kế tiếp phát sinh thành Bát Quái và biến hóa 64 quẻ mô tả khái quát biến động và cát hung. Với nhân mệnh, thực tế tụ thường cát, tán thường hung. Tuy nhiên nếu tụ tai họa, bệnh tật, bất mãn là hung, tán tiền tài, công danh, phúc thọ là hung. Với nhân mệnh tính chất biến hóa sai biệt. Lấy tứ trụ thai sinh làm phát khởi của chính vòng Trường Sinh của nhân mệnh, định cát hung khi ứng hợp với khí số âm dương ngũ hành tác động của thiên  địa. Như việc con người được khởi phát và tiếp nhận trao đổi chất từ ăn uống đa phần từ các chất hữu cơ và dẫn tới khi tan rã hỏa vượng tác động sẽ biến hóa thân thể thành than. Dự đoán từ tri kiến của khoa học Phương Tây rất rõ về tính chất. Cũng như việc bản thân mỗi nhân mệnh được hình thành từ các vật chất là nguyên tử rất nhỏ dẫn tới có các tính chất nguyên tử có. Với khoa học huyền bí Phương Đông xét khởi nhân mệnh từ Ngũ Hành, tức khởi sinh từ ngũ hành tác động, cũng như bản thân nhân mệnh từ nguyên tử khởi tạo nên. Với tác động của ngũ hành, nhân mệnh trong nội tâm tư tưởng và khởi phát thành hành động bên ngoài sẽ chịu tác động lớn của ngũ hành khởi của bản tính. Cục số là thời gian để khởi phát hành mệnh. Ngũ hành của cục khởi nguyên thời điểm Mệnh cách chịu tác động biến hóa của ngũ hành. Thủy 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hỏa 6. 





Khởi vận thời điểm do ngũ hành cục số quyết định. Mộc căn khởi là khai nguyên của hữu tình, nguyên khí của vật mới, khởi đầu Lục Thập Hoa Giáp là Giáp Tí, khởi đầu một niên vận mới là tháng Dần. Giáp đứng đầu trong 12 Thiên Can khi xét lịch thiên địa nhân, là nông lịch. Việc vật hữu tình, cây cỏ sinh khởi, phát triển, suy diệt biến hóa quy luật, trong lịch Âm Dương không chỉ bao hàm nông lịch, còn bao hàm quy luật của vạn vật. Mộc là cửa sinh của vật hữu tình, là khởi đầu khởi sự. Mệnh, Thân, Cục, vòng Tử Vi đều khởi từ Dần. Từ cục khởi được vòng Trường Sinh của thiên bàn. Cục là hiển hiện thời điểm của hành khí, là đương khí nắm lệnh tức ngũ hành gốc của thiên bàn ứng, Mệnh cách tùy nhập may mắn ở vị của vòng Trường Sinh là đắc vòng Trường Sinh, khí hình hiển hiện thăng trầm, có sinh mộ, biến hóa cường độ lớn. Như Thủy nhị cục vòng Trường Sinh an tại Thân Tí Thìn, Mộc tam cục vòng Trường Sinh an tại Hợi Mão Mùi. Hợp hóa của tam hợp thành một hành chuyên nhất, ở thế Sinh Vượng Mộ cũng vậy, chưa Tuyệt. Vòng Lộc Tồn cũng không sai khác. Vị trí Lâm Quan của Thiên Can năm sinh khởi là nơi an của Vòng Lộc Tồn. Lộc Tồn không cực vượng, là khí đương tiến, tích lũy sâu dày từ Lâm Quan để vươn lên cực điểm tức Đế Vượng. Người nghiên cứu tử vi có người nhầm việc Lộc Tồn là mộ khố, chủ kho, tính tàng trữ, tuy nhiên tính chất hoàn toàn sai khác. Cũng từ an vòng Lộc Tồn khởi được hai vị trí của Kình Dương là cực thịnh tức vị trí Đế Vượng của vòng Trường Sinh theo Thiên Can của niên vận. Mệnh Cục Thân là thể hiện của bản thể ứng vào một bố cục, tức ở thời điểm quy luật đang vận hành để dự đoán về mệnh lý. Quy luật đang vận hành được khởi từ các tinh đẩu an theo Thiên Can và Địa Chi năm. Mỗi năm can chi phối hợp tính chất sai biệt tại thiên bàn. Vòng Lộc Tồn an bốn nhóm sao quan trọng của Thiên Can, trái Tồn là Phi, do thế đối củng của vòng Lộc Tồn tức nhóm Phi Phục Thanh luôn đối cung Lộc Tướng Bệnh. 





Vị trí trên thập nhị cung an vòng Trường Sinh đầy đủ, tam hợp của vòng Lộc Tồn ở Dưỡng, Lâm Quan, Tử. Tam hợp của Thanh Phi Phục chính ở Mộc Dục, Suy, Tuyệt. Trong thế đứng của Phi Liêm thường mang ý nghĩa tan rã, tuy nhiên khi giao hội định cách cục, Thanh Phi Phục có thể phá Không cách, Lộc Tướng Ấn gặp họa lớn do Không Kiếp. Cự hội Thanh Long thành quý, Cự hội Lộc Tồn hóa vi hung. Với tinh đẩu thuộc Chính Tinh tùy tính chất sai biệt lớn. Bố cục nhóm sao  đặc tính an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Tồn Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Thứ tới là Khôi Việt và Tứ Hóa. Tới nhóm sao an theo Địa Chi bốn nhóm sao. Hồng Loan, Thiên Hỉ, Đào hoa là một nhóm, Đào Hoa giao hội một trong hai tinh đẩu, Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Phượng Khốc. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã giao hội với Phượng Khốc. Thực tế khi xét bố cục bởi nhóm Hồng Loan, nhóm Thiên Hỉ, nhóm Tuế Hổ Phù và nhóm Tang Hư Mã. Cô Quả thường đi với Đào Hồng Hỉ, Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã. Thực tế Âm Dương Ngũ Hành đã lưu hóa tại tính chất riêng biệt của các tinh đẩu và tổ hợp. Dụng cách của Đông A phái khởi dụng từ chế hóa của Âm Dương Ngũ Hành khi ứng hợp dịch lý biến hóa, thực tế thường khi người đọc ở trong hoàn cảnh tác động của cơ vận có thể nhìn rõ về dụng cách biến hóa tác động tới định cách. Ngũ hành cục là định cách ứng hợp với số tại hành vận. Khi chỉ xét tương quan ngũ hành Mệnh tức niên vận thai sinh và ngũ hành Cục tức tương quanh sinh khắc để xét biến động của bản thể cách cục. Tại Mệnh cách sinh cục, tức ngũ hành Mệnh tác động khiến các thời điểm phát triển tính cách qua thời gian sẽ chịu tác động nhiều của quá trình biến đổi hình thành nhân cách, bản tính tác động sinh xuất tức từ tính chất chủ tính, hóa thành bổ trợ cho tính cách qua các hành vận. Các tổ hợp theo hành vận khi lưu tới các cung độ tác động rất mạnh tới tư tưởng. 








Trong trường hợp Mệnh khắc Cục tức tại Mệnh cách bản tính khó dời, khi lưu chuyển qua các hành vận khắc chế được phần biến đổi của hành vận. Như việc Hỏa khắc Kim. Nhân mệnh khởi bản tính nhiệt huyết, cục thuộc Kim có thể khắc, vận xấu có thể chế hóa, tuy nhiên vận tốt chưa hẳn phát huy tác động lớn. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục sẽ gặp biến đổi mạng qua các hành vận khắc nhau tùy tính tương hợp. Do đó thường cổ nhân luận hai trường hợp Mệnh khắc Cục và Cục khắc Mệnh không mấy hay. Tương tự với Cục khắc Mệnh, tức bản tính khởi nguyên là Mệnh khi lưu chuyển qua các hành vận chịu tác động rất lớn khiến biến động theo hành vận, có tính bất ổn định cao, đặc biệt ở hành vận Sát Kỵ trùng phùng rất phức tạp. Trường hợp Cục sinh Mệnh, tại bản tính tức tại Mệnh cách hình thành thiên tính làm chủ, Cục tức hành vận bổ trợ tăng cường tính chất này, nghịch với Mệnh sinh Cục. Trong trường hợp Mệnh sinh Cục. Như việc Mệnh thuộc Hỏa, cục thuộc Thổ. Mệnh cách chịu tác động mạnh của tinh đẩu mang hành Hỏa, tính chất của Mệnh cách lưu ý phân định xét riêng bản cung và xét chung toàn tổ hợp là thể tĩnh và thể động cần rất chú ý. Sự tương quan của Mệnh và Cục số là tương sinh, do đó bản tính của nhân mệnh, khởi bắt đầu từ tuổi thứ 5 do cục thuộc Thổ ngũ cục. Lại chịu tác động rất lớn của hành vận do ở thế sinh xuất, hành vận tốt xấu sẽ quyết định rất lớn tới cuộc đời. Như việc mệnh cách Liêm Trinh bản cung thuộc Âm Hỏa, tới hành vận Kỵ Kiếp Hổ Khốc ắt gặp tai kiếp rất lớn, do Kỵ Kiếp Hổ Khốc nắm lệnh và khiến Liêm biến hóa theo mang ý nghĩa bị động, đây là điểm rất quan trọng và cơ bản khi luận giải và định cách cục cần lưu ý. Trong trường hợp Mệnh cách thuộc bố cục Tham Lang nhập mệnh tại đây, hành vận lưu tới Hỏa Tinh tại cung độ sáng lại đắc cách được đánh giá rất tốt đẹp, do Tham Lang biến hóa theo Hỏa Tinh dẫn động, tạo sức bạo phát lớn. Tham Lang thay đổi tính chất mạnh khi tới Hỏa Tinh. Nhược bằng Tham Lang lưu tới Tử Triệt Kỵ ắt mang ý nghĩa xấu, chủ tham muốn giảm thiểu, triệt bỏ tham vọng. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục, nếu chủ tinh tại Mệnh rất mạnh như Phá Quân tới hành vận Lộc Tồn không xấu như trường hợp Mệnh sinh Cục tại đây.