Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Saturday, December 16, 2017

Lá số tử vi bình thường và biệt cách


Khi xét tất cả các lá số tử vi, mệnh cách đúng tứ trụ gồm giờ ngày tháng năm sinh luôn nhìn ra các đặc điểm khái quát tổng quan của lá số, tuy nhiên xét chi tiết hoàn toàn sai lầm với các biệt cách khác nhau. Mệnh cách là tư chất, bố cục tổ hợp Mệnh cách khi xét chung là toàn bộ sự giao hội của các bố cục Chính Tinh với Bàng Tinh tạo nên tính cách ban đầu, tính cách bản thể sâu trong tiềm thức. Mệnh có Cự Môn là sao rất dễ nhận ra do sao này chủ sự bất mãn, là sao mạnh luôn chống Lục Hội với Tử Vi nên tính chất hiển hiện rõ ràng. Mệnh cách có Cự Môn xấu đặc biệt là Cự Kỵ thuộc cách vạ miệng với tất cả các lá số mệnh Cự. Đây là tính cách bản tính, ứng hợp với bên ngoài họa từ miệng vào, khẩu ngôn khó giữ, tuy nhiên khi nghiệm lý nhiều các lá số mệnh Cự Kỵ xuất hiện các cách chế hóa khác nhau, biến hóa muôn dạng do sự tác động phát triển của xã hội, hoàn cảnh. Một Cự Kỵ từ vu vạ, oan khuất thời nay một số mệnh cách lại mang giá trị như tiền bạc, phát phú cách khi nhờ sự thị phi mà mang lại sự nổi tiếng, nhờ tài nằn lớn do luôn tự mâu thuẫn của Cự Môn, khi Cự Môn trong thời bình đẳng, pháp quyền hiện nay thì Cự Môn không gặp phản cách, tức bất trung mà ý nghĩa có phần tốt đẹp hơn thời phong kiến rất nhiều. Đặc biệt nhiều mệnh Cự Kỵ được Lộc Tồn hình thành bố cục rất xấu là Cự Tồn và Cự Kỵ với câu phú.
" Cự phùng Tồn tú, cát xứ tàng hung".
" Cự Môn tối hiềm Hóa Kỵ, Mệnh Thân Hạn kỵ tương phùng".
Hai cách cục trên xấu nhưng thời nay với tài cách gặp bố cục trên nếu gia hội vài cách cục tốt thì luận mang ý nghĩa hay. Thực chất do Cự Môn tính chất chủ điền sản, tuy nhiên là sao chủ thị phi, với cách cục thời trước chủ kiện tụng, cửa quan nên mang ý nghĩa xấu. Hiện nay do Cự Kỵ Tồn là bố cục mang tính dương mạnh, chủ sự đố kỵ, lại mang thị phi, luôn bất mãn nếu mệnh cách khí hình vượng như Cự Kỵ Khốc Hình cư Thìn Tuất mà A Man xuất thế.




Cách cục Cự Kỵ Tồn là sự không ngừng tiến lên, nếu giao hội văn tinh là cách cục tốt, nếu thêm Thiên Hình phá cách chủ sự vi phạm pháp luật. Có cách chính do khả năng tầm quan trọng vận số mệnh cách. Mệnh cách mạnh được dụng khi khí hình của mệnh tạo thấp, nếu xấu thì cửu lưu, sống lợi ích, làm việc bất hậu quả, vi phạm pháp luật, như các trường hợp cướp của giết người, trộm cắp là bố cục Sát hóa Tuyệt cách. Nếu khí hình thấp cần thiết mệnh cách chế hóa được Sát Kỵ. Nếu mệnh cách ổn định, bố cục tốt đẹp giao hội cát hóa khó có thể đạt được thành tựu lớn. Trường hợp khí hình vượng có thể tự vượng chế hóa nhiều cách cục xấu. Như mệnh cách Cự Môn được giáo dục khuynh hướng nghiên cứu khoa học truyền thống của gia đình thì cách cục Cự Kỵ Kình Hình hợp cách. Nếu gia đình kinh thương và định hướng đương số theo khuynh hướng này tuy gặp nhiều bế tắc nhưng vẫn có thể thành tựu. Với Cự Kỵ Hình Kình nếu theo khuynh hướng chính trị tới vận xấu ắt đổ vỡ, phá cách nặng nề. Mệnh cách vận hành luôn lấy phần cách cục lá số làm thể, ứng hợp thực tế làm dụng. Tuy nhiên có thể tác động lẫn nhau, cùng là cách cục Cự Kỵ nhưng kẻ thiên tài, kẻ tâm thần. Quan trọng là hướng đi của mệnh cách khi chuyển động. Như giáo sư Ngô Bảo Châu mệnh Cự Môn khuynh hướng nghiên cứu khoa học rất tốt đẹp, khí hình cực vượng do bản thân xuất phát từ giáo dục gia đình và dòng họ nghiên cứu khoa học, tuy nhiên khi mệnh cách lên tiếng về một số vấn đề chính trị lập tức cách cục ứng hợp ý nghĩa, chịu họa của bố cục Cự phùng Tồn tú cách, thuộc cách cục bất cẩn ngôn mà tự mang thị phi cho bản thân.



Luận tử vi trường hợp do bố cục khí hình mạnh cát hóa toàn bộ lá số, thí như kẻ sinh ra làm hoàng tử bất luận cũng xét mệnh phú quý, tuy nhiên tử vi trong man thư thường không xét rõ, ưa đưa ra cách cục phản vi kì cách nhưng sai lầm, xét tổ hợp rối ren, xen nhiều tầng lớp rất khó luận, đặc biệt trường hợp ngoại lệ đa phần đều sáng tạo ra các bố cục mới như Thất Sát ngộ Kỵ Hình có Linh Kình là phản vi kỳ cách. Do hoàn cảnh giáo dục, môi trường, phụ mẫu, bản thể mệnh cách luôn ứng hợp ý nghĩa bố cục. Các tác động thực chất tới mức Nguyệt Hạn hay Nhật Hạn tức tới tháng và ngày, lá số tử vi luôn biến đổi và chuyển động. Xét về tổng quan thì một lá số luôn là sự phân bố của Chính Tinh và Bàng Tinh, mỗi người đều gặp phải những mặt khó khân riêng rẽ, ngay cả vua chúa luôn trong tâm trạng lo lắng giữ vững địa vị, dẹp phản loạn. Kẻ có tiền thì luôn lo lắng giữ, kẻ ít mong nhiều, thăng trầm liên tục. Hay gặp kẻ giàu nhưng đau buồn về tình cảm. Hay gặp nhất là bố cục bị áp lực, ép buộc, phải trở thành người này kẻ nọ hay gặp trong tầng lớp đứng đầu. Không được chọn lựa bản thân, là công cụ chính trị khi hôn phối, ngay thời phong kiến gặp rất nhiều việc giao hữu các quốc gia. Tùy vào quan niệm cách nhìn để xét mệnh tốt hay xấu. Có người nhìn mệnh cách Cơ Nguyệt Đồng Lương đắc cách, ý nghĩa bất phạ tai ương, cuộc sống êm đềm, ít phấn đấu lớn yên ổn tới khi nhắm mắt. Có kẻ tâm niệm một lý tưởng xây dựng, tham vọng thay đổi xã hội, vượt qua khó khăn tới trung niên thành tựu địa vị lớn. Có kẻ ưa việc giàu có, có nhiều tiền là mệnh tốt.


 Biệt cách trong tử vi là phần luận mệnh cách ứng khí hình để xét bố cục, các điểm chế hóa của lá số. Một mệnh cách khí hình vượng nhìn nội lực bởi tính chất ứng hợp bên ngoài khi đại tiểu vận trùng phùng Tứ Sát Kỵ Hình Không Kiếp giao hội các cách xấu khác. Như tính Sát rất vượng tuy nhiên mệnh cách không gặp tai họa lớn mà hướng đi chế hóa hoàn toàn bố cục này ứng trợ cách rất mạnh,là ứng mệnh biệt cách. Cũng mệnh biệt cách với khí hình suy tức mệnh tạo gặp tai họa nặng nề với các bố cục Sát Kỵ bình thường, hay biến hóa tính chất tốt đẹp của cách như Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc thành cách cục ổn định, trợ cách bất đối ứng nên cần thiết thay đổi khuynh hướng tăng cường khí hình đương số. Trợ cách gắn liền với khí vận của quốc gia, của xã hội hay địa lý sinh sống. Tới thời vận kim tiền tài cách nắm lệnh có thể sinh Quyền hơn Quan Cách, khi Quan Cách trở nên phức tạp như trường hợp thắt chặt vi phạm thì như luận mệnh Cự Kỵ Khốc Hình là tù tội cách. Đắc thời là quan trọng trong tử vi. Cự Môn đắc lệnh với khí vận của xã hội thì điền sản mang ý nghĩa phú cách. Như trường hợp đất đai nhà cửa tăng giá rất mạnh sau những đầu năm 2000 trở đi, nhiều mệnh Cự Môn trở thành đại phú, do Cự Môn chủ điền sản, các nghề nghiệp liên quan như buôn bán, xây dựng, thuê kinh thương khiến Cự Môn rất mạnh. Như giáo sư Ngô Bảo Châu nhận giải thưởng do mệnh Cự Môn Lộc Tồn ứng với điền cách được tặng ngôi nhà không phải là thứ khác. Nhiều bố cục tử vi có thể trợ cách, theo khuynh hướng tốt đẹp trên tính chất của mệnh cách, chỉ trừ trường hợp tuyệt khí thì khó, như việc cơ thể ta bất thường mắc bệnh ung thư tới cái chết khó phòng tránh.

Sunday, December 10, 2017

Luận nữ mệnh cách Cự Cơ hóa Kỵ

Nữ mệnh thuộc ngũ hành Hỏa, mệnh cách gặp bố cục Cự Môn giao hội với Cơ Đồng hình thành cách cục Cự Cơ Đồng, bất hoàn chỉnh cách cục Cự Nhật do đó bố cục này cần giao hội cách cục tốt đẹp hoàn chỉnh ý nghĩa. Với cách Cự Cơ Đồng thì bố cục Cự Cơ cư Mão Dậu được đánh giá hay nhất của cách cục này do sự giao hội giữa Cự Môn và Thiên Cơ tạo thành các ý nghĩa khá tốt đẹp. Ở đây Thiên Cơ và Thiên Đồng là hai sao chủ hiền hòa, bố cục này mang tính chất ổn định, ít gặp sóng gió do tính chất bằng lòng, và sự ham muốn về hưởng thụ tinh thần của bố cục. Tuy nhiên khi giao hội với Cự Môn thì sao Cự Môn đinh chủ thị phi tác động lớn tới bố cục của mệnh cách. Cự Môn là sao tài năng của nhóm Cự Nhật, do đó nhóm sao này chỉ gồm hai sao hoàn chỉnh tác động mạnh như ba nhóm sao lớn còn lại. Cự Môn hỉ đồng độ với Thiên Cơ do sao Cự Môn chủ thị phi tuy nhiên là một trong ba sao đứng đầu, có khả năng khai sáng dẫn đầu do khả năng, tiềm năng của bản thân. Do đó mệnh cách có sao Cự Môn tọa thủ tuy biến hóa khác biệt nhưng vẫn có nét khác thường, đặc biệt là cách cục Cự Môn giao hội với các bàng tinh tăng tính chất quan trọng. Cự Cơ là sự giao hội của Cự Môn và Thiên Cơ có tính chất phối hợp khá tốt đẹp.


Sao Thiên Cơ chủ sự lễ phép, cũng chủ hỏi, nghi vấn, từ đó Thiên Cơ là khôi sao chủ bí mật, chủ thời cơ do đặc tính cơ bản tạo thành. Thiên Cơ chủ hiền, chủ lợi ích riêng, nhóm riêng khi phối hợp với Cự Môn. Do đó cách cục Cự Cơ có phần chế hóa thành hữu dụng nột số tính chất của Cự Môn thành tốt đẹp. Cự Cơ thủ mệnh cách cục này chủ biến đổi, thay đổi khi gặp thời cơ, lợi ích trước mặt. Cũng chủ nghiên cứu sâu về học thuật, hay khám phá nghiên cứu. Cự Môn hay chê bai khi luôn cảm thấy bất mãn, bất công và Thiên Cơ chủ sự suy nghĩ, câu hỏi tác động liên tục lẫn nhau nên mệnh cách có khả năng tốt về nghiên cứu chuyên sâu. Mệnh cách chọn khuynh hướng của Cự Môn và Thiên Cơ với các hướng đi khác nhau mang lại cuộc đời khác nhau. Mệnh cách khuynh hướng Cự Môn thường có khả năng đặc biệt khi tập trung chú ý sâu vào sự việc sẽ nhận ra được những khuyết thiếu hay đặc điểm chỉnh do luôn tự đặt câu hỏi và mâu thuẫn với bản thân. Do đó Cự Môn trở thành văn tinh, nếu giao hội với các sao Khoa, Khôi Việt, Xương Khúc hoàn toàn có thể theo khuynh hướng nghiên cứu học thuật. Cự Cơ ở đây gặp Khoa Quyền Kỵ, đặc biệt cách cục Khoa Kỵ Triệt Đại Tuế tại bản cung khiến mệnh tạo có khả năng sử dụng miệng lưỡi, tức khả năng ngôn luận tốt hơn người khác.


Tuế Hổ Phù ở đây là cách bày tỏ quan điểm của bản thân tới bên ngoài, và do có được Phượng Khốc là một điều may mắn khiến mệnh cách trở nên tạo được sự chú ý của bên ngoài cũng vì cái miệng của bản thân, ở đây thuộc cách cục nổi danh do hình thành bộ Kình Đại Việt Quyền Khốc. Nổi danh đi liền với thị phi là đặc điểm đặc trưng của bố cục này. Cách cục này cũng mang lại chữ to lớn, khả năng thành tựu cao khi Cự Môn có Kình Dương, đặc biệt là Kình Đại thì ưa khởi tạo, làm chủ, bản thân có thể giành thế chủ động. Trong khi cung an THÂN với Đà La thì nhiều khi hay nghe lời một cách mù quáng, không suy nghĩ cẩn trọng. Cách cục Cự Cơ ngộ Kình Đại tức hoàn toàn đắc cách Song Hao là bố cục hoạch phát tài danh, nữ mệnh có bố cục này cũng luận hay do cách Cự Cơ hợp với cả nam lẫn nữ. Ở đây bố cục xấu là cách Cự Kỵ Kình Hình Việt chữ thái quá là thích hợp cho tổ hợp này. Đương số dễ thực hiện một cách thiếu kỷ luật mà theo khuynh hướng tự do, cách cục này dẫn tới vượt quá thời gian, chữ thái quá này như việc cố gắng làm một việc, hay quá giờ, hoặc quá sức. Tuy nhiên cách cục này lại mang khuyết điểm của Âm Dương cư Sửu  ở cung an Thân và Cự Cơ tại đây thuộc cách cục khá trễ nải, lười biếng, thường việc sắp đến thời hạn mới thực hiện, khả năng sắp xếp kế hoạch, thực hiện theo khuynh hướng ổn định trước kém.



Như cách cục này tương tự việc trễ giờ làm, đến muộn do bản thân thường sai lầm khi đánh giá các công việc. Tuy nhiên cách cục Thế Hổ Phù tại đây tạo ra đường lối nên chế hóa một phần của tính chất do bố cục mệnh thân tạo nên. Bản cùn Mệnh có Thiên Khốc, cách cục Mã ngộ Tam Thai khi bản thân tính dương lớn, nữ mệnh ưa xông pha, cũng ưa chủ động, tính chất tò mò, khám phá. Ở đây mệnh cách có Thiên Cơ giảm tính dương, tuy nhiên không đủ và khiến mệnh tạo gặp bệnh tật về phổi. Cách cục này mang ý nghĩa táo bạo, ưa đứng đầu và chỉ đạo, cũng giỏi việc cạnh tranh, tranh giành lợi thế cho bản thân do đó nếu theo Tài Cách là hợp mệnh. Cự Cơ hiểu biết tốt do đó nhìn ra các cơ hội. Ở đây cách Cự Cơ Kỵ Việt Quyền chủ tìm ra hướng đi khác lạ, cũng ưa việc này nên thường đạt được mục tiêu nhanh hơn, tuy nhiên mệnh cách lại ưa danh hão, chủ cố gắng cầm chừng, được một không lấn tới hai mà có phần do dự, tự mãn nên ảnh hưởng lớn tới cách cục phát của Cự Cơ. Mệnh cách có Cự Cơ với cung an Thân tại cách Âm Dương Lương thường trong họa không lường sẽ gặp phát may do Cự Cơ chế hóa được một phần tính bất ngờ của Không Kiếp, tuy nhiên cung an Thân tại vị trí Vô Chính Diệu thì không mấy hay ảnh hưởng lớn tới sức khỏe do gặp Cự Kỵ xung, nội cách có Đà ngộ Tang Hư Mã Khách là bố cục sức khỏe không ổn định.


Thân gặp Khôi Vượng Hư thì sức khỏe tuổi trẻ cũng ổn định, tuổi già gặp nhiều vấn đề, tuy nhiên một Lương ngộ Trường Sinh thì trong cái nguy hiểm sẽ được cứu không tới mức gặp bệnh nan y. Nữ mệnh có Cự Cơ ngộ Triệt Kỵ Khoa Đồng Quyền thì nội tâm dễ xúc động, cũng có tính cách thương người do ảnh hưởng của Thiên Đồng, tuy nhiên nếu xét trên lợi ích thì xét bản thân trước mới tới người khác, do đó dễ gặp sự ghen ghét, mệnh cách cũng mang tính chủ động giỏi cạnh tranh càng tăng mức độ xung đột. Mệnh cách dụng Quyền do Thiên Đồng hóa để chế hóa Kình Hình, cách cục Kình Kỵ Hình rất dễ bị người khác ghét bỏ, khi chế hóa thành thì biến hóa tính chất trở thành uy tín, danh tiếng khiến kẻ khác nể phục, với bố cục Cự Cơ dương tính hoàn toàn có thể chế hóa được cách cục này, tuy nhiên nữ mệnh không luận trước tùy khuynh hướng của đương số đặt vấn đề gia đình hay vấn đề sự nghiệp lên trên. Cự Kỵ Khốc Hình có Quyền là bố cục nổi tiếng của Tào Tháo thuộc cách cục. " A Man xuất thế do hữu Cự Kỵ Khốc Hình Thìn Tuất". Ở cung độ Thìn Tuất âm hiểm nên tạo nên tính cách của Tào Tháo. Mệnh cách tại đây ưa việc khoa trương, do hóa Khoa được chế mà thành, đây là cách cục khá hay khi thành thương nghiệp cách do hình thành bố cục tài năng được thổi phồng khi nhập vận phát, chủ phát danh hơn tài cách.



Mệnh cách nữ mệnh tuổi Đinh không thích hợp với Cự Cơ mão dậu ở phần tình duyên và phẩm chất ở thời xưa do cách cục này chứa nhiều thị phi của Cự Môn và cung phu thê luôn gặp cách cục Âm Dương Lương bị Đà Hao xâm phạm, đặc biệt vị trí cung Phu Thê là Âm Dương cư Sửu Mùi luôn gặp phải bộ sao kỵ gặp là Kình Đà. Đường tình duyên ắt gặp trắc trở với nữ mệnh là đúng với cách cục này. Nữ mệnh có Cự Cơ thì hợp hơn các sao khác do Thiên Cơ gặp nữ cách hợp với tính cách. Sao Thiên Cơ chủ suy nghĩ khi gặp Kỵ Hình Kình thường suy nghĩ thái quá, hay lo âu, đây là ngôi sao của cơ hội. Cách cục này tốt ở phần điền sản, mệnh cách có bộ sao này luôn không lo lắng về vấn đề nhà đất, hợp với ngành nghề liên quan tới điền sản, chủ sự luân chuyển, buôn bán tạo ra lợi ích. Nhìn chung mệnh cách nữ với Cự Cơ cư Mão bố cục khá tốt, ngộ Song Hao và Khoa Quyền Việt Phượng tuy nhiên kiến Kình Kỵ Triệt Hình không được chế hóa nên có khuyết điểm lớn, cuộc đời thăng trầm, bất ổn định, dựa vào đại vận để thành tựu. Một chữ Kình Phượng Việt thì khởi đầu, khởi tạo dù gặp nhiều khó khăn nếu nắm bắt thời cơ sớm muộn sẽ thành tựu vì đây là cách được ngưỡng mộ.