Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, October 6, 2016

Lá số Cự Cơ Mão Dậu p1



Lá số Cự Môn và Thiên Cơ đồng cư Mão Dậu


Nam Mệnh có Cự Cơ Mão Dậu có các tính chất khác với nữ mệnh, bộ sao Cự Cơ với nữ tình duyên không được tốt tuy mệnh tạo có tài năng lớn. Với nữ giới cung Phúc Phối Di nên tốt đẹp. Cự Môn và Thiên Cơ là cách không lợi về đường tình duyên. 
" Cự Cơ Mão Dậu bất đáo nhân duyên". 
Cự Cơ nhập Mệnh bộ Âm Dương Lương vào cung Phúc Phối Di. Thiên Lương cư Tị Hợi cư Phúc khiến cách này dễ gây ra rắc rối tình cảm vì Lương cư Tị Hợi khi không hợp cách dẫn đến cách nam lãng đãng, nữ đa dâm. Nam Mệnh mệnh Thủy, bản cung Mệnh là Cự Cơ ngộ Khoa Kỵ Diêu Y Tiểu Tang Triệt. Xét ở bản cung Mệnh là tính cách chung chi phối cả hai cung Tài và Quan, con người thành lập cá tính từ nhỏ. Cự Môn và Thiên Cơ nhập Mệnh có Cự Môn hóa thành Kỵ và Thiên Cơ hóa Khoa tuổi Đinh, gia Diêu Y kị với Cự Môn và có Tiểu Hao ngộ Tang Triệt. Bản tính người này là cách Cự ngộ Kỵ Diêu tính ám khá lớn, thêm Triệt là cách bài xích, phản đối. Nếu không có Hóa Khoa là cách cục xấu vì hình thành thêm bộ Cơ Tang chủ cơ thể bị vấn đề. Khoa tại bản cung lực cát hóa lớn, nếu ở tam hợp không hay bằng, ở cung xung chiếu giá trị giảm lớn. 
" Khoa Quyền củng chiếu bất như lâm viên". 
Như việc chính tinh tại Mệnh là Cự Môn hóa thành Kỵ khác sao Hóa Quyền ở cung Tài Bạch hóa thành Quyền. Mệnh Cự Môn cư Mão Dậu khác với mệnh Thiên Đồng cư Tị Hợi. Tam hợp là nơi rất quan trọng vì ảnh hưởng phần lớn tới bản cung. Bản cung mệnh Cự Cơ có cách không mấy tốt đẹp vì Hóa Khoa không thể giải cả bộ Cơ Tang và Cự Kỵ Triệt Diêu. Xét đến các cung tam hợp để luận hoàn cảnh môi trường và tiếp nhận của bản tính với các tác động. Do mệnh thuộc cách ÁM và có tính phản kháng, bất mãn nên kị các sao tăng thêm khuyết điểm. Các tác động trực tiếp là cung Tài và Quan ở tam hợp. Như một kẻ bản thân có bộ máy tiêu hóa tốt, nhưng đồ ăn mới là thứ quan trọng, nếu ăn phải chất độc thì phải chết, ăn phải chất bổ thì khỏe mạnh. Hai cung Tài Quan phối hợp với Mệnh mới có được kết quả chính xác về sự xuất phát của số. Cung Tài Bạch có Thiên Đồng hóa Quyền ngộ Việt Linh Hình Mã Hỉ Khách, cung Quan Lộc là cách VCD ngộ Thai Tọa Kình  Hư. Xét các cách quan trọng nhất là các cách trọng điểm, tức gây tác động hiển hiện và bộc phát lớn vì các cách này như các sự kiện quan trọng trong quá trình đi hết cuộc đời.



Xét tổ hợp lớn là Đồng Cự Cơ có Song Hao ngộ Khoa Quyền gia Tang Hư Khách với Diêu Triệt Kỵ Việt Linh Hình và Kình Mã Thai Tọa  hình thành bộ Cự Cơ Hao Kình gia Khoa Triệt Kỵ Linh Quyền Hình Việt và Mã Thai Tọa. Xét tổ hợp Mệnh là cách kinh doanh buôn bán và binh nghiệp là hai hướng chính của Mệnh. Ở bộ sao  Cự Đồng ngộ Kình Tứ Mộ có Mã Thai Tọa gia Việt Linh Hình Quyền, có Binh Tướng nhị hợp vơi Thiên Hình ở sao Tham Lang cư Dần, chủ theo ngành quân sự, lực lượng vũ trang,  nếu không có Khoa Quyền luận theo côn đồ du đãng. Khoa Quyền là hai sao chủ sự thành công, mệnh xấu có Khoa Quyền là cách cục cao hơn một bậc so với không có. Tuy hai hóa khí này có thể hướng sát tinh tới thành công nhưng không phải là sao giải họa nếu hung tinh tụ tập, đặc biệt là bộ Không Kiếp. Mệnh do có cách vi phạm kỷ luật là Kỵ Hình, có cách chống đối, phản kháng lại cấp trên là Cự Kình ngộ Việt Linh Hình Kỵ, có bộ Khoa Triệt án ngữ tại Mệnh nên không quá xấu, Tiểu Hao ở Mệnh giảm tính nghiêm trọng. Mệnh theo con đường danh khó thành nghiệp lớn vì bị cách Hư Kình tọa thủ cung Quan Lộc. Cách Cự Kỵ Triệt ngộ Việt Linh Hình Kình việc ăn nói dễ gây mất cảm tình, tuy vậy may mắn Cự Cơ không bị ngộ Lộc Tồn thuộc cách bất mãn tồn tại, là cách cục xấu của Cụ Môn. Vì vậy số theo con đường kinh doanh hợp thời hơn khi Thiên Cơ Hóa Khoa. Nếu theo con đường Quan Lộc dễ đổ vỡ, dù vẫn được đảm nhiệm chức vụ lớn vì Cự Cơ ngộ Song Hao có Khoa Quyền Kình Mã. Trong trường hợp đầu tư kinh doanh được cách Cự Cơ Mão ngộ Song Hao tức Cự Cơ ngộ Kình Dương là cách rất hay tạo thời cơ và biết vận dụng thời cơ, ngoài ra còn giải được một phần của Hóa Kỵ, tuy nhiên lưu ý bộ Kỵ Hình có thêm Tang Môn chủ phi pháp nhập hạn xấu cần cẩn thận nếu không phải vào tù vì sao Phá Quân ở Tật Ách. Cách Cự Cơ rất ưa gặp Song Hao vì ở đây tính thay đổi của Cự Môn đẩy cao vì có thêm Cơ Phá nhị hợp, Cự Môn cũng là sao chủ tài sản, thiên về nhà đất, tượng là cái cửa có sự khai mở của KÌNH hoặc trao đổi của Hao là cách trao đổi được hàng hóa, cũng là trao đổi tiền bạc. Trường hợp này có Triệt Tuần tại hai cung Mệnh và Di xung chiếu khiến tính lưu động giảm, may được Thiên Mã ở Tài cung vẫn hợp cho buôn bán, trao đổi. Cung Thiên Di vô chính diệu tọa thủ các sao Phượng Hổ Đại Khôi Quý Xương Tuần là cách Di tốt hơn Mệnh, cách này không mấy hay khi Mệnh hơi yếu, nếu Mệnh tốt luận bên ngoài trợ giúp, ca tụng Mệnh. Cung an Thân an tại cung Phúc Đức nên có cả bộ sao ở Thiên Di. Đặc điểm của người này là cung Thân tốt hơn cung Mệnh, cung Thân có sao Thiên Lương cư Tị ngộ Trường Sinh gia Xương Khúc Khôi Đại Tuế Phượng Tuần, xung là cách Việt Linh Hình Quyền Mã. Đây là bố cục cung Thân rất tốt, cung Thân chính là thân xác, cũng là thân phận cần thiết hơn cung Mệnh. Vì vậy, sự may mắn luôn đến khi cả đại hạn xấu. Ứng với câu phú Thân tốt hơn Mệnh tốt. 

Sunday, October 2, 2016

Cự Môn cư Thìn Tuất cách






Cự Môn tọa thủ tại vị trí cung Thìn Tuất


Cự Môn cư tại vị trí Thìn Tuất là cách Cự Môn độc tọa tại La Võng. Cự Môn không thuộc nhóm sao chủ khéo và giỏi như Vũ Khúc, Thiên Cơ và có đặc tính Ám nên khi nhập vào vị trí La Võng tức cung Thìn Tuất gây nhiều khuyết điểm xấu. Cự Môn và các sao ám không nên cư tại cung thuộc La Võng chủ dễ gặp nạn liên quan đến bị bẫy, Thiên La và Địa Võng có tính chất giống Đà La. Cự Môn rơi vào vị trí hãm địa bộc lộ bản tính Ám tinh, cách này tối kỵ giao hội thêm Đà La và Hóa Kỵ thành cách CỰ MÔN phùng Đà Kỵ tối hung. Ở cung Thìn, sao Thái Dương hãm. Cung Tuất ở vị trí đắc địa tốt hơn. Cự Môn là ngôi sao chủ tiếng nói, cũng mang tính thị phi. Nếu ở cung Thìn được sao Thanh Long, tức ở tuổi Đinh, Kỷ là cách Cự Thanh Hà là cách rất tốt đẹp cho Cự Môn, hóa giải tính Ám của sao này, cũng là cách phản đối được sự đồng thuận, với cách CỰ THANH của tuổi Đinh là hay mặc dù Cự hóa thành Kỵ, có thêm Hóa Kỵ trong trường hợp này tạo thành cách LONG HÀ KỴ chủ vận hội đến, như Thiên Cơ đắc cách. Thanh Long biến đổi tính chất có tính quyền biến, Thanh Long rất hỉ khi giao hội với Hoá Kỵ. Qua nghiệm lí cách Long Kỵ đồng cung chủ mưu kế tốt. Lưu ý trường hợp khác các sao Phi Liêm hoặc Phục Binh thủ mệnh có Hoá Kỵ tam hợp hoặc đồng cung như Phi Kỵ hoặc Binh Kỵ đều không hay bằng cách Thanh Long thủ mệnh. Luận giải các cách kia cũng khác nhau. Cự Môn hỉ được Hoá Quyền và Hoá Lộc. Với tuổi Tân sao Cự Môn hoá thành Lộc. Tính Ám của Cự Môn rất hợp với Hoá Lộc, chủ có tiền ngầm.
" Tân nhân tối ái Cự Môn".
Cự Môn là ngôi sao chủ đứng đầu, nếu có thêm Xương Khúc thành cách Tứ Hoá toàn phùng vì tuổi Tân an theo Cự Nhật Khúc Xương.
" Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát lộc tranh vinh".
" Thìn Tuất ứng hiềm hãm Cự Môn".
Hãm và Đắc tức là các vị trí xấu hay tốt của Chính Tinh khi an xong hai vòng Tử Vi và Thiên Phủ. Tính quan trọng của vị trí hãm đắc đặt lên hàng đầu vì chính tinh như một tổ hợp các bàng tinh. Chính tinh có tính quyết định lớn tới bản tính của con người. Cự Môn rơi vào thế Thìn Tuất xấu xa nhưng được tuổi Tân rất tốt đẹp vì có TỨ HÓA. Hóa là kết quả biến đối tính chất theo từng Thiên Can của Chính Tinh. Tứ Hóa có tính quan trọng hơn Chính Tinh vì là kết quả thành tựu của Chính Tinh. Cự Môn kỵ gặp sao Lộc Tồn. Ở cung Thìn các tuổi Quý và tuổi Canh ngộ Lộc Tồn là các cách cát xứ tàng hung. Tuy vậy, tuổi Quý được cách Quyền Lộc, tuổi Canh được cách Song Lộc nên không quá xấu. Cự Môn ngộ Hóa Kỵ gia sát là một trong những cách tai nạn sông nước.
" Cự Kỵ nên tránh đò sông, Binh Hình Việt Hỏa mắc vòng binh đao".
" Cự Đồng ngộ Kình Kỵ nhập mộ cung nan phòng thủy nạn".
Cách Cự Kỵ là cách cục xấu mà tuổi Đinh gặp phải, thuộc cách chủ bị ghét bỏ, cũng chủ sự lo sợ cho Cự Môn và Hóa Kỵ đều là hai sao chủ sợ hãi, lo lắng. Cự Môn rất kỵ Hỏa Tinh và Linh Tinh, đây là hai sao phản tác dụng của Cự Môn ngộ Hao cách. Cách Cự Môn ngộ Hao Kình hoặc Hao Đà đều là những cách khá hay. Lưu ý Kình Dương không ở các vị trí xấu như cách Kình ở Dậu của tuổi Canh. Cách Cự Kình là cách phản kháng, cũng chủ khai mở. Trái ngược là cách Cự Môn ngộ Đà La chủ sinh dị chí, Cự Môn ngộ Đà La không mấy tốt vì hai ám tinh gặp nhau, cần ngộ Hóa Lộc để giải tính ÁM. Kỵ ngộ thêm Hóa Kỵ thành cách Cự Môn phùng Đà Kỵ.


Xét về Cự Môn cần phải rõ đặc tính lo âu, sợ hãi của sao này vì Cự Môn chủ bất mãn, là ngôi sao có tâm lí không ổn định, mệnh có Cự Môn xấu thường khổ sở về mặt tinh thần, là cách bất mãn tồn tại không được giải quyết. Cổ nhân đưa ra câu phú thường luận cả cách CỰ ĐỒNG, tức Cự Môn chủ bất mãn, Thiên Đồng chủ khai thông, xấu hay tốt là do bàng tinh quyết định.  Cự Môn ngộ Hỏa Tinh là cách lo lắng thái quá vì Hỏa Tinh có tính động lớn. Thêm Kình Dương là chung thân ải tử.
" Cự Hỏa Kình Dương chung thân ải tử".
Hỏa Tinh có thêm Kình Dương là cách lửa bốc lên cao, nhập Mệnh có cách này chủ nóng tính khó làm chủ bản thân, cần những chính tinh chịu được Kình Dương và Hỏa Tinh. Như cách Tham Lang và Tử Phủ có bộ sao này rất hay. Sao Linh Tinh gặp Kình Dương có tính lạnh lùng, tính phản kháng của Kình Dương tăng. Cự Môn hỉ được bộ Đào Hồng, giảm khuyết điểm trong tính cách lo âu của sao này, do có THÁI DƯƠNG tam hợp cũng là cách ngày vui vẻ. Mệnh có Cự Môn kỵ hạn đến sao Thất Sát thường dẫn đến khủng hoảng về mặt tâm lí, nhất là cách Cự Kỵ. Thất Sát là ngôi sao chủ mất và được. Cách Thất Sát tại hạn không nên gặp thêm Hóa Ky, đặc biệt là cách Kỵ Hình rất xấu. Cự Môn và cách CỰ NHẬT luận tương đối dễ do đặc tính của Cự Môn và Thái Dương chỉ hai sao trong nhóm Cự Nhật. Cụ Môn là ngôi sao kỵ đứng ở các vị trí xấu, các bàng tinh Khôi Việt giúp tăng giá trị của Cự Môn , Xương Khúc khiến Cự Môn phản đối có lý lẽ, dẫn chứng thuyết phục, Tả Hữu tăng tính lãnh đạo của Cự Môn. Quan trọng hơn là hóa khí Quyền Lộc với hai tuổi Quý và Tân rất cần thiết để Cự Môn hoàn chỉnh.