Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Wednesday, August 22, 2018

Ngũ hành của mệnh cục.



Số mệnh và số phận là điều thường mỗi người được nghe và suy nghĩ. Những đứa trẻ sinh ra đã gặp tai kiếp, bệnh tật hay những đứa trẻ sinh ra có cuộc sống hạnh phúc, đầy đủ. Tai kiếp cũng tới với cả một gia đình không may, tới cả một dòng họ, một ngôi làng hay một quốc gia. Khi đó người đời luận với số phận, số mệnh. Cuộc đời luôn biến động, thời gian biến dịch. Mệnh đế, vương giả, tri thức, quan cách, binh tướng, bần nông, nô bộc thời trước hiện tại tất cả đã về cát bụi. Luận tử vi thì tất cả mệnh tạo đều phải tuyệt mạng nếu không bởi tai kiếp thì bệnh tật. Tuy nhiên lá số thực đại vận tới 12 cung hành vận rất dài so với tuổi thọ. Ngũ thập tri thiên mệnh, người tới tuổi này đã rõ được số mệnh của bản thân. Số mệnh tại đây là bản tính, tính cách cố hữu của bản thân tuy biến hóa nhưng cơ bản không thay đổi lớn, khác với tâm tính biến động theo vận. Như kẻ có nghiệp tới khẩu ngôn, tức khi người đánh giá mệnh tạo thường chủ định lời nói, khẩu ngữ mệnh tạo. Về lâu dài vạn vật đều phải suy tuyệt, tức khi biến đổi thái quá. Khi luận tử vi là định về bản tính ban đầu và phẩm chất tính cách dời đổi khi ứng hợp với khí hình của mệnh tạo. Mệnh, Thân và Vận rất quan trọng. Tuy nhiên có một số định cách cơ bản khi luận phối hợp mệnh vận tức biến đổi tính cách người luận có thể sai biệt khi luận. Vạn vật đều biến động phân thể và dụng, khí gốc và hình hóa là lý chung. Khi xét tới lá số tử vi. Ngũ hành mệnh và ngũ hành của cục thường định trước khi luận mệnh cách. Thường người luận xét Mệnh sinh Cục, Mệnh khắc Cục, Mệnh Cục bình hòa và trường hợp ngược lại của Cục. Luận tương ứng với hành vận tốt và xấu, cũng luận tương đối như Cục sinh Mệnh và Mệnh Cục bình hòa là tốt đẹp. Thứ tới là Mệnh sinh xuất Cục và Mệnh khắc Cục. Xấu là Cục khắc Mệnh. Tử vi đông a không luận cách xét như vậy. 



Thực lý với trường hợp theo luận trên sẽ có sai biệt khi các lá số Cục sinh Mệnh và Cục khắc Mệnh có bố cục lá số tử vi và khí hình có phần tương ứng luận bố cục tốt đẹp thành tựu rất lớn không gặp khó khăn. Thực sinh khắc không có tính tổng quan toàn lá số vậy, nếu vậy vận đại hung trùng phùng Sát Kỵ tác họa như cục sinh mệnh thì không phải vong mạng. Luận như vậy có phần khiên cưỡng. Cũng không xét luận trên là sai lầm, tuy nhiên không nên dụng khi chưa rõ để tránh rối loạn khi định cách. Người viết luận cách cục xét hợp hóa ngũ hành mệnh và cục để phối hợp định biến hóa thể dụng giữa mệnh cách tức bản tính ứng với các đại vận thay đổi tương ứng với ý nghĩa bố cục. Như Cục sinh Mệnh tác hóa của đại vận biến đổi tới tính cách ban đầu mạnh. Lưu phi tinh tác động tới đại vận ý nghĩa biến động mạnh hơn khi tác động tới mệnh cách. Mệnh sinh Cục chủ tác hóa của bố cục mệnh cách tới đại tiểu vận mạnh, biến đổi vận phối hợp mệnh, mệnh cách nắm lệnh. Trường hợp sinh là dấu cộng khi định cách phối hợp luận cát hung. Trường hợp Mệnh khắc Cục hay Cục khắc Mệnh luận ngược lại. Trường hợp khắc là dấu trừ khi định cách phối hợp luận cát hung. Xét phối hợp rất quan trọng tại tính chất cơ bản của tinh đẩu và toàn tổ hợp Mệnh với Vận. Do đó khi định cách được tính chất toàn tổ hợp khi giao hội mới cần thiết xét ngũ hành mệnh cục luận khuynh hướng biến đổi. Nếu không thì cũng không cần thiết tránh khó khăn khi luận tử vi. 



Như người viết đã từng luận về Tử Vi Đông A khởi nguyên mạnh thời Trần. Khi trải qua các vua Trần từ Trần Thái Tông tới Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông. Quân Nguyên Mông sang xâm chiếm Đại Việt gồm ba lần, đều bị đánh bại tan tác. Quân Nguyên Mông tức Mông Cổ và nhà Nguyên về sau. Sử còn ghi rõ vua Nguyên Thế Tổ tức Hốt Tất Liệt khi thua trận vẫn rất muốn đưa quân sang đánh nước ta. Tuy nhiên, các năm sau đó đều gặp đại hạn, có năm tướng lĩnh chết, năm phó tướng chết, trắc trở không thể xuất binh, cuối cùng Hốt Tất Liệt chết, đời sau không  gây chiến Đại Việt. Các đời vua Trần đều lấy Không làm dụng, thể là tham muốn hòa bình phát khởi Không cách, vận nước do vua, đều lấy tư tưởng tính Không để định khí hóa. Trước đó Đạo Lão định Không cách bằng hai chữ vô vi tuy nhiên tính chế dụng có phần chưa triệt để thực lý trị nước có phần chưa thực hài hòa. Tới Không cách của Phật Giáo từ đời Thái Tông tới Anh Tông đứng đầu quốc gia đều là nghiên cứu thiền học trở thành thiền sư thâm lý Không cách dụng thể tính. Đắc trợ cách hóa cục vận nước từ thế Tuyệt địa phùng Sinh, sức cát hóa hiển hiện, chủ không ngờ mà thành, việc như khó cùng. Sau khi thái bình thảy kẻ tinh thông toán mệnh, nghiên cứu mệnh lý đều rõ sự việc. Đông A Phái cũng nghiệm lý toàn cục, thấy rõ vạn vật không phải thực có số mệnh như trước đó lấy đạo mệnh làm gốc. Vạn vật sinh vượng suy tuyệt đều nhập Không là giai đoạn khó định cách. Trong Không cách hàm chứa vạn vật, những điều không tưởng xảy ra gặp từ cổ chí kim. Biết rõ không có số mệnh, chỉ có nhân quả hợp thành, từ tính cách mà sinh tai họa hay thành tựu, tính cách lại biến đổi tương tục qua mỗi thời điểm. 




Người đời sau luận tử vi qua phú luận nhìn vào Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc Khôi Việt không định rõ Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Tuần Triệt thì luận cách cục nghiệm lý khó toàn diện. Với Không cách thể dụng không mang ý nghĩa bản mệnh cách gặp Thiên Không Không Vong, Triệt Lộ Không Vong, Tuần Không Không Vong mà trong nội bản tính của tinh đẩu đều có thể dụng Không cách ứng hợp. Các sức bộc phát không ngờ, đột biến rất lớn rất nhiều bố cục do cách cục này tác hóa. Trong khi thể là Không lại dụng tham muốn, tham vọng cực vượng. Đây là trợ cách mạnh của tử vi. Với những người đứng đầu quốc gia, sẽ đứng đầu tại lý tưởng. Thời trước có một số cách luận về Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Do tác động lớn của phẩm chất quân tử ở đạo nho giáo tới việc định cách đạo đức, luân lý nên có sai biệt khi luận về hai nhóm sao này. Trước thời thế trọng chữ tín, nghĩa. Cũng do ý nghĩa của Thái Tuế chữ Thái là thực. Thiên Hư chữ hư là giả dối. Xét về giá trị đạo đức thường luận Tuế Hổ Phù tốt đẹp với Tang Hư Mã. Việc phân biệt vậy cũng như phân biệt Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc và Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình. Vạn vật biến động, dịch lý không ngừng. Bố cục hai nhóm sao trên không chỉ mang ý nghĩa vậy. Tang Hư Mã khi tốt như phú luận cách Đồng Tang ưa giúp đỡ, từ thiện với người. Tuế Hổ Phù khi xấu là đưa ra quan điểm sai lệch nhằm che dấu tội ác, chứng minh bản thân đúng như lý tưởng của Pôn Pốt, lý tưởng Hitle, lại có quần chúng theo tức Phượng Khốc. Chữ thực giả cũng biến đổi liên tục như quy luật dịch lý vạn vật. Chữ thực giả không mang ý nghĩa đạo đức. Cũng không luận khi mệnh tạo có Tuế Hổ Phù chủ lời nói thực. Kẻ mệnh tạo gặp Tang Hư Mã thường lời nói dối. Cũng như mệnh tạo không có Thiên Cơ vẫn tính toán bản thân trước người khác. Tính cách luôn thay đổi từng ngày hoặc từng giờ. Vòn đại vận là 120 năm. Thực tế không có mấy người đi được hết vòng này là tới cửa tử dù vận về sau tốt đẹp. Khi luận tử vi nên luận sự biến động thường trực với tất cả mọi cách cục, tính cách, tài danh, ngay cả toàn cục của tử vi. Vạn vật cũng do biến đổi hình thành tính tích lũy hoặc suy bại. Kẻ thất bại nhiều lần sẽ tích lũy được kinh nghiệm. Sát cách khi dụng hóa thành tựu thì tạo hoạch phát. Như kẻ rèn luyện nỗ lực thì dễ thành tài. Có những kiến thức khó truyền đạt từ tính mô phạm mà chỉ tự nghiệm lý mới có thể thấu rõ. Tử vi đông a luôn luận giải các lá số qua các thời kỳ của xã hội, luận định cách do tính dịch biến khi mỗi thời kỳ có phần sai biệt khi cái bên ngoài thấu lộ từ bố cục tinh đẩu là ngoài đời thực thay đổi, xã hội thay đổi, vị thế quốc gia với vận thiên hạ cũng thay đổi biến động từ mọi mặt. 

Thursday, August 16, 2018

Tính chất cách cục ứng thành tựu



Từng cách cục dẫn tới khuynh hướng thành tựu khác nhau. Luận riêng rẽ và luận toàn tổ hợp nhóm giao hội khác nhau. Từng nhóm sao mang ý nghĩa khác nhau về đặc trưng. Mỗi người đều có tất cả các đặc tính của toàn bộ tinh đẩu. Với tinh đẩu nhập Mệnh là bản mệnh hướng mạnh, tụ hội với tính chất của tinh đẩu hình thành tính cách bản thể. Lưu ý cách cục mệnh là bản tính, không phải toàn tư tưởng. Mệnh tạo có Tuế Hổ Phù không phải luôn nói sự thực. Mệnh tạo có Hư Mã Tang không phải luôn nói lời xã giao, giả dối. Trong tính cách của mỗi mệnh tạo hàm chứa toàn bộ cách cục trên lá số. Người luận tử vi thường nhìn vào bố cục mệnh cách đánh giá về tính cách, bản tính tốt xấu của mệnh tạo dẫn tới sai lầm khi luận giải về sau. Lưu ý về Bản tính, tính cách và lý tưởng khác nhau. Bản tính chủ hình thành có tính vô căn. Tính cách là thể động, thay đổi biến động theo vận. Lý tưởng chủ đường lối của mệnh tạo hướng tới. Lý tưởng, hoạt động đã thành hành động, thành kết quả, do đó có giá trị so với suy nghĩ trong nội tâm. Bản thân có tồn tại thì có tham muốn, sinh ra vị kỷ. Bản thân khi ngũ hành còn hợp hóa thì nhân mệnh còn, ngũ hành tan rã thì tuyệt mạng. Bố cục ngũ hành tan rã khi một hành khắc chế quá lớn khiến vòng tương sinh không cân bằng. Cũng do tính bất ổn vậy nên mệnh cách thành tựu lớn cũng thường thiên lệch về ngũ hành tương sinh, tương khắc. Như Hỏa lấn át thì Kim suy. Mệnh tạo khởi Kim thì gặp hung hiểm. Sự ổn định không tạo nên đột phá. Lại Kim được cứu giải bởi Thổ sinh thành bổ cứu rất quý. Sự thiên lệch của ngũ hành sinh khắc khiến mệnh tạo biến động mạnh trong cuộc sống. Tính cách hay bản tính có thể quy về ngũ hành, vạn vật cũng vậy. Vật cùng tắc biến, hay vật cực tất phản là biến hóa căn bản của dịch lý. 




Thể dụng của chế hóa tử vi bởi lý quy luật căn bản của vạn vật, không phải thứ kỳ bí, hữu thần. Một dân tộc khi bị xiềng xích phải đứng lên đấu tranh. Một kẻ bị áp bức sẽ đứng lên phản kháng. Khi lâm vào thế cùng thì vật phản kháng rất mạnh. Trong trợ cách chế hóa Sát tính tích lũy qua khó khăn, bế tắc trước khi tới thời điểm hoạch phát rất quan trọng. Trong quá trình dịch biến tạo áp lực, đè nén lớn tới bản thể, dẫn tới rối loạn, loạn động do Sát cách hoạt động mạnh bởi tính chất cơ bản. Một người thành tựu từ chữ không sẽ luôn có giai đoạn quyết định khó khăn. Trong trường hợp này kẻ liên tục bám nắm, lâm nguy không loạn, không sớm từ bỏ hoặc ra quyết định sai lầm thì thời cơ phá vỡ thế bế tắc, hoạch phát tới. Đây là điểm cát hóa khí hình của Sát cách. Hữu cách cục chế hóa Sát có hai mặt, là dao hai lưỡi bởi Sát tinh là tinh đẩu có sát tính, có tính chất tác họa, trực tiếp tới chữ Sát, được mất, đánh đổi, khi hội đủ cách cục liên quan tới tài, danh hay nặng hơn là tính mệnh. Lại mỗi mệnh tạo do bản tính, tính cách giao hội Sát cách mang tính dụng khác nhau. Bố cục này chỉ luận cho mệnh cách, tức vận số của bản thân khi xét lá số tử vi của mệnh tạo. Với vận làng tới vận nước, vận thiên hạ có sai khác. Với vận thiên hạ như bệnh dịch hạch tại Châu Âu. Ở vận làng có nơi gầm như cả làng tử mạng. Ở vận nước tức khu vực này tử mạng khoảng 1/3 dân số. Ở vận thiên hạ xét thế giới cứ 5 người có 1 người vong mạng. Dịch bệnh hầu hết xảy ra tại Châu Âu tác động chủ tới vận nước. Chỉ khoảng 4 năm chưa đầy nửa đại vận cũng gần một nửa dân số Châu Âu tử mạng. Vận nước trong nạn đói năm 1945 Ất Dậu. Tại Thái Bình có làng ngàn người chết chỉ còn vài người. Trong chưa đầy tiểu vận nạn đói khiến cả triệu người tử mạng, nhiều làng quá nửa dân số chết vì đói. Khi Sát cường vượng không thua kém trong thời vận chiến loạn. 




Những cách cục vậy, không phải tất cả đều có lá số tử vi hạn tam hình, sát kỵ giao hội. Cũng không phải do ứng hợp cách cục tuyệt khí hay do mệnh ác nên chịu quả báo như phú thường luận. Khí hình vận tác hóa của vận nước nặng nề, đều không nằm ngoài quy luật  nhân quả. Nguyên nhân do chính sách của Nhật, chính quyền Pháp. Luận tử vi phải rõ lý biến dịch bất biến của vạn vật. Trợ cách của Tử Vi Đông A là khởi từ mệnh tạo, trường hợp không gặp tai kiếp bởi vận nước, vận thiên hạ là ngoại tác. Thực tế là chỉ thay đổi trong tư tưởng dẫn hóa cách cục,  dụng trợ cách biến hóa bố cục mệnh cách. Như một kẻ có tài năng nhưng chưa bản thân chưa tận dụng, hoặc một kẻ có tai kiếp báo trước trên lá số cần phòng tránh ở nội sự việc trong chính lá số. Với ngoài lá số tức các vận khí lớn hơn tác động không mạnh trừ việc khí hình cường vượng ứng hợp. Lá số tử vi chỉ là một tờ giấy ghi cố định bố cục  mệnh thân vận, lập từ tứ trụ, cần khí vận ứng hợp thấu xuất ra ngoài nên phải thua vận làng, vận nước. Trợ cách dụng cũng không thể vượt qua, chỉ điều hòa cát hóa cách cục theo khuynh hướng hợp cách. Thời hiện nay, thời vận bình ổn các lá số đều có khuynh hướng luận theo khí hình tương ứng khí Sát không lớn, lá số tử vi vận hung họa tác động mạnh tới mệnh tạo. Ở thời vận làng, vận nước xấu, mệnh hạn tốt đẹp còn gặp họa lớn, nếu  trùng phùng Sát Kỵ dễ tuyệt mạng. Ở thời vận làng, vận nước bình ổn, mệnh hạn tức vận của bản mệnh, số mệnh trùng phùng Sát Kỵ cũng dễ gặp hung họa. Vận nước là bên ngoài tác động. Vận số mệnh là tự bên trong tác họa.





Một số định cách cơ bản khi luận quan trọng tuy nhiên do thường cố hữu nghiên cứu các sách tử vi do một người biên soạn chứa quan điểm của bản thân người luận dẫn tới định kiến sai khi luận giải lá số nên có điển tích người viết sử dụng lại tùy bài viết luận khác nhau. Cốt rõ được lý của luận tử vi. Trong luận cách cục định cách tương ứng. Sát Phá Tham là nhóm sao đánh đổi, có tính độc lập lớn, ưa đột phá, khám phá, chịu áp lực lớn do sức tác hóa của toàn cục. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là nhóm sao xây dựng, chủ đường lối đứng đầu trong bộ máy tổ chức. Cự Nhật là nhóm sao chủ lập trường, thái độ, ngôn ngữ. Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao hướng tới tinh thần, mối quan hệ tình cảm xã hội. Mỗi cách cục có tính chất khác nhau, thành cách khác nhau, tác họa cũng sai biệt, dụng Sát cách biến hóa tùy tính chất phù hợp. Thay đổi bản thân trước mới có thể thay đổi thiên hạ với tu thân đứng đầu. Với người trẻ khi gặp bế tắc lớn luôn là trước lúc thành tựu đột phá. Khi lắm kẻ bỏ cuộc, đầu hàng thì một số ít chịu áp lực tìm kiếm thời cơ vượt qua. Trong thiên hạ, cũng chỉ rất hiếm kẻ thành tựu lớn lưu danh. Cuộc đời như cõi mộng, thoắt đã tới gần tuổi trời cho,  thực công danh trước mắt trôi như nước. Người theo binh nghiệp thời loạn thường nhìn thấy rõ thế sự cuộc đời sinh tử phút chốc. Nếu có tham muốn lý tưởng theo đuổi là ý nghĩa của sao Tử Vi. Đây là chính tinh có tính chất rất quan trọng trên lá số cũng là tên của môn toán mệnh tử vi lý số. Thời phong kiến tiền nhân khuyên an phận thủ thường. Thời hiện nay nếu có tham muốn, lý tưởng lớn nhất định nên cố gắng thực hiện, nếu không gây hại đã là tốt, đóng góp được tới xã hội thì không nên do dự.