Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, May 2, 2019

Vòng quay cuộc đời và bước ngoặt.

Trong cuộc đời nhân mệnh, áp lực trong những định hướng do hoàn cảnh, áp lực cuộc sống, bất công tác động dẫn dắt bởi than muốn và định hướng cuộc đời. Khi chịu tác động của công việc được giao, trách nhiệm trong công việc dẫn tới đè nén, đặc biệt trong thời kỳ cạnh tranh, thay thế hiện nay, cần tự lực vượt qua hoặc chịu thế bị động khiến mệnh tạo trở nên bất lực khi tâm loạn động. Ở riêng rẽ tính chất mỗi tinh đẩu hình thành các khuynh hướng riêng biệt. Nhóm chính tinh ưa phản ứng, phản đối khi gặp áp lực, đè nén như Cự Nhật. Nhóm chính tinh ưa dụng tình cảm để thay đổi hoàn cảnh như Phủ Tướng. Nhóm sao chủ tự hướng tới tư tưởng trấn an, ổn như Cơ Nguyệt Đồng Lương. Nhóm sao hướng tới tính khai phá, phá bỏ sự áp lực là Sát Phá Tham. Nhóm chính tinh chủ hình thành tư tưởng cống hiến, xây dựng lý tưởng tới xã hội, tổ chức là Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Cách cục chịu tác động lớn của áp lực, biến động là Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham do trong nội cách có hai khuynh hướng, lý tưởng riêng rẽ giữa Phá Quân ưa phá bỏ, khai phá và Tử Vi ưa xây dựng, khai tạo. Trong số đông thời chiến loạn đều có khuynh hướng ở thế bị động, chịu đè nén do hoàn cảnh tác động khi cần nhập tuyển binh. Trong giai đoạn hiện nay là áp lực của công việc, tiền bạc, địa vị. Áp lực tác động do miệng lưỡi, hoặc các mối quan hệ, lợi ích, cô lập, biến hóa phức tạp. Tuy nhiên áp lực là khởi phát của đột phá, thành tựu. Tính chất của đè nén, áp lực tác động là hình ứng của cách cục Sát. Trong cuộc sống, việc gặp áp lực là vốn có khi các mối quan hệ xã hội hình thành, hoặc khi hướng tới tham muốn của nhân mệnh, hoặc về bệnh tật, kế hoạch của tổ chức, vị trí đảm nhiệm, khởi phát là củng cố và phát triển, siết chặt tư tưởng khiến trong tư tưởng hướng tới xung quanh hoàn cảnh tác động, hình thành nên số phận, thường luận là nghiệp, từ nghề nghiệp tới số phận. Việc thay đổi tư tưởng dẫn hóa hoàn cảnh thường phải phá thế cục chịu bị động do Sát cách tác hóa. Tuy nhiên các cách cục này thường ở thế phức tạp, loạn động khó thể dụng. Khi tạo đột phá thành tựu do áp lực thay đổi lấy tham muốn dẫn hóa. Tính chất này không chỉ ở những giai tầng thấp của xã hội, ở các tầng lớp cao cũng chịu tác động rất lớn, do khởi từ bố cục Sát nên bất kể nhân mệnh đều chịu tác động. Trong giai đoạn cạnh tranh, tranh đoạt của các doanh nghiệp phát triển, hoặc trong tổ chức đều tồn tại cách phát triển và loại bỏ, đào thải. Tham muốn phát động khiến mệnh cách nghị lực vượt qua thăng trầm, chế dụng Sát cách. Tuy nhiên mỗi Chính Tinh nhập mệnh đều gặp khắc kỵ. Trên thiên bàn gồm 14 Chính Tinh, trợ tinh Khoa Quyền Lộc, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt. Sát tinh gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình. Cách cục Sát là bố cục khi giao hội của Sát Tinh với các sao khác. Do tính khó chế hóa nên cách cục Sát thường mệnh tạo ứng cách cục tổ hợp cường vượng và thời vận lớn có thể dụng hoạch phát tài danh. Nếu cách cục bất ổn, nhân mệnh bất ứng hợp khuynh hướng ắt chịu họa tai kiếp lớn, thường bệnh tật tai nạn. Đặc biệt trong cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Ngay với lá số nhân mệnh song sinh tức cùng giờ ngày tháng năm sinh, cùng phụ mẫu khuynh hướng tư tưởng sai biệt, hoàn cảnh sai biệt dẫn tới bố cục phát triển sai biệt. 






Chế ngự bố cục Sát lấy khí hình làm gốc. Cùng mệnh đại phú tuy nhiên thành tựu khác nhau, do tính chất hoàn cảnh khác nhau, ứng hợp khác nhau, dụng chế hóa khác nhau dẫn tới tư tưởng có sai biệt. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là cách cục mạnh do sức ổn định với Sát Kỵ của tổ hợp Tử Vũ Liêm phối hợp Phủ Tướng rất lớn. Trong khi Cơ Nguyệt Đồng Lương thường ứng với cách cục bình hòa, do tính sai biệt tính chất từng cách cục. Tuy nhiên cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương ít gặp tai kiếp do mạo hiểm như Sát Phá Tham hay Cự Nhật. Với Sát Phá Tham tượng như người cầu may bởi đánh cược, khi dẫn bởi tham vọng của Tham Lang và tính táo bạo của Sát Phá.  Với Cơ Nguyệt Đồng Lương do tính âm nhu hướng tới thay đổi an toàn. Trong khi Tử Phủ Vũ Tướng Liêm nhấn mạnh tính tổ chức, chung sức. Cự Nhật thiên về thực lực của bản thân, tuy nhiên có tính cô khắc, dẫn tới khuyết điểm lớn thường gặp khó dụng được tập thể. Một mệnh cách Cự Môn trong cách Cự Nhật cư Dần hội Tuế Kình Linh Việt gần đây người viết có gặp. Nhân mệnh có học vị rất cao, khả năng am tường về vấn đề kinh tế rộng, có địa vị xã hội tuy nhiên khi kinh thương, khởi tạo doanh nghiệp gặp thất bại do mâu thuẫn trong nội bộ, do phương hướng sai lầm của người đứng đầu, dẫn tới phá sản, mệnh tạo quay về với việc giảng dạy. Một mệnh cách Cự Môn với bố cục Cự Cơ Lưỡng Lộc Tang Mã Hình Hỏa phát danh ban đầu nghiên cứu về cơ khí, sau bỏ học kinh thương về máy móc, hành vận Vũ Phủ khởi tạo kinh thương phát tài lớn, do cách Tử Phủ Kình Dương hợp cách cự thương được Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh đứng đầu tổ chức, cách cục ổn trọng hoạch phát. Trong định cách cục chủ Tài cách, Lộc Mã giao trì cổ nhân luận đứng đầu. Do bản chất của phát tài do trao đổi giá trị. Là thế động tài. Trong thời đại hiện tại, cách cục bạo phát mang khuynh hướng kích phát lớn hơn tất cả giai đoạn trước, khi thời cơ đều được chia đều cho mỗi người. Tuy nhiên bản tính khó dời, trong cách cục mệnh tạo hoặc hành vận nếu không hình thành trọng điểm hoặc cách cục khai phát chế hóa mạnh, mệnh tạo sẽ khó thoát khỏi việc chịu tác động vòng xoáy của Sát Kỵ, của việc hưởng thụ do vật chất phát triển, từ việc lo ngại về thay đổi cuộc sống. Tuy nhiên thường khi nhân mệnh quyết định phải thay đổi là khi thế bĩ đã tác hóa cùng cực, thường lâm thế bại. Trong khi thời vận là giai đoạn đang phát triển ổn định tạo đột phá là khi thế bĩ đang hình thành có thể hóa cát. Thí như trong tiểu vận Sát Tồn Đào Không, nhân mệnh dù nỗ lực ắt cũng khó thành trong năm này, tuy nhiên Đào Hoa trong cách Đào Sát luôn kích phát thay đổi dẫn tới cách bại cục. Đây là hình thế của tổ hợp cung trọng điểm. Cũng như dịch lý thái bĩ luân chuyển. Phù thịnh bất phù suy. Trong giai đoạn phát triển ổn định luôn ẩn tàng khí Sát vô hình, dẫn hóa bởi Không Kiếp là chữ không ngờ. Trong giai đoạn bế tắc lại ẩn chứa thời cơ tạo bước ngoặt nhảy vọt. Như một thế cờ, kẻ chiếm phần thắng sai lệch một ly dẫn tới bại cục. Hai chữ ổn định là nơi gặp nhiều bất ngờ. Chỉ chế dụng Sát cách tiền nhân đã nghiên cứu nhiều thế hệ. Nắm thế sinh khắc chế hóa của cách cục để xác định vận cát hung. Trong các cách cục Sát phân định thế thượng trung hạ. Nếu Đồng Lương cách hội Khoa Quyền Lộc Xương Khúc không bằng hội Lưỡng Lộc Linh Kỵ Quyền. Sai biệt do Linh Kỵ dẫn cách cục Đồng Lương hiền hòa thành quyết đoán, khi có Lộc Tồn và Hóa Kỵ là cách cục chủ đa nghi, lấy Quyền hóa làm Sát vượng, có tính kích phát và khuynh hướng dị biệt. Nếu Đồng Lương ngộ Không Kiếp cư Dần Thân hội Tả Hữu Quyền Khốc tại cung độ Dần Thân là thượng cách. Xét tất cả tinh đẩu ở tính chất bất phân biệt cát tinh và sát tinh thì tránh được sai lầm do tập nhiễm của phân biệt. Đồng Lương ngộ Thiên Không tại bản cung tính chất khác hoàn toàn ngộ Địa Kiếp tại bản cung. Không Kiếp tăng cường tính thăng trầm với mệnh cách Đồng Lương, phá thế ổn định của cách cục. Cách Đồng Kiếp chủ tâm cơ diệu tính. Đồng Lương gặp khuyết điểm do tính chất ôn hòa, Thiên Lương ưa bộc lộ gặp Thiên Đồng có tính tập thể, cộng đồng, tính chất phúc ấm khiến mệnh cách thường giải đãi. Cách cục Đồng Lương Không Kiếp hội Tả Hữu khi biến động không ở thế Tuyệt do Không Kiếp nhập Dần Thân là cách cục xung chiếu, nếu nội Kiếp ngoại Không chủ Đồng Kiếp thủ mệnh là cách cục tốt do mệnh cách chủ tính toán sâu xa. Trong khi cách Đồng Lương ngộ Thiên Không tại bản cung, Địa Kiếp đối cung tính chất bất ngờ, chủ họa từ bên ngoài vào. 






Trong các giai đoạn khác nhau của xã hội, tính chất biến hóa của tinh đẩu khác do hóa khí khác khi ứng hợp. Trong giai đoạn hiện tại, Vũ Tham nắm lệnh về Tài Cách, dp tính chất nắm bắt với thời vận của nhóm sao này và kích phát khi chịu giai đoạn mâu thuẫn của Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm.  Với mệnh cách gặp bố cục tham muốn Tài cách, ắt khuynh hướng lấy phát phú làm trọng. Lại phân phát phú do kinh thương hay theo quan lộc. Tài sản là việc tích lũy giá trị, sinh ra quyền lực, uy tín và danh vọng. Trong giai đoạn phong kiến, lấy tước vị để phân định thứ bậc trong xã hội, do tổ chức triều đình tức quan lộ có quyền uy lớn. Các cách cục ứng câu phú trong giai đoạn này. 
" Tử Vi vô Hình Kỵ, Giáp Đinh Kỷ vị chí công khanh". 
Tại đây công và khanh là các phân cấp địa vị xã hội trong từng giai đoạn lịch sử. Gồm các địa vị trước đây như Công, Hầu, Khanh, Tướng, Sĩ, Nông, Công, Thương, Canh, Tiều, Ngư, Mục. 
" Tử Sát đồng lâm Tỵ Hợi, nhất triều phú quí song toàn"
Cách cục Tử Sát cư Tị Hợi thuộc thế đứng Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Khi Tử Vi ngộ Thất Sát có tính tranh đoạt lớn. Ngộ Quyền tinh thành tinh anh, do tính chất của Thất Sát hóa thành Quyền. Tử Vi chủ công, lý tưởng, hoạt động. Với Tử Sát cách nếu không gặp Quyền chủ hư danh do Thất Sát là được và mất, sai lầm. Cách cục Tử Sát tranh đoạt ứng với chữ Quý lớn hơn chữ Phú, thành tựu trong giai đoạn rối ren của tổ chức, triều đình giai đoạn phong kiến. 
"Cơ Lương hội hợp thiện đàm binh, cư Tuất diệc vi mỹ luận".
Cách cục của Cơ Lương tính chất sai khác  với Tử Vi tại mệnh. Thiên Cơ chủ mưu cơ, Thiên Lương tính chất bộc trực thường có khuyết điểm, khi ngộ Thiên Cơ thành cách cục chủ đưa ra các quan điểm, tham mưu. Do đó Cơ Lương luận đàm binh kế sách mưu lược tốt. Đây là cách cục chủ tham mưu, nếu ứng Quan cách ứng chức vị tham vấn, nếu ứng Tài cách là cự thương. 
"Liêm Trinh Thân Mùi cung vô sát, Phú quí thanh dương phiên viễn danh".
Liêm Trinh là chính tinh nằm trong nhóm Tử Vũ Liêm, có tính soi xét, kiểm tra, thanh tra. Do tính chất chủ phát danh, các bố cục mệnh Liêm Trinh ứng tính chất thanh dương viễn xứ, danh tiếng, liêm khiết nổi danh tới nơi xa. 
"Liêm trinh nhập miếu hội Tướng quân, Trọng Do uy mãnh".
Liêm Trinh do có tính suy xét, chú trọng tính chất thanh lọc, bài trừ khuynh hướng sai lầm cho Tử Vũ Liêm. Liên tục suy xét, lấy đạo phù hợp quan điểm đương thời làm gốc, do đó tính tất cương, chủ quyền tín. Với cách cục hội Tướng Quân tức Tử Vũ Liêm giao hội Lộc Tướng Ấn. Liêm Trinh gặp Ấn lệnh tức nắm binh quyền, lấy thanh danh làm gốc do đó tính chất uy dũng. Tính chất này khác hoàn toàn bố cục "Kình tứ mộ, Mã triều lai, biên cương ắt hẳn trổ tài võ công" tính chất uy dũng do táo bạo ưa đánh phá của Kình Dương và nghị lực, khả năng ứng biến của Tang Hư Mã. 
"Dương cư Ngọ địa, Nhật lệ trung thiên, chuyên quyền chi vị, địch quốc chi phú"
Trong cách cục Thái Dương cư Ngọ là bố cục Cự Nhật hoàn chỉnh, với Cự Môm tam hợp chiếu có tính kích phát. Thái Dương cư Ngọ chủ phát triển, hướng lên. Cự Môn hội có dương tính mạnh, do đó bản chất là chuyên quyền. Khi xét định Phú cách tính chất phát triển, dương lên của Thái Dương khi có Cự Môn là sao chủ đứng đầu có tính khai phá, bày tỏ phản đối, bất mãn khi gặp sai sót. Tính chất phát đại phú do Thái Dương cư Ngọ cát hóa mạnh với Cự Môn, chiết giảm khuyết điểm ưa phản đối, ưa bất mãn của sao này. 
"Nhật Nguyệt Sửu Mùi ái ngộ Tuần Không, Quí Ân Xương Khúc, văn tất thượng cách, đường quan xuất chính".
Cách cục Âm Dương cư Sửu Mùi chủ đồng tranh, ngộ Tuần tức Tuần Trung Không Vong tại chính vị trí cung độ Âm Dương. Lưu ý ngộ tức đồng cung. Âm Dương tại Sửu Mùi bản cung ngộ Tuần tăng tính chất quan trọng của bố cục, do tính chất của Tuần Trung chủ quan trong, cách cục mang tính chất lời nói có giá trị, được chủ ý. Giai đoạn xã hội thay đổi từng ngày, các cơ hội phát sinh và tri kiến được lưu truyền trên thông tin. Thực tế đây là thời vận của mệnh cách tham vọng lớn, kiên quyết bám trụ với mục tiêu. 




Một cách cục Liêm Tham người viết luận gần đây khi chỉ hội Kình Tang Khốc hành vận Thiên Tướng Kiếp Không tại Tị chiếu về. Tư tưởng khai sáng mạnh, đứng đầu một lĩnh vực lớn trong lĩnh vực thông tin khi tới hành vận thứ ba, thành tựu tới rất sớm. Liêm Tham cách không gặp Hỏa Linh tuy nhiên kiến Kình Tang Khốc là cách cục vượt qua khó khăn trắc trở lớn, kiên trì với tham muốn. Tham Lang có tính chất học hỏi, qua hành vận Cự Môn trong thế Cự Nhật hình thành thế bất mãn, quyết tâm với nghiên cứu về thông tin. Do tính chất thời vận do công nghệ dẫn tới bộc phát trong hai tiểu vận bạo phát trong hành vận Thiên Tướng. Tuy nhiên Liêm Tham cách là bố cục gặp khó khăn liên tục, hoạch phát hoạch phá ắt sẽ gặp phá tán trong hành vận này sau khi hoạch phát. Hướng đi khác biệt là sự chế hóa hữu tình của Sát cách, khi nhân mệnh táo bạo dẫn tới bế tắc, khi vật cùng tắc phản, tạo hoạch phát lớn khi thời vận của vận thiên hạ tới. Trong giai đoạn hiện tại xã hội phân giai cấp khác với giai đoạn phong kiến. Nhân mệnh tự do khởi tạo về Tài cách, tự do các quốc gia sinh sống. Cách cục Phá Quân hội Lộc Tồn giao hội tinh đẩu chuyển động có khuynh hướng ly hương xuất ngoại, mang tính ất ứng hợp khá tốt đẹp. Trong giai đoạn hiện tại Tử Phủ Vũ Tướng Liêm tính chất thừa kế với chế độ phong kiến biến hóa mang ý nghĩa khác. Mệnh cách khí hình bất cường vượng, Thiên Phủ nhập mệnh xuất thân bình hòa khó có thể tạo kích phát như cách cục Cự Môn, hay Phá Quân hội Kình Tang. Như cách cục Liêm Phủ hội Lộc Tồn Tả Hữu Xương Khúc tức đắc Ấn lệnh sức thành tựu không lớn như cách Cự Kình Kỵ Hình Khốc. Trong giai đoạn phong kiến cách cục Cự Kình Kỵ Hình Khốc ắt thường gặp họa lớn sát thân do tính ưa phản đối, chống đối. Sát tinh trong giai đoạn hiện tại có tính chất tai kiếp giảm thiểu do bệnh tật có thể chữa trị phần lớn, tai kiếp do chiến loạn, hình thương không lớn. Tuy nhiên nếu bố cục Vũ Phủ hội Lộc Mã Tả Hữu tính chất Tài cách cực vượng, do Vũ Khúc chủ tài cách, là sao có tính động, giải quyết công việc, hàm chứa Sát tính khi hội Lộc Mã giao trì cát hóa mạnh. Địa vị xã hội chịu tác động mạnh bởi Tài cách, Vũ Phủ hóa thành quyền lực. Sát cách khó định bố cục, do tính chất hai mặt thường gặp đổ vỡ, phá cách khi tạo thế bế tắc. Giai đoạn hiện tại cách cục kế thừa từ Phủ Tướng vẫn có giá trị lớn, tuy nhiên cần xét tới khí hình gốc, bao gồm xuất thân từ gia đình. Cách cục chủ giải trí, thương mại phát triển lớn, khiến Vũ Khúc tăng tính chất vượng tài. Thường tiền nhân khi xét thời vận thiên hạ định khí hình của mệnh khí rõ về tính biến hóa của tinh đẩu. Nếu mệnh tạo gặp cách cục Lưỡng Lộc hội Mã Khốc Khách bất xét luận ắt mệnh phát phú. Tuy nhiên mức độ hoạch phát xét rõ khi ứng với khí hình. Do tính chất trao đổi, lưu động của Mã Khốc Khách có lợi khi Lưỡng Lộc tích lũy tài sản mạnh. Mệnh cách Tham Hỏa hay Vũ Tham hội cách cục này ắt đại phú. 





Khi xét tới chữ quý, là các bố cục chủ Quan cách. Nếu Thiên Tướng hội Không Kiếp Hình Ấn là cách cục quan lộ thăng tiến lớn. Các cách cục chủ tính bộc phát khi tích lũy như Cự Tồn, Phá Tồn, Tham Xương, Đà La, Thiên Khốc, Thiên Việt thường người nghiên cứu tử vi chưa đánh giá đầy đủ tính chất khi giao hội. Một Kình Dương khởi tạo thường gặp khuyết điểm ở tính vội vàng. Đà La chủ mưu tính sâu rộng, chữ nhẫn. Kình Dương cần thiết táo bạo. Đà La cần thiết kiên nhẫn. Hai khuynh hướng đều mang đột phá lớn, tạo phẩm chất quý, là tính chất tốt đẹp của Sát Tinh. Thiên Không có tính bất ngờ thường gặp khi phát may, phát tài, phát quan không ngờ mà được. Địa Kiếp có tính chất suy xét, nắm bắt vấn đề, tính tranh đoạt, quyết đoán lớn. Hai Sát tinh đứng đầu tử vi đều có tính chất bộc phát rất lớn. Đặc biệt khi gặp Kiếp Kỵ hội Sát Phá Tham có tính độc đoán, chuyên quyền rất lớn khiến Sát hóa thành Quyền. Một Thất Sát hay Phá Quân ngộ Địa Kiếp hội trợ tinh mạnh có tính chất tốt đẹp về tài danh hơn việc Cơ Nguyệt Đồng Lương hội Xương Khúc khi chỉ xét nội tổ hợp trên. Lộc Tướng Ấn là vòng sao có tính tích lũy lớn, do Lộc Tồn tại vị trí Lâm Quan của vòng Trường Sinh phát triển tới Đế Vượng. Nhóm sao Tang Hư Mã rất cần thiết cho cách cục chủ thay đổi, Tang Môn có tính chất nghị lực, chịu đựng khó khăn để tìm hướng đi tức chữ Môn để thay đổi. Khi Tang Môn hình thành cách cục hợp cách, mệnh tạo hưởng chữ tinh tường, nhanh nhạy. Trong khi Tuế Hổ Phù thường chủ đặt lý tưởng, được quần chúng theo. Phẩm chất chủ Tang Hư Mã đa biến, linh hoạt, nhạy bén. Tuế Hổ Phù hướng tới được trọng vọng, tín nhiệm do lập trường rõ ràng. Là cách cục ý nghĩa thu nhỏ của Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham. Hai nhóm sao Lộc Tướng Ấn và Thanh Phi Phục. Với Lộc Tướng Ấn chủ tích lũy, lấy ấn tín, ổn định làm trọng. Cách cục đối Thanh Phi Phục lấy nhanh nhạy, chớp thời cơ thay đổi. Lộc Tướng Ấn thường được chữ chính nghĩa. Thanh Phi Phục với Phi Liêm chủ sai trái. Tuy nhiên cái chính và bất chính thay đổi liên tục. Cũng như thực của Tuế Hổ Phù và giả của Tang Hư Mã thay đổi liên tục. Khi cách cục thành tựu bất phân thực hư, bất phân chính tà. Là hợp và bất hợp. Trợ tinh tăng cường phẩm chất hợp hóa hữu tình của nhân mệnh. Với Tang Hư Mã xấu là sống không thực tâm. Với Tuế Hổ Phù xấu là lý lẽ mù quáng. Với Lộc Tướng Ấn xấu là tồn tại tai họa, nhầm lẫn, bế tắc không thể thay đổi. Với Thanh Phi Phục xấu là giải thể, tan rã, thay đổi theo hướng sai lầm. Các cách cục chính hình thành tính cách ưa tích lũy ổn định hoặc ưa thay đổi, ưa lý lẽ hoặc ưa linh hoạt hình thành cách nhìn tổng quan về nhân mệnh. Trong thế bế tắc khi chiến loạn, lời lẽ khích lệ phóng đại, sai sự thật nếu linh hoạt có thể thay chuyển tình thế ứng với tính động của Tang Hư Mã. Tử vi là thực tế ngoài cuộc sống để người nghiên cứu chiêm nghiệm. Do bản tính, tinh cách hình thành các khuynh hướng chế dụng sai khác. Khi rõ tính chất giao hội. Như cách cục Lộc Mã giao trì luận hay do Tang Hư Mã có tính chất thay đổi, quyền biến cho phù hợp thời. Lộc Tướng Ấn có tính chất ổn trọng, tích lũy. Giao hội hai cách cục luôn mang ý nghĩa tốt đẹp khi chế hóa hữu tình. Lộc Tướng Ấn là thế phát triển, phá thế bế tắc của Tang Môn khi có Thiên Mã chủ động. Cách cục Cự Môn hội Lộc Tướng Ấn hình thành thế Cự Ấn là rời xa, Cự tức bất mãn, tại đây tâng tính bế tắc. Với cách Phá Quân hội Lộc Tướng Ấn, Phá Quân có tính chất khai phá, phá bỏ cái suy, bế tắc. Lộc Tướng Ấn là thế phát triển, tồn giữ, ổn định tích lũy. Trong các cách cục giao hội nếu không thực lý tuy người nghiên cứu nắm được tính chất cơ bàn cũng khó rõ ứng hợp khi biến hóa. Nếu Phá Quân trong thế Kiếp Tồn là cách cục tốt. Nếu Phá Kiếp đồng độ hội Lộc Tồn khác Phá Tồn hội Địa Kiếp. Cũng như cách cục vi phạm là Kỵ Hình khi tốt là quyền lực bao trùm, có thể một phần biến đổi, đứng trên luật pháp như ở một số quốc gia tư bản lấy lợi ích làm trọng. Hoặc ở giai đoạn lịch sử dưới thời điểm của chủ nghĩa đế quốc. Tuy nhiên để chế hóa cách cục Sát phức tạp, khó khăn hơn rất nhiều để tổ hợp thành cách. Cũng như việc để đi đứng vững chắc luôn phải vấp ngã. Để thành tựu lớn sẽ có giai đoạn bế tắc. 


Wednesday, April 24, 2019

Luận bố cục mệnh cách Thiên Tướng độc tọa cư Mùi



Luận cách cục hành vận của mệnh cách Thiên Tướng độc tọa cư Mùi do học trò luận định cách từ tinh hệ thiên bàn đặc tính chung của độ số dẫn hóa tới Mệnh Thân Vận. Khi định cách cục hành vận của thiên bàn. Xét định tinh hệ Tử Phá cư Sửu là cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham giao hội bất hoàn chỉnh, cách cục Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật hoàn chỉnh. Lá số Mệnh cung Thiên Tướng cư Mùi, xét Sát tinh là Không Kiếp Hỏa Linh không tụ tập, duy ở cung độ Thái Âm cư Thìn thì hình thành thứ cách của bộ Tam Không gia Hỏa Tinh do có Tuần xung. Bố cục nhìn từ cung độ Thái Âm là CNĐL ngộ Phi Phục Thanh và Cô Quả có Khôi Khoa Việt Hỏa Không Triệt nhập Sinh Vượng. Đây là bố cục khá tốt với Cơ Nguyệt Đồng Lương nhưng Sát cách không thực vượng mà bị chế hóa thành tốt đẹp. Cơ Nguyệt Đồng Lương ngộ Phi Phục Thanh với cách Âm Thanh là cách tốt, tăng tính mưu trí, quyền ngầm, giải quyết được tính ám khá lớn của Thái Âm nơi La Võng. Ở đây cung độ Thái Âm được Vũ Khúc tài năng, giải pháp Nhị hợp làm tăng khả năng linh hoạt, có các sao Khoa Khôi Việt hội họp, cung độ này đắc Tam Không, vòng Trường Sinh khá tốt đẹp. Đây là cung độ đạt được nhiều thành tựu nhưng cần đề phòng áp lực, tinh thần mệt mỏi do có tính thái quá trong công việc, không xong thì không nghỉ ngơi. Mệnh cách Thiên Tướng đến đây chắc chắn có thành tựu.




Một cung độ khác là cung Dần Ngọ Tuất với cách Cự Nhật ngộ Tồn Tướng Ấn có Đào Hồng Kiếp Tuần, cung này thì tổ hợp Sát vượng hơn, mang nghĩa trúng họa, cũng mang nghĩa dấu ấn về một tai họa nào đó khá lớn, lưu lại trong tâm trí. Tuy nhiên với gốc tích gia đình kỹ thuật và bản mệnh có thể chế hóa tốt theo hướng nghiên cứu. Ở đây chuyện rời xa Tổ quốc vào Đại vận Cự Môn có thể nhìn ra. Đương số sinh ra trong gia đình có truyền thống, bố làm nghề kỹ thuật sửa ô tô, máy công trình nên gốc tích gia đình đi theo hướng nghiên cứu kỹ thuật, cũng phù hợp với Đại vận thứ hai hoạch định hướng đi cho đương số, cũng khiến cung độ này tốt đẹp hơn, Sát cách bị chế hóa theo hướng khó khăn trong nghiên cứu tức Địa Kiếp, bố cục này dĩ nhiên khi không nghiên cứu sẽ tác họa nhưng không lớn, chủ bất mãn trong vận này.




Đương số Mệnh Mộc thuộc Thổ Ngũ Cục, Mộc khắc Thổ, hành bản Mệnh khắc hành Cục, tức mệnh cách tác động lớn tới đại vận. Bố cục chung Mệnh cách cũng là Đại vận đầu tiên là Phủ Tướng ngộ Kình Tiểu và Tang Hư Mã Tuyệt và Xương Khúc Tuần Kỵ Thai Tọa. Bố cục Phủ Tướng đơn thủ nhấn mạnh ở tính ổn định, mang tính phúc họa trung bình, khó có thành tựu lớn, có tính giúp đỡ, hiền lương. Ở đây có Kình Hao theo Thiên can chủ tranh đoạt, tăng tính Quyền cho sao Thiên Tướng, hợp với binh nghiệp chủ phục vụ cho quốc gia, đất nước, bản tính là người sử dụng hành động hơn là lời nói, nhưng tiếc là chỉ có Tiểu Hao mà không có các sao tăng mức độ, làm giảm vị thế của Mệnh tạo. Ở đây có Tang Hư Mã càng nhấn mạnh tính chất tay chân, công việc liên quan đến kỹ thuật tuy nhiên về tình cảm thì luận bất lợi, Bộ Phủ Tướng đơn thủ khi đi với Tang Hư Khách chủ lời nói yêu thương không thật, sự tương trợ mang tính lợi ích đằng sau, có mục đích đằng sau, ở đây là mục đích tốt, mang tính quyền biến. Cách Phủ Tướng ngộ Kình Hao là cách cục bất ổn về tình cảm, ảnh hưởng đến công danh của Thiên Phủ và sự mâu thuẫn ngay trong nội tâm đương số. Bản thân đương số có tính tình cảm, cũng có ý nghĩa tương trợ, bảo vệ lẽ phải, giúp đỡ kẻ yếu, là con người có danh dự, có học vấn. Bố cục mang ý nghĩa chống lại khó khăn, bế tắc tức Mã Tuyệt cùng đường, lại thiếu Phượng Khốc để cát hóa, chỉ có lợi cho Võ cách tức Kình Mã. Mệnh tạo trong bố cục Kình Hao ngộ Xương Khúc Kỵ cũng là người đa nghi, trong bản thân có tính nghi kỵ lớn, điểm tốt là kiến thức chuyên môn, công việc phát triển theo chiều sâu, tức hiểu sâu, kinh nghiệm lâu năm trong một vấn đề.




Mệnh cách Thiên Tướng ngộ Kình Kỵ Tang Xương Khúc Dục gia Phủ Khách và VCD ngộ Tuần Hư Mã Tuyệt. Mệnh cách Tướng Kình Tang cư Mùi là Mộ cung, là cách Kình Tứ Mộ Mã triều lai, đây là Võ cách, tính cách đương số ưa chống đối, ưa tranh đoạt, cũng ưa bảo vệ lẽ phải. Kình Dương mang tính Kim Sát, là ngôi sao chủ sự cương quyết, không kiềm chế, chủ động trước khó khăn, cũng là sao mang chí khí lớn, ưa chống đối người khác, quan trọng việc thắng thua. Ở đây đương số thể hiện sự chống đỡ với nghịch cảnh, hình thành tính cách cứng rắn, ương ngạnh, trầm tĩnh, ẩn chứa bên trong là nghị lực, là khó khăn nghịch cảnh phải trải qua ngay từ thời thơ ấu, là vượt qua nghịch cảnh để thành công. Mệnh tạo là người trưởng thành qua nghịch cảnh, tài năng đến từ kinh nghiệm, từ những đau thương vất vả trong quá khứ, hợp với Võ cách tức Kình Mã Thai Tọa cư Mộ cung, cũng tượng là người quân tử. Mệnh tạo trên gương mặt có nét buồn, khắc khổ. Trong công việc của đương số có tính bí mật, quan trọng nhằm thực hiện che giấu mục đích nào đó không nên nói ra, hoặc nói điều không thật để che giấu bí mật trong công việc.




Đương số sinh giờ Mão, cung an Thân an tại Di, tượng là đi lại, di chuyển nhiều dù bản thân không muốn. Cung an Thân có nhiều cách hay như giáp Tả Hữu, là cách Tử Phá trong bố cục TVL giao hội SPT ngộ Đà Đại và Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc gia Lộc Hình Linh Quang Quý Cáo Phụ, trong công việc được nhiều người giúp đỡ, bản thân hành vi tức hành động của bản thân có tính táo bạo, được ngưỡng mộ, ủng hộ. Cung an Thân ở đây luận tốt, phù hợp với sự huấn luyện, kỷ luật nghiêm khắc trong quân đội. Đại vận thứ hai nhập cung độ Cự Môn ngộ Đào Tồn gia Tướng Ấn Hồng Kiếp, như trên đã luận là bố cục mang tính trúng họa, để lại dấu ấn nơi tâm trí ở Hạn này. Đương số khí hình gốc thấp, đến đây Khí Hình hóa vượng. Cự Môn ngộ Tồn Ấn là cách rời xa quê hương, bản quán để tới một quốc gia khác, cũng là cách tích tụ sự bất mãn, cái phải đấu tranh cũng thường phải nhẫn nhịn, dễ bất cẩn trong cách nói chuyện. Bố cục chung là Cự Nhật ngộ Đào Hồng Tồn Kiếp Tuần. Cự Nhật là hình ảnh người đàn ông đi xây dựng sự nghiệp, cũng chủ rời xa, có tính bất mãn, phản kháng. Thái Dương trong bố cục nhập hãm chủ khó khăn, có sự ham vui, sự muộn trễ về tinh thần. Ở đây có cách Cự Tuần Kiếp, sao Cự Môn không ngại gặp Địa Kiếp chủ sự phản kháng trong khó khăn nhưng ở đây có Lộc Tồn chủ tồn tại tai kiếp. Cách này tai họa không tránh khỏi, đặc biệt về mặt khẩu ngôn, là do ta gây ra. Bức tranh chung tại Vận tức cách Cự Nhật gặp họa, bất mãn nuốt vào trong cộng với bản tính Tướng Kình mà biến đổi tính chất, tăng tính phản kháng của bố cục, hợp với Văn cách, có tính chế hóa Sát mạnh khi thiên về con đường học thuật, học tập. Cũng may ứng hợp gốc tích gia đình nghiên cứu, hóa hợp Địa Kiếp thành khó khăn trong tìm hiểu với Cự Tồn càng đào sâu càng bất mãn, Khí Hình trở nên vượng. Một sao Quốc Ấn chủ đất nước đi với Cự Môn chủ rời xa Tổ quốc. Đại vận này và các Tiểu vận qua đây mang tính định hướng rất quan trọng về khả năng chế hóa Sát tinh và mức độ Khí Hình của Mệnh tạo cũng như hướng đi của đương số hóa Văn cách, hợp cách.





Đại vận thứ ba nhập cung độ Liêm Tham ngộ Tuế Đà Phượng Quyền Hình giao lai Tử Phá ngộ Linh Hổ Khốc và Vũ Sát Đại Hao Hóa Lộc. Bố cục chung là TVL giao hội SPT ngộ Đà Đại và Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc giao lai Linh Hình Quyền Lộc. Cách TVL khi giao hội SPT là bố cục tranh giành, mâu thuẫn ngay trong nội tâm, đường lối, gặp nhiều khó khăn trắc trở, tuy nhiên cũng là cách bộc phát rất mạnh. Một điểm lưu ý là bố cục cung Hạn này khá tốt đẹp, lại vừa trải qua một cung độ khó khăn trước đó khiến mâu thuẫn giữa hai nhóm sao này hóa thành sức mạnh mà thành công. Ở đây có hai chiều hướng rõ ràng đó là Tham Dục và Tham Vọng. Nếu hướng đi đương số đắc cách thuộc loại Tham Vọng thì tốt, chủ thành công lớn. Bố cục với Đà Hao đắc cách mang tính mưu kế, quyết tâm lớn và kiên trì, gan góc. Một cách Đà Tuế tức Đà Hao giao hội Tuế Hổ Phù có Phượng Khốc về chuyên môn có sự mở rộng, tiếp thu kiến thức, có mưu kế, thích hợp cho vị trí tham mưu. Đại vận này có đường lối, thái độ rõ ràng trong công việc cũng được sự ủng hộ của Phượng Khốc tuy nhiên cũng chủ nói nhiều, cần có sự nhường nhịn lẫn nhau ở trong nội bộ, vận này bất lợi về tình cảm và cũng đề phòng áp lực từ công việc. Ở đây có cách Linh Hình Quyền hóa Sát cách của SPT thành Quyền cách, trong công việc có được sự uy tín. Với bản cung Liêm Tham có Đồng Lương nhị hợp đắc cách giúp giảm thiểu nhiều tai họa, đôi khi tự cảm thấy may mắn không ngờ trong vận này do cách Lương Sinh có Cô Thần có sức cát hóa rất lớn đến kỳ lạ. Bộ Liêm Tham có Hình bản cung mang tính hình khắc, gây bất lợi tình cảm, may có Hóa Quyền hóa giải thành tính kỷ luật trong quân đội, cũng biến Thất Sát thành tinh tường, bố cục hợp cách. Đại vận là nhân quả, vận sau là quả của vận trước, bản thân Khí Hình đã hóa vượng ở vận Cự Môn, đến đây có thể tăng cường bằng việc mở rộng con đường nghiên cứu, tìm hiểu, biến Sát Phá thành khám phá làm giảm tính Sát cho bố cục. Đại vận này luận tốt cho Tài, Danh nhưng bất lợi cho tình cảm, khí tiến, cường vượng, tượng là sự phát triển.




Đại vận thứ tư nhập cung độ Thái Âm trong bố cục CNĐL ngộ Phi Phục Thanh và Cô Quả có Khôi Khoa Việt Hỏa Không Triệt nhập Sinh Vượng. Vị trí Thái Âm có Tuần xung, là thứ cách của Tam Hóa, đắc cả Tam Không và Sinh Vượng. Khí Hình vượng, đến đây thành tựu và cũng bớt được những khó khăn trong tình cảm, cũng là do tự biết điều chỉnh chính mình. Cách Khoa Hỏa giúp tình cảm ổn định hơn nhưng cần chú ý tâm trí tránh để quá sức, căng thẳng thần kinh, ảnh hưởng đến suy nghĩ. Bố cục đắc cách biến Thanh Phi Phục là thanh bình, lợi cho chữ Danh. Một sao Thanh Long cư Thìn trong cách Âm Thanh mang nghĩa danh tiếng vang xa, cũng tăng tính mưu trí, linh hoạt, là cách Long cư Long vị. Sao Thái Âm ở đây lạc hãm, có Không Triệt sáng trở lại, tăng cường tính Kim để dụng sự may mắn của Thiên Lương. Bố cục CNĐL không mạnh, nay có thêm Khôi Khoa Sinh Vượng Tam Không giúp cải thiện tính bằng lòng với cuộc sống mà ý chí được cao hơn, ở đây là sự đào sâu kiến thức theo Văn cách, chủ nghiên cứu sâu trong khoa học. Một cách Đồng Lương ngộ Khoa Sinh Việt Triệt giúp cát hóa bố cục, hoàn cảnh ở đây là may mắn cũng tượng là người hiền lành, nhân hậu, phát may, phát phúc ưa âm thầm làm việc, cũng đồng cảm với kẻ khác tức Đồng Binh. Ở đây hình thành bố cục Tam Không, khi nhập vận Tam Không hình thành hai khuynh hướng. Thứ nhất là tham muốn vô cực, cát hóa toàn bộ các cách cục, thứ tới là khuynh hướng tư tưởng vô định. Khuynh hướng này lại phân làm hai chi đoạn. Tư tưởng vô định, dụng hướng lấy tham muốn lớn, tức trong nội tâm trụ tại Không, lý tưởng Không cách, tuy nhiên hoạt động, hành động hướng tới quan điểm, ưa giúp đỡ ĐỒNG VIỆT, từ thiện kẻ khác, cuối cùng gặp tiểu vận đại phát, không ngờ mà được. Thứ tới chi đoạn thứ hai là cách cục Sát hóa, KHÔNG hóa thành VONG ứng vận TUYỆT địa, lưng trời gãy cánh. Đương số Khí hình đã cực vượng ứng với dụng tham vọng lớn, ở Vượng địa chứ không phải Tuyệt địa, nâng cao bố cục của Thái Âm âm thầm bám nắm với tham vọng, lại có từ tâm trong lòng, đến đây ta đã là quý nhân của người khác, ưa giúp đỡ người khác. Mệnh cách THIÊN TƯỚNG đến đây gặp KHÔI KHOA HỎA VIỆT có Tam Không Cô Quả là cách đứng đầu, nhiệt huyết trong cuộc sống, đến đây ắt gặp thành tựu lớn, bố cục đắc cách, khí tiến, vượng, nên tiếp tục dụng Văn cách nghiên cứu cũng được Đồng Lương ngộ Khoa Sinh Việt Triệt ở tam hợp giúp cát hóa bố cục, hoàn cảnh ở đây là may mắn cũng tượng là người hiền lành, nhân hậu, phát may, phát phúc ưa âm thầm làm việc, cũng đồng cảm với kẻ khác tức Đồng Binh. Tính chất cơ bản của Mệnh tạo là tình cảm, trợ giúp, cần tăng cường tính chất này để thành tựu, cũng là để chế hóa vận 55-64 tại Tật ách cung.






Đại vận thứ năm, từ 45-54 tuổi, nhập cung độ Phủ Khách Thai Tọa ở cung Tài bạch. Sao Thiên Phủ nói riêng hay cả bộ Phủ Tướng mạnh ở tính tình cảm, ở vị trí Thiên Phủ có tính ổn trọng, cẩn thận. Với Đại vận trước thành tựu đến vận này tính chất tính cảm đã nổi bật, có khả năng quản lý, dụng tài năng của người khác nhờ tình nghĩa và khả năng ổn định, với cách Phủ Hao không có lợi cho tích lũy tiền bạc mà ưa dùng tiền để giúp đỡ người khác, cũng có lợi cho kinh thương. Bố cục ở đây mang tính bình ổn, ít xáo động, tuy nhiên vẫn cần đi sâu, quan tâm đến Văn cách, nghiên cứu để phù hợp với vận sau. Đại vận thứ sáu, từ 55-64 tuổi, nhập cung độ Tật Ách là cung VCD ngộ Tướng Ấn Bật Kiếp giao lai Cự Đào Tồn và Dương Tuần Hồng. Mệnh Thiên Tướng đến đây ắt gặp tai họa với cách Đào Hồng Tồn Kiếp, chủ bệnh về máu huyết, lưu thông máu trong cơ thể cũng chủ tồn tại một tai họa lâu dài, do ta gây ra nhưng hoàn toàn có thể chế hóa. Bản cung VCD xung Đồng Lương ngộ Khoa Sinh, là cách khí hóa rất lớn, chế hóa được tai họa. Mệnh cách Thiên Tướng cũng không ngại Không Kiếp, chủ dụng được Không Kiếp bằng tình cảm, nên cần trau dồi tình cảm từ những hạn trước là điều đặc biệt chú ý. Bản thân bố cục Cự Nhật cũng không ngại Kiếp nhưng chủ bất mãn tích tụ trong lúc này mà gây tai họa bất cẩn ngôn. Đại vận này với Khí Hình từ các Đại vận trước chế hóa Sát tinh tốt nên có phần vui vẻ, những ngày vui vẻ, tai họa cũng không lớn do sao CỰ MÔN hỉ gặp ĐÀO HỒNG là cách tốt, giảm khuyết điểm trong tính cách lo âu của sao này, do có THÁI DƯƠNG tam hợp cũng là cách ngày vui vẻ.