Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Monday, July 8, 2019

Ngũ hành Mệnh và Cục số



Ở vạn vật, tất cả đều ở hai giai đoạn, tụ và tán, do vận động mà tụ, cũng do vận động luân hồi nên tán. Tụ và tán đã xuất hiện chấp niệm phân biệt từ nhận thức. Thực tế tụ là biến hóa Thái Dương, Thái Âm, tán là biến hóa Thiếu Dương, Thiếu Âm. Âm cực Dương tử, Dương cực Âm tử, khi Âm và Dương tiến tới trạng thái phát triển cực là tụ, khi phân tán tới tuyệt là tán. Tụ và tán kế tiếp phát sinh thành Bát Quái và biến hóa 64 quẻ mô tả khái quát biến động và cát hung. Với nhân mệnh, thực tế tụ thường cát, tán thường hung. Tuy nhiên nếu tụ tai họa, bệnh tật, bất mãn là hung, tán tiền tài, công danh, phúc thọ là hung. Với nhân mệnh tính chất biến hóa sai biệt. Lấy tứ trụ thai sinh làm phát khởi của chính vòng Trường Sinh của nhân mệnh, định cát hung khi ứng hợp với khí số âm dương ngũ hành tác động của thiên  địa. Như việc con người được khởi phát và tiếp nhận trao đổi chất từ ăn uống đa phần từ các chất hữu cơ và dẫn tới khi tan rã hỏa vượng tác động sẽ biến hóa thân thể thành than. Dự đoán từ tri kiến của khoa học Phương Tây rất rõ về tính chất. Cũng như việc bản thân mỗi nhân mệnh được hình thành từ các vật chất là nguyên tử rất nhỏ dẫn tới có các tính chất nguyên tử có. Với khoa học huyền bí Phương Đông xét khởi nhân mệnh từ Ngũ Hành, tức khởi sinh từ ngũ hành tác động, cũng như bản thân nhân mệnh từ nguyên tử khởi tạo nên. Với tác động của ngũ hành, nhân mệnh trong nội tâm tư tưởng và khởi phát thành hành động bên ngoài sẽ chịu tác động lớn của ngũ hành khởi của bản tính. Cục số là thời gian để khởi phát hành mệnh. Ngũ hành của cục khởi nguyên thời điểm Mệnh cách chịu tác động biến hóa của ngũ hành. Thủy 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hỏa 6. 





Khởi vận thời điểm do ngũ hành cục số quyết định. Mộc căn khởi là khai nguyên của hữu tình, nguyên khí của vật mới, khởi đầu Lục Thập Hoa Giáp là Giáp Tí, khởi đầu một niên vận mới là tháng Dần. Giáp đứng đầu trong 12 Thiên Can khi xét lịch thiên địa nhân, là nông lịch. Việc vật hữu tình, cây cỏ sinh khởi, phát triển, suy diệt biến hóa quy luật, trong lịch Âm Dương không chỉ bao hàm nông lịch, còn bao hàm quy luật của vạn vật. Mộc là cửa sinh của vật hữu tình, là khởi đầu khởi sự. Mệnh, Thân, Cục, vòng Tử Vi đều khởi từ Dần. Từ cục khởi được vòng Trường Sinh của thiên bàn. Cục là hiển hiện thời điểm của hành khí, là đương khí nắm lệnh tức ngũ hành gốc của thiên bàn ứng, Mệnh cách tùy nhập may mắn ở vị của vòng Trường Sinh là đắc vòng Trường Sinh, khí hình hiển hiện thăng trầm, có sinh mộ, biến hóa cường độ lớn. Như Thủy nhị cục vòng Trường Sinh an tại Thân Tí Thìn, Mộc tam cục vòng Trường Sinh an tại Hợi Mão Mùi. Hợp hóa của tam hợp thành một hành chuyên nhất, ở thế Sinh Vượng Mộ cũng vậy, chưa Tuyệt. Vòng Lộc Tồn cũng không sai khác. Vị trí Lâm Quan của Thiên Can năm sinh khởi là nơi an của Vòng Lộc Tồn. Lộc Tồn không cực vượng, là khí đương tiến, tích lũy sâu dày từ Lâm Quan để vươn lên cực điểm tức Đế Vượng. Người nghiên cứu tử vi có người nhầm việc Lộc Tồn là mộ khố, chủ kho, tính tàng trữ, tuy nhiên tính chất hoàn toàn sai khác. Cũng từ an vòng Lộc Tồn khởi được hai vị trí của Kình Dương là cực thịnh tức vị trí Đế Vượng của vòng Trường Sinh theo Thiên Can của niên vận. Mệnh Cục Thân là thể hiện của bản thể ứng vào một bố cục, tức ở thời điểm quy luật đang vận hành để dự đoán về mệnh lý. Quy luật đang vận hành được khởi từ các tinh đẩu an theo Thiên Can và Địa Chi năm. Mỗi năm can chi phối hợp tính chất sai biệt tại thiên bàn. Vòng Lộc Tồn an bốn nhóm sao quan trọng của Thiên Can, trái Tồn là Phi, do thế đối củng của vòng Lộc Tồn tức nhóm Phi Phục Thanh luôn đối cung Lộc Tướng Bệnh. 





Vị trí trên thập nhị cung an vòng Trường Sinh đầy đủ, tam hợp của vòng Lộc Tồn ở Dưỡng, Lâm Quan, Tử. Tam hợp của Thanh Phi Phục chính ở Mộc Dục, Suy, Tuyệt. Trong thế đứng của Phi Liêm thường mang ý nghĩa tan rã, tuy nhiên khi giao hội định cách cục, Thanh Phi Phục có thể phá Không cách, Lộc Tướng Ấn gặp họa lớn do Không Kiếp. Cự hội Thanh Long thành quý, Cự hội Lộc Tồn hóa vi hung. Với tinh đẩu thuộc Chính Tinh tùy tính chất sai biệt lớn. Bố cục nhóm sao  đặc tính an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Tồn Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Thứ tới là Khôi Việt và Tứ Hóa. Tới nhóm sao an theo Địa Chi bốn nhóm sao. Hồng Loan, Thiên Hỉ, Đào hoa là một nhóm, Đào Hoa giao hội một trong hai tinh đẩu, Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Phượng Khốc. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã giao hội với Phượng Khốc. Thực tế khi xét bố cục bởi nhóm Hồng Loan, nhóm Thiên Hỉ, nhóm Tuế Hổ Phù và nhóm Tang Hư Mã. Cô Quả thường đi với Đào Hồng Hỉ, Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã. Thực tế Âm Dương Ngũ Hành đã lưu hóa tại tính chất riêng biệt của các tinh đẩu và tổ hợp. Dụng cách của Đông A phái khởi dụng từ chế hóa của Âm Dương Ngũ Hành khi ứng hợp dịch lý biến hóa, thực tế thường khi người đọc ở trong hoàn cảnh tác động của cơ vận có thể nhìn rõ về dụng cách biến hóa tác động tới định cách. Ngũ hành cục là định cách ứng hợp với số tại hành vận. Khi chỉ xét tương quan ngũ hành Mệnh tức niên vận thai sinh và ngũ hành Cục tức tương quanh sinh khắc để xét biến động của bản thể cách cục. Tại Mệnh cách sinh cục, tức ngũ hành Mệnh tác động khiến các thời điểm phát triển tính cách qua thời gian sẽ chịu tác động nhiều của quá trình biến đổi hình thành nhân cách, bản tính tác động sinh xuất tức từ tính chất chủ tính, hóa thành bổ trợ cho tính cách qua các hành vận. Các tổ hợp theo hành vận khi lưu tới các cung độ tác động rất mạnh tới tư tưởng. 








Trong trường hợp Mệnh khắc Cục tức tại Mệnh cách bản tính khó dời, khi lưu chuyển qua các hành vận khắc chế được phần biến đổi của hành vận. Như việc Hỏa khắc Kim. Nhân mệnh khởi bản tính nhiệt huyết, cục thuộc Kim có thể khắc, vận xấu có thể chế hóa, tuy nhiên vận tốt chưa hẳn phát huy tác động lớn. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục sẽ gặp biến đổi mạng qua các hành vận khắc nhau tùy tính tương hợp. Do đó thường cổ nhân luận hai trường hợp Mệnh khắc Cục và Cục khắc Mệnh không mấy hay. Tương tự với Cục khắc Mệnh, tức bản tính khởi nguyên là Mệnh khi lưu chuyển qua các hành vận chịu tác động rất lớn khiến biến động theo hành vận, có tính bất ổn định cao, đặc biệt ở hành vận Sát Kỵ trùng phùng rất phức tạp. Trường hợp Cục sinh Mệnh, tại bản tính tức tại Mệnh cách hình thành thiên tính làm chủ, Cục tức hành vận bổ trợ tăng cường tính chất này, nghịch với Mệnh sinh Cục. Trong trường hợp Mệnh sinh Cục. Như việc Mệnh thuộc Hỏa, cục thuộc Thổ. Mệnh cách chịu tác động mạnh của tinh đẩu mang hành Hỏa, tính chất của Mệnh cách lưu ý phân định xét riêng bản cung và xét chung toàn tổ hợp là thể tĩnh và thể động cần rất chú ý. Sự tương quan của Mệnh và Cục số là tương sinh, do đó bản tính của nhân mệnh, khởi bắt đầu từ tuổi thứ 5 do cục thuộc Thổ ngũ cục. Lại chịu tác động rất lớn của hành vận do ở thế sinh xuất, hành vận tốt xấu sẽ quyết định rất lớn tới cuộc đời. Như việc mệnh cách Liêm Trinh bản cung thuộc Âm Hỏa, tới hành vận Kỵ Kiếp Hổ Khốc ắt gặp tai kiếp rất lớn, do Kỵ Kiếp Hổ Khốc nắm lệnh và khiến Liêm biến hóa theo mang ý nghĩa bị động, đây là điểm rất quan trọng và cơ bản khi luận giải và định cách cục cần lưu ý. Trong trường hợp Mệnh cách thuộc bố cục Tham Lang nhập mệnh tại đây, hành vận lưu tới Hỏa Tinh tại cung độ sáng lại đắc cách được đánh giá rất tốt đẹp, do Tham Lang biến hóa theo Hỏa Tinh dẫn động, tạo sức bạo phát lớn. Tham Lang thay đổi tính chất mạnh khi tới Hỏa Tinh. Nhược bằng Tham Lang lưu tới Tử Triệt Kỵ ắt mang ý nghĩa xấu, chủ tham muốn giảm thiểu, triệt bỏ tham vọng. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục, nếu chủ tinh tại Mệnh rất mạnh như Phá Quân tới hành vận Lộc Tồn không xấu như trường hợp Mệnh sinh Cục tại đây. 

Thursday, July 4, 2019

Vật đổi sao dời và ý niệm kích phát



Trong thời điểm cách đây khoảng 30 năm, xã hội hiện tại nhìn chung ở mức lạc hậu do kết thúc chiến tranh và thể chế của giai đoạn này. Mức sống của người dân đa phần nghèo khổ, nông nghiệp được coi trọng trước khi mở cửa thương nghiệp về sau tạo nên thời thế xã hội biến động mạnh trong vài năm đã trở nên phát triển hơn, tạo thêm các ngành dịch vụ, ngành sản xuất khác ra đời. Mỗi thời điểm lớn lại thay đổi trật tự xã hội. Khi kẻ nhanh nhạy, táo bạo trong giai đoạn này chỉ một thời gian ngắn có thể tạo nên tài sản rất lớn. Thời điểm giao hội của kinh thương ra nước ngoài, người viết có luận cho nhiều lá số ứng hợp bố cục xuất ngoại kinh thương do Vũ Tham, Vũ Phá, Thất Sát hội Lộc Tướng Ấn, đặc biệt nếu ứng cách Lộc Mã giao trì, thêm Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc thường tay cự phú hoạch phát trong giai đoạn thời gian rất ngắn, có kẻ đắc cách Tham Hỏa hội Kỵ Hình buôn bán phi pháp, phát tài trở nên giàu có lớn, có người theo khuynh hướng buôn bán đồ điện tử cũ tới các địa phương. Tang Hư Mã trong thế Lộc Mã giao trì tạo ra các cơ hội khi di chuyển tới các nơi khác nhau, cơ hội do ưa lưu động, suy nghĩ, thực tế ý nghĩa cơ bản của bố cục Lộc Mã giao trì là mua thấp bán cao, khiến Tài cách dòng vốn được lưu chuyển. Về sau lâu dài sau giai đoạn thời cơ phát triển đột phá do thời vận, nhân mệnh luận bố cục Vũ Phá thường gặp tai họa khủng hoảng tài chính khi đầu tư tiếp tục ra các cơ hội mới, do tính chất đặc biệt của Vũ Phá cách thăng trầm, có kẻ phá sản, người thua lỗ lớn về sau. "Vũ Khúc Phá Quân đồng ư Tài Bạch, tài đáo thủ nhi thành công". Cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thành nhiều cách cục được đánh giá không mấy hay như Liêm Tham Tị Hợi khúc toàn cố quy, Vũ Khúc Thất Sát ư Mão địa, mộc yểm lôi kinh. Cách cục Tử Tham, Tử Sát cũng mang ý nghĩa có thể thành tựu trong thời xã hội biến loạn, đổi mới. Tuy nhiên trong giai đoạn bình ổn thường khó có thể dụng cách. 






Trong thế vật cực tất phản là thế thái bĩ luân chuyển, thế thịnh suy của vạn vật. Tuy nhiên tiền nhân đã dụng bố cục ứng hợp chế hóa từ dịch lý tránh thế vật cực tất phản của bố cục. Phàm xét sức biến động của bố cục cần lấy khởi từ quy luật khởi nguyên biến hóa, sinh vượng suy tuyệt là thế tất yếu. Khi định cách cục thành tựu, bố cục cực vượng ắt dẫn tới suy về sau. Việc hưởng thụ hay giải đãi khi đạt tới một kết quả nhất định là thường gặp ở nhân mệnh. Trong tử vi, thế Lưỡng Lộc hình thành có đặc điểm tốt do luôn hướng tới tích lũy lợi ích, tài sản. Xét ngoài thực tế, nếu một tổ chức hay một quốc gia tới giai đoạn được nhận định là cực vượng, kế tiếp ắt là giai đoạn chững lại và suy. Trong vòng trường sinh, biến chuyển từ Sinh Vượng Suy Tuyệt lại khởi sinh. Cực vượng là quá trình tuy phát triển mạnh là hỉ, lại tồn tại mặt khuyết điểm là giai đoạn khởi đầu của suy tuyệt. Kinh dịch là Vô Tự Thiên Kinh. Quẻ Địa Thiên Thái, Càn dưới, Khôn trên. Khí dương giáng xuống, khí âm bốc lên tượng giao hòa. Trong hào lục, Thượng lục luận "Thành phục vu hoàng, vật dụng sư, tự ấp cáo mệnh, trinh lận". Là giai đoạn cực thịnh, thành đổ xuống hào tức thái cục bĩ lai, thành thế bế tắc. Quẻ Thiên Địa Bĩ, Càn trên, Khôn dưới. Nghịch quẻ Thái, chủ giai đoạn suy tuyệt. Tới lúc Tuyệt là khởi của Sinh. Trong hào lục, luận "Khuynh bĩ, tiên bĩ, hậu hỉ". Tức phá được thế Tuyệt, đánh đổ được thế bế tắc. Thường luận định nhân mệnh, nếu cách cục Sát Kỵ tác họa không gặp tai kiếp vong mạng thì có thể xoay chuyển tình thế do chu kỳ vận hành của thiện địa hay xã hội hiện đại là vũ trụ. Thế cục định Sát của tử vi luận số, phần xét thế cùng tắc biến không do mệnh ở nơi vượng mà luận thành cách cục tốt đẹp. Cách cục hoạch phát ở đây thành cách do khuyết thiếu khiến thế phát triển không ở nơi cực thịnh, luôn khuyết thiếu nên không hoàn chỉnh, dẫn tới khí hóa đương tiến không chững lại và thoái lui. Thường khí hóa của Sát cách gặp thế bế tắc khó khăn do cách cục tính chất tác động khiến mệnh cách hoạch phá trong giai đoạn này. 







Cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham hoặc thế Cự Nhật giao hội Cơ Nguyệt Đồng Lương thành cách Cự Cơ Đồng mang ý nghĩa biến động do khó khăn xung đột. Nhân mệnh có thời, nếu kẻ gặp may mắn, thế vượng của nhân mệnh tác động ở trong giai đoạn trẻ tới khi lão niên, phân là mệnh quý. Thực tế quy luật vượng suy bất sai kiến, nhân mệnh may mắn khi tài danh ở thế vượng lưu truyền, tuy nhiên thân thể luôn chịu tác động trong vòng nhân mệnh bách niên. Cách cục khuynh hướng khuyết thiếu là có Việt không có Khôi, có Đào Hồng không có Cô Quả, cách cục của Tham Xương, Cự Đà, Lưỡng Khúc, Tả Phủ, Tướng Bật, Dương Kình. Trong giai đoạn về trước, tiền nhân đã suy diễn về bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân xét tính chất ôn hòa, ứng với văn lại, trợ giúp, tham mưu cho người đứng đầu tuy nhiên thường tính chất đứng đầu, Quan cách không thực vượng, thành tựu lớn. Trong thời gian hiện nay, các cơ hội thời cơ tới từ thời vận biến chuyển của xã hội, tuy nhiên thường mệnh cách khó có thể dự đoán tổng thể thời thế trước khi xảy ra, lại thường tiếc nuối khi xét về quá khứ. Cũng thường khó tích lũy tài sản lại thường tiêu hao. Trong bốn nhóm sao an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Chỉ nhóm sao Lộc Tướng Ấn có tính chất tích lũy, ba nhóm sao còn lại đều mang tính tiêu hao. Tuy nhiên khi luận xét cát hung, Tài động có thể cát khi bỏ ra ít, thu vào nhiều. Thời gian khiến vạn vật từ nhỏ tới lớn, từ vận tự thân tới vận thiên hạ thay đổi. Do tính thay đổi tương tục không dời, cơ hội hay nguy cơ cũng biến động không ngừng. Với mệnh Vũ Phá, khi thành tựu đột biến cũng là giai đoạn dễ bại cục phá tán. Theo thời vận, từ thể chế chính trị thay đổi, từ tham muốn, định hướng của xã hội thay đổi. Các cách cục dần biến hóa ứng hợp theo các khuynh hướng này. Khi tiền bạc sử dụng không bằng tiền giấy hay ngân lượng, thay bằng tiền ảo trong ngân hàng tức các kho chứa lớn của nhà nước hay tư nhân. 





Khi giao tiếp xã hội trở nên rút ngắn lớn, với lượng lớn ở trên mạng kết nối vạn vật, kinh thương dần biến hiện ứng hợp trên khuynh hướng nền tảng này và có thể tạo được lợi nhuận rất lớn so với buôn bán truyền thống. Tuy nhiên có thể nhân mệnh do ứng hợp sẽ khó tiếp cận với vấn đề này, cũng như tại giai đoạn 30 năm về trước với những hướng đi đột phá của nhân mệnh. Các văn hóa cũng tiếp cận thay đổi căn bản về toàn xã hội tri kiến, dân cư không ở làng xã chuyển lên các đô thị khiến mối quan hệ quần cư từ nhiều thế hệ biến chuyển thành mối quan hệ xã giao rộng. Sự tự do định cư tại các quốc gia khác và sự liên kết giao thương, đi lại qua phương tiện di chuyển thực thay đổi hoàn toàn xã hội. Trong các giai đoạn xã hội thay đổi, khi người nghiên cứu huyền học mệnh lý, nhìn giữa hai hệ tư tưởng sai biệt, sự ứng hợp của các cách cục biến hóa tuân theo quy luật dịch lý, thay đổi về ý nghĩa hiện thực. Cũng như xã hội tư tưởng trong giai đoạn trước khi hòa bình, hay giai đoạn khi tư tưởng về Nho giáo phát triển mạnh, tạo nên sự dời đổi về tham muốn vật dục hoặc công danh, lý tưởng sống, tiêu chuẩn đạo đức. Trong cách kinh thương buôn bán, đứng đầu về thế hợp hóa linh hoạt là Vũ Tham do tính chất hợp hóa linh động rất tốt đẹp thế lũng đoạn của Vũ Khúc táo bạo, có thể có khuynh hướng bạo lực và Tham Lang lập kế hoạch, tham vọng lớn. Trong hoàn cảnh là Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tức thời cuộc rối ren, khuynh hướng có phần mạo hiểm. Tuy nhiên Vũ Tham tuy bạch thủ hưng gia, tức tay trắng lấy được sự nghiệp hưng vượng nhưng tính chất phối hợp Vũ Tham không chặt chẽ, tuy Tham Lang linh hoạt nhưng tính chất kín kẽ, cẩn trọng và tích lũy không mạnh như Thiên Phủ. Cách cục đứng đầu về Tài Cách là bố cục Vũ Phủ đồng độ, khi đắc cách giao hội Tài tinh sức thành tựu hiển hiện. Tuy nhiên Vũ Phủ không có sức hoạch phát đột phá, nếu khởi nhân mệnh tự lập ắt giai đoạn trung niên mới có thể tích lũy lớn khi cách cục trung bình. Trong tất cả thời, kinh thương bản chất là trao đổi, lưu động về tài sản, có tính chất bỏ giá trị ra và thu lại. Từ tri kiến tới hàng hóa vật chất. Tính lưu chuyển này là khởi nguyên của Tài cách. 





Nếu cách cục tạo thành cách tích lũy, lưu vận hoạch phát tới ắt phát phú. Điểm quan trọng khi định cách cục là sự biến hóa của nội cách, khi kinh sách khai thông tri kiến, tuy nhiên để dụng cần thời gian rất dài tự suy xét, thực nghiệm về biến hóa của cách cục ứng hợp. Nếu trong giai đoạn khai phá kế tiếp, xã hội lại tạo những biến động mạnh, có tính thay đổi toàn cục diện như về kinh tế hoặc chính trị, các cách cục theo thời vận lại khởi tạo, nhân mệnh định được khí hình vượng chế ngự bố cục Sát lại kế thừa thế hệ trước như một vòng kế tiếp. Một lá số Vũ Sát cách đây đã nhiều năm trong giai đoạn khủng hoảng phá sản có nhân duyên với người viết. Trong giai đoạn bế tắc, nhân mệnh lâm cảnh suy bại do đầu tư làm chủ về vận tải biển gặp khó khăn. Tuy nhiên bố cục hữu Liêm Tham Kỵ Lộc Xương Linh hội Hình Đà Hổ Khốc. Với bố cục tính chất chịu tác động lớn của Đà Kỵ Hình Khốc, tính chất táo bạo tham vọng rất lớn, tuy nhiên gặp Tam Ám gây rối loạn thêm bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Thất Sát mệnh hội Kỵ Hình đã luận hung với câu phú thường gặp " Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên". Cách cục Kỵ Hình Khốc Đà dẫn hóa tại đây hàm chứa cách âm ám, Vũ Sát khủng hoảng khi lưu tới hành vận Liêm Tham khúc toàn cố quy.  Trong hành vận Liêm Tham gốc khởi bởi tham vọng rất lớn của Tham Lang với thế xung đột của Liêm Tham ngay chính bản cung hình thành cách hình tù, gặp dò xét từ bên ngoài, âm ám do cách cục này có tính tranh đoạt, cạnh tranh từ bên ngoài. Trong cách cục nguy khốn bởi hai thế xung đột do Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham trong tinh hệ Tử Phá. Thứ tới bố cục Diêu Đà Kỵ tác động rất mạnh tới tính chất của Vũ Sát thành cách loạn động, Sát cách tác họa lớn tại nội cách cục. Tuy nhiên khi đã tác hóa dẫn động bởi tính khủng hoảng tạo do hành vận tới. Tại cách cục này ngầm ám hợp cách cục cát hóa lớn từ thế bế tắc do Tham Xương Hình Khốc Kỵ khiến tham vọng giữ vững, thế vượng bất tuyệt, lại táo bạo, thâm trầm, Sát cách đã tác hóa, nhân mệnh tuy phẩm chất tốt tuy nhiên tư tưởng lâm vào thế bế tắc, rối loạn ở thế bị động. 







Thực tế sau khi cách cục này tác hóa, nhân mệnh lấy dụng gốc là thể âm ám nhìn nhận toàn cục, nếu tư tưởng khôi phục tính ổn trọng nhìn nhận lại, thực tế trong chữ Sát ẩn tàng chữ cực Quý do thế cuộc của Âm Dương tuần hoàn, là nơi thời vận khởi phát trong hung hiểm. Sau khi đã tác hóa, trong dịch lý ứng thế vật cực tắc phản, tuy nhiên ở giai đoạn thăng trầm biến loạn. Như sự phát triển cát hóa của bố cục trợ tinh ôn hòa là sự phát triển độ dốc thấp. Với sự tác hóa của Sát cách, sự phát triển là thế thăng trầm biên độ rất lớn. Khi xuống tới đáy tức khí hóa tác động tới cực, tắc phản. Trong giai đoạn đáy thường nhân mệnh sẽ loạn động, ở thế bị động rối loạn ắt tuyệt vọng, khí hình tán loạn, cách cục phá cách. Đây là điểm cốt tủy bố cục Vũ Sát, Vũ Phá hay Liêm Tham thường luận khúc toàn cố quy, tức cả đời thấy khó khăn trắc trở. Nhân mệnh Vũ Sát tham vọng cương quyết không suy, do thế Tham Xương Kỵ Khốc là cách phấn cốt toái thi, tức quyết tâm làm bằng được, trong tiểu vận Đồng Lương trong thế Cơ Nguyệt Đồng Lương gặp mối quan hệ khai phá theo cách âm ám bạo phát lớn, hoạch phát đại phú. Trong một giai đoạn ngắn, mệnh tạo thăng trầm ở hai thế cực của bố cục, thấy tính biến loạn của vạn vật không nằm ngoài dịch lý. Vật đổi sao dời trong từng khoảnh khắc, nhân quả tuần hoàn, trong tuyệt hữu sinh. Đời người cũng vậy.