Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Saturday, February 5, 2022

Tử vi niên hạn Nhâm Dần

 Tử vi không mang lại lợi ích với việc cuồng tín, cần nhìn nhận thực tế những tính cách được dự đoán và những điều thay đổi tốt là tu tâm và tu thân để đạt được kết quả phúc lợi. Số mệnh của bản thân nằm tại chính bản ngã của mỗi nhân mệnh và thay đổi theo nhận định năng lực tri kiến của nhân mệnh với hoàn cảnh. Phúc khí và bại khí chẳng qua là kết hợp giữa tâm và hành. Thí như xét đoán về hình tướng, thường nhận định, dự đoán một phần người hay kẻ ác qua những cử chỉ, hành động để tìm hiểu về tính cách của người trong hợp tác, hoặc hôn phối hay giao tế. Ý chí nhân mệnh tâm từ diện tướng sinh từ hòa. Điều này luôn tồn tại bởi sự suy xét của mỗi nhân mệnh trước người khác, thành những câu phú về hình tướng tương hợp tính cách. Thí như hình tướng giảo hoạt, hình tướng đa ngôn, túc trí, kém trí tuệ. Một số bệnh như Down hình tướng nhận định sẽ có phần kém trí tuệ. Sự phát triển dự đoán diện tướng với tính cách như quy luật của tự nhiên, phát khởi từ vạn vật từ động vật, loài săn mồi hay ăn cỏ. Nghiên cứu tử vi dựa vào bát tự thời điểm khởi tạo một sinh mệnh có phần phức tạp về nguyên lý do thực tế dựa trên nguyên tắc dịch học nghiên cứu rất phức tạp, hệ thống tri kiến tạo ra lớn tuy nhiên thâm sâu. Tử vi cần tâm hành tĩnh tại, không thiên lệch tính chất các cách cục. Định cách tác hóa của thiên bàn biến ảo phức tạp, một bàng tinh có thể khiến tổ hợp thay đổi hoàn toàn tính chất. Lại xét nguyên cục bản cung hay tam hợp chiếu, xung chiếu mang ý nghĩa sai khác nhau. Cũng như Phi Thanh Phục ba sao vĩnh viễn tam hợp, bản cung mệnh mỗi tinh đẩu Phi Liêm, Thanh Long, Phục Binh mang ý nghĩa sai khác. Khi xét chung định tổ hợp tương tác của toàn bộ nhóm sao này phối hợp nhóm Chính Tinh tạo cách cục. Thí như năm Tân Sửu 2021, nhóm Phi Thanh Phục hội cùng Tang Hư Mã Khách khiến Lộc Tướng Ấn Bệnh hội Tuế Phượng hay Tứ Linh. Xét định cách tại 3 cung Tị Dậu Sửu đắc 2 vòng Thái Tuế và Lộc Tồn được đánh giá hay hơn đối cung gặp khó khăn bởi Tang Hư Mã và phân li, tán loạn của Phi Thanh Phục. Nhân mệnh sinh năm này khởi mệnh tại Tị Dậu Sửu với cách cục chính tinh đắc vượng được đánh giá hay. Tại đối cung Hợi Mão Mùi gặp cách Phi Tang Binh Khách nhiều khó khăn, bôn ba. Chỉ xét lý tính nguyên cục vậy, không xét gia hội thêm bàng tinh khác. Thử như hội thêm Hóa Lộc thành cách Lộc Mã giao trì được đánh giá hay. Cung độ Thanh Long có thêm Hóa Kỵ là tốt. Tuy nhiên xét về nguyên cục, tại cung độ Tị Dậu Sửu với Hổ Phượng Tuế Lộc tượng cách tốt đẹp hơn. 



Năm 2022 thuộc năm Nhâm Dần, chữ Nhâm chứa đựng nhiều huyền cơ, hình thành các bố cục trên thiên bàn. Thông tin được chú trọng ban đầu là các sao Thiên Lương, Tử Vi, Tả Phụ và Vũ Khúc. Lộc khởi từ Lương, Quyền khởi Tử, Khoa khởi Phụ và Kỵ khởi Vũ. Hóa khí này hai vị trí Lộc và Kỵ tác động rất rõ rệt, Quyền và Khoa dẫn động cho cách cục lưu hóa không triệt để như Lộc Kỵ. Phàm nhân mệnh xét định tiểu vận, chú trọng tới diễn biến phối khí của gốc đại vận. Lộc trùng điệp, nhân định tắc phát. Kỵ trùng điệp, điềm hung diễn tiếp. Thường thấy Hóa Kỵ là có điểm trắc trở, nguyên căn bản chất của nhân mệnh không đủ chế ngự với những tác động do Kỵ tạo nên. Khi một tai họa ập đến ẩn trong đó là cơ hội kích phát. Tuy nhiên thường khó có thể tránh sự bị động của mỗi con người trước tác động dồn nén của Hóa Kỵ, khó có thể truy tìm giải pháp đột phá để hóa nguy hiểm thành cơ hội. Đây là điều hiển nhiên thường gặp phải. Thứ phát là tính che mờ, che lấp của Hóa Kỵ, khiến mệnh chủ rơi vào vô định hướng khi đứng trước các tình huống quyết định khó khăn. Đặc tính ám của Kỵ được xếp trên Cự Môn và Đà La hay Thiên Diêu. Nhóm Tử Vũ Liêm tại can Nhâm gặp bộ Quyền Kỵ. Xét về cách cục Tử Vũ Liêm có tính chuyên quyền, khi lưu Quyền Kỵ hội cách phát sinh tư tưởng quản lý. Hóa Kỵ do Vũ Khúc tạo thành có khả năng giải quyết công việc tốt do tính chất Vũ Khúc giỏi việc xoay sở. Xét bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, cách cục này càng tăng mạnh tính mâu thuẫn trong nội tâm, tạo ý chí kích phát hình thành tại 6 cung độ Hợi Mão Mùi, Tị Dậu Sửu. Tại trục Tị Hợi là hai nhóm sao Tồn Tướng Ấn và Thanh Phi Phục. Can Nhâm khiến Lộc Tồn về Hợi cung. Tại cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tại Hợi Mão Mùi sẽ gặp Tồn Ấn tăng tính cản trở của Hóa Kỵ. Phá Quân hội Tồn Kỵ là điểm hung cách, có lợi cho nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực tuy nhiên bất lợi về kinh thương hay quan cách. Nếu hội thêm Tả Hữu khả giải. 



Định cách tại cung độ Tị Dậu Sửu với nhóm Thanh Liêm Binh ưa Quyền Kỵ cách cục độ số gia tăng, chủ phát quyền lệnh, cũng hiển hiện tính chất cơ biến của Thanh Kỵ. Tinh đẩu còn lại hóa khí trong Tứ Hóa là Thiên Lương khởi tại hai cách cục chính Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Bố cục này lưu Lộc hội trường hợp Âm Dương sáng được đánh giá hay. Tại tổ hợp Dương Lương cư Mão, Thái Âm cư Hợi hoặc VCD có Nhật Nguyệt chiếu hư không tại Mùi kiến Lưỡng Lộc, được kể là hay. Xét cách cục này hưởng lợi bởi năm Nhâm Dần. Địa Chi khởi Dần gặp Đào Hoa tại Mão địa, cách Việt Đào Triệt Lưỡng Lộc là vui mừng đắc lộc khi thay đổi phát sinh Tài cách và Quan cách. Trong trường hợp hội Không Kiếp tại Hợi cung là bạo phát lớn nếu gốc đại hạn vững. Lưu Thái Tuế an Dần cung. Cách cục Tuế Đà Tiểu có Phượng Hư Mã Đại xung chiếu tại Thân. Cách cục Tuế Hổ Phù không gặp Phượng Khốc tam hợp chiếu do vậy khuyết thiếu. Tại vị trí Dần gặp Thái Tuế tuy nhiên gặp Tiểu Hao trong cách Hao Đà không mấy hay. Khi hội Kỵ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hình thành luận bất cát, cách Đà Kỵ Hổ là bố cục tính Ám vượng. Năm hổ Nhâm Dần, bộ Phi Tang không hình thành tại Mão cung, thay thế bằng cách Tang Mã Phượng Khốc thực tế là cách Mã Khốc Khách về Thìn Thân Tí. Nếu có nhân mệnh lưu tiểu vận tới Mão cung năm Tân Sửu, nay dịch chuyển về Thìn cung gặp cách cục giải mạnh, cát hóa. Tuy nhiên cần cẩn trọng có oan tình do Thìn cung nhập La Võng chứa Tang Khốc. Nếu nhân mệnh vận hành nghịch lưu vận về Dần cung gặp cách Tuế Đà có Mã Phượng xung có điểm tốt. Cách Phi Tang tại Mão cung năm Tân Sửu 2021 là sự hóa định giao của nhóm sao an theo Thiên Can và Địa Chi tác động mang hung họa tới. Năm Nhâm Dần, cách cục của mệnh cách có Mệnh, Thân, Hạn tại Mão cung là sự chuyển biến mạnh, khi Đào Việt Triệt Tồn Tướng Ấn tại đây, chủ sự biến chuyển có tính chất tốt đẹp. 



Điểm xét định còn lại do tổ hợp Chính Tinh và Sát Tinh tác hóa định đoạt. Cần lưu ý với cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tại Hợi Mão Mùi, vận hành lưu tại đây sẽ có những thất bại, tuy có nỗ lực lớn bởi Đào Việt. Đặc biệt cách Liêm Tham, Vũ Sát, Liêm Sát hình thành cần cẩn trọng trong năm này. Một số cách cục hình thành Lưỡng Lộc cách, có trợ tinh mạnh hoặc hội Khoa Xương Khúc Tả Hữu Ân Quý Thai Tọa, hoặc Tham Hỏa, Binh Hình Tướng Ấn, Dương Lương Xương Lộc là niên vận hanh thông. Nếu có Không Kiếp cát hung tương bán. Kình Dương và Đà La lưu tới Tí cung và Tuất cung. Với cách Kình Đại Mã Phượng Khốc ẩn cách hoạch phát, tuy không gặp lưu Khôi Việt, lại có nguyên cục Khôi Việt, gia cát là cách nắm quyền lệnh thay đổi cuộc đời bởi quyết định quan trọng tại thời điểm bước ngoặt. Trong cuộc đời mỗi nhân mệnh, thế thái thịnh suy bởi những quyết định cuộc đời. Có thể khi đưa ra xuất hiện những điều sai lầm khiến bản thân rơi vào khủng hoảng, hối tiếc là vấn đề thường gặp. Tuy nhiên cũng có những quyết định sửa chữa, khắc phục mang tới tương lai tốt đẹp. Có những thời khắc hoàn cảnh tác động khiến nhân mệnh đưa ra quyết định khó khăn. Khi rơi vào thế bế tắc thường khó có được sự sáng suốt. Thời kỳ nạn binh đao những năm trước giải phóng, có những người mẹ thương đứa con, muốn hỏi đường cát hung họa ách khi lên đường binh nghiệp, đến hỏi sư thầy trong chùa, nơi thường nghiên cứu kinh sách, huyền học mệnh lý thời kỳ trước thường có nhãn quan tinh tường. Giai đoạn này hình thành ký ức sâu sắc về mệnh lý của người viết về những điều chiêm nghiệm. Thời kỳ trước đây, phú gia mới có vàng bạc tích trữ để lại đời sau. Giai đoạn hiện nay, những gia đình bình thường tiên tổ giữ lại đất đai trước đây không có nhiều giá trị, vận thế đổi dời, một mét đất ngang lượng vàng, tài sản tiền nhân lưu lại tựa một đời người nỗ lực hanh thông. 



Vận thế của thời cơ có thể đưa nhân mệnh trở nên phát tài vận, cũng có thể khiến nhiều người trở nên tiếc rẻ. Thời kỳ mạng công nghiệp những người trẻ trở nên giàu có đột biến khi cơ hội tới trong các lĩnh vực thay thế tre già măng mọc. Có rất nhiều người tới trung niên vẫn tay trắng, không từ bỏ mục đích của bản thân và hoạch phát lớn khi nhập vận hanh thông, khi khí hóa của Sát tinh thái cực, những điểm che ám, trắc trở của Đà Kỵ hóa thành hoạch dị phú cường. Kinh nghiệm cũng chính là thứ Sát Kỵ tạo nên, Lực hung của Sát tinh rất mạnh, có thể khiến nhân mệnh trầm ải qua những giai đoạn, từ đó thích nghi để trở nên tinh tường, gọi là chế hóa. Khi kinh nghiệm không có và thêm sự nhiệt huyết của tiền vận có thể khiến nhân mệnh trắng tay, tuy vậy cùng dần hình thành năng lực xét đoán về sau tránh những điều nguy hiểm. Sự thoái lui, thất vọng khi gặp biến cố nặng nề khiến cuộc đời nhiều nhân mệnh trở nên khổ cực về sau. Trời đất có họa phúc. Điềm may là thứ thiết yếu duy trì sự sống hơn nhiều vùng hiểm địa chiến tranh, thiên tai nhân mạng tại vị trí này không do bản thân tạo ra phải chịu hậu quả. Địa Kiếp là kiếp nạn có tính bị động. Thiên Không phần do tạo tác không ngờ nạn tới. Năm Nhâm Dần, có người gặp may, kẻ gặp rủi. Tuy nhiên xét về tổng quan cuộc đời luôn có những vận thăng trầm, được mất. Có lá số nhân mệnh đại phú có thời điểm phải trắng tay. Có nhân mệnh khởi sự từ khó khăn đi lên. Nhân trí tín lễ nghĩa ngũ thường mang lại giá trị của nhân mệnh, cũng phòng ngừa nhiều họa tai. 

Wednesday, December 29, 2021

Ứng nghiệm với quẻ gieo

 Trong toán mệnh, vật quân bình là cát. Sự quân bình của âm dương là điềm lành. Trong đời người, không tật ách, bệnh hoạn là phúc. Chữ phúc là suy xét của quá trình phát triển, cứu giải qua hạn hành tai nạn và khi về các hành vận thăng trầm có thể vực dậy. Có người bạn lâu năm người viết hơn nửa đời theo dưỡng sinh khí công, đi khắp đây đó tìm các môn khí công biệt truyền để nghiên cứu, học hỏi không quản tiền bạc công sức. Tuy tài quan vận không lớn, được thân thể tráng kiện vô bệnh hoạn, tinh thần sảng khoái. Lại mở lớp truyền đạt, theo nghiệp y đức giúp người lợi thân. Cũng là điểm mừng của mệnh số. Cũng có nhiều người rơi vào suy tính cả đời tiền bạc, danh tước, được ít mất nhiều, cũng là niềm vui khi được mất, tuy nhiên khi bệnh tật khổ ách khó cam chịu.  Sức thể tráng kiện, tinh thần sáng suốt là cần thiết để có thể tạo những điều phi thường từ việc bình thường. Rất nhiều việc phi thường tạo ra từ những điều bình thường, đơn giản trong đời sống. Cũng vậy, có những điều bất ngờ tới tai họa nặng nề từ những sơ suất tạo ra. Cổ nhân tất luận "Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí". Điều họa phúc là phép định tính, thí như hỉ mừng, khổ não. Phúc là điều tốt đẹp, họa là điều mất mát, hung họa. Việc trong đám cưới chạy tang là chuyện có thực tế. Kẻ vui mừng khi tranh giành được đất đai, người buồn khổ vì cảnh tương tàn. Việc Hỉ thường có mặt khi đạt được mong muốn, cũng thường xuất hiện khi đoạt được, tranh đoạt, tranh đấu cho tới tranh cướp. Hoặc có kẻ mua được giá rẻ, người bán mừng vì bán được giá đắt. Cùng vật mua bán, cách định tính hai bên có thể suy tính khác nhau. Điều này dẫn tới một điểm quan trọng, việc vui mừng nên có tri kiến, hoặc khả năng suy tính, luận định tốt đẹp hơn việc thiếu khả năng xét đoán, nhận định sai về giá trị. Việc hỉ mừng đặc trưng cho tất cả tinh đẩu không riêng Đào Hồng, Song Hỉ. Đặc biệt, đa phần tất cả hung sát tinh đều phát sinh tính tranh đoạt và hỉ mừng khi hợp hóa cách cục. 




Do vậy, thực tế điểm vui mừng của mỗi nhân mệnh đều ẩn một cách cục Sát cách cường vượng. Thí tới, việc hỉ mừng mỗi nhân mệnh có tính sai biệt. Khi người có tiền bạc đầy kho, việc mất mát tiền của có thể không quan trọng bằng sức khỏe, người nghèo phải đánh đổi sức khỏe để mưu sinh. Xuất hiện sự bất bình đẳng là thực tại được công nhận. "Nhất tướng công thành, vạn cốt khô". Trong nội bộ một xã hội, cũng xuất hiện những bữa ăn có giá trị bằng khoản nợ tiền chữa bệnh nan y của người nghèo, liên quan trực tiếp tới sinh mạng. Trên phương tiện xã hội tiếp cận càng lớn, việc nhìn nhận sự tách biệt càng rõ. Điều quan trọng, là có những sự bất mãn thực tế hiển hiện xảy ra, tức Cự Môn chính là một nguyên nhân để thúc đẩy mỗi nhân mệnh. Sự bằng lòng vô định hướng không khiến nhân mệnh vươn lên mạnh bằng việc ôm bất mãn nỗ lực. Cự Môn chủ tinh của nhóm sao chỉ hai chữ Cự Nhật có thể vượt trôi hơn 2 nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham. Với việc mất định hướng, vô định cũng là điểm khó khăn dẫn tới Tử Vi là tinh đẩu quan trọng để vươn lên. Thăng quan, tiến chức, phát tài, đắc danh, cầu duyên đều dễ là điểm hỉ mừng. Tuy nhiên có một số trường hợp việc lên chức mang lại khá nhiều phiền muộn, giữa hư quyền và thực quyền, giữa vị trí thăng tiến thường sắp xếp để bị luận tội, hay việc phát tài do bán chất cấm, buôn lậu có việc thất kinh trong khi phát tài. Việc ám lộc có sức phát lớn hơn chính lộc nhiều do nguyên nhân từ ám lộc cách có thể phát kiến từ những trao đổi ngầm. Do vậy thực chất cách Vũ Phủ Lộc hay Thái Âm Lộc đều mang tính chất tài cực vượng khi thành cách. Hỉ kỵ và dụng thần là phần quan trọng khi định cách ngũ hành và thần sát trong bát tự tử bình. Hỉ và kỵ khi hội cách trong tử vi cũng mang tính chất quan trọng. Một cách cục hay bởi Tham Hỏa Lộc Kỵ rất bất lợi khi hội thêm Thiên Hình. Dịch lý là tổng quyết của pháp, là sự biến chuyển dịch biến của vạn vật mô tả khởi phát từ hơn bốn ngàn năm trước. 



Nhìn dịch học thấu triệt được chứ ứng. Phàm nhân mệnh khi tâm tính tương thông, vắng lặng khởi sự, gieo quẻ tính dự đoán một phần tính chất việc diễn ra, có những kỳ nhân dự đoán về vận nhân thế diễn ra bởi những khí tượng của quốc gia. Khởi một niệm là tương ứng một kết quả. Cũng vậy khởi một con người thai sinh là điểm quan trọng tương ứng, toán mệnh tới số phận. Vì bản chất khởi sinh một nhân mệnh thể thức, tinh, khí, thần rất mạnh, thường gọi thông linh. Các môn toán mệnh, hà đồ dẫn hóa tới lạc thư, biến chuyển dịch biến có khởi và kết. Hà đồ là thường, Lạc thư là biến. Thái ất, Độn giáp, Lục nhâm mang tính dự đoán sự việc là gốc khởi. Thông linh tương ứng là tính chất đặc biệt của dịch lý tương quan với sự tồn tại của mỗi người và tương thông với đạo hay phật giáo. Việc thiền tưởng khiến tâm vắng lặng để phát sinh những năng lực tâm linh cũng tương tự như việc khởi tâm dụng quẻ, khán định được cát hung sự việc như kinh dịch. Phàm việc cùng khởi nguyên và kết quả, chỉ khác phương pháp truy cầu. Suy cùng đạo cùng chung đường, truy cầu đạo quân tử, dịch lý biến ảo khôn lường. Cũng điểm cốt yếu là nhất tâm. Vật khởi biến dịch luôn có nhân nguyên, cũng biến động nằm trong vòng quy luật thiên cơ. Hỉ mừng của người truy cầu đạo là con đường dẫn tới chứng nghiệm cảnh giới. Hỉ mừng của người binh sĩ có khi chỉ là được về thăm nhà đoàn tụ gia đình. Hỉ mừng của người tu hành là giải thoát. Tâm nhất quán dẫn tới thông linh, nếu không có điều này liệu đoán quẻ dịch tại thời khắc truy cầu liệu có thể ứng nghiệm. "Vạn pháp duy tâm tạo"  là cổ ngữ chứa đựng nhiều huyền cơ và chứng nghiệm của rất nhiều giai đoạn và hệ thống khoa học huyền bí xuất hiện nhiều tại quốc gia tu tập con đường của đạo. Những tinh đẩu tác động vào tâm tính, bản tính phản ứng trước những vấn đề bất ngờ phát sinh, khi bản thân nhân mệnh không làm thể chủ tâm trí và tác động từ định tính xã hội có thể dẫn tới trầm uất tự sát. Với tình cảnh vậy mỗi nhân mệnh giải quyết vấn đề riêng biệt. Bẩm sinh có nhân mệnh khuynh hướng nhường nhịn chịu thiệt phần mình, có nhân mệnh tranh đoạt mạnh mẽ, có nhân mệnh lý lẽ, nhân mệnh ưa hành động. 



Một vòng tròn sắp xếp bởi mệnh số "Đại phú do thiên, tiểu phú do cần". Thiên địa vận hành là cái lý dẫn động cát hung, người sống trong thể thiên định tuân định theo quy luật, thai sinh khởi thời khắc xuất nhập ngũ hành tú khí, luận định trên là sự tác định của những đúc kết tiền nhân. Tuy có một phần tác động của thời kỳ phong kiến lập định mệnh thiên tử ứng do trời lập để ứng với thần quyền. Vận số là vậy, có thể thay đổi vận khí chính là dựa vào thế mạnh ứng hợp của bản tính. Thứ tới là sự khởi quyết của tâm với những thói quen từ tưởng thức hóa nhập thành hành thức. Thí như trên mệnh số rất nhiều khuynh hướng tương ứng, rất nhiều cách cục phát sinh, tuy nhiên nhân mệnh thọ thai gia đình quyền thế sẽ có nền lực phát triển mạnh hơn. Có lá số cùng thời nhân mệnh theo nghiệp kinh thương phát tài thập vạn, có người theo nghiệp công chức đắc danh mà không có lợi, hư danh. Có những sự mô tả những hạn hành tử tuyệt, thời kỳ hiểm nguy của nhân mệnh khởi phát trên bát tự. Bia đá cổ ngữ vẫn còn đó, chỉ có người trông qua còn nhớ hay vô tình đi qua. Toán mệnh lý xưa nay vẫn còn tồn tại sau bãi bể nương dâu, gặp những người hữu duyên làm thú vui nhàn nhã kinh sách. Cũng như pháp phật cao thâm, cũng người tín kẻ không, người thấy huyễn hoặc, người chứng tâm thông. Trong lưỡng nghi, quẻ liền 2 vạch là dương, ứng thể chủ động, quẻ đứt 2 vạch là âm. Vạch thể này là tượng hình của âm dương. Mỗi quẻ 4 hào sinh Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm. Từ quẻ trên thêm 2 hào sinh bát quái. Luận lưỡng nghi mặt âm dương. Trong thực tế Thái Âm tức mặt trăng ẩn tàng, mượn sức sáng của mặt trời chiếu để lộ ra bên ngoài, ban ngày thì mờ ẩn, mặt trăng sáng thứ hai khi nhìn trên trời. Điểm quan trọng là luôn nhìn thấy chỉ một nửa thái âm, nửa còn lại tuy được mặt trời chiếu sáng tuy nhiên không thể nhìn thấy do góc quay tương đồng của địa cầu và mặt trăng. Ứng với điểm âm chứa dương và dương chứa âm của thái âm. Do vậy, tính âm dương lưỡng nghi được xác tính chuẩn xác qua tính chất của Nhật Nguyệt. 




Từ sự tương tác liên quan tới thực tại, Nhật Nguyệt là cặp âm dương đối ngẫu. Nắm điểm này rất cần thiết, cũng như khi cho phương trình số ẩn, thay số ẩn là điều thực tế tức nhật nguyệt và khoảnh khắc thai sinh, được điểm dự báo theo quy luật của tự nhiên và vạn vật. Từ thế lưỡng nghi sinh tứ tượng, cũng là sự tương hóa rất kỳ lạ của tự nhiên, phân định mô tả về bản chất của tứ giao mùa hoạt hành. Những điều thực tế này như bài toán cụ thể về dự đoán thứ nằm bên trong thiên địa, là nhân mệnh qua thời khắc ứng hóa với một số quy luật kế tiếp. Lục thập hoa giáp, khởi phát kế tiếp ứng với chữ thời. Điểm hóa này rất quan trọng, chia nhỏ cụ thể thêm bài toán về quy luật biến dịch. 12 địa chi phối định 10 thiên can, ứng thế âm dương theo luật, được 60 hoa giáp ứng với thời năm. Lại xét chỉnh thêm khắc của tháng xét nhập năm nhuận. Xét nhập phân cắt gần hơn là ngày, tới giờ tức thời khắc. Xét một thời điểm khớp với thời của lục thập hoa giáp khởi bởi ngũ hành 10 Thiên can gồm 5 âm và 5 dương. Phối địa chi chính là thời khắc, ứng với chuyển dịch nhật nguyệt. Ta được lục thập hoa giáp. Khi ứng điểm bắt đầu của vòng là Giáp Tí bắt ứng với thời khắc quy luật vận hành ngày đêm, tháng năm của mặt trăng, mặt trời. Vào rạng sáng ứng giờ Tí, tháng Tí ứng tiết trời đại hàn, năm Tí là khởi lục thập hoa giáp. Khởi phát tuần hoàn 60 năm kiến tập, xác tính thấy 1 năm sai biệt, khởi nhuận ứng nghiệm đúng. Người đời nghiên cứu thấu tường được lý lẽ nghiệm của quy luật là thực tế ngoài đời, thời khắc, thời gian đã hàm chứa thông tin, quy luật tại chính thời điểm. Do vậy khi khởi ứng quẻ thành tâm thông linh đoán tượng đúng, cũng thực chủng tử vô thức vận hành theo quy luật thiên địa. Xét truy nguồn gốc, thời khắc âm lịch tạo bởi bát tự 8 chữ là nguồn căn vậy. Như một bộ máy đếm từ 12 giờ, điều quan trọng nhấn đúng thời khắc chính mặt trời chiếu đứng bóng, đã bao hàm tượng khí dương cực thịnh, bao hàm quy luật trong nội tại. 




Do vậy chữ thời, hay bát tự là điểm quan trọng nhất để xét định dự đoán quẻ hay luận mệnh. Tương ứng vậy, thời khắc thai tạo một nhân mệnh còn ứng thêm một lý của vòng Trường Sinh, xét định vận trình dự đoán cát hung họa nạn cuộc đời. Vi diệu nên gọi là Huyền. Có tri kiến bên trong nên gọi là Học. Khi đếm 12 giờ ắt hiểu được đây là thời khắc thái dương chiếu mạnh nhất. Tuy nhiên hậu học về sau lại lấy 12 giờ làm gốc, như lấy tử tức bỏ phụ mẫu. Tại một số vị trí vùng cực, buổi đêm suốt nhiều tháng. Nếu lấy 12 giờ làm chính ngọ không có khí dương, dịch lý sai biệt không ứng với quy luật của nhật nguyền, không có cái thực tại, ắt mô tả dự đoán không thể xác định. Cũng như xem địa lý phong thủy vận, nơi không có dương hỏa, vật hàn lạnh, khí sát thấu độc. Những nơi phong thủy vậy gây họa hơn phúc. Nơi địa lý vùng cực, hay xích đạo, cũng là điểm thiên lệch của thiên địa. Cũng vậy, xuất nhiên vòng lặp lục thập hoa giáp mỗi 60 năm. Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử, người kiệt xuất sinh bởi thời định sai biệt không lặp theo vòng trên. Cuối cùng, điểm cốt yếu của nhân sinh. Người viết gặp cảnh biến động của thời cuộc, thời điểm quốc gia gặp nạn. Có điều xuyên suốt từ xưa tới nay, có những nơi người nghèo khổ nhất, lại chứa đựng chủng tử lương thiện hành động không suy nghĩ thiệt hơn. Người bươn trải ngụ cư đầu đường, cho đi đồng tiền rách nát tới người  lâm cảnh bệnh tật nan y, bệnh hoạn khổ cực, khi nhận lại sự trợ giúp từ chối giữ sự thanh bạch của Liêm Trinh Thiên Lương. Thời điểm khẩu hiệu " một nắm khi đói bằng một gói khi no " cùng cực, về sau thời hòa bình có người được phụng dưỡng, nhiều người sau khi trải qua thời điểm hoạn hạn đùm bọc, tới giai đoạn đầy đủ chính gia đình rời bỏ, coi như gánh nặng. Có những trường hợp, nhận một điều tốt như bất ngờ xúc động không thể kiềm, vì người thân tử tức còn không lo tới, già sức yếu tự lo bản thân, người ngoài vì lòng thương người, giúp đỡ không vì sự liên quan lại có thể hết tâm ý giúp đỡ. Dẫn trong bản thức, hoàn cảnh khó khăn cùng cực, giữ được chữ Nhân. Người thân không có điểm nương tựa, nhiều nguyên do được giải thích. Tuy nhiên suy xét rõ cũng là chữ bạc. Ứng câu " Cò ơi cò bạc như vôi " như sự thực hiện thực không thêm bớt nửa lời, nhận định không phiến diện. Những nhân mệnh vậy, thường lại xuất hiện các tổ hợp Sát vô tình,  mệnh Sát hữu tình thì phát tiết hợp hóa bạo phát. Mệnh Sát vô tình thừa nhập cơ tới giai đoạn đảo nghịch vận lâm thế nguy cấp, cũng ứng hiềm nhân quả tuần hoàn. Tới khi chung cuộc, vật đều trạng thái hòa, tất cả đều bỏ, danh sắc tài không còn là thứ quan trọng, đều trôi như nước, chỉ còn tâm hoan hỉ hay khổ não, luyến tiếc.