Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, September 28, 2017

Luận vận mệnh Thiên Lương cư Hợi



Mệnh Lương thì cái nghiệp là sự bày tỏ, lương tâm, khi đắc cách thì được bên ngoài đánh giá là người có tâm và thành đạt. Cái tâm của Thiên Lương nằm trong bộ Âm Dương Lương khác với Cơ Nguyệt Đồng Lương. Với bộ Âm Dương Lương có tính dương, ở đây bố cục bày tỏ ra bên ngoài càng trở nên quan trọng. Mệnh tạo đi theo hướng y học đúng hướng với nghiệp của sao này. Thiên Lương này có quyền khá lớn do được Phượng Tuế Quyền Ấn, ở đây chữ Quyền đi với Thiên Lương tức là uy tín, thường là những quan điểm bày tỏ ra bên ngoài. Nếu một thầy bói cần chữ Đồng Linh Quyền tức có quyền lực rất lớn khi phát ra những lời dự đoán thì sao Thiên Lương này bày tỏ quan điểm của cá nhân dễ được sự hưởng ứng, ngưỡng mộ. Tuy nhiên với bố cục này chưa đủ để tạo nên một sự nghiệp phi thường. Một chữ Hỏa Tồn Kỵ Triệt là cần thiết để hoạch phát tài danh tuy nhiên ở vấn đề mang họa cũng lớn hơn nhiều. Với Hỏa Tinh may nhập miếu và được chế hóa một phần khi đi với Thiên Lương là cách cục xấu do Thiên Lương ở đây chủ phối hợp quan trọng với bên ngoài thì cách Hỏa Kỵ Triệt có Tuế khiến mệnh tạo mắc phải lỗi lầm là sự bộc phát, đa phần liên quan tới nóng nảy và khó chịu khiến bố cục Lương đắc cách trở nên phá cách một phần.


Sao Hỏa Tinh rất kỵ đi với Âm Dương Lương đặc biệt là cách Tồn Hỏa Kỵ tức không có lý do gì ta cũng vẫn tức giân, bày tỏ thể hiện bằng lời nói hay hành động thiếu tính kiểm soát, nhẹ nhàng và binh tĩnh. Đây là một điêm yếu của mệnh tạo và có tác động rất lớn khi đi qua các đại vận. Đại vận đầu tiên tại cung mệnh hình thành cá tính ưa biểu lộ ra bên ngoài, có tính nhiệt huyết, có sự ưa được ngưỡng mộ, trọng vọng với bản thân, dễ được thu hút và được nổi bật trước đám đông. Một sao Thiên Lương ưa thể hiện và ở đây Thiên Lương này khá may mắn, cuộc sống tình cảm tuy có phần mâu thuẫn, bất hòa của gia đình sẽ ảnh hưởng tới đương số. Tất nhiên Âm Dương Lương này vẫn rất may mắn vì tránh được Kình Hao hay Đà Hao và đắc vòng Lộc Tồn tương đối hợp cách tránh được cách cục phá cách với vòng Lộc Tồn là điểm tốt của lá số. Sau giai đoạn này đương số có được sự tự tin, lương tâm của bản thân được hình thành và phát triển theo chiều hướng tốt. Mệnh tạo thuộc cách mạnh bạo thực hiện việc không cảm thấy có lỗi với hản thân. Tuy nhiên một phần quan trọng ở cung độ nhị hợp của Liêm Trinh ngộ Cô Thần là sự thanh liêm, liêm khiết, theo dõi liên quan rất lớn tới mệnh tạo, trợ giúp mệnh tạo khi ở vị trí nhị hợp. Cũng vì vậy cách Minh Lộc Ám Lộc hay Khoa Minh Lộc Ám có giá trị không thua cách Lưỡng Lộc trùng phùng. Ở đây ngôi sao lương tâm nhị hợp với ngôi sao liêm khiết, liêm chính sẽ trợ giúp tác động lẫn nhau.


Một sao Thiên Lương độc tọa với bố cục không mấy hay ban đầu tuy nhiên có tính chuyên môn và khả năng uy tín tạo ra mạnh thuộc dạng cát hung tương bán nên cá tính phát khởi khá tốt khiến khí hình vượng theo chiều hướng này. Cung độ đại vận thứ hai vào cung Tuất có Tử Tướng đồng độ bản cung gặp Khoa Khúc Quả, tam hợp đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm. Với bố cục Tử Tướng mang tính chất ổn định và có tính chất tìm hiểu, nghiên cứu về học vấn nên đương số theo con đường văn cách là hợp cách, phát huy được điểm mạnh của bố cục Khoa Khúc là văn tinh. Ở đây cũng chế hóa được Hóa Kỵ tuy nhiên dụng với Hỏa Tinh khá khó khăn. Ở đại vận này đương số dễ phát khởi lý tưởng cống hiến, sự tương trợ và tình cảm khởi dậy. Ở đây bố cục Tử Tướng không có Tả Hữu nên khó được sự đồng cảm, trợ giúp lớn. Tử Tướng là cách tiếp nối truyền thống, đại vận này sẽ có sự định hướng nghề nghiệp từ cả cha mẹ kết hợp với khuynh hướng của mệnh tạo. Ở cung độ Tử Tướng tại đây như đã luận mang tính ổn định và có tính chất kế thừa nên tốt hơn cần có tình cảm và sự nhiệt tâm với cấp trên, có thể là thầy cô khi đang còn học tập sẽ thu được lợi ích rất nhiều từ đó. Một Vũ Phủ ở trong tam hợp cung ngộ Triệt ảnh hưởng lớn tới bố cục này. Cái gần nhất là vấn đề tích lũy tiền bạc và kiến thức khó được hoàn chỉnh, Vũ Phủ là ngôi sao tài lộc, cũng chủ lời nói vì vậy đại vận này có thể khiến cách cục giao tiếp trở nên khó khăn hơn.


 Thực chất đại vận này không có biến cố lớn để luận, chỉ có cách Đà Hao chủ muộn, sau, bố cục Tử Tướng khá hay và yên bình, cách cục hướng về văn cách chủ lợi ích học tâp, nghiên cứu.  Do chỉ còn năm sau hết vận nên sẽ luận tập trung vào năm này trong đại vận. Năm tiếp theo Mậu Tuất sẽ gặp biến động khá lớn trong phương diện tình cảm và sự hoạch phát trong học tập vì gốc đại vận chủ yếu về văn cách và tình cảm. Thất Sát nhập vận ngộ Khôi Đà Hình gia Phá Hồng Kình Linh, cung độ Tham Lang ngộ Trường Sinh có Tuần. Nếu không đắc vòng Trường Sinh bố cục này sẽ nguy hiểm vì hình thành cách Sát Phá Kình Linh Hình là bố cục của sự tranh đoạt, mâu thuẫn, cãi cọ vì tính SÁT của Sát Phá kỵ thêm Kình Hình Linh Việt. Ở đây đắc vòng Trường Sinh có khả năng cát hóa hoàn toàn bố cục Sát Phá hướng tới tham vọng của Tham Lang ở đây là Tham Tuần ngộ Trường Sinh, một sự hoạch phát sẽ xảy ra trong tiểu vận này. Ở đây bố cục cung trọng điểm xuất hiện tuy nhiên không quá mạnh, do sự xuất hiện này mà năm sau sẽ đánh mất sự ổn định của đại vận. Với Kình Việt Linh Hình thì xuất hiện sự vượt quá, quá hạn, đây là cách cục không hay mang tính chất xấu đặc biệt khi có Sát Phá. Vì vậy cần cẩn trọng vì Thiên Lương bản cách đã gặp Hỏa Kỵ nên tiểu vận này tác động theo chiều hướng xấu về mặt này. Năm này không phải là năm tốt, may được Trường Sinh nên không gặp tai họa lớn. Ở trong tổ hợp này khi lưu tiểu vận tới chỉ vị trí của Tham Lang mang ý nghĩa tốt đẹp, các vị trí còn lại của Phá Quân và Thất Sát tùy gốc đại vận nếu chế hóa được thì phát, nếu phá cách thì tai họa lớn.


Đại vận tiếp theo nhập cường cung Phúc Phối Di bản cung có Cự Cơ Phi Lộc ngộ Mã Không Kiếp Đồng cung VCD có Tang Môn. Ở đây bố cục Cự Cơ Đồng ngộ Phi Phục Thanh giao hội Tang Hư Mã Khách và Không Kiếp nhập miếu tại cung Tị. Bố cục này mang ý nghĩa xấu nếu xét về mặt tai họa. Cũng may mắn bản cung chưa gặp Không Kiếp tại đây và Cự Môn có thể một phần chế hóa cặp này tuy nhiên không hoàn toàn và bị tác họa lớn của cặp Đại Sát Tinh. Với mệnh Thiên Lương trong bố cục Âm Dương Lương bố cục ban đầu bất ổn định nay ngộ cách Đồng Cơ Cự chủ bế tắc có Không Kiếp hình thành cách " Thiên Đồng ngộ Không Kiếp bất cát". Thiên Lương nhập cung vận này tính thăm trầm lớn, gặp nhiều việc không may và sự hoạch phát hoạch phát xuất hiện nhiều. Bản cung một chữ Tuần khiến tai họa đến không thể tránh, chữ Tuần ở đây có tính tăng nặng. Đương số nếu dụng Khoa tức thiêm về nghiên cứu sáng tạo trong chuyên môn thì một phần chế hóa được bố cục. Ở mệnh của các nhà khoa học thì luôn có cặp Không Kiếp để tạo ra một cá tính khác thường, trái truyền thống cũng khiến Không Kiếp dụng được. Nếu không thì ta hay gặp trường hợp Không Kiếp vô đạo, trái đạo đức thì tai họa sẽ xuất hiện. Trợ cách đại vận này nên chuyên tâm vào việc nghiên cứu, ở đây tính động rất lớn nên tránh cả những chỗ đông người vì Tuần Đồng Kiếp dễ gặp phải họa tập thể, khác với Cơ Không Kiếp là trong tập thể riêng ta bị họa. Thiên Lương đặc biệt Lương Tuế kỵ đến vận này, cần rõ về đặc tính, đặc biệt các lưu niên tức năm Dần, Tuất, Mão, Mùi nếu có trong đại vận cần cẩn trọng hơn. Đại vận xấu nhưng không tới mức vong mạng, trợ cách thiên về dụng bộ Không Kiếp Tuần Đồng.


Đại vận từ 35 tới 44 nhập cung độ Tham Lang ngộ Trường Sinh có Tuần ở bản cung thuộc cách Sát Phá Tham hoàn chỉnh, có phần tốt hơn khi ở vị trí Tham Lang. Đây là đại vận cát hung tương bán, tính hung khá nặng nề, do tính Sát nặng nhưng được chế hóa cũng không đủ, mà có khuynh hướng dễ gặp đổ vỡ, bất ổn, chữ Sát tăng nặng tới mức độ cao, một Tham Lang có Việt Linh Hình Kình Khôi thì dễ gây ra tội trạng, cũng dễ gặp cách tai họa về điện hay sét do mệnh là Thiên Lương chủ đầu , tuy nhiên do Tham Lang tính cát hóa rất lớn, được cách Tham ngộ Trường Sinh trong trường hợp này thì đương số do ngành nghề bác sĩ nên sử dụng nhiều tới kim khí vào dụng cụ bằng kim loại tới bệnh nhân là hợp cách. Một Trường Sinh nhập cách thì bố cục trên thì không đủ lực cát hóa, tai họa vẫn tồn tại. Ở đây cái dễ gặp là bệnh về máu, đương số có thể gặp bệnh về huyết áp hay máu mặc dù là bác sĩ, cũng cẩn trọng khi mệnh và ngay cung an Thân đồng độ có Hỏa Kỵ thì tới vận gặp Linh Tinh, ở đây lại là Việt Linh Hình Kình Tuần ngộ Sát Phá là tối kỵ, đại vận này sát tinh trùng phùng lại không có Khoa Quyền chế hóa chỉ một sao duy nhất là Tham Lang ngộ Sinh lại là cách Tham Tuần chủ trúng họa. Đương số cần cẩn trọng trong đại vận này vì tai họa tự rơi xuống đầu, về vấn đề tâm thần cũng có thể gặp. Ở ngay trong làm y tế người viết cũng đã luận cho nhiều lá số bản thân là bác sĩ, dược sĩ nhưng gặp bệnh nan y, bệnh tật không trừ ai. Trường hợp này cần biến TUẦN trở thành phòng vệ, phòng trừ. Bố cục không dừng lại ở đây vì xuất hiện một cách cục rất độc là Quế Sứ Hoa Thương ngộ Thất Sát, cách cục này có câu phú nổi tiếng " Quế Sứ Hoa Thương tối hiềm giao hội, mạc phùng Sát diệu đa khổ tai ương". Chỉ với cách cục trên đã mang tính nguy hiểm lớn, ở đây gặp thêm bố cục Việt Linh Hình Kinh Tuần, may không thêm Không Kiếp nhưng cũng là rất nặng nề.  Tất nhiên mức nguy hiểm tới tính mạng cũng còn chưa chắc chắn tùy thuộc vào khả năng chế hóa do trợ cách và khí mệnh của đương số, một chữ Lương Tuyệt với Hỏa Kỵ tại Mệnh Thân dường như khá yếu trước bố cục sát hóa này, rất cần lưu tâm tới đại vận này vì xuất hiện dấu hiệu của Tuyệt Khí, người viết sẽ luận trợ cách để tránh một phần họa và cần mức khí hình vượng để chế hóa bố cục nặng này.  Do cách Quế Sứ Hoa Thương có Thất Sát kinh nghiệm đây là bố cục của vận chết, đặc biệt trong trường hợp này. vận này có phần khó khăn để đương số theo trợ cách này tuy nhiên đây là cần thiết. Một lá số người viết từng luận mệnh Dương Lương cư Mão có Khoa Lộc ngộ Tang Môn đắc cách ở Mệnh Thân bố cục tốt đẹp hơn lá số này. Đại vận chết gặp cách Thất Sát ngộ Quế Sứ Hoa Thương phùng Kình Linh Việt có Hỏa nhị hợp đương số tử mạng do bị ám sát, khi đó chức vụ rất cao trong xã hội, cũng khi nhập tiểu vận Cự Đồng. Ở đây hạn tuyệt mệnh tức dòng khí đã tuyệt, nếu ứng hợp với khí hình bên ngoài thực tế thì không chết bằng cách này thì bằng cách khác. Tuy nhiên lá số trên ở thời chiến nên có phần khí hình xã hội thời đó dễ tử mạng hơn bởi tính Sát ứng hợp với thời kỳ bất ổn của vận nước, đang lúc chiến tranh khí hình Sát rất nặng nề, thời bình luận khác. Ở đây nếu đương số nhập đại vận ở cung độ Thất Sát thì luận mạng vong, ở cung độ Tham Lang thì trợ cách có thể chế hóa một phần của các cách theo hướng dụng Sát. Nếu gặp tiểu vận nhập cung độ Sát Phá hay tiểu vận Thiên Đồng cần rất cẩn trọng bản thân.

Tới vận 45 tới 54 có Âm Dương ngộ Kỵ Triệt, ở đây quay về tam hợp Mệnh Tài Quan và bố cục này khá tốt, tuy nhiên ở bản cung đại vận thì có phần bị ghét bỏ do cách Kỵ Triệt, dễ chuốc lấy thị phi, ghen ghét nhưng không nặng nề. Đại vận này do gặp bố cục Lộc Tướng Bệnh nêm mang tính ổn định cao, nếu đường công danh phát triển tốt đẹp, về việc tình cảm thì có phần bất ổn, tuy nhên cũng là mâu thuẫn nhỏ, có thể mở rộng mối quan hệ xã hội để đạt thành tựu trong vận này. Trong đại vận này nếu gặp năm Hợi Mùi lại hoạch phát tài danh, theo chiều hướng tốt vì gốc đại vận ưa gặp Không Kiếp hội họp.

Sunday, September 24, 2017

Tử Vi và tri kiến phương đông ( Phần 1 )



Tất cả con người đều có ham muốn, trong tử vi đại diện mỗi nhóm sao đều có một Chính Tinh chủ sự tham muốn, tham vọng. Cái dễ nhìn thấy nhất là ham muốn của cải, ham muốn vật chất và tình ái. Có những ham muốn có phần khác biệt hơn như ham muốn cống hiến, ham muốn thoát ràng buộc. Vì vậy nên đa phần kẻ nào cũng sợ chết, từ già tới trẻ, bắt đầu nảy sinh tham muốn ắt sợ chết. Một số trường hợp tự tử do bế tắc, hoặc tự tử do tình ái là do ham muốn không đạt được, trong khi tưởng ấm chưa dụng, tính Sát cực vượng khiến đương số kết liễu bản thân. Kẻ tu hành cũng vậy cũng chỉ là một dạng ham muốn, có khác hơn là ham muốn ở đây về lý tưởng của thoát khỏi ràng buộc, cũng tất yếu do bản tính của tham vật chất từ thời nguyên thủy tới nay nên bản tính này rất khó dời bỏ. Trừ khi tìm được lợi ích lớn hơn mới có thể bỏ cuộc sống bình thường để đi tu hành. Nhiều kẻ chê bai hành động ngu muội nhưng thực chất như một người bình thường không có cái thấy với tâm linh thì khó lòng mà tin tưởng đi theo. Đây là đặc tính đa nghi, nghi kỵ của Hóa Kỵ. Vì vậy Hóa Kỵ khi đắc cách chính là sự phát triển, tiến bộ, cũng chủ tinh tường.


Riêng về khoa học tây phương hướng tới nghiên cứu những thứ bên ngoài xung quanh và phát kiến khoa học đã tới mức độ khó tin so với từng thời điểm trong quá khứ, như hiện nay so với thời điểm cách đây khoảng trăm năm tính đến nay đã là kỳ diệu. Ta hay nghe với thành tựu khoa học hiện nay thì con người đã bỏ rất nhiều quan niệm sai lầm về thế giới, trong khi đó ở bên các nước Phương Đông có phần lạc hậu, có khuynh hướng tâm linh nhiều hơn việc nghiên cứu khoa học bên ngoài. Tuy nhiên Phương Đông cái tâm khám phá và nghiên cứu hướng vào chính bên trong nội tâm của mỗi người và cũng tiến hóa như Phương Tây, thành tựu ở đây chủ về mặt tâm linh với những điều kỳ lạ mà khoa học chưa giải thích. Đến ngay khí công việc phát xung điện từ của khí công sư đã được công nhận bằng các kiểm chứng và khoa học hiện nay đã dần chứng minh được điều có thật này. Việc hướng tốc hành tâm ra bên ngoài của Phương Tây và vào bên trong nội tâm của Phương Đông là hai hướng đi có phần trái ngược nhau và nếu người đã có kiến thức về huyền học được chứng nghiệm thì sự phát triển của tâm thức hay tâm linh đã ở mức độ rất cao. Nếu phát triển về thể lực cần rèn luyện cơ bắp, phát triển dẻo dai cần rèn luyện sức bền. Tiền nhân từ thời cổ có khuynh hướng tới phát triển năng lực đặc biệt, khả năng linh tính và có một bề dày thành tựu rất lớn như khoa học Phương Tây.


 Nhiều khám phá được tìm ra và ngay trong môn tử vi đã dụng rất nhiều những kiến thức này để tạo ra môn toán mệnh. Một người bình thường khi trưởng thành sẽ nhận ra một số quy luật của trời đất , cái dễ nhìn thấy là việc tâm trung dồn tâm trí không sao nhãng vào công việc sẽ thành tựu. Cổ nhân lấy ý rất đơn giản ở việc dụng tốc hành tâm tức hướng suy nghĩ dù ở thời gian nhỏ tới mục đích sẽ tạo ra kết quả. Một con hươu nai khởi tâm hướng tới mục đích trốn chạy thì sẽ phát triển các đời sau theo chiều hướng này. Một con hổ hướng tới tính chủ động bắt mồi sẽ phát triển theo chiều hướng săn mồi, cơ thể cũng thay đổi cho phù hợp. Cái hành ấm tức hành vi sẽ dần sinh ra ý thức. Một tốc hành tâm tự có là việc bảo vệ sinh mạng, ở đây đã thành ý thức tức thức ấm, nằm sâu trong tiềm thức thành bản năng, ở đa phần đến động vật cũng sợ cái chết.


Thí như ham muốn tình dục của người, nhận ra đây là bản năng nhưng luôn chìm vào trong đây, nhẫn tới rất nhiều việc làm hay gọi là vô nhân tính hay thú tính không chỉ trường hợp đơn lẻ mà còn ở một tập thể, một tổ chức rất lớn. Như việc đội quân pôn pốt của Campuchia không những giết hại vô số thường dân vô tội, ngay chính đồng loại mà còn hãm hiếp, giết hại phụ nữ trẻ em, hiếp dâm và xẻo thịt với các hành vi thỏa mãn dục vọng. Không ở bản quốc mà Việt Nam cũng bị quân pôn pốt sang giết hại. Một đoạn trích như sau "Bên trong dãy tập thể, cô hiệu trưởng tên Lan cùng 6 cô giáo đều chết trong tình trạng cơ thể lõa lồ, mỗi người nằm vắt vẻo một nơi. Sau khi cưỡng hiếp các cô, bọn ác thú lấy chính cơ thể các cô ra làm trò tiêu khiển. Cô thì cửa mình bị nhét đầy đất đá, vết máu loang ra đầy sàn nhà. Có cô thì bị chúng dùng giáo mác đâm thẳng vào cửa mình, cô thì bị chúng rạch bụng, cô thì bị chặt đầu, chặt tay, vứt lăn lóc cùng với những thi thể khác" . Tất nhiên là ác thú cũng không tới mức độ như vậy. Môi trường hay hoàn cảnh sống tác động gần như hoàn toàn tới nhận thức của một người. Con người cũng như các loài khác đều có đại đồng tiểu dị. Lắm kẻ sinh ra chỉ có tâm muốn giết hại thì làm đồ tể. Kẻ muốn có tri thức, kiến thức thì làm người nghiên cứu, giới tri thức.


Hai hướng đi của tốc hành tâm khác nhau dẫn tới thức ấm và mục đích phát triển khác nhau. Có người ưa cuộc sống an ổn, không lo nghĩ, làm công ăn lương. Có người có ham muốn thống trị. Thực chất tử vi có thể xem cho động vật, chữ cạnh tranh, chủ động, tấn công chính là Kình Dương. Chữ phòng thủ, bị động, nhường nhịn là Đà La. Các Sát Tinh gồm Kình Đà Hỏa Linh Không Kiếp khởi từ nguyên thủy luôn tồn tại trong hành vi và đã khởi trong thức ấm, tức tiềm thức phàm các loài vật có Linh tính.