Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, January 12, 2017

Tổng luận sao Thái Âm ( Phần 1 )




Tổng luận về sao Thái Âm tại cung Địa Bàn



Thái Âm là một chính tinh thuộc nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Đây là ngôi sao trong bộ Âm Dương, Thái Âm luôn tam hợp với Thiên Lương tạo thành bộ Âm Lương chủ việc âm thầm làm việc thiện. Trong xã hội, việc thiện lương trong sáng thường không khoa trương, nếu khoa trương, công khai thì thường mang mục đích riêng. Với cách Dương Lương là công khai may mắn, từ thiện cách dễ được mọi người quý mến, tất nhiên do đã có Thái Âm tam hợp Thiên Lương. Vì vậy thực chất bộ Dương Lương là bộ Âm Dương Lương. Thái Âm thủ Mệnh hợp cách là cần thiết. Vì Âm Dương trong Tử Vi chính là các sao chỉ tinh thần của đương số. Xét cho cùng người có bộ Âm Dương sáng thủ Mệnh thuộc cách tràn đầy tinh thần cho mọi công việc. Trường hợp Âm Dương đồng cung Sửu Mùi hay lạc hãm ám chỉ thường mang tâm trạng không tốt. Tuy nhiên cần xét thêm các bàng tinh để đi vào chi tiết. Thái Âm luôn có Thiên Lương tam hợp nên thường nhận được may mắn từ ngôi sao này. Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương tốt đẹp là được hưởng phúc từ trẻ đến già, được may mắn hơn người, thừa hưởng gia sản cha mẹ, được người khác giúp. Nhưng cũng chính do vậy cần Sát Tinh xâm phạm Mệnh tạo để tránh cảnh hưởng thụ mà không có ý chí phấn đấu. Nếu được Hóa Kỵ gia thêm cát thành thượng cách. Thái Âm chủ vê thuộc tính Âm trong hai nửa Âm Dương, là sự âm nhu, thuộc về tính chất âm thầm. Thái Âm ở trên các cung địa bàn là việc cần chú ý đầu tiên, phân theo độ sáng tối tại cung Dần đến Ngọ lạc hãm, từ Thân đến Tý là đắc địa. Chỉ xét đến việc các vị trí trên cung địa bàn, Thái Âm tại vị trí đắc ý tức các tính chất biến đổi theo chiều hướng tốt đẹp, như việc âm thầm hưởng phúc, khả năng tính toán âm mưu,... tại các vị trí hãm cho biết Thái Âm gặp khó khăn, thể hiện các đặc tính cơ bản theo chiều hướng xấu như làm việc phạm pháp dễ bị bắt, bị ám hại, tai họa ẩn tàng.



Vị trí còn lại của Thái Âm tại cung Sửu Mùi khi Âm Dương đồng độ. Tại cung Sửu sao Thái Âm vẫn bình hòa sắp tàn, Thái Dương chuẩn bị sáng. tại cung Mùi ngược lại. Như vậy, chia rõ các vị trí tốt xấu cho biết thông tin đầu tiên về Thái Âm, tức các nét phác họa ban đầu của một bức tranh, đây là nền móng để bắt đầu thực hiện vẽ. Tiếp theo là các vị trí với tác động với các chính tinh khác cho ta bắt đầu vẽ chi tiết hơn, tất nhiên là việc này cần dựa trên phác họa ban đầu và bị ảnh hưởng rất lớn. Thái Âm giao hội với Thái Dương tạo thành bộ Âm Dương Lương. Thái Âm giao hội với Cơ Đồng Lương tbuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương có thể đầy đủ hoặc không. Tính chất cơ bản của Thái Âm được bổ sung thêm bởi các chính tinh ngang vị hình thành một cách cục. Các thế tam hợp, lục hội, nhị hợp, giáp hình thành. Thái Âm gặp các phụ tinh hoàn thành ý nghĩa của tổ hợp. Như cách Thái Âm cư Hợi là tốt đẹp, thuộc cách Âm Dương Lương gia Hóa Kỵ là tổ hợp tài năng kỳ lạ, cũng chủ hưởng may mắn lớn. Cũng với Thái Âm tại vị trí Tị, thuộc bộ Âm Dương Lương nhưng gia Hóa Kỵ có ý nghĩa khác, chủ gặp khó khăn âm thầm tồn tại, Thái Âm thuộc tính âm ngộ Hóa Kỵ thành cách âm ám. Nếu Thái Âm thuộc bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương. Như cách Thái Âm tại Tí là cách Cơ Âm nhập miếu ngộ Hóa Kỵ là cách suy tính mới lạ, Thiên Cơ ngộ Thái Âm tại Tí thuộc Cơ Nguyệt Đồng Lương tạo nên ý nghĩa khác với Âm Dương Lương. Với cách Cơ Âm là thời cơ theo tháng, phối hợp với Đồng Lương có âm tính, không như cách Âm Dương Lương có dương tính và âm tính. Thiên Lương ngộ Thiên Đồng khác với ngộ Thái Dương. Tùy theo phân loại theo quy luật trên luận đoán ban đầu với chính tinh Thái Âm. Việc Thái Âm tạo thành tổ hợp với các bàng tinh và luận đoán khi giao hội cần hiểu rõ tính chất của các bàng tinh với từng chính tinh. Cũng như giai đoạn cần công sức nhất và quyết định giá trị khi vẽ một bức tranh là tô màu và chỉnh sửa.

Thursday, January 5, 2017

Hóa Kỵ và động lực của phát triển



Hóa Kỵ và động lực của sự phát triển



Trong Tứ Hóa của Tử Vi, chưa xét tới sự riêng biệt về việc đắc thụ khí của mỗi người mà chỉ xét tương quan trên các lá số thì Hóa Kỵ là hóa khí đối nghịch với cả bộ ba Khoa Quyền Lộc, và Hóa Kỵ với sức mạnh như vậy thương được xếp loại vào hung sát tinh. Bộ Tứ Hóa mô tả sự phát triển và suy thoái về các mặt quan trọng của con người dựa vào Chính Tinh hay Phụ Tinh Xương Khúc Tả Hữu. Hóa Khoa với sự hiểu biết rộng mang tính học thức, có tính khoa trương, bằng cấp, là dấu hiệu của sự tốt đẹp, thuận lợi. Hóa Quyền là gốc của quyền lực, sự nghiêm nghị, nghị lực. Hóa Lộc là gốc của tài lộc, sự phát triển tươi tốt của vật. Và Hóa Kỵ là trở ngại, nghi kỵ, ghen ghét, tối tăm và cản trở. Tuy vậy, Hóa Kỵ là gốc của sự sống và phát triển, là bước khởi đầu của Khoa Quyền Lộc. Trong bài viết này đề cập chủ yếu tới hóa Kỵ. Trong quá trình sống và phát triển thì tất cả mọi sự thành công đều xuất phát từ khó khăn và thất bại. Nếu không có sự trở ngại thì sự phát triển và tiến bộ sẽ không xuất hiện. Trong tự nhiên, nếu tính cạnh tranh giữa các loài không cao sẽ dẫn đến xu thế chững lại. Trong cuộc sống, kẻ sống sung sướng về cả tinh thần và vật chất khó lòng trở nên xuất chúng về một mặt nào đó nếu không trải qua đau khổ. Như việc bạn sống trong cuộc sống thua thiệt với bạn bè trang lứa sẽ là sự cố gắng thoát khỏi khó khăn và phát triển tới mức cao hơn. Tính cạnh tranh của Hóa Kỵ là yếu tố quan trọng của thành công. Tuy nhiên Hóa Kỵ là con dao có hai lưỡi rõ ràng. Hóa Kỵ khi xấu tượng là sự cản trở không thể vượt qua, là do nghi kỵ mà gây mất lòng tin của người khác, là sự ghen ghét mà khiến bản thân bị ghét, là việc làm tối tăm gây nguy hiểm cho cả người và mình.


Mệnh có Hóa Kỵ tính tình hay lo nghĩ, đặc biệt các sao như Cự Môn hoặc Thiên Cơ, đây là khuyết điểm lớn của Hóa Kỵ. Chính vì vậy, mệnh tạo thường cảm giác rằng bản thân phải chịu nhiều khổ cực, lao tâm hơn người khác và lâu dài gây ra một số bệnh nặng. Hóa Kỵ khi hợp lý là sự trách móc bản thân để tiến bộ hơn, là sự suy nghĩ cặn kẽ thấu đáo mọi tình huống bất ngờ xảy ra. Hóa Kỵ rất cần được hợp cách để biến hung thành cát, và sự thành công hơn rất nhiều so với cát tinh vì lực cát hóa lớn. Thông thường các cách Tứ Hóa đặc biệt hay và thành công hơn bộ Tam Hóa. Hung Tinh khi hợp cách phát danh và tài rất nhanh chóng do tích lũy khí và tham vọng để thực hiện mục tiêu. Hóa Kỵ cũng là ngôi sao chủ Kỳ Tài, Kỳ Lạ. Đặc tính đặc biệt của Kỵ là sự khác biệt với lẽ thường, trong kinh doanh có thể là cách đi ngược xu thế chung để thu lại nguồn lợi.