Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Monday, February 26, 2018

Năm Mậu Tuất với một số cách cục tử vi



Bố cục năm Mậu Tuất bởi thiên can Mậu và địa chi năm Tuất hợp thành. Với bố cục tiểu vận Mậu, cách cục Tứ Hóa theo thứ tự Lộc Quyền Khoa Kỵ bởi Tham Nguyệt Bật Cơ. Với sao Tham Lang hóa thành Lộc, bố cục Sát Phá Tham mang ý nghĩa tốt đẹp do Sát hóa thành tài. Sao Tham Lang chủ nguyện vọng, tham vọng và hướng đi của mệnh cách. Tham hóa thành Lộc tạo ra được lợi ích, lợi lộc do tham muốn. Tham Lang cũng chủ che dấu, âm thầm. Sao Tham Lang hóa Lộc rất tốt khi Sát Phá Tham giao hội Sát Kỵ. Ở đây là cách cũ hoạch phát về tiền tài, đặc biệt là khi có Hỏa Tinh. Cần rõ, với Hóa Lộc ý nghĩa cơ bản không là tiền bạc, mà là lợi lộc mang lại, biến hóa khác nhau khi giao hội phối hợp. Khi luận tử vi cần rõ ya nghĩa cơ bản của tiền bạc và vật giá trị, có tính tích lũy quý giá và trao đổi khi luận sâu. Khi Hóa Lộc giao hội đặc biệt đồng độ với Lộc Tồn ý nghĩa là tiền của, vàng bạc. Khi Hóa Lộc giao hội bố cục phát danh là lợi ích về danh thu về. Do đó cách chỉ tiền bạc hay là cách cục Song Lộc. Tham Lang ở đây nếu gặp Lộc Tồn chính là hình thành bố cục cát hung tương bán. Do Lộc Tồn có sự xung đột với Sát Phá. Nhóm Sát Phá Tham ưa thay đổi, lấy phá bỏ để thành tựu. Trong khi đó Lộc Tồn chủ bền vững, ổn định để phát triển. Bố cục này giao hội xung đột, khó thành cách cục. Với Song Lộc ngộ Sát Phá Tham có phần tốt hơn, đặc biệt trong trường hợp Sát Phá Tham độc tọa không giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm. Với tài cách thì Song Lộc ở đây nếu giao hội Tang Hư Mã biến hóa hợp cách, chủ hình thành bộ Lộc Mã giao trì ngộ Tham. 



Thực chất nhóm Tang Hư Mã hai sao Tang Môn hợp cách Lộc và Thiên Mã hợp với Lộc. Tang Môn chủ sụ cất giữ, cũn là cách tài không lộ, trong tối nên tài cách thực vượng. Như việc buôn bán nếu như bên ngoài thấy lợi của bản thân, một đồng lãi ba lộ ra bên ngoài rõ, hay những bí mật kinh doanh lộ thì tài suy. Cách cục Tang Hư Mã có tính che dấu, xã giao, thực hai sao Tang Môn và Thiên Mã đều hợp với Lộc nên thành cách. Do đó giao hội với Lộc Tồn và Hóa Lộc có dị biệt. Hoạch phát hoàn toàn khác nhau. Trong trường hợp này Lộc Mã giao trì hay hơn là Hóa Lộc giao hội Thiên Mã có Phượng Khốc. Với nhóm Tuế Hổ Phù ưa gặp Lộc Tồn chủ sự minh bạch bên ngoài, bố cục này tài cách không vượng như cách Lộc Mã giao trì. Tuy nhiên ở đây được bền vững và cả tài lẫn danh. Với Thái Âm hóa Quyền. Sao Thái Âm hóa thành Quyền hợp cách, chủ có khả năng dụng Sát, tuy nhiên hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương tính chất ưa ổn định, bình ổn. Với Thái Âm hóa thành Quyền có thể dụng được Kỵ Hình. Với năm Mậu Tuất, hóa khí của Hóa Khoa do Hữu Bật hóa thành. Cách Khoa Bật có tính chất cát hóa rất lớn, tác động mạnh với cả Lục Sát và Kỵ Hình. Cách cục Khoa Bật là bố cục tốt trong các hóa khí của Khoa, chủ sự trợ giúp, mang tính chất hóa Sát thành Quyền cách. Bộ Khôi Việt an tại cung độ Mùi Sửu. Nhóm Khôi Việt chủ quý, phát sinh, cần thiết tăng tính quan trọng của bố cục thành tựu. Khôi Việt chủ khác thường, tức vượt trội nếu giao hội với mệnh. Năm Mậu Tuất với nhóm Tuế Hổ Phù tại Dần Ngọ Tuất và Tang Hư Mã tại Thân Tí Thìn. 




Hai nhóm sao an theo Địa Chi này ứng hợp với tính chất cơ bản của tính cách. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã đều ưa gặp Phượng Khốc, hình thành hai cách cục tốt là Tứ Linh và Mã Khốc Khách đều có thể thành tựu. Với vòng Lộc Tồn an tại cung Tị. Do đó nhóm Tị Dậu Sửu ứng hợp Lộc Tướng Ấn. Nhóm Hợi Mão Mùi ứng với Thanh Phi Phục. Nhóm Dần Ngọ Tuất ứng với Kình Hao và nhóm Thân Tí Thìn ứng Đà Hao. Do đó ở các tam hợp hình thành các cách cục đặc trưng. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Kình Tuế là cách cục tốt, đặc biệt là Kình Đại Tuế có Phượng Khốc là mệnh đứng quan trọng. Với tam hợp Thân Tí Thìn hình thành cách Đà Tang tính ám khá lớn, bố cục này do nhập cung độ La Võng, ở vị trí Thiên La nên cách cục này có phần bất lợi, chủ khó khăn phải chống chịu, cũng chủ dễ gặp sai lầm do nghe theo. Với tam hợp Tị Dậu Sửu hình thành cách Lộc Tướng Ấn ngộ Hồng Việt là cách cục khá hay với nhóm chính tinh ưa ổn định. Tuy nhiên tại đây Tử Vũ Liêm, Sát Phá Tham và Cự Môn đều không hoàn chỉnh, bất hợp cách. Ở vị trí này ưa gặp Thiên Hình thành cách Hình Ấn chủ ấn quyền. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Đào Khôi giao hội Thanh Phi Phục, bố cục này có tính chất tình cảm nặng, chủ đào hoa cách. Ở đây kỵ gặp Âm Dương Lương và Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm ngộ Sát, tính biến động lớn, bất ổn cách. 




Bố cục trên cố định giao hội với bố cục Chính Tinh là cách cục cơ bản, thứ tới Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình để luận cát hung sát cách. Với bố cục Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham mâu thuẫn, khó khăn khi xung đột tức tại cung độ Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu. Tại đây với biệt cách này tạo nên nhóm cách cục riêng biệt trong tử vi. Bố cục này khó đắc cách, tuy nhiên sức cát hóa khi được chế hóa rất lớn. Ở cách cục Cự Môn không hoàn chỉnh giao hội xung đột với Cơ Nguyệt Đồng Lương tại đây cũng vậy. Với cách cục Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm tại đây, cần thiết có nhóm Kình Hao hay Đà Hao, thứ tới nhóm Thanh Phi Phục, với nhóm Lộc Tướng Ấn là cách cục Quyền cách nhưng khó phối hợp thành cách. Trường hợp này Hỏa Tinh rất cần thiết cho nhóm sao này. Với tuổi Mậu nếu đắc Khoa Bật ngộ Hỏa Hình là cách cục hay khi Sát Phá Tham giao hội Tử Vũ Liêm. Với cách cục Cự Cơ Đồng bố cục này ưa gặp Không Kiếp, kỵ gặp Hỏa Linh là cách xấu. Tùy từng bố cục luận phối hợp khác nhau. Bố cục Kình Đà tại đây với cách Kình cư Ngọ giao hội Tuế Hổ Phù không có Phượng Khốc nên không mấy tốt, cách Kình Tuế chủ cạnh tranh công khai, không được hưởng ứng, ngưỡng mộ. Trái lại Đà La nhập cung Thìn hình thành cách Lưỡng La có Hư Phá hại bản cung, giao hội nhóm Phượng Khốc và Tang Hư Mã mang ý nghĩa cát hung tương bán. Ở đây cách Đà Tang Khốc có tính chất thù oán, oan khuất. Cách cục Kình Tuế có phần tốt hơn. Với Cự Môn không Hóa Quyền mang ý nghĩa xấu. Với cách cục Khoa Bật khả giải. Khi luận tiểu vận các nhóm sao chính tác động lên lá số biến đổi bố cục, quan trọng cần rõ ý nghĩa của bố cục chính tinh, với lưu sao theo Can Chi năm tác động tới như một chuỗi hạt, nếu tác động tới đại vận thì biến đổi toàn cục, luận tiểu vận thay đổi. 

Friday, February 2, 2018

Trung thực và giả dối



Trung thực tính chất cơ bản gắn với ổn định. Giả dối tính chất cơ bản gắn với thay đổi, bất ổn. Thường ở thời đại hiện nay chữ trung thực khó được giữ như trước đây, do tác động của văn hóa bên ngoài và việc giao tiếp xã hội nên việc dùng từ nói dối trở thành ngôn ngữ giao tiếp. Trong tử vi cũng có cách cục tính cách ưa trung thực và tính chất xã giao ở hai nhóm sao đối nghịch an theo Địa Chi là nhóm Tuế Long Hổ Phù và Tang Hư Mã Khách. Ở hai bố cục này đều có thể giao hội với Phượng Khốc hình thành hai cách cục đều được ngưỡng mộ bởi hai tính cách. Nhóm Tuế Long Hổ Phù hay nhóm Thái Tuế tương ứng với chữ thực, lập luận, quan điểm thể hiện ra bên ngoài là ý nghĩa toàn bộ tổ hợp. Bạch Hổ mang dương tính, chủ lộ ra ngoài. Trong khi đó Tang Môn ở đối cung chủ ẩn vào trong. Thái Tuế tức chữ Thái là thực, Thiên Hư ở đối cung là chữ Hư tức giả. Cái dễ gặp là không phải mọi lúc thực đều tốt và giả đều xấu, do đó Tuế và Hư đều có thể được ngưỡng mộ, quần chúng đi theo. Nhóm sao an theo Địa Chi là cách nhìn dựa trên quan điểm. Có bốn nhóm sao chính là Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Đào Hồng Hỉ và Cô Quả. Các nhóm sao này đều nhấn mạnh ở tính chất cách nhìn. Với Tuế Hổ Phù là thật, nhưng sự thực với kẻ này có thể là giả dối với kẻ khác. Tang Hư Mã ngược lại, cái này là giả nhưng dựa trên sự thực. Thực và hư rất khó phân biệt. Hôm nay trái đất hình vuông là chân lý tất cả mọi người đều rõ nhưng tới ngày mai trái đất trở nên hình tròn. Cặp Đào Hồng tức sắc đẹp cũng là cái nhìn mỗi người, mỗi người xét vẻ đẹp riêng, có khuynh hướng riêng. Cặp Cô Quả tức cặp nhân quả cũng như vậy, mỗi cái nguyên nhân này là kết quả của việc khác. 



Nhóm sao an theo Địa Chi rất quan trọng trong việc phối hợp cách, nếu không rõ dễ gặp cảnh thấy Tuế Hổ Phù giao hội Xương Khúc Tam Hóa luận tốt đẹp trong khi Kình Mã Không Kiếp Hỏa Linh luận xấu là sai lầm cơ bản khi luận giải. Mỗi cách cá tính có khuynh hướng tổ hợp hữu tình riêng, tức hợp hóa hữu lý. Ở đây xét tới chữ danh thì nhóm Tuế Hổ Phù được Phượng Khốc là bố cục tốt đẹp phát danh, cũng các sách hay luận được bộ Tứ Linh gồm Cái Hổ Phượng Long. Xét về chữ lợi tức chữ tài thì nhóm Tang Hư Mã Khách là bố cục tốt về tài cách, phát tài, thường luận phối hợp với Lộc thành cách Lộc Mã giao trì. Ở đây có sự khác biệt về khuynh hướng biến hóa và dụng cách với nhóm sao an theo Địa Chi. Cách cục Tuế Hổ Phù chủ dương tính, công khai, quan điểm tới bên ngoài của cá nhân, tính bản thân lớn. Trong khi đó cách Tang Hư Mã thiên về âm cách, chủ sự ẩn chứa, ẩn tàng bên trong, tính cộng đồng lớn hơn, do đó với cách Đồng Tang là cách cục tốt đẹp chủ âm thầm từ thiện, cống hiến cho xã hội, biến Tang Môn mang ý nghĩa tang tóc, buồn thương thành cách cục thông cảm. Mệnh cách có Tang Môn thường khuôn mặt có nét khắc khổ, nội tâm thuở nhỏ thường chịu cảnh trái nghịch. Bố cục Tuế Hổ Phù mang tính ổn định tức khiến nội tâm ổn định, với cách cục Tang Hư Mã Khách mang tính động, có phần nội tâm biến động, Tang Môn mang ý nghĩa nghịch cảnh, khó khăn làm động tổ hợp này với Thiên Mã là thay đổi cho phù hợp. Trong hai nhóm sao này đều có thể thành tựu, xét về danh chính và ngôn ngữ là cách cục Tuế Hổ Phù, trong khi đó Tang Hư Mã giỏi về khả năng đối phó với khó khăn. 


Tang Hư Mã chỉ xét bố cục mang tính hư, giả nhiều hơn thực, đặc biệt ở vị trí của Thiên Hư. Trong khi đó mệnh cách vị trí của Thái Tuế thường tính cách ưa sự thực hơn. Tất nhiên hai nhóm sao này đều biến đổi khi gặp Sát Kỵ tác động, đặc biệt là Không Kiếp, Kỵ. Bản chất của hai nhóm sao này nằm ở tính chủ động và bị động. Tang Hư Mã là cách cục nội âm, mang tính chất che dấu, mạnh ở vị trí Tang Môn. Cách cục này chữa Điếu Khách có tính xã giao, do đó nội tâm thường bất ổn, thể hiện tính cách khác ra bên ngoài, trong đó Tang Môn thường gặp nghịch cảnh, đối phó. Cả nhóm sao Tang Hư Mã Khách xét chung tùy theo giao hội Sát Kỵ hay Trợ Tinh mà biến hóa. Bố cục này khi xấu dễ bị đánh giá tính cách giả dối. Với cách cục Tuế Hổ Phù mang tính chủ động, ở đây chủ ngoại dương, bố cục chủ đưa quan điểm, tính cách ra bên ngoài. Đây là hai nhóm sao cơ bản quan trọng, biến hóa khi đồng độ với các nhóm chính tinh hay bàng tinh ý nghĩa khác nhau. Cung an THÂN và cung Mệnh có hai nhóm sao này mang ý nghĩa khác nhau, cần phân biệt rõ mệnh và thân. Với cách cục Mệnh Thân ở hai nhóm sao khác nhau, như việc mệnh cách với nhóm Tang Hư Mã, cung an Thân cách cục Tuế Hổ Phù đắc cách, tính cách trong các hoàn cảnh vô thức, tức bản tính mang ý nghĩa của Tang Hư Mã. Khi trưởng thành, qua các đại vận thì đương số chịu tác động mạnh của Tuế Hổ Phù. Nói dễ hiểu hơn mệnh cách như trong vô thức, nằm sâu trong hành. Cung an Thân mang ý thức, sự tự chủ xây dựng bản thân, trưởng thành. Phân biệt ý nghĩa cách mệnh thân rất rõ ở các nhóm sao cơ bản khi Thân Mệnh nằm ở hai nhóm khác nhau. 



Trong trường hợp này là Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tang Hư Mã cần xét các bố cục cát hóa, nếu ngộ Sát Kỵ bất dụng mang tính tranh đoạt, hiểm trá do hoàn cảnh khó khăn tác động. Nếu Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tuế Hổ Phù có phần tốt hơn nếu giao hội cát, nhược kiến Sát Kỵ luận mệnh đa mưu xảo ngôn. Đặc biệt cách cục Thái Tuế ngộ Kiếp Kỵ dễ phá cách. Ở cách cục Quan cách nếu mệnh tạo không được chữ trung thực thì khó đạt thành tựu ổn định, dù bố cục khí hình vượng. Trung thực là ổn định, nội tâm ổn định thì Sát được hóa thành Quyền. Nhiều lá số mệnh cách bất trung thực vẫn là mệnh tốt, do bố cục Sát cách được hóa Quyền bởi nỗ lực qua khó khăn. Xã hội không công bằng là điều tất yếu. Trong đa phần trường hợp mệnh cách trung tín đạt được chữ Danh. Với cách cục giả dối dễ đạt được chữ Lợi. Quan trọng có dụng được Sát tinh hay gặp tác họa. Một kẻ có thể giả dối nhưng tất cả đều ưa những người trung thực. Cách cục Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù đắc cách chính là đắc Tứ Linh, thu nhỏ của bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với đường lối và đạo đức. Cách cục Tuế Hổ Phù thường được trợ lực mà thành.  Trong khi đó cách cục Tang Hư Mã ngộ Phượng Khốc hình thành cách cục Mã Khốc Khách cũng như thu nhỏ của nhóm Sát Phá Tham về tính chất Sát. Dụng tới bố cục Sát là được và mất. Cách cục này đa phần do nỗ lực của bản thân tạo nên thành tựu. Với bố cục thành tựu do Sát cách là cách cục đánh đổi. Với mệnh Tang Hư Mã sau thành công là nỗ lực khó khăn, thường dụng bằng tự lực, do hoàn cảnh khó khăn tác động để thành tựu. Mệnh cách luôn nỗ lực vững chắc với mục tiêu là thành tựu cách chung của nhóm sao này. Sát cách có thể chế hóa, nhưng khó khăn khi không hợp mệnh cách. Như việc một kẻ với mệnh ưa an nhàn, ổn định như cách Tồn Xương Khúc, hướng thành tựu chịu khổ cực, áp lực thay đổi để phù hợp thì khó có thể dụng. Phàm là vạn vật đều phải có thịnh suy. Lộc Tồn chủ giữ,  tốt ứng với thế thịnh, nếu suy không đổi dẫn tới diệt, khi đó Kình Hao và Đà Hao luận tuy sắp xếp là Sát Tinh nhưng cát do cần thiết. Ngũ hành hợp hóa hữu tình thì thành, khắc phạt thì bế tắc. Một đất nước Mông Cổ hùng mạnh không thay đổi cũng phải suy tàn. Thời nay kẻ mạnh không phải là kẻ thắng mà kẻ nhanh là kẻ thắng, sự vượt mặt của những nền kinh tế hay công ty đổi mới trước sự lạc hậu là điều dễ gặp. Thời vận là điểm quan trọng nếu khí hình bất vượng, mệnh cách xấu nhưng nắm được thời vận cũng được thành tựu lớn.