Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Thursday, August 9, 2018

Luận về mệnh cách Cự Đồng.



Lá số mệnh cách Cự Đồng cư Sửu đắc cách, có địa vị cao trong xã hội. Phần luận cách cục này học trò luận. Về cách cục đã có cái nhìn tổng thể về tử vi, ứng hợp đúng với mệnh tạo ngoài thực tế người viết đã từng luận, trình bày luận tương đối đầy đủ về định cách cơ bản, xóa bỏ được một phần cách luận thiên lệch trước đây. Người nghiên cứu tử vi không nên nóng vội, nghiệm lý từng cách cục nhỏ, từ cơ bản nắm rõ, thực lý rõ thì gốc vững, gốc vững thì luận không gặp rối loạn. 

 Bố cục chung Thiên bàn phân thành 4 nhóm sao đó là TPVTL, SPT, Cự Đồng Cơ và Âm Dương Lương.  Tinh hệ này là tinh hệ Tử Vi cư Ngọ, đương số sẽ có những phẩm chất hơn người, chí ít là ở hoàn cảnh. Tử Vi độc tọa, lý tưởng và tính chất bộc lộ rõ ràng, không bị ảnh hưởng  và bộ Âm Dương sáng tạo điều kiện tốt cho đương số. Trò luận đương số có chính kiến, có lý tưởng. Đó là xét về chính tinh. Xét tiếp đến Bàng tinh, Không Kiếp Kỵ Hình Linh Hỏa không tụ tập. Các sao tăng mức độ quan trọng tụ tập nhiều ở cung độ Thái Âm Khoa  Khôi  Việt Đại. Thực ra trò vẫn khó phân biệt cung trọng điểm. Các trường hợp rõ ràng như lá số của trò có thể ngay lập tức nhận ra. Nhưng nhiều lá số rất khó. Ở đây trò vẫn nhận định cung trọng điểm là cung quan lộc với chính tinh Thiên Cơ ngộ Hữu Việt Hư  Mã Không Kiếp nhập Sinh. Ở đây là bố cục khá xấu nhưng may mắn nhập được Sinh Vượng mà hóa cát. Người này sẽ gặp nhiều nghịch cảnh nhưng lại vượt qua được mà thành công. Tuy nhiên cũng không hoàn toàn hạnh phúc.


Mệnh cung chủ ý chí, nghị lực con người, cũng là nơi bộc lộ phẩm chất và tính cách. Bố cục chung Mệnh Tài Quan là Cự Cơ Đồng ngộ Tả Hữu Việt Quyền Kình Tiểu với Tang Hư Khách có Tuần Triệt Không Kiếp nhập Sinh Vượng. Cự Cơ Đồng là nhóm sao chủ bất mãn, phản đối, dễ sinh thị phi, bất đồng mà đưa đến phản bội, mang tính chất nội bộ. Ở đây Cự Đồng Cơ ngộ Kình Hao, tính phản kháng càng thêm mạnh, nhưng chỉ là Tiểu Hao, tính chủ động bị hạn chế, trong lòng chứa nhiều bất mãn. Cự Đồng cơ ngộ Tang Hư Khách, can Quý Cự hóa Quyền, Tang Hư Khách hợp với Thiên Đồng chủ từ thiện, làm phúc, lại có Thiên Việt thật tốt quá, đương số tốt bụng, thương người, hay giúp đỡ người khác mà cũng được giúp đỡ lại. Tuy nhiên cũng hình thành các cách xấu như Đồng Không Kiếp, Cự Không Kiếp, nếu không làm phúc sau này tai họa tất đến, dù cho Không Kiếp đắc địa đi chăng nữa. Bố cục nhập Sinh Vượng nên vượt qua được những khó khăn, năng lượng lớn, có ý chí, có sức khỏe: “Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ hoặc cư Tuyệt xứ. VCD hoan phùng Tả Hữu Sinh Vượng hóa hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài”. Đương số lại được sinh ra trong gia đình giàu có, được học hành đầy đủ, do vậy hưởng phúc tài lại càng đúng. (Câu phú nói đến VCD nhưng trò nghĩ là tính cả chính tinh, không biết đúng k thầy?). 
Mệnh cung cũng là đại vận đầu tiên là Cự Đồng ngộ Tang Kình Quyền nhập Vượng  có Tuần Triệt án ngữ. 



Mệnh Thân đồng cung, đương số khá thống nhất trong suy nghĩ và hành động, ngôi sao Tử Vi độc tọa tại Ngọ chủ lý tưởng. Người này có ước mơ và phấn đấu theo ước mơ đó.  Mệnh Thủy, Đồng Cự cũng đều là hành Thủy, luận theo cả 2 sao. Ở đây dụng Thiên Đồng có lẽ tốt hơn so với Cự Môn do hình thành cách Đồng Tang hay hơn Cự Kình không có Phượng. Cái hay là Tuần Triệt án ngữ nên được hưởng 2 chữ phòng tránh, hai cung Tài Quan tuy rằng không đẹp nhưng cũng khó ảnh hưởng đến Mệnh Thân. Mệnh có Tang Môn, đương số có nét buồn trên gương mặt. “Tang Hổ Điếu Binh vị chi tứ Hung, nhược ngộ Đồng tinh nhi hóa cát”, đương số phẩm chất tốt, đây là người tốt bụng, tuy nhiên công việc không tốt, dễ gặp tai họa tác động trở lại cung Mệnh, khiến Mệnh cung có điều bất mãn, lo nghĩ. Cung Quan Lộc với cách Cơ ngộ Hư Mã Không Kiếp có Việt chủ phát sinh khó khăn, tai họa và đánh giá sai thời cơ. Mệnh cung phản kháng lại bằng sự bất mãn Cự Kình nhưng chỉ là Tiểu hao, phản kháng và sự thay đổi cũng không mạnh mẽ, không được ủng hộ của Phượng Các. Tuổi nhỏ đi học, có lẽ đương số kết quả học tập không được tốt.
Phú có câu: “ Cự hãm tứ Mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm” Đa ngôn là nói nhiều, lại nói tầm bậy cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối. Từ chỗ cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối đến vô tình hay cố ý phản bội người. Mệnh tại đây ta là người có khuynh hướng tạo phản, đồng thời cũng là kẻ bị hại.


Đại vận thứ hai nhập cung độ Tham Lang. Tham Lang ngộ Tuần Triệt Đào Tồn Kỵ. Tham Đào ham chơi, lại gặp cách cục xấu “Kình Đà hiệp Kỵ vi bại cục”. Tam hợp là Phá Tướng Ấn nhập Tuyệt và Thất Sát ngộ Xương Hồng Bệnh. Đại vận này bất lợi cho tình cảm, lại Phá Quân nhập Tuyệt không lợi cho phá bỏ.  Mệnh Cự Đồng đến hạn Cáo Phụ, Tồn Kỵ khéo còn mang tiếng hỗn láo với người trên, trong lòng tồn tại bất mãn. Tuy nhiên Tham ngộ Tuần Triệt lại hướng đương số đến Không cách, huyền học tu đạo: “Tham Đào tại nhàn cung, nữ mệnh độc phụ chi nhân ngộ Triệt Tuần tâm hồn thư thái”. Ở đây trò nghĩ cả nam và nữ, Triệt Tuần ở đây giúp đương số bớt ham chơi mà thay vào là được giáo dục tốt, nhưng bại cục vẫn là khó tránh khỏi. Ở đây luận khí hình biến đổi theo hướng tĩnh, đi theo Thiên Đồng, dụng ngôi sao này, ở đây trò khó khăn trong việc luận khí hình vận, mong thầy giảng thế nào để đánh giá là khí hình mạnh/cao, thế nào là khí hình thấp ạ. Đương số sinh ra trong gia đình giàu có nên khí hình gốc vượng. 

Đại vận thứ 3 hội họp nhiều sao quan trọng, đến đây đương số bắt đầu gặt hái được thành công, nhưng nhìn chung nếu là một người xuất thân bình thường các đại vận trải qua trò thấy không nổi bật cho lắm, thành công cũng không được vang dội. Ở đây có lẽ do hoàn cảnh đương số sinh ra trong gia đình như vậy nên mới được làm Tổng giám đốc, nếu không có lẽ cuộc đời sẽ rẽ sang hướng khác.

Sunday, August 5, 2018

Hình pháp cách cục của Cự Liêm



Sao Liêm Trinh có đặc điểm tư tưởng bản tính mạnh về phân biệt phải trái, đạo đức, thanh danh, được luận hình tinh, có tính chất âm hỏa do Tử Vũ Liêm chủ bí mật. Khi giao hội Tử Vũ Liêm với Sát Phá Tham. Hình tượng cơ bản khuôn mặt dài, xương cằm nhô. Tùy theo vị trí độc tọa và bàng tinh giao hội định cách. Một số trường hợp khi giao hội Hình Sát diện tướng thuộc khuôn mặt lưỡi cày. Liêm Trinh có tính chất Sát, do âm hỏa hóa thành. Liêm Trinh đứng với Thất Sát là cũng có thể luận cách Hung Tú Càn Nguyên do tính chất phối hợp của Hình Tinh và Sát Tinh. Liêm Trinh nhập mệnh có tính chất chuyên quyền, cũng không phải mệnh cách hiền hòa, hàm chứa sức phản kháng lớn. Hai cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham và Tử Vũ Liêm giao hội Phủ Tướng hình thành bố cục mang ý nghĩa khác nhau. Liêm Trinh hóa cục thành hai khuynh hướng cơ bản nóng nảy và thâm trầm. Mệnh cách Liêm Trinh ổn định nếu trong bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hoàn chỉnh cát hóa đa phần sinh trưởng có phần ổn định lớn, cuộc sống ít thăng trầm hơn cách cục xung đột với Sát Phá Tham. Nếu Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, sao này bắt đầu tác hóa với Sát cục. Mệnh cách cục này đắc thành tựu đa phần do trợ tín chế hóa cách cục Liêm hội Hình Sát. Liêm Trinh đắc khí hình vượng mệnh cách có khuynh hướng theo hệ thống chính quyền, đặc biệt hình pháp. Như hình tướng, nếu mệnh cách Liêm Trinh hội Hình Sát ứng hợp võ cách, tướng mạo lưỡi liềm cách cục này Liêm chủ thâm trầm, sắc bén, có khả năng dò xét, phán xét rất tốt, cũng có tính âm thầm làm việc, giữ bí mật thân phận bản thân. Nếu mệnh tạo có sắc tướng không ứng Sát hình khắc, thiên lệch chủ bố cục này thường mệnh Liêm Trinh trong cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm cát hóa bởi trợ tinh, Sát Kỵ bất kiến. Với Liêm Trinh nữ mệnh trong bố cục này khó thành cách ổn định nếu không giao hội tam hóa, Khôi Việt Tả Hữu Xương Khúc.  




Khi luận phú về cách cục của Liêm Trinh. Liêm dụng võ cách, chế hóa Sát hình thành cách cục liên quan tới hình pháp, chủ dương tính mạnh, ưa thực hiện ký tưởng giữ công bằng, thực hiện công lý. Có một số câu phú trích dẫn sai hoặc bình giải sai với sao này. Người luận tử vi khi nghiệm lý phân biệt các lá số chính tinh độc tọa nhìn được điểm chung của mệnh cách có chính tinh thủ mệnh. Nếu nghiên cứu kinh sách chính yếu thì không gặp sai lầm với các câu phú. Như câu phú thường được dụng với các trường hợp Liên Trinh đồng độ Bạch Hổ sau. " Liêm Trinh Bạch Hổ hình ngục nan đào". Cách cục này xét tới khi Liêm Trinh đồng độ Bạch Hổ. Tức giao hội với nhóm Tuế Hổ Phù. Với Liêm Hổ mang ý nghĩa mạnh về dương tính, hình họa. Sao Bạch Hổ kỵ đồng độ với Sát Tinh như Thất Sát hình thành cách cục Sát Hổ tai ương. Sao Liêm Trinh do hung tính gặp Bạch Hổ trở nên bộc lộ mạnh ra bên ngoài mạnh. Liêm chủ suy xét, điều tra, cũng chủ thanh danh, liêm chính hay bất liêm chính. Do đó cách Liêm Hổ nếu mệnh cách theo hình pháp, hay liên quan tới chính trị. Trong tính chất cơ bản của Liêm Trinh, không phù hợp với Bạch Hổ do nhóm Tử Vũ Liêm ưa ẩn. Cách cục mệnh Liêm thường thành tựu do tính thâm trầm. Tuy nhiên cách cục Liêm Trinh ngộ Bạch Hổ nếu không trong bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham thì mang ý nghĩa tốt. Trong cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm giao hội Tuế Hổ Phù là đường lối rõ ràng, với Liêm chủ phân định đạo đức, hình pháp cho lý tưởng của toàn cục. Với bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham có Tuế Hổ Phù mệnh tạo Liêm Hổ đều trong cục diện khó khăn do xung đột giữa hai lý tưởng, có tính tranh đoạt và Sát Tinh lớn do Vũ Sát của hai nhóm sao tạo ra. Do đó Bạch Hổ đồng độ Liêm Trinh tại đây không mấy hay. Tuy nhiên xét cách cục xấu cần gặp thêm Hình Ky, Tồn Kiếp mới có thể định họa hay đại họa. 




Liêm Trinh tối kỵ hóa Đào Hoa cách thì luận mệnh phá cách, khó thành tựu lớn với nam mệnh, do xung đột trong chính nội cách và khuynh hướng ứng hợp của mệnh tạo khi Sát cần hóa Quyền do tham vọng. Do đó cách cục Liêm Tham hay Liêm Khúc Xương, hoặc Liêm Đào Hồng mang ý nghĩa không mấy hay. Trường hợp giao hội Xương Khúc cần xét thêm. Với cách cục Liêm Tướng khuynh hướng mạnh tính tương trợ, võ cách. Liêm Phủ mạnh tính dò xét, phán xét tuy giao hội nhóm sao tình cảm nhưng mang ý nghĩ khá tốt. Nếu có kiến thức cơ bản do chính thư và nghiệm lý rõ thì người nghiên cứu đa phần có thể xét được bản tính, hình tướng ứng hợp chính tinh nếu được thông tin sự kiện cuộc đời. Khi truyền tử vi ra ngoài. Một số người nghiên cứu chưa tinh đã giải thuyết về thời gian bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông ứng hợp các biến chuyển của trời đất tới toán mệnh tức xét tứ trụ. Như mệnh sinh các mùa phân biệt, lại giờ phân biệt nên bản tính dự đoán phân biệt. Lại luận nơi không có đủ tứ mùa mệnh các toán mệnh bất ứng hợp do các mùa do ngũ hành định cách thành Thập Lục Hoa Giáp. Thực tế bản tính ở tất cả nơi đều xuất hiện tương tự, không phân biệt do vị trí hay khí hậu có đủ Xuân Hạ Thu Đông. Khí hậu tức mùa là dụng thể của ngũ hành theo quy luật. Toán mệnh lý dùng tứ trụ xét theo ngũ hành bất xét theo khí hậu do đều là thể dụng của thuyết âm dương ngũ hành. Không có tính phụ thuộc lớn. Không thể xét hai cành cây khác nhau trong cùng một gốc, khi tra xét quy luật phải từ thân cây tới cành cây. Liêm Trinh mạnh về chính trị do khả năng nắm thông tin, điều ra, xác định. 




Cự Môn mạnh về nghiên cứu, tác động do bất mãn, phản đối, khám phá tạo ra. Mệnh cách của công tố viên đặc biệt Robert Mueller từng là giám đốc điều tra Liên Bang của Mỹ ứng hợp với Liêm thủ mệnh. Cự Môn dùng miệng, Liêm Trinh điều tra, dò xét, cũng do âm ám khi hóa Sát thành âm quyền tức quyền ngầm, bất hiển lộ. Với Liêm Trinh tốt ta lấy được thông tin của đối phương do âm thầm điều tra, thu thập. Với Cự Môn với khẩu ngôn với hình pháp. Mệnh cách của công tố viên Mueller sát hóa tính chất cơ bản Liêm. Hóa Liêm Trinh thành võ cách. Ứng hợp hoàn cảnh theo binh nghiệp. Mệnh tạo tham gia quân dịch và phát triển mạnh trong quân đội, thực chiến tại Việt Nam. Khi Sát hóa Liêm Trinh khí hình tăng vượng, hoặc tuyệt khí do Sát tác họa. Liêm Trinh ứng hình pháp chỉ khi giao hội Sát Hình. Liêm Trinh và Cự Môn là hai sao mạnh về hình pháp. Mệnh tạo đắc cách thường học luật, ưa nghiên cứu chính trị. Với Cự Môn khi xấu là tai họa do can gián, miệng lưỡi. Với Liêm Trinh khi xấu do hậu quả của lòng tham, đánh mất thanh danh do phạm hình pháp. Liêm Trinh và Cự Môn nhập mệnh đều có dương tính mạnh. Cổ nhân luận Liêm Trinh tốt hơn Cự Môn do tính Ám của Cự mang ý nghĩa phản đối, chủ bất mãn. Tính Ám của Liêm Trinh mang ý nghĩa điều tra, theo dõi, nắm bắt. Hai sao đều có tài năng lớn. Tuy nhiên Cự Môn dễ hoạch phát, Liêm Trinh được bền vững. Cự Môn thường chủ động tấn công, mang ý nghĩa của Kình tạo thị phi tới thanh danh đối phương khi tranh đấu. Liêm Trinh thường âm thầm, mang ý nghĩa của Đà La, điều tra, tìm sai phạm của đối phương khi tranh đấu. Cự Môn có đồng minh là Phá Quân chủ đa mưu, giỏi ứng biến, khám phá, lợi ích. Liêm Trinh có đồng minh là Thiên Lương chủ chuẩn mực xã hội, đạo đức, lương tính. Trong chính trị hai sao Phá Quân và Thiên Lương đều rất mạnh. Khi uy tín và đạo đức chuẩn mực rất quan trọng do hệ thống chính trị đứng đầu pháp luật. Phá Quân thường thắng thế Thiên Lương. 




Điểm tựa của Liêm Trinh nhập Sát cách là thanh danh và pháp luật. Mệnh Liêm Sát ngộ Hình Ấn hội trợ tinh đắc cách chấp chưởng quyền hành pháp. Nữ mệnh Liêm Trinh đắc cách chủ tư chất đoan chính, không ưa tà vạy. Liêm Trinh nắm giữ nhiều bí mật, do đó tính thâm trầm do ứng hóa khiến Liêm tránh được tai họa so với sao Cự Môn thường bị cổ nhân luận xấu do tính thị phi. Liêm Trinh khi bất hợp cách thuộc bố cục thâm hiểm, do sao Tử Vi đường lối sai lầm. Trong các hệ tư tưởng luôn có đối lập lẫn nhau, mâu thuẫn lẫn nhau. Liêm Trinh rất đắc lực với Tử Vi. Khi đắc cách là thanh danh viễn bá. Khi phá cách hay nhập vận xấu thường gặp họa về bệnh tật, tai tiếng, hình tù với mệnh cách Liêm theo hình pháp. Bản tính của mỗi người ở mọi địa vị đều có thể phân thành các tính cách chính, đặc trưng. Mệnh Cự Môn khẩu ngữ làm trọng. Mệnh Phá Quân tính khai phá, đột biến làm trọng. Mệnh Thiên Cơ lấy lợi làm trọng. Trong chính trị, khi có kinh nghiệm nhìn người thì có thể phân lập tính cách khi tiếp xúc. Trong thương nghiệp cũng vậy. Mỗi tính cách riêng biệt có những ưu khuyết điểm riêng. Người đứng đầu đất nước với tư tưởng, tính cách có tác động quan trọng tới vận nước. Trong tổ chức cũng vậy. Cũng có thể xác định lá số tử vi khi rõ chính tinh thủ mệnh và sự kiện quá khứ khi có trụ ngày. Trung Quốc nhiều người rất uyên thâm trong toán mệnh, thường dụng cả nhân tướng để rõ hơn về đối tác hoặc đối thủ. Như tướng mệnh Thiên Cơ nếu sinh năm Mậu thì Hóa Kỵ tác động mạnh tới tính cách. Thường xuất hiện kỳ tài khả năng mưu tính sâu xa, đắc lực nếu ứng hợp bên ngoài. Nếu tướng mệnh Cự Môn sinh năm Đinh hóa Kỵ, dù mệnh tốt đẹp cũng sẽ có họa thị phi do miệng lưỡi.