Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Wednesday, February 28, 2018

Luận đại vận cách cục Tử Phủ Triệt Tuyệt



Cách cục Tử Phủ Triệt Tuyệt nhập mệnh cũng chính là đại vận đầu tiên hình thành tính cách, mang ý nghĩa quan trọng làm gốc của vận số. Lá số tử vi luận nếu không ứng hợp bên ngoài tức thông tin bên ngoài thì chỉ xét được cát hung thăng trầm cơ bản, nếu luận sâu bố cục sẽ gặp sai lầm như man thư luận mệnh thượng cách hay mệnh yểu kết quả tự bịa ra chuyện lý thuyết phản vi kỳ cách mà gọt chân cho vừa giày. Lá số tử vi là động, vậy khi luận mệnh ở thế tĩnh ra được tổng quan cuộc đời phú quý thọ yểu thì đến cơ bản cũng không rõ. Nam mệnh Mộc nhập cách Tử Phủ Vũ Tướng Liêm phù hợp. Tuy nhiên cách cục này mang ý nghĩa hoàn toàn bất lợi về Quan Cách. Mệnh cách Tử Phủ ngộ Triệt là cách không hoàn thành nhiệm vụ, không thể gánh vác trách nhiệm khi được giao trọng trách. Thực chất bố cục này tác động mạnh khi mệnh cách có khuynh hướng đứng đầu, lãnh đạo một tổ chức. Tử Phủ ở đây được một điểm tốt với việc giao hội Thanh Phi Phục bất kiến Sát Kỵ Hình mạnh nên cách cục được bình ổn. Nam mệnh có cách cục này cũng dễ lộ bí mật, những việc trọng mật cần giữ kín. Đại vận Tử Phủ Triệt lại nhập Tuyệt khiến khuynh hướng tham vọng, định hướng và chính sự cống hiến cho lý tưởng không được định hình. Ở đây nằm tại cung Mệnh tức trong nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm gặp vấn đề về chính đường lối, tham muốn, hành động và quản lý, bảo mật của bản thân. Và cách cục này rất bất lợi khi theo Quan Cách. May mắn nhóm Vũ Phủ Lộc có Thanh Long không bị phá cách, chủ tài cách có điểm tựa, tức gốc Thiên Phủ ngộ Triệt khí suy nhưng gặp nhóm Thanh Phi Phục chủ tiếng nói có tác động giữ lại, cái kho được giữ lại. Cách cục Phủ Thanh như việc tài khố ta để bên ngoài đường, nhưng ta lên tiếng giữ lại nên không gặp việc mất mát. Ý nghĩa chính của Phủ Thanh chính là khẩu ngộ để Thiên Phủ đắc cách với Không Vong. Vũ Phủ Thanh nhập Tài Cách với Vũ Lộc Thanh cư Tài cung chính là cách Tài cư Tài vị. 




Với bố cục này mệnh cách nếu khuynh hướng ban đầu khí hình gốc vượng sẽ lấy lợi ích làm trọng, ở đại vận đầu tiên này hình thành cách cục ý nghĩa tính cách ưa việc linh hoạt, tạo ra lợi ích cho bản thân. Nếu nam mệnh đại vận đầu tiên tại cung Mệnh theo Quan Cách bố cục gặp Tuyệt cách, khó khăn trong nội tâm, ưa việc suy nghĩ trống rỗng, tính cách thực dụng của Tài Cách không phát huy thì các đại vận sau ắt sẽ theo Quan Cách dẫn tới bất hợp cách sau này. Với Tài Cách bố cục Vũ Phủ Thanh Lộc là cách cục nhạy bén, linh hoạt và nắm bắt với lợi ích, chủ nhìn rõ và đặt tham muốn với tiền bạc. Chữ Khôi tại Mệnh ngộ Triệt và Việt tại cung an Thân với cách Liêm Tướng. Ở đây cung Mệnh Thân được bộ Khôi Việt thì có khả năng hơn người. Đặc biệt cách cục Vũ Khúc ngộ Lộc Khôi Việt tăng giá trị cho Tài Cách. Lá số mệnh cách Tử Phủ ngộ Triệt tại vị trí Tuyệt là phá cách nhưng với khuynh hướng Tài Cách khá tốt đẹp, do đó nam mệnh khi theo Tài cách dễ gặp được hoạch phát. Mệnh cách nhập đại vận đầu tiên có tính chất dễ bỏ dở giữa chừng khi thực hiện công việc. Đại vận thứ hai vận hành nhập cung độ Thiên Cơ mang ý nghĩa tốt hơn. Vận thứ hai chủ bản thân hình thành tham muốn, định hướng cho cuộc đời. May mắn ở cách cục Đồng Cự Cơ không gặp Triệt tại bản cung. Thiên Cơ ngộ Kình Tang tức nhóm Kình Hao giao hội Tang Hư Mã là bố cục chống đỡ khó khăn, trong gia đình cũng gặp vấn đề. Với Thiên Cơ ưa gặp Kình Tang chủ thay đổi để thích hợp, Thiên Cơ có tính nhanh nhạy, chủ suy tính. Ở đây nếu Tài Cách là khuynh hướng ban đầu thì nam mệnh đã hình thành các phẩm chất nhạy bén với lợi ích, khả năng ứng biến với khó khăn. 




Nếu nam mệnh theo khuynh hướng Quan Cách tức ưa cống hiến và gánh vác trách nhiệm cũng trở nên tốt hơn với bố cục này. Cách cục Đồng Cự Cơ không gặp Sát Kỵ trùng phùng nên đại vận này có khó khăn cần tranh đoạt hay suy tính thực chất là vận tốt với Tài Cách. Bố cục này dễ tạo ra cách cục chia rẽ, cạnh tranh lẫn nhau. Qua đại vận Thiên Cơ sang vận Phá Quân độc tọa cư Ngọ. Đại vận này nam mệnh đang trải qua có thể dụng trợ cách chế hóa Sát cách. Người viết luận cách cục các đại vận sau sâu hơn với vận đã trải qua. Nam mệnh Tử Phủ Khôi Triệt là đứng đầu, nhập vận Phá Quân cư Ngọ tính chất khuynh hướng lãnh đạo trở nên rất mạnh. Đương số ưa việc khai sáng, chủ đề ra các quan điểm định hướng. Tuy nhiên ở đây khó thành. Phá Quân cư Ngọ trong cách cục Sát Phá Tham hoàn chỉnh với bản cung cách Phá ngộ Tồn Kỵ Đào giao hội Tham Quyền Hồng Tuần. Bố cục này Tham Lang bố cục tham muốn lớn. Tuy nhiên Phá Quân gặp cách Lộc phùng Phá tàng hung, lại cách Kỵ Tồn chủ sự cản trở. Phá Quân ưa thay đổi phá bỏ xấu để phát triển tuy nhiên tính cản trở rất mạnh. Bản thân chủ động thay đổi nhưng Tồn Kỵ mang ý nghĩa gìn giữ khư khư. Trong cách cục này nội tâm rất mâu thuẫn. Trong cách cục này vấn đề tình cảm với cách cục Đào Kỵ Phá cần cẩn trọng hơn với các mối quan hệ nam nữ, dễ gây ảnh hưởng tới tâm trí ứng hợp với công việc. Với Phá Quân cư Ngọ, gặp bố cục mâu thuẫn này bất lợi cho việc định hướng về trách nhiệm hay nhiệm vụ của bản thân tới cuộc đời. Bản thân cũng là cách tự cố thay đổi để  phá bỏ bất mãn tồn tại do cách Tồn Phá Kỵ. Bố cục này có một điểm đặc biệt để chế hóa Sát. 



Với cách cục Phá Quân ưa khám phá, thay đổi, phá bỏ điều tồn tại. Tuy nhiên ở đây cũng chính là Văn cách. Phá Kỵ Tồn rất hay gặp ở các mệnh cách ưa nghiên cứu khoa học, hay công trình, học thuật và mâu thuẫn càng lớn như bố cục Cự Tồn Kỵ của Ngô Bảo Châu thì tính chất hiểu biết sâu vấn đề càng lớn. Với bố cục ứng hợp phát tài cách. Trong đại vận này nam mệnh biến khuynh hướng phá bỏ, tâm trạng mâu thuẫn trong nội tâm thành cách cục nghiên cứu, khám phá về lĩnh vực liên quan tới tài chính, về học thuật tới lợi ích tiền bạc, chủ nghiên cứu sâu với tài cách là ứng hợp với Sát Kỵ cách này. Trong trường hợp này tức dụng Văn Cách với Tài Cách, lấy Tài Cách làm trọng và Văn Cách bổ khuyết chế hóa Sát cách. Khi tìm hiểu sâu vấn đề bản thân thường gặp bế tắc và nghiên cứu phá bỏ và kiến thức trở nên sâu rộng hơn. Với Văn Cách trong tử vi ứng hợp rất mạnh với một số bố cục của Không Kiếp và Tồn Kỵ trở nên hoạch phát. Ý nghĩa cơ bản với cách cục này do hóa khí Sát thành ổn định và tính bất ngờ như việc mang ý nghĩa ngộ ra một việc, hay như việc nghiên cứu một bài toán bất ngờ ra kết quả khác lạ. Ở đây người viết nhấn mạnh ở việc nghiên cứu, khám phá sâu trong chuyên môn. Dụng văn cách với bố cục này không khó khăn do bản chất văn cách là ổn định, hóa Sát cách thành sự ổn định. Cũng như việc quan văn thì không hành động trực tiếp như quan võ. Ở văn cách là lý thuyết, học thuật. Ở võ cách là thực hiện, hành động. Với bối cảnh Phá Quân ứng hợp cách như vậy thì Văn Cách với khuynh hướng Tài Cách là hợp bố vục phối hợp. 




Trợ cách khi luận mang tính ngắn gọn và có phần dễ thực hiện nhưng thực chất là sự nghiệm lý và kinh sách truyền đời qua rất nhiều thực lý rõ được từng tính chất giao hội của các bố cục. Lá số tử vi luận mệnh không khó khăn do mang tính chất tĩnh bất động, nhưng thực lá số tử vi luôn chuyển động biến đổi, do đó luận cách cục vận hành của cuộc đời khó khăn hơn việc người mới luận hay không rõ luận hướng tới chỉ luận mệnh cách để định lá số mệnh quý tiện.  Mệnh Tử Vi tới vận Phá Quân ngộ Tồn Kỵ là trách nhiệm phá vỡ những sai lầm,  những điều mất định hướng trong nội tâm chưa thực hiện được, bố cục này tạo nên tham vọng lớn nhưng không tìm được hướng đi. Phá Quân ở đây nên theo khuynh hướng như vậy, các kiến thức trong sách vở nên được nghiên cứu để tạo định hướng cho Phá tại vận. Ý nghĩa cách cục bản tính là Tử Phủ tức gây dựng, trách nhiệm và đứng đầu, Phá Quân chỉ là sự biến hóa khiến ý nghĩa gốc biến thành sự phá bỏ những khó khăn. Phá Quân ở đây phúc họa đều do bản thân tạo ra, do hữu cách Đào Kỵ. Nhìn chung đại vận này không phải là vận tốt đẹp vì khó thay đổi, nếu gặp tiểu vận tốt thì tính tham vọng tăng cường, do đó có thể đạt được thành tựu lớn hơn. Tuy nhiên nếu ứng trợ cách thì đây là giai đoạn khó khăn đưa tới kiến thức, kinh nghiệm để biến chuyển các vận sau. Lưu ý vận này đa phần nam mệnh sẽ tạo ra tai họa, khó khăn bế tắc xoay quanh. Ở ngay tình cảm và sự nghiệp. Nên tích lũy kinh nghiệm và tham muốn rõ nghiên cứu tránh tạo tác quá lớn ở vận này. Thời cơ chưa tới, nếu cố gắng thì có thể vượt qua với sức bạo phát lớn nhưng thực chất rất khó khăn với bố cục này. 



Sát cách vượng, mệnh cách khí hình cần tương ứng, sức nỗ lực và thay đổi kịp thời cần có để biến hóa phù hợp. Tuy nhiên bố cục này không gặp cách thay đổi, chống đỡ khó khăn. Đại vận này cũng dễ xuất hiện bố cục xuất ngoại, nếu có khuynh hướng hợp văn cách nghiên cứu định hướng sang quốc gia khác thì hợp cách. Về bệnh tật cần lưu ý tới bệnh máu huyết, cách cục này dễ gặp bệnh mãn tính xuất hiện trong đại vận này. Năm nay bố cục khá ổn định, tuy nhiên với năm Kỷ Hợi bản cung đại vận Lưỡng Kỵ trùng hội với tiểu vận Thiên Lương ngộ Hỏa Kiếp Hổ Khốc có Khoa là cách cục phức tạp, mang ý nghĩa khó khăn hơn để phá bỏ, thay đổi. Trong vận năm sau tránh tạo tác sẽ tạo ra bế tắc cho bản thân. Với năm Canh Tí tức năm 2020 nhập cách cục Thất Sát trong bố cục Sát Ấn giao hội Phá Tồn Kỵ trong năm này có cơ hội xuất ngoại, cần nắm lấy trợ cách theo văn cách thì được thành tựu khởi đầu vận sau. Nhập vận Thái Dương cư Tị từ 34 tới 43 với bố cục Âm Dương Lương với cách Dương cư Tị tại bản cung Nhật vượng, tính chất dương tính hiển hiện. Bố cục này bản cung ngộ Đà Hình Phượng Tuế nhập vòng Trường Sinh, giao hội Hổ Khốc Kiếp Hỏa có Khoa. Cách cục này Sát cách đắc vận do hữu tình. Ở cách Thái Dương bản cung hữu tính chất dương tính, công khai. Bản cung cách Đà Phượng có Hình Hổ Khốc Khoa giao hội Kiếp Hỏa tính chất hoạch phát lớn. Tuế Phượng có Đà La hợp cách trong bối cảnh Âm Dương Lương. Vận này về tình cảm mang ý nghĩa xung đột, là cách cục xấu chủ hình khắc nhưng cách cục sự nghiệp rất tốt. Nam mệnh Tử Phủ tới vận Thái Dương chủ phát danh, tuy nhiên bố cục này nên theo khuynh hướng Tài Cách, chủ tạo dựng, gây dựng sự nghiệp với lợi ích đặt lên trên lý tưởng. 



Gốc đại vận này khó thành cách ứng hợp Sát cách, do đó khí hình vận phải vượng thì có thể đảm nhiệm cách cục không phá cách.  Nếu chịu bị động tức ứng hợp Sát cách tác họa là cách tai họa lớn. Do Thiên Lương hữu Hỏa Kiếp có tính chất tai họa bất ngờ, mang tính chất bộc lộ. Việc Sát Kỵ giao hội lớn là con dao hai lưỡi.  Lưu ý, đại vận này cần đặt tham vọng lớn và cẩn trọng với Thiên Lương tức ở hỏa tai. Hóa khí của Hỏa Khoa Kiếp trong sự nghiệp là cách hỏa vượng, chủ danh tiếng rộng. Nam mệnh nên tập trung tư tưởng cho sự nghiệp đại vận này, nếu cách cục mất định hướng bởi bản tính Tử Phủ Triệt ứng hợp thì có thể nguy hiểm tới bản thân. Do nhập vòng Trường Sinh nên tính chất cát hóa lớn, có thể dụng được Hỏa Kiếp Đà Hình Hổ Khốc là cách táo bạo và liều lĩnh khi đi với Thái Dương. Nếu không đắc vòng Trường Sinh họa nhiều hơn phúc, cũng khó nỗ lực có thành tựu lớn. Trong cách cục cũng tồn tại cách cục Hỏa Hình Kiếp khi xấu là tai họa tới đầu óc, căng thẳng thần kinh, áp lực. Sự cẩn trọng là rất cần thiết và quan trọng của đại vận này. Khi nhập vận Thái Dương nam mệnh có khuynh hướng táo bạo, mạnh dạn khởi tạo, kinh thương nhưng rõ cách cục không hoàn toàn thuận lợi, đặc biệt khi Âm Lương chủ bất ngờ mang tính tai họa thì cẩn trọng nắm thời cơ ứng hợp hóa Sát thành Quyền cách. Nếu vận này không gặp Địa Kiếp là cách cục tốt, nam mệnh ắt được phát tài danh do may mắn thay đổi và mạnh bạo cương quyết. Tuy nhiên khi có Không Kiếp tức cặp đại sát tinh trong tử vi ở tính bất thường, không ngờ nhưng cũng mang tới thay đổi khí hình cực vượng thì khó khăn hơn rất nhiều. Nếu Thiên Tướng hay Phá Quân tại đây là cách hoạch phát công danh, Thái Dương có thể dụng một phần, nhưng Hỏa Hình tác họa khiến cách cục ở thế lưỡng Sát tranh đoạt. 





Đại vận này không có dấu hiệu của Tuyệt mệnh, do nhập vận Trường Sinh với Sát cách hữu tình. Nam mệnh nếu thất bại cũng không lâm đường cùng. Do tính chất táo bạo khó có thể thay đổi bởi phối hợp cách cục quyết định nên người viết vẫn nhắc nhở rất cẩn trọng trước quyết định ở đại vận này, đây là đại vận Sát cách cực vượng, lực chế hóa không hoàn toàn, bản thân mệnh cách Tử Phủ Triệt Tuyệt cần tự lực rất lớn, thành tựu trong khó khăn, bất ngờ. Lá số vận hành theo tài vận tốt đẹp. Qua vận Thái Dương nhập vận Vũ Khúc độc tọa cư Thìn từ 44 tới 53 bản cung cách Vũ Thanh Lộc Quả, giao hội Khôi Việt Linh. Đại vận Vũ Khúc đối cung Tham Lang ngộ Quyền Hồng Tuần, cách cục này mang ý nghĩa thời vận tốt, chủ sự linh hoạt. Vận này biến động không gặp bất ngờ như vận Thái Dương. Cung an Thân trợ lực mạnh trong đại vận. Cách cục Liêm Tướng ngộ Việt Lộc với vận Vũ Khúc là mối quan hệ, trong đại vận này tài cách tạo ra nhờ khả năng của Vũ Khúc và mối quan hệ. Mệnh Thân Vận ứng hợp Tài Cách. Do đó nam mệnh đắc cách Vũ Phủ Lộc Quả ngộ Khôi Việt chủ tiền bạc phát sinh tới to lớn là phú cách. Đại vận Vũ Khúc cũng phát danh, nhìn chung đây là vận khá ổn định không tăng vượng khí hình vận nhưng có thể tích lũy và gây dựng được tài sản lớn không gặp khó khăn cản trở. Nam mệnh Tử Phủ Triệt Tuyệt với khuynh hướng Quan Cách thì cuộc đời cũng có chữ danh do các đại vận biến đổi chủ danh nhưng là cách cục thăng trầm hư danh. Với khuynh hướng Văn Cách hay Tài Cách thì khuynh hướng Tài Cách bất ổn định, tính động lớn và vượt qua nhiều khó khăn. Tuy nhiên với khuynh hướng Tài Cách thì hoàn thành được lý tưởng cống hiến của Tử Phủ, không gặp cách cục đứt gánh giữa đường của Tử Vi. Với Tài cách nam mệnh hướng tiến thân và sự nghiệp tốt hơn với Văn cách. Đại vận Vũ Khúc nếu có cơ hội hay tham muốn kinh thương mở rộng thực hiện sẽ không gặp khó khăn cản trở như hai vận trước. Chủ do tính linh hoạt và nhạy bén của Vũ Khúc và linh tính lường trước kết quả tức cách Thanh Long ngộ Linh Tinh có Cô Quả. Vũ Lộc có Việt là phát sinh tài sản, tức phát tài cách. 

Monday, February 26, 2018

Năm Mậu Tuất với một số cách cục tử vi



Bố cục năm Mậu Tuất bởi thiên can Mậu và địa chi năm Tuất hợp thành. Với bố cục tiểu vận Mậu, cách cục Tứ Hóa theo thứ tự Lộc Quyền Khoa Kỵ bởi Tham Nguyệt Bật Cơ. Với sao Tham Lang hóa thành Lộc, bố cục Sát Phá Tham mang ý nghĩa tốt đẹp do Sát hóa thành tài. Sao Tham Lang chủ nguyện vọng, tham vọng và hướng đi của mệnh cách. Tham hóa thành Lộc tạo ra được lợi ích, lợi lộc do tham muốn. Tham Lang cũng chủ che dấu, âm thầm. Sao Tham Lang hóa Lộc rất tốt khi Sát Phá Tham giao hội Sát Kỵ. Ở đây là cách cũ hoạch phát về tiền tài, đặc biệt là khi có Hỏa Tinh. Cần rõ, với Hóa Lộc ý nghĩa cơ bản không là tiền bạc, mà là lợi lộc mang lại, biến hóa khác nhau khi giao hội phối hợp. Khi luận tử vi cần rõ ya nghĩa cơ bản của tiền bạc và vật giá trị, có tính tích lũy quý giá và trao đổi khi luận sâu. Khi Hóa Lộc giao hội đặc biệt đồng độ với Lộc Tồn ý nghĩa là tiền của, vàng bạc. Khi Hóa Lộc giao hội bố cục phát danh là lợi ích về danh thu về. Do đó cách chỉ tiền bạc hay là cách cục Song Lộc. Tham Lang ở đây nếu gặp Lộc Tồn chính là hình thành bố cục cát hung tương bán. Do Lộc Tồn có sự xung đột với Sát Phá. Nhóm Sát Phá Tham ưa thay đổi, lấy phá bỏ để thành tựu. Trong khi đó Lộc Tồn chủ bền vững, ổn định để phát triển. Bố cục này giao hội xung đột, khó thành cách cục. Với Song Lộc ngộ Sát Phá Tham có phần tốt hơn, đặc biệt trong trường hợp Sát Phá Tham độc tọa không giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm. Với tài cách thì Song Lộc ở đây nếu giao hội Tang Hư Mã biến hóa hợp cách, chủ hình thành bộ Lộc Mã giao trì ngộ Tham. 



Thực chất nhóm Tang Hư Mã hai sao Tang Môn hợp cách Lộc và Thiên Mã hợp với Lộc. Tang Môn chủ sụ cất giữ, cũn là cách tài không lộ, trong tối nên tài cách thực vượng. Như việc buôn bán nếu như bên ngoài thấy lợi của bản thân, một đồng lãi ba lộ ra bên ngoài rõ, hay những bí mật kinh doanh lộ thì tài suy. Cách cục Tang Hư Mã có tính che dấu, xã giao, thực hai sao Tang Môn và Thiên Mã đều hợp với Lộc nên thành cách. Do đó giao hội với Lộc Tồn và Hóa Lộc có dị biệt. Hoạch phát hoàn toàn khác nhau. Trong trường hợp này Lộc Mã giao trì hay hơn là Hóa Lộc giao hội Thiên Mã có Phượng Khốc. Với nhóm Tuế Hổ Phù ưa gặp Lộc Tồn chủ sự minh bạch bên ngoài, bố cục này tài cách không vượng như cách Lộc Mã giao trì. Tuy nhiên ở đây được bền vững và cả tài lẫn danh. Với Thái Âm hóa Quyền. Sao Thái Âm hóa thành Quyền hợp cách, chủ có khả năng dụng Sát, tuy nhiên hai cách cục Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương tính chất ưa ổn định, bình ổn. Với Thái Âm hóa thành Quyền có thể dụng được Kỵ Hình. Với năm Mậu Tuất, hóa khí của Hóa Khoa do Hữu Bật hóa thành. Cách Khoa Bật có tính chất cát hóa rất lớn, tác động mạnh với cả Lục Sát và Kỵ Hình. Cách cục Khoa Bật là bố cục tốt trong các hóa khí của Khoa, chủ sự trợ giúp, mang tính chất hóa Sát thành Quyền cách. Bộ Khôi Việt an tại cung độ Mùi Sửu. Nhóm Khôi Việt chủ quý, phát sinh, cần thiết tăng tính quan trọng của bố cục thành tựu. Khôi Việt chủ khác thường, tức vượt trội nếu giao hội với mệnh. Năm Mậu Tuất với nhóm Tuế Hổ Phù tại Dần Ngọ Tuất và Tang Hư Mã tại Thân Tí Thìn. 




Hai nhóm sao an theo Địa Chi này ứng hợp với tính chất cơ bản của tính cách. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã đều ưa gặp Phượng Khốc, hình thành hai cách cục tốt là Tứ Linh và Mã Khốc Khách đều có thể thành tựu. Với vòng Lộc Tồn an tại cung Tị. Do đó nhóm Tị Dậu Sửu ứng hợp Lộc Tướng Ấn. Nhóm Hợi Mão Mùi ứng với Thanh Phi Phục. Nhóm Dần Ngọ Tuất ứng với Kình Hao và nhóm Thân Tí Thìn ứng Đà Hao. Do đó ở các tam hợp hình thành các cách cục đặc trưng. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Kình Tuế là cách cục tốt, đặc biệt là Kình Đại Tuế có Phượng Khốc là mệnh đứng quan trọng. Với tam hợp Thân Tí Thìn hình thành cách Đà Tang tính ám khá lớn, bố cục này do nhập cung độ La Võng, ở vị trí Thiên La nên cách cục này có phần bất lợi, chủ khó khăn phải chống chịu, cũng chủ dễ gặp sai lầm do nghe theo. Với tam hợp Tị Dậu Sửu hình thành cách Lộc Tướng Ấn ngộ Hồng Việt là cách cục khá hay với nhóm chính tinh ưa ổn định. Tuy nhiên tại đây Tử Vũ Liêm, Sát Phá Tham và Cự Môn đều không hoàn chỉnh, bất hợp cách. Ở vị trí này ưa gặp Thiên Hình thành cách Hình Ấn chủ ấn quyền. Với tam hợp Dần Ngọ Tuất hình thành cách Đào Khôi giao hội Thanh Phi Phục, bố cục này có tính chất tình cảm nặng, chủ đào hoa cách. Ở đây kỵ gặp Âm Dương Lương và Sát Phá Tham, Tử Vũ Liêm ngộ Sát, tính biến động lớn, bất ổn cách. 




Bố cục trên cố định giao hội với bố cục Chính Tinh là cách cục cơ bản, thứ tới Hỏa Linh Không Kiếp Kỵ Hình để luận cát hung sát cách. Với bố cục Tử Vũ Liêm và Sát Phá Tham mâu thuẫn, khó khăn khi xung đột tức tại cung độ Hợi Mão Mùi và Tị Dậu Sửu. Tại đây với biệt cách này tạo nên nhóm cách cục riêng biệt trong tử vi. Bố cục này khó đắc cách, tuy nhiên sức cát hóa khi được chế hóa rất lớn. Ở cách cục Cự Môn không hoàn chỉnh giao hội xung đột với Cơ Nguyệt Đồng Lương tại đây cũng vậy. Với cách cục Sát Phá Tham giao hội với Tử Vũ Liêm tại đây, cần thiết có nhóm Kình Hao hay Đà Hao, thứ tới nhóm Thanh Phi Phục, với nhóm Lộc Tướng Ấn là cách cục Quyền cách nhưng khó phối hợp thành cách. Trường hợp này Hỏa Tinh rất cần thiết cho nhóm sao này. Với tuổi Mậu nếu đắc Khoa Bật ngộ Hỏa Hình là cách cục hay khi Sát Phá Tham giao hội Tử Vũ Liêm. Với cách cục Cự Cơ Đồng bố cục này ưa gặp Không Kiếp, kỵ gặp Hỏa Linh là cách xấu. Tùy từng bố cục luận phối hợp khác nhau. Bố cục Kình Đà tại đây với cách Kình cư Ngọ giao hội Tuế Hổ Phù không có Phượng Khốc nên không mấy tốt, cách Kình Tuế chủ cạnh tranh công khai, không được hưởng ứng, ngưỡng mộ. Trái lại Đà La nhập cung Thìn hình thành cách Lưỡng La có Hư Phá hại bản cung, giao hội nhóm Phượng Khốc và Tang Hư Mã mang ý nghĩa cát hung tương bán. Ở đây cách Đà Tang Khốc có tính chất thù oán, oan khuất. Cách cục Kình Tuế có phần tốt hơn. Với Cự Môn không Hóa Quyền mang ý nghĩa xấu. Với cách cục Khoa Bật khả giải. Khi luận tiểu vận các nhóm sao chính tác động lên lá số biến đổi bố cục, quan trọng cần rõ ý nghĩa của bố cục chính tinh, với lưu sao theo Can Chi năm tác động tới như một chuỗi hạt, nếu tác động tới đại vận thì biến đổi toàn cục, luận tiểu vận thay đổi. 

Friday, February 2, 2018

Trung thực và giả dối



Trung thực tính chất cơ bản gắn với ổn định. Giả dối tính chất cơ bản gắn với thay đổi, bất ổn. Thường ở thời đại hiện nay chữ trung thực khó được giữ như trước đây, do tác động của văn hóa bên ngoài và việc giao tiếp xã hội nên việc dùng từ nói dối trở thành ngôn ngữ giao tiếp. Trong tử vi cũng có cách cục tính cách ưa trung thực và tính chất xã giao ở hai nhóm sao đối nghịch an theo Địa Chi là nhóm Tuế Long Hổ Phù và Tang Hư Mã Khách. Ở hai bố cục này đều có thể giao hội với Phượng Khốc hình thành hai cách cục đều được ngưỡng mộ bởi hai tính cách. Nhóm Tuế Long Hổ Phù hay nhóm Thái Tuế tương ứng với chữ thực, lập luận, quan điểm thể hiện ra bên ngoài là ý nghĩa toàn bộ tổ hợp. Bạch Hổ mang dương tính, chủ lộ ra ngoài. Trong khi đó Tang Môn ở đối cung chủ ẩn vào trong. Thái Tuế tức chữ Thái là thực, Thiên Hư ở đối cung là chữ Hư tức giả. Cái dễ gặp là không phải mọi lúc thực đều tốt và giả đều xấu, do đó Tuế và Hư đều có thể được ngưỡng mộ, quần chúng đi theo. Nhóm sao an theo Địa Chi là cách nhìn dựa trên quan điểm. Có bốn nhóm sao chính là Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Đào Hồng Hỉ và Cô Quả. Các nhóm sao này đều nhấn mạnh ở tính chất cách nhìn. Với Tuế Hổ Phù là thật, nhưng sự thực với kẻ này có thể là giả dối với kẻ khác. Tang Hư Mã ngược lại, cái này là giả nhưng dựa trên sự thực. Thực và hư rất khó phân biệt. Hôm nay trái đất hình vuông là chân lý tất cả mọi người đều rõ nhưng tới ngày mai trái đất trở nên hình tròn. Cặp Đào Hồng tức sắc đẹp cũng là cái nhìn mỗi người, mỗi người xét vẻ đẹp riêng, có khuynh hướng riêng. Cặp Cô Quả tức cặp nhân quả cũng như vậy, mỗi cái nguyên nhân này là kết quả của việc khác. 



Nhóm sao an theo Địa Chi rất quan trọng trong việc phối hợp cách, nếu không rõ dễ gặp cảnh thấy Tuế Hổ Phù giao hội Xương Khúc Tam Hóa luận tốt đẹp trong khi Kình Mã Không Kiếp Hỏa Linh luận xấu là sai lầm cơ bản khi luận giải. Mỗi cách cá tính có khuynh hướng tổ hợp hữu tình riêng, tức hợp hóa hữu lý. Ở đây xét tới chữ danh thì nhóm Tuế Hổ Phù được Phượng Khốc là bố cục tốt đẹp phát danh, cũng các sách hay luận được bộ Tứ Linh gồm Cái Hổ Phượng Long. Xét về chữ lợi tức chữ tài thì nhóm Tang Hư Mã Khách là bố cục tốt về tài cách, phát tài, thường luận phối hợp với Lộc thành cách Lộc Mã giao trì. Ở đây có sự khác biệt về khuynh hướng biến hóa và dụng cách với nhóm sao an theo Địa Chi. Cách cục Tuế Hổ Phù chủ dương tính, công khai, quan điểm tới bên ngoài của cá nhân, tính bản thân lớn. Trong khi đó cách Tang Hư Mã thiên về âm cách, chủ sự ẩn chứa, ẩn tàng bên trong, tính cộng đồng lớn hơn, do đó với cách Đồng Tang là cách cục tốt đẹp chủ âm thầm từ thiện, cống hiến cho xã hội, biến Tang Môn mang ý nghĩa tang tóc, buồn thương thành cách cục thông cảm. Mệnh cách có Tang Môn thường khuôn mặt có nét khắc khổ, nội tâm thuở nhỏ thường chịu cảnh trái nghịch. Bố cục Tuế Hổ Phù mang tính ổn định tức khiến nội tâm ổn định, với cách cục Tang Hư Mã Khách mang tính động, có phần nội tâm biến động, Tang Môn mang ý nghĩa nghịch cảnh, khó khăn làm động tổ hợp này với Thiên Mã là thay đổi cho phù hợp. Trong hai nhóm sao này đều có thể thành tựu, xét về danh chính và ngôn ngữ là cách cục Tuế Hổ Phù, trong khi đó Tang Hư Mã giỏi về khả năng đối phó với khó khăn. 


Tang Hư Mã chỉ xét bố cục mang tính hư, giả nhiều hơn thực, đặc biệt ở vị trí của Thiên Hư. Trong khi đó mệnh cách vị trí của Thái Tuế thường tính cách ưa sự thực hơn. Tất nhiên hai nhóm sao này đều biến đổi khi gặp Sát Kỵ tác động, đặc biệt là Không Kiếp, Kỵ. Bản chất của hai nhóm sao này nằm ở tính chủ động và bị động. Tang Hư Mã là cách cục nội âm, mang tính chất che dấu, mạnh ở vị trí Tang Môn. Cách cục này chữa Điếu Khách có tính xã giao, do đó nội tâm thường bất ổn, thể hiện tính cách khác ra bên ngoài, trong đó Tang Môn thường gặp nghịch cảnh, đối phó. Cả nhóm sao Tang Hư Mã Khách xét chung tùy theo giao hội Sát Kỵ hay Trợ Tinh mà biến hóa. Bố cục này khi xấu dễ bị đánh giá tính cách giả dối. Với cách cục Tuế Hổ Phù mang tính chủ động, ở đây chủ ngoại dương, bố cục chủ đưa quan điểm, tính cách ra bên ngoài. Đây là hai nhóm sao cơ bản quan trọng, biến hóa khi đồng độ với các nhóm chính tinh hay bàng tinh ý nghĩa khác nhau. Cung an THÂN và cung Mệnh có hai nhóm sao này mang ý nghĩa khác nhau, cần phân biệt rõ mệnh và thân. Với cách cục Mệnh Thân ở hai nhóm sao khác nhau, như việc mệnh cách với nhóm Tang Hư Mã, cung an Thân cách cục Tuế Hổ Phù đắc cách, tính cách trong các hoàn cảnh vô thức, tức bản tính mang ý nghĩa của Tang Hư Mã. Khi trưởng thành, qua các đại vận thì đương số chịu tác động mạnh của Tuế Hổ Phù. Nói dễ hiểu hơn mệnh cách như trong vô thức, nằm sâu trong hành. Cung an Thân mang ý thức, sự tự chủ xây dựng bản thân, trưởng thành. Phân biệt ý nghĩa cách mệnh thân rất rõ ở các nhóm sao cơ bản khi Thân Mệnh nằm ở hai nhóm khác nhau. 



Trong trường hợp này là Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã. Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tang Hư Mã cần xét các bố cục cát hóa, nếu ngộ Sát Kỵ bất dụng mang tính tranh đoạt, hiểm trá do hoàn cảnh khó khăn tác động. Nếu Mệnh Thân đều đóng tại vị trí Tuế Hổ Phù có phần tốt hơn nếu giao hội cát, nhược kiến Sát Kỵ luận mệnh đa mưu xảo ngôn. Đặc biệt cách cục Thái Tuế ngộ Kiếp Kỵ dễ phá cách. Ở cách cục Quan cách nếu mệnh tạo không được chữ trung thực thì khó đạt thành tựu ổn định, dù bố cục khí hình vượng. Trung thực là ổn định, nội tâm ổn định thì Sát được hóa thành Quyền. Nhiều lá số mệnh cách bất trung thực vẫn là mệnh tốt, do bố cục Sát cách được hóa Quyền bởi nỗ lực qua khó khăn. Xã hội không công bằng là điều tất yếu. Trong đa phần trường hợp mệnh cách trung tín đạt được chữ Danh. Với cách cục giả dối dễ đạt được chữ Lợi. Quan trọng có dụng được Sát tinh hay gặp tác họa. Một kẻ có thể giả dối nhưng tất cả đều ưa những người trung thực. Cách cục Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù đắc cách chính là đắc Tứ Linh, thu nhỏ của bố cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm với đường lối và đạo đức. Cách cục Tuế Hổ Phù thường được trợ lực mà thành.  Trong khi đó cách cục Tang Hư Mã ngộ Phượng Khốc hình thành cách cục Mã Khốc Khách cũng như thu nhỏ của nhóm Sát Phá Tham về tính chất Sát. Dụng tới bố cục Sát là được và mất. Cách cục này đa phần do nỗ lực của bản thân tạo nên thành tựu. Với bố cục thành tựu do Sát cách là cách cục đánh đổi. Với mệnh Tang Hư Mã sau thành công là nỗ lực khó khăn, thường dụng bằng tự lực, do hoàn cảnh khó khăn tác động để thành tựu. Mệnh cách luôn nỗ lực vững chắc với mục tiêu là thành tựu cách chung của nhóm sao này. Sát cách có thể chế hóa, nhưng khó khăn khi không hợp mệnh cách. Như việc một kẻ với mệnh ưa an nhàn, ổn định như cách Tồn Xương Khúc, hướng thành tựu chịu khổ cực, áp lực thay đổi để phù hợp thì khó có thể dụng. Phàm là vạn vật đều phải có thịnh suy. Lộc Tồn chủ giữ,  tốt ứng với thế thịnh, nếu suy không đổi dẫn tới diệt, khi đó Kình Hao và Đà Hao luận tuy sắp xếp là Sát Tinh nhưng cát do cần thiết. Ngũ hành hợp hóa hữu tình thì thành, khắc phạt thì bế tắc. Một đất nước Mông Cổ hùng mạnh không thay đổi cũng phải suy tàn. Thời nay kẻ mạnh không phải là kẻ thắng mà kẻ nhanh là kẻ thắng, sự vượt mặt của những nền kinh tế hay công ty đổi mới trước sự lạc hậu là điều dễ gặp. Thời vận là điểm quan trọng nếu khí hình bất vượng, mệnh cách xấu nhưng nắm được thời vận cũng được thành tựu lớn.