Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Monday, October 30, 2017

Tử vi luận hạn phối hợp mệnh


Luận giải lá số tử vi cần rất nhiều kinh nghiệm luận đoán đặc biệt khi luận về chuyển động bắt đầu của lá số tử vi qua các cung đại vận theo chiều nghịch tức qua cung Phu Mẫu tới cung Phúc Đức, cung Điền Trạch và cung Quan Lộc là qua nửa đại vận tới tuổi trung niên, ở cách này mệnh cát luận theo chiều hướng Quan Lộc cách, đường đi của mệnh qua các cung độ có các tên riêng mang ý nghĩa đặc trưng của lá số tử vi. Hướng đi theo chiều thuận qua các cung Huynh Đệ, tới cung Phu Thê, cung Tử Tức và tới cung Tài Bạch theo chiều nghịch với cung Quan Lộc. Ở đây hướng đi thuận theo chiều Tài Cách. Ở bố cục này cũng mang tính đặc trưng đặc biệt khi hội họp bố cục mệnh tạo theo các tổ hợp phát về tài thì tài vượng, trung niên thành tựu về tài. Ở đây lá số tử vi Mệnh tốt thì cần tới trung niên tức từ tuổi 42 hoặc muộn nhất tới 46 bắt đầu nhập Tài Bạch cung hoặc Quan Lộc cung nhìn về cung Mệnh. Hợp với ngoài thực tế nếu xét tới năng lực của bản thân của đa phần, ở đây mệnh tạo qua các cung vận đầy đủ này cũng mang ý nghĩa hoàn toàn đã được nhận ít nhất một cơ hội vì nếu mệnh tạo xấu nhất sẽ yểu mệnh khi qua các vận, bằng không dù cách cục Sát thì cũng đã được một lần hoạch phát tài danh trong đời, quan trọng có biết nắm giữ, hóa cách cục Sát vi Quyền, lấy táo bạo để làm thực hiện mục tiêu lớn, giữ vững và phát triền tài danh.



Thực tế người viết luận chưa thấy việc một người bình thường tới tuổi trung niên chưa có một lần cơ hội, không được một lần cơ hội trong đời mà đa phần đã được may mắn lớn trong một giai đoạn, quan trọng như việc khi ta có một khoản tiền lớn thời gian ngắn tức là vận phát thì ưa tiêu pha, sử dụng nên số tiền dần mất không còn khả năng tái sản xuất, mệnh tạo thường có khuynh hướng bằng lòng với bản thân hoặc không thay đổi khi gặp khó khăn hay nắm chắc phát triển mạnh hơn. Ở đây khi vận chuyền theo hai chiều hướng đại vận đi thuận tới Tài Bạch hay nghịch tới Quan Lộc nhấn mạnh tính chất của mệnh tạo. Nhua cung Thiên Di khi vận chuyển theo hai hướng đi thì qua 7 cung đại vận dù thuận nghịch tới tuổi 62 đến 66 tùy theo cục đa phần thường mệnh tạo nhìn lại về cuộc đời, tính cách của bản thân, nếu ở xa có khuynh hướng trở về quê hương bản xứ, tức cung Thiên Di mang ý nghĩa tác động rất mạnh do vận hạn tới đây. Ở các cung độ khác cũng luận như vậy. Lưu ý một đường đi tới cung Nô Bộc trước Thiên Di hoặc cung Tật Ách trước Thiên Di mang ý nghĩa khá hay khi luận tác động tới mệnh tạo, như nhiều người quan trọng xã hội bàn luận về bản thân khi qua cung Quan Lộc, nhiều người quan tâm tới Tật Ách tai nạn, bệnh tật khi qua cung Tài Bạch. Tên riêng của các cung độ mang tính chất lớn nhất, và đặc biệt khi vận hành đi qua theo các chiều hướng mang tính chất đặc biệt khi phối hợp cho lá số, khi chuyển động tức theo chiều cuộc sống.




Khi luận lá số tử vi cũng cần nhìn việc khó khăn lớn gặp là phối hợp Mệnh tạo ý nghĩa cách cục với cung an Thân để đặt tác động lên vận hạn, suy xét sự tổ hợp bố cục đại vận, tiểu vận giao hội với cục nguyên thủy của Mệnh tạo để luận biến đổi phối hợp. Như vậy mỗi cách cục gồm sự phối hợp ít nhất ba cách cục Chính Tinh kết hợp với Bàng Tinh biến hóa đa dạng khiến luận đoán trở nên khó khăn mặc dù người luận nắm vững tính lý của các Chính Tinh và Bàng Tinh, tính chất sao khi giao hội. Vì vậy các bài viết người viết tập trung luận về tính chất biến hóa của các tổ hợp Chính Tinh, khi giao hội với Bàng Tinh. Các bố cục biến hóa này rất quan trọng để luận giải về sau khi luận được bản tính, tiềm năng của cung Mệnh khi đại vận bắt đầu dịch chuyển tới vận thứ hai tiếp theo. Kế đến sự dịch chuyển của vòng Trường Sinh trên lá số tử vi, đây là mức tác động của chu kỳ Sinh Vượng Tuyệt tới bản cung, biểu hiện tính chất dụng khí của các tổ hợp. Vị trí Tử Tuyệt ứng với sự khó khăn bế tắc.

Thursday, October 19, 2017

Thiên Phủ tinh yếu luận mệnh


Mệnh cách có sao Thiên Phủ thường được đánh giá cao trong các Chính Tinh của tử vi. Thiên Phủ là chính tính có tính chất tốt đẹp trong tử vi ở tất cả 12 cung độ. Tuy nhiên tùy các bố cục giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm hay đơn thủ mà tính chất khác nhau. Mệnh tạo có sao Thiên Phủ khó đắc cách, tự tài năng mà đa phần mang tính chất đứng đầu dụng khả năng của người khác để phục vụ cho lý tưởng của sao Tử Vi trong nhóm Tử Vũ Liêm hay mang tính tương trợ, giúp đỡ trong nhóm Phủ Tướng đơn thủ. Bố cục Phủ Tướng đặc biệt nhấn mạnh ở tính ổn định, nhóm sao này hoàn toàn không hóa khí và có thể chế hóa được đa phần các Sát Tinh duy chỉ Không Vong tối kỵ. Mệnh có sao Thiên Phủ thì thường ôn hòa, dễ gây được tình cảm của người khác, có phần như nhóm Cơ Nguyệt Đồng Lương. Tuy nhiên do Phủ Tướng bất hóa nên khó biến đổi theo chiều hướng cực đoan. Sao Thiên Phủ rất đặc trưng ở khả năng dụng tình cảm, nếu mệnh tốt thì là người có tình nghĩa, tâm tính tốt và cuộc sống có phần ổn định, ít biến động. Vì vậy Thiên Phủ thường được luận là sao có tinh thần tốt, nếu giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm ổn định cách cục, Phủ Tướng mang ý nghĩa sự phục vụ theo một lý tưởng. Thiên Phủ do mạnh tính chất tương trợ, tình cảm đặc biệt là sử dụng lời nói, ngôn ngữ nên cách cục Phủ Tường tối hỉ ngộ Tả Hữu.


Khi Tả Phụ đồng độ với Thiên Phủ và Hữu Bật đồng độ với Thiên Tướng là cách cục tốt đẹp của nhóm sao này. Thiên Phủ chứa Văn Cách, không nên gặp Sát Kỵ mà hỉ được Lộc Tồn tăng tính ổn định. Với nhóm Phủ Tướng đơn thủ hay đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm rất cần được vòng Lộc Tồn, đặc biệt ở vị trí Lộc Tồn và Quốc Ấn. Ở xã hội thời trước hay hiện tại cũng có thể phân quyền ở văn cách hay võ cách. Ngành liên quan tới quân sự hay công an, tòa án, hình pháp, thanh tra,... thuộc võ cách ứng với mệnh cách theo chiều hướng này. Mệnh tạo có sao Thiên Phủ đắc cách thủ mệnh đa phần được thừa hưởng tập ấm, đặc biệt là cách Thiên Phủ ngộ Lộc Tồn tính chất thừa hưởng, kế nghiệp từ tổ tiên càng lớn và có giá trị. Thiên Phủ gây dựng sự nghiệp đa phần nhờ các mối quan hệ và trợ lực, giúp đỡ lẫn nhau để thành tựu, vì vậy tính chất quản lý từ nhân lực hay tài sản đều thuộc cách cục này. Sao Thiên Phủ cũng là sao chủ che giấu, chủ cái kho như các sách tử vi thường luận. Sao này thuộc khả năng tương trơ, quan hệ tình cảm nên khi đắc cách cần các sao chủ linh hoạt như nhóm Thanh Phi Phục. Thiên Phủ có hai khuynh hướng ổn định hay bất ổn định. Với cách cục ổn định rất cần có Lộc Ấn Bệnh. Với cách cục bất ổn định, cần thiết gặp Thanh Long tránh sai lầm khi phát ngôn, sử dụng phủ dụ bằng lời nói, tình cảm.


Nhóm sao đặc trưng Thiên Can tác động rất mạnh tới mệnh Thiên Phủ vì nhóm Phủ Tướng không hóa nên bốn nhóm chính gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Ấn Bệnh, Phi Thanh Phục mang đặc trưng riêng khi giao hội. Phủ Tướng có Kình Hao thuộc cách cục bất ổn, với bố cục này dễ bất lợi về tình cảm, ảnh hưởng tới khả năng của Thiên Phủ ở mặt công danh. Thiên Phủ chủ ổn định, có tính tích trữ ngộ Hao thì dễ mâu thuẫn, khiến mệnh tạo khó tích lũy. Phủ Tướng có Kình Hao khi tốt là sự trợ giúp chủ động, cách Tướng Kình, đặc biệt là Đại Kình Tường khi đắc cách mang ý nghĩa hay chủ sự bảo vệ cho lẽ phải, tương trợ giúp đỡ cho kẻ yếu. Thiên Tướng thể hiện mạnh võ cách và nhóm Phủ Tường có khuynh hướng bất ổn định, vì vậy thường theo chiều hướng thay đổi, chủ động bên trong tuy nhiên ảnh hưởng tới tính chất khéo léo bên ngoài của Thiên Phủ khiến mệnh tạo dễ mâu thuẫn ngay chính nội tâm. Trường hợp này cần thiết có Hóa Khí tức Tam Hóa, Tả Hữu giao hội với Phủ Tướng để giảm xung đột của cách cục, hoặc giao hội với Từ Vũ Liêm hình thành đầy đủ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm theo kinh thương hay quan cách đều hợp . Với cách Đà Hao ngộ Thiên Phủ có phần tốt đẹp hơn do Đà Hao chủ tính Ám hợp với tính chất của Thiên Phủ. Bố cục của Thiên Phủ ngộ Đà Hao có tính thay đổi tuy nhiên Đà La tăng tính chất bao phủ của sao này.


Thiên Phủ chủ khôn khéo, nhường nhịn thiệt hơn nên cách cục không gặp nhiều mâu thuẫn như ngộ Kình Hao. Ở đây tránh cách cục Đà Tuế khiến Thiên Phủ trở nên nói dông dài, do đây cách cục này mang ý nghĩa phơi bày các quan điểm, lập trường ra bên ngoài, tuy nhiên Đà La ngộ Thiên Phủ ưa lòng vòng, không như sao Kình Dương mang tính chủ động, ngắn gọn nên cách Phủ Đà Tuế đặc biệt khi không được giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm tức " Phủ phùng Đà Tuế Tị cung, cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày". Ở đây có Quyền luận khác, gặp Linh Quyền luận tốt đẹp, nếu đủ Linh Kỵ Quyền biến thành quyền cách. Khi luận cần lưu ý biến hóa tính chất khi tạo thành các tổ hợp hay giao hội với các bàng tinh khác. Thiên Phủ nhập mệnh cần gặp Khôi Việt tăng tính chất của cách cục, với Thiên Phủ ý nghĩa vị trí Chính Tinh khi giao hội như cách Vũ Phủ, Liêm Phủ, Tử Phủ tức giao hội với nhóm Tử Vũ Liêm rất quan trọng, thứ đến là vận hành của mệnh tạo thuận ở đại vận hay gặp khó khăn. Kỵ gặp Triệt và Thiên Không, kế đến là Tuần. Trong đó cách Phủ Triệt mang nhiều ý nghĩa xấu, do Thiên Phủ chủ ẩn chứa, cũng chủ lời nói, che dấu, kho tàng, ở cơ thể là phủ tạng ngộ Triệt Lộ tính Kim khiến bố cục theo chiều hướng xấu. Ở đây nếu có Thanh Long hay Tả Phụ hoặc tổ hợp sao mang tính linh hoạt thì không luận xấu. Mệnh Thiên Phủ khó đắc cách, khi luận tránh đề cao thái quá các bố cục của sau này.