Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Saturday, May 4, 2024

Vận động của nhân mệnh và kết quả theo toán mệnh

 


Những điều bí mật của tàng thức được khóa trong vật dẫn của thực tại là cơ thể. Thí như người đang mắt sáng bỗng nhiên bị mù, là quá trình từ Tuyệt khí, nhưng những thứ trải nghiệm trước đây bằng thị giác của họ không mất đi, tức tới Sinh trong vòng tròn Trường Sinh của toán mệnh. Điều này có thể hiểu như linh hồn của nhân mệnh đó có tri giác về cái biết của những thứ thấy bằng tưởng tượng hình ảnh, nhưng bị hạn chế bởi vật dẫn ra ngoài là mắt (nhãn quan) đã bị phong bế. Khi thiền định đúng cách, những mảnh ghép của ký ức các kiếp trước bắt đầu nổi lên, đan xen mờ nhạt và dần rõ khi nhân mệnh điều hướng tâm được an tịnh, cái thấy bắt đầu hiện ra. Cái thấy này như phát kiến khoa học về kính hiển vi, là cái thấy khác biệt với mắt thường. Thí như khi quá nhiều tiếng ồn cùng đan xen thì không thể cảm nhận được những tiếng động nhỏ cấu tạo nên toàn bộ điều nghe thấy. Linh hồn (hay Mệnh) cũng vậy, không thể tri kiến thấy biết được những điều kiếp nghiệp quả trước đây khi trong thân thể, bởi những khóa xích trói buộc bởi những quy tắc trong cơ thể tại ngũ quan và quy định bởi nghiệp lực. Và khóa xích này nằm tại những tư tưởng chất chồng liên tục, không có đủ thứ gọi là Định để con mắt tiếp theo sáng lên, tức Định trong các cấp bậc của Tứ Thiền. Điều này rất hay và khoa học khi mỗi người có cơ duyên thực hành Thiền định một cách nghiêm túc sẽ phát hiện ra sự thực đã trải qua hàng nghìn năm nay, về khám phá bằng việc mở rộng khả năng nhận thức bằng cỗ máy chính cơ thể của mỗi chúng ta. Và trong giấc mơ, nơi thường được gọi kết nối giữa thực tại và những điều ẩn trong tàng thức có thể hiển hiện một số mảnh ký ức trong tàng thức của người hữu duyên. Thí như người viết đã luận về việc giữa hai người, một người mù bẩm sinh, và một người mắt sáng gặp biến cố trở nên mù nhìn nhận chánh kiến về điều họ tri kiến về cuộc sống. Cái thấy mới do tập trung nhất tâm này có điểm khác so với điều thấy thường nhật. Khiếm khuyết của cơ thể (hay ví như tính năng của máy tính) có thể tác động lớn tới việc nhận thức về thế giới của mỗi người. Người ngồi hay nằm để tâm tưởng tĩnh lặng giác quan tiếp theo tức cái thấy sẽ vượt trội hơn.  



Cũng vậy, tính linh như ngôn ngữ của vạn vật, thí như về việc tác ý của việc Ăn, Ngủ, các ngôn ngữ đều biểu hiện tiếng nói khác nhau nhưng chung một ý nghĩa. Khi tác ý trong tâm thông là một trong Ngũ thông sẽ kiến giải cho thấy về việc không cần hiểu hết ngôn ngữ, trong nội tâm cũng tự phát hiểu, vấn đề này nằm trong Hành thức. Không cần cao siêu để nhìn nhận một người tu hành bằng việc thần tín hay thánh tín. Thay bằng việc thánh tín, thì việc hiểu về con đường cải biến tư tưởng của người tu hành thì tốt hơn, bởi mục đích được an ổn, được siêu việt trong lúc sống thấy được vận hành của vạn pháp, không nằm ngoài việc khiến việc không còn nổi lên nhiều luồng tư tưởng trong nội tâm, và chuyển hóa điều sợ thành bình thản, hành thức vẫn hoạt động nhưng không vướng mắc, bởi vậy Thiền phải có đề mục để tập trung, nhất tâm. Khi tĩnh lặng thực sự, bắt đầu các mảnh ghép ký ức của kiếp xa xưa, những suy luận về nhân quả nổi lên, như người mắt mờ, mù bẩm sinh được mở mắt lần đầu nhìn thấy cuộc sống mới. Tâm tướng khi đạt Định lực cũng vậy, không quá mang nhiều màu sắc thần bí cao siêu. Nhân mệnh thường cố chấp để giữ một vấn đề đối với bản thân là quan trọng, tuy nhiên rất dễ từ bỏ khi bản thân phải học tập nghiên cứu, kiên nhẫ làm những công việc, học hỏi thứ nhỏ để phát triển lớn sau thời gian dài nỗ lực. Thường muốn nhìn thấy kết quả trong thời gian ngắn. Có người có thể làm việc nặng nhọc trong thời gian rất dài, không thay đổi hàng chục năm, tuy có thể rèn luyện được sức khỏe, tuy nhiên để phát triển đột phá sẽ có phần khó khăn hơn, thường ngại thay đổi công việc vì sự không chắc chắn, bởi lương đều đặn và bản thân dần quen với công việc trở thành bình thường. Để tích lũy được tiền bạc tương đối vất vả, tuy vậy nếu người khác lên đời những vật chất hiện đại, hoặc hưởng thụ thường lệ, có thể sẵn sàng lên đời theo, mặc về công sức để tạo ra tài sản ở mức độ rất khác nhau, bởi việc nhẫn nhịn tạo cảm giác khó chịu, chi tiêu tạo cảm giác thoải mái về tinh thần. Điều này có thể dẫn tới sự sai biệt về khoảng cách xã hội nếu gặp biến cố của cả nền kinh tế khi trở nên khó khăn mà thiếu sự phòng bị bằng những khoản tiết kiệm nếu nhân mệnh chưa có tư duy kiếm tiền theo nhiều phương án mà chỉ có nguồn thu từ công sức lao động. Bởi vậy sức nỗ lực của hậu thiên từ cổ chí kim tiền nhân đều không thể đánh giá thấp. Bởi nhân nguyên trong tự tính đều có sức mạnh tàng ẩn rất lớn, bằng những điều khó làm như ẩn nhẫn làm việc nhỏ hàng ngày, qua ngày tháng thời gian dài tạo nên sức bộc phát. Có những thời điểm khi khí vận hao tán mạnh, nhân mệnh có cố gắng tích lũy được sẽ gặp việc phải hao phí bởi tật bệnh, hay vấn đề khác, tuy nhiên việc duy trì sự tiết kiệm có thể tạo bước chuyển đáng kể khi nhập vận tụ tài sẽ có tác động rất lớn tới nhân mệnh. 



Nhân mệnh muốn hỏi một vấn đề hoặc một góc cạnh nhỏ theo toán mệnh. Điều này sẽ cần nhìn tập trung vào gốc tiểu hạn phối hợp vận khí của hạn hành nếu thuộc về giai đoạn hiện tại. Hoặc về tương lai. Tuy nhiên những yếu tố hoàn cảnh ngoại cảnh tác động tới mệnh cách cũng sẽ tương đối lớn khiến dự đoán sẽ có phần sai biệt. Thí như việc hỏi về phương hướng, cát hung luận định, hoặc tự duyên khởi đặc biệt như gặp một cơ hội, gặp điều đột biến sẽ có câu trả lời xác đáng hơn việc xét định về thời gian phát tài. Thí như khi xét một nữ mệnh cách Cơ Lương ngộ Tướng Tuế Ấn hội cách có Khoa Tồn Kỵ Hình Kiếp. Mệnh cách không mấy hay tuy nhiên đạt hai hành vận liên tiếp kích phát mạnh khiến hóa cục của sinh mệnh tăng lên rất lớn. Nhập khí vận 10 năm tới cách Cự Nhật có Lưỡng Lộc Mã Khốc Khách, và 10 năm tiếp theo trong Tam Hóa liên châu tới Vũ Tham Hỏa Quyền hội Kình Đào Khúc Hỉ đắc vòng Trường Sinh. Đây là cách cục bạo phát, không thể ngăn chặn khí thế cường vượng về Tài cách, miễn là mệnh cách vẫn còn tồn tại trong xã hội không bị cách ly như hình tù hay gặp biến cố kiếp nạn thì mệnh cách vẫn hoạch phát lớn trong hạn hành. Tuy nhiên khi xét toàn cục, cách cục này bên trong ẩn chứa bố cục Hình Kỵ Tồn Kiếp, như người đi trên dao, chủ thời thế thịnh hay bĩ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát triển và vượt khó khăn của nhân mệnh. Như thời thế xã hội phát triển, đức liêm chính thịnh dễ khiến mệnh số hình tù, nếu thời bĩ cực, lỏng lẻo sức hoạch phát tương đối dài. Thí như một mệnh cách nổi tiếng của Ngô Thắng Minh, thăng trầm vô độ, hình tù cách, niềm tin sống là người con gái của mệnh cách cũng đã tự tử khiến nhân mệnh rơi vào thế tuyệt vọng định kết liễu nhưng vận số chưa tuyệt để có thể như Tuyệt xứ phùng Sinh, trở thành kỳ cách. Cũng bởi một phần tham vọng gắn với kiếp nạn khi luật pháp thời này của Trung Quốc rất nghiêm về việc buôn lậu. Bởi vậy khi nhìn thời vận thịnh thế với bản thân hay bĩ cực cũng đều có thể là nhân nguyên để tổ chức lại lực lượng và phản công mạnh tạo nên chiến thắng trong cuộc đời. Lý số nằm trong trời đất, nhưng cũng không nằm ngoài chữ Nhân. Luôn có niềm tin mãnh liệt sẽ khiến tỉ lệ vượt qua hiểm cảnh tăng lên rất nhiều. Cũng như các nhà khoa học nghiên cứu về tiềm năng trí óc của con người là không xác định được mức độ siêu việt. Bởi vậy nhân sinh quan mỗi nhân mệnh một khác, mức độ chịu đựng áp lực khó khăn cũng khác nhau, buông bỏ hay nắm chặt cũng ẩn liền với chữ Mệnh quý hay Mệnh thường. 




Người viết nghĩ thực có số phận, thí như không may gặp hiểm tật bệnh ách y học hiện đại không thể chữa trị. Có người gặp bệnh máu khó đông nhiều người trong dòng họ, khiến một vết thương nhỏ cũng gây tuyệt mệnh đành không thể sống được bình thường. Nhưng có những cơ hội thay đổi cuộc đời với những người bình thường khi sống trong xã hội. Bình thường đã là rất đáng quý để có cơ hội bình đẳng phát triển công danh tài bạch. Số phận như thập nhị nhân duyên là vô minh từ tập khí kiếp trước. Như điều chính nhân mệnh thấy là những điều xui xẻo, bất hạnh trong đời sống. Trong các trường hợp, nhân mệnh đều phải nỗ lực giải quyết những vấn đề gặp phải và vươn lên bằng nỗ lực của bản thân. Trong tháng 3 này, tứ Thìn hội ngộ, có những cái chết tự hình bởi Thìn hình Thìn gây ra, có những sự dằn vặt đau khổ cũng tự cách này. Có những cách xung Thìn Tuất được đánh giá hung cách. Số đến, người chết trong mơ ác mộng, người trong nhà cũng có việc ra ngoài để gặp nạn, người chính chiếu tai nạn đó, người gặp Sát vận hóa thành đau buồn bởi người thân quyến gặp nạn. Vận hành của mệnh cách nhiều hướng đi, nhưng có những Sát vận chắc chắn phải có tổn thất. Có những người cuộc sống an toàn, ổn định nhưng trong tâm luôn muốn tự sát, kết liễu bản thân bởi chữ Không, vô vọng, trầm cảm. Khi người trầm cảm, việc khuyên ngăn về cuộc sống, ý nghĩa cuộc đời có thể không mang lại lợi ích, như gió thoảng qua không thể ngăn chặn đau thương. Toán mệnh cũng vậy, khi hạn hành cách cục hiểm họa lớn, việc nắm được hung họa cũng không nói lên việc tránh được họa hay không, nếu họa hiển hiện dưới dạng bệnh ách nan y cũng như dao chém vào nước, không có nhiều tác dung phòng ngừa. Người viết cũng vậy, viết điều sự thực, luận số cần đánh đổi, như bí mật cần khó khăn mới có thể tìm thấy. Tuy nhiên cái hay của toán mệnh là đáp án có thể được hỏi thêm tới những người cùng nghiên cứu lý học để nhận được đánh giá người giải đoán có thực hiểu về mệnh lý. Đây cũng là điều hay, không như người mù dò dẫm con đường, bởi những điều tâm linh huyền bí. Bất dĩ, việc xem toán mệnh dù luận định tính chính xác cao cũng tuyệt đối không được lấy để dao động tâm tướng của bản thân. Trong các trường hợp nhân mệnh đều nên xét tưởng nếu vận cách khó khăn, là những thử thách để rèn luyện phẩm chất, nếu vận cách dự báo thuận lợi cũng vận dụng hết những thế và lực và cẩn trọng phát triển. Trong thời thế xã hội, người viết có luận định bố cục tinh diệu thay đổi ý nghĩa biến hóa khôn lường. Trong thời điểm đấu tranh cái sai, thế nước phồn thịnh, Sát cách tuy đắc cách cũng dễ hóa thành hình tù. Phụ tá tinh đắc thế. Trong thời binh thế hỗn loạn, Sát cục nắm quyền định, phụ tá tinh yếu thế. Cũng có thể dễ dàng nhận ra ở những mệnh đại quý khi vận khí từ thiên hạ vận hóa Sát tinh thành Hình tù cách, cũng hóa Quan thành Quỷ, nơi cao nhất cũng rơi xuống đất. Vậy tất cả Tinh đẩu thực phân theo thời thế là chủ, mới phân tính chất là thứ yếu. Kẻ ác thường được người đời chế giễu, phỉ báng. Tuy nhiên suy xét cùng tận, giữa những lý lẽ về thiện và ác một số trường hợp đặc biệt sẽ khó định. Ngăn chặn cái ác phát sinh to lớn về sau bằng một việc ác khó có thể định đoạt là việc thiện hay ác. Bản đồ tinh diệu cũng vậy, xét theo thể chế thời thế xã hội. Có những nơi ở khu vực chiến tranh, việc lạm sát người vô tội cũng không có tòa án kết tội, lương tâm có lẽ là tòa án quan trọng như cách vận hành của nhân quả.

Wednesday, October 4, 2023

Yếu tố cơ bản của mệnh lý và luận định số cơ bản

Sát cách có khả năng cát hóa lớn hơn Cát Tinh. Bố cục Sát Kỵ có tính chất biến hóa cực đoan và khả năng tác động rất mạnh tới lá số cùng trợ tinh, gây biến đổi hoàn toàn tổ hợp.

. quan niệm cho rằng mệnh quý hay thượng cách là mệnh hội họp Cát Tinh và tránh được Sát Kỵ là sai lầm: đúng là trước đây cháu toàn xem theo hướng này, cứ chính tinh miếu vượng và tránh được Sát Kỵ là mệnh tốt hơn tất cả, từ bây giờ cháu sẽ thay đổi quan điểm này lại.

. Trong các giai đoạn biến đổi xã hội, tức hệ tư tưởng chung tác động tới toàn bộ nhân mệnh do vận thiên hạ sẽ ảnh hưởng lớn tới vận số của nhân mệnh. Khi định cách cục Sát luận của Đông A phái lấy khởi từ sự biến hóa này, là thời vận khiến Sát cục chế ngự thành hoạch phát. Tuy theo thiên hướng và khả năng của mệnh cách sẽ có chế hóa Sát cách khác nhau.

 

 Rất nhiều và đa phần lá số đứng vị thế đầu xã hội có các cách cục Sát cách hợp hóa thành cách. Cũng như thứ khiến các quốc gia thuần phục khi xung đột, hoặc sợ hãi là răn đe về hạt nhân, răn đe quân sự, không phải là những điều tốt đẹp, cao cả trong tinh thần. Trong tự nhiên cũng vậy, dã thú hay các loại có độc tính như rắn, rết sẽ ở vị thế an toàn bản thân cao hơn những vật thuần như trâu bò, thỏ, nai. Đây là điều người viết thí dụ không mang tính suy xét quá sâu về nội hàm. Thời hiện đại, vẫn có những việc vì lợi ích một quốc gia lớn sẽ thu nguồn tài nguyên của quốc gia khác bằng việc thuộc địa hóa, hoặc có những thời điểm phát xít hóa và tất nhiên là có thiệt hại nhiều về sinh mạng. Và nghiễm nhiên sao Tử Vi là đế tinh, bởi Tử Vi là đường lối, chính nghĩa, hệ tư tưởng. Với Đức Quốc Xã, người Do Thái thường bị coi là thông minh và muốn thống trị, thao túng thế giới. Và nguyên nhân dẫn tới hơn 10 triệu người tuyệt mệnh bởi một quyết định bởi hệ tư tưởng Tử Vi như chính nghĩa tạo bởi hệ thống đứng đầu Hitler. Bởi vậy Sát tinh tức bạo lực, vũ lực, hay quyền sát là thứ cần thiết để đứng vị trí cao trong xã hội. 


Vòng Trường Sinh:

. Luận tử vi tức xét định do tính chất của bản tính dẫn tới số mệnh, khi thời vận hình thành là giai đoạn phát triển, khi bế tắc phát sinh là giai đoạn suy. Vượng suy dịch chuyển thay đổi liên tục nối tiếp như một vòng tròn. Là vòng Trường Sinh. Cháu vẫn chưa thể hình dung rõ lắm về vòng vượng suy dịch chuyển thay đổi này, hy vọng thầy có thể giảng kỹ thêm và cho ví dụ ah.


Thường nghe thấy vòng luân hồi. Hình tròn không có điểm đầu và cuối. Vòng tròn trường sinh là vòng tròn mô tả cơ bản của tất cả vạn vật. Sinh trụ hoại diệt, sinh lão bệnh tử, sinh ly tử biệt. Chữ đầu tiên và kết thúc có thể xét theo chu kỳ. Thí như ngoài hạn 10 năm tức đại hạn, ta có tiểu hạn chỉ 1 năm. Ta còn có nguyệt hạn theo tháng và nhật hạn theo ngày. Biết kết cục của mọi nhân mệnh là chết đi. Những các kết cục nhỏ là chết một giai đoạn, nhỏ hơn là chết đi cái xác nhỏ để lấy chỗ cho xác lớn. Nhìn rộng ra, sự chết đi của tế bào và phân chia ở thời gian ngắn, tạo nên sự phát triển mới lớn hơn gọi là trưởng thành. Trong cái chết nhỏ tạo nên sự phát triển mới. Chúng ta rụng răng sữa để thay răng vĩnh viễn. Và trong những thứ cần thay đổi, tự nhiên vẫn giữ được thứ gọi là ký ức. Và sự tiến hóa khiến rất tự nhiên ký ức luôn giữ lại, tất cả vạn vật sẽ có lưu trữ. Thí như hình ảnh của ngôi sao đã tận diệt từ lâu vẫn được nhìn thấy trên bầu trời. Cũng điều vậy, tiền nhân suy xét những hành động của bản thân nhân mệnh đều được tạo hóa ghi lại, nằm trong hải tạng thức, nơi đồng nguyên với vũ trụ. Và sự luân hồi chuyển tiếp không dựa vào thân xác thịt, lưu lại bởi những chủng tử nghiệp duyên, liên quan qua lại như những sợi dây nối để làm nhân phát triển tiếp ở kiếp kế tiếp trong chu kỳ vạn vật. 


Mệnh & Thân:

. Mệnh là bản tính, thể tính ban đầu của nhân mệnh, có tính chất bản năng, tác động khi ngay giai đoạn ban đầu cuộc đời khi nhận thức, ý thức chưa rõ.

. Cung an Thân tác động khi có ý thức, tức không mang tính bản năng, do suy nghĩ tư tưởng tác động, tính chất không thường trực như Mệnh cách. Cung an Thân tác động mạnh khi hình thành nhận thức phân biệt, tức bản thể. Cung an Thân biến đổi nhận định tư tưởng của Mệnh cách. Ví dụ: Mệnh Cự Cơ, Thân Thiên Lương.

. Mệnh ở thể tĩnh, Thân ở thể động tức tác động từ thay đổi biến động của dòng tư tưởng. Cung an Thân còn mang ý nghĩa là thân thể.

. Trong thế bị động, Mệnh cách tức bản tính phản ứng rõ. Trong thế chủ động khi suy nghĩ, cung an Thân tác động phối hợp Mệnh.

. Mệnh khởi phát, cung an Thân dẫn hóa tới kết quả. Do đó mệnh cách tác động trong mọi giai đoạn. Cung an Thân tác động khi có suy nghĩ tư tưởng.

. Khi trưởng thành Mệnh Thân thường phối hợp cùng tác hóa. Do đó mệnh Mệnh Thân đồng độ luận tính chất khác cung an Thân tại Tài Bạch, Quan Lộc, Phúc Đức, Phu Thê hoặc Thiên Di. Đây là điểm rất quan trọng cơ bản khi luận tử vi.

 

Khi không có sự suy nghĩ của nhận thức, động vật linh trưởng vẫn có thể hoạt động sống, săn bắt dựa trên phản ứng vô thức có mục tiêu là sinh tồn, những chủng tử từ nguyên thủy vẫn hoạt hành trong chính bản thân của nhân mệnh. Trong quá trình vận động, xử lý, phản ứng với hoàn cảnh sống, có thể thí dụ về vận hành của máy tính để sát với đời sống, hiểu như những phần cần cho hệ thống máy tính, ứng dụng luôn chạy ngầm là Mệnh, ứng dụng cần thiết cài thêm để sử dụng hoàn chỉnh theo đúng khả năng của máy tính là Thân. Hoặc khi xét tới rộng hơn là trường hợp toàn bộ máy tính. Mệnh có thể hiểu như những thứ dữ liệu và tập ứng dụng được lưu trữ trên hệ thống đám mây, còn Thân là những phần cứng tạo nên chiếc máy tính. Bởi vậy tại sao cổ nhân luận Thân chuyên chở Mệnh ?, Thân là thân thể ?. Bởi khi không có Thân là phần cứng, Mệnh không mất đi, vẫn nằm trong hệ thống đám mây, cho tới khi có máy tính khác mở ra. Thí như Thân hư, tức chiếc máy tính này hư, thì Mệnh cần một chiếc khác để truyền tải, sử dụng. Việc nhập xác được mô tả không chỉ một khu vực nhỏ, địa phương nhỏ trong thế giới rộng lớn mà cả toàn cầu đều ghi chép từ sử sách cổ tới hiện tại về hiện tượng này. Ngay khi chiếc máy tính chuyên chở những dữ liệu này, hệ ứng dụng này như trên một số điện thoại apple cá nhân hóa, hư hỏng phá hủy hoàn toàn ( như cơ thể chúng ta đối mặt với sự chết), bắt buộc một chiếc máy khác có thể kém hơn, hoặc tốt hơn về chất lượng nếu truy cập được mã khóa đó trên hệ thống đám mây, sẽ nhận diện đúng chủ nhân của dòng dữ liệu ( hồn, mệnh ) này, mà cũng không phải là chính người đó hoàn toàn vì những ứng dụng, dữ liệu trên khi được hiển thị trên máy khác sẽ có thể thí như hình ảnh mờ đi, do cấu hình chất lượng thấp hơn, hoặc chạy tốt hơn do cấu hình cao. Thì toàn bộ Mệnh Thân ( ứng với hệ thống cá nhân từ ứng dụng dữ liệu tức Mệnh, và phần bên ngoài cơ học của chiếc máy cũ Thân) đã không còn tồn tại. Và thứ mới hay hệ thống cá nhân thích nghi với chiếc máy mới sẽ hình thành, việc sử dụng thêm và biến đổi kế tiếp trong thời gian tiếp theo sẽ là phối hợp giữa Mệnh và Thân mới. Và mô tả toàn bộ các ứng dụng chính là toàn bộ tính cách của con người. Điều này khi đọc sẽ có một số phần tương đối khó hiểu. Vấn đề này người viết muốn xét tới để dễ hiểu hơn, không hoàn toàn liên quan tới học thuật về vi tính, máy tính, chỉ hiểu sơ lược về nguyên tắc vận hành của máy tính khi kết nối toàn cầu để nhìn bóng chỉ trăng và người đọc có thể bỏ qua giúp người viết về vấn đề hiểu biết kỹ thuật công nghệ số. 

Điều người nghiên cứu tử vi phải biết, vạn vật thông linh kết nối như những hệ thống mạng máy tính, tức giả sử nhân duyên quả nghiệp kết nối vạn vật như việc tất cả mọi người đều phải sử dụng máy tính dữ liệu chung, như những hệ thống liên kết các ngôi sao, hoặc như những liên kết liên phân tử. Đặc tính liên kết, kết nối này đã là đặc điểm cốt yếu chung của vạn vật. Vì vậy điều nằm ở gốc của ý thức không phải là bộ não, mặc dù bộ não như chính là chiếc vi xử lý quan trọng nhất của máy. Điều quan trọng là các cá thể người đều nằm trong hệ thống liên quan tới nhau và nghiệp lực và nhân quả. Trong hệ sinh thái máy tính chính là hệ thống dữ liệu đám mây. Thứ gọi là ý thức, bản thể để luân hồi, quay vòng Trường Sinh mới có thể hiểu nôm na chính là hệ thống cá nhân hóa về ứng dụng và dữ liệu được lưu trên hệ thống đám mây chung như 1 một thứ bám là Tâm, hay phần Thức. Và người khống chế được vòng Nhân Quả chính như người tuy vẫn nằm trong hệ thống mạng nhưng đã xóa hết bản thể cá nhân. Điều ngưởi viết nói đến không phải là máy tính hay mạng, là việc vận hành của con người trong xã hội. Có rất nhiều thí dụ để sử dụng tuy nhiên tác giả suy nghĩ mô tả dễ hiểu có thể dùng vấn đề trên. Trong tạng hải a lại da thức chính là tạng chủng tử thức chứa nghiệp quả của từng nhân mệnh. Điều này được triết học phương Đông trong các đạo Phật, Ấn suy xét rất sâu sắc. Và Phật giáo rất hiển nhiên với những vị đức hạnh không nói dối như giới cấm quan trọng không phủ định việc khi chứng được quả vị trong thiền định sẽ nhìn thấy hay khai mở được những điều nổi bật ghi nhớ trong nhiều kiếp sống trước.  

Wednesday, July 19, 2023

Nhập môn khám phá tử vi

 Mở đầu khám phá Tử Vi


Từ giai đoạn kỳ cổ, con người đã đặt câu hỏi về sự tồn tại của chính bản thể của chính nhân mệnh. Những thông tin được truyền không có tốc độ nhanh chóng như hiện tại. Nội tâm của một số nhà tri thức khi ở địa vị và hoàn cảnh sống tạm thời ổn định bắt đầu hiện nên các câu hỏi và trả lời về ý nghĩa sống, triết học. Tôn giáo cũng đồng hành song song, tuy đại đồng tức hướng con người tới cái Thiện tính ở cả hai phương Đông và Tây. Tuy nhiên có điểm tiểu dị bởi, lực lượng tinh thần siêu nhiên ở hai nền văn hóa có khuynh hướng dị biệt cho tới ngày nay. Từ học thuyết Âm Dương, lịch pháp, sự nhìn nhận xoay chuyển của thiên văn, địa lý, cũng mới cách đây vài nghìn năm, trong quá trình lịch sử dày đặc của thiên địa. Học thuyết âm dương biến hóa đúng tới mức độ áp dụng với vạn vật, từ đó sinh khởi tiếp đến Tứ Tượng, là thể âm và dương lẫn. Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm. Từ Thái Cực cũng như một điểm vật chất theo thuyết hiện đại nổ Bigbang và phát sinh vạn vật. Từ Tứ Tượng sinh khởi tiếp Bát Quát 8 quẻ Chấn, Đoài, Khảm, Ly, Tốn, Khôn, Càn, Cấn. Sinh khởi tiếp 64 quẻ hay gọi quẻ dịch. Đây là sự mô tả vận hành của Âm Dương. Phàm mọi hiện tượng, vạn vật trên thiên địa đều tuân theo diễn tiến này. Điều này được kiểm chứng là đúng với thế giới vi mô và vĩ mô. Coi dòng đời của một con người là một dòng chuyển động từ ký ức quá khứ tới tương lai. Đây là một hiện tượng, bởi vậy có thể dụng thuyết Âm Dương Ngũ Hành trên chính cuộc đời của một sinh vật. Cổ nhân luận là Toán Mệnh. Đi sâu về thiên văn, chúng ta nhìn thấy thêm một yếu tố hay, NGÀY được khái niệm là Dương. Và ĐÊM được khái niệm là Âm. Thực chất NGÀY nếu với người không có mắt, sinh vật mù mắt, thì cũng không khác về ĐÊM. Theo vật lý là sự chiếu của ánh sáng tức photon mang tác động tới không gian. Tại sao cổ nhân biết NGÀY xếp vào trong chữ Dương. Và kế tiếp, theo tiến hóa của sinh vật, Mắt là sự tiến hóa cần thiết qua thời gian phát triển của các sinh vật trong tự nhiên theo thời gian từ dòng nguyên thủy tới hiện tại. Và sao Thái Dương ( Mặt Trời) cũng chính tên một trong Tứ Tượng. Từ việc có bộ phận mắt, chúng ta hiểu rằng khi nhìn vật rõ ràng, mang tính Dương. Cũng vậy có mắt nhưng không nhìn thấy vật khi trời đêm, không rõ ràng, mang tính Âm. Thể Âm cũng là một phần vật chất tối, không gian tới của cả vũ trụ, ngoài thể Dương là những ngôi sao, thiên thể, khu vực chúng ta nhìn thấy. Phân tiếp ra thiên đàng và địa ngục. Những điều này đều nằm trong thế giới ý thức phản ánh từ thế giới bên ngoài qua nội tâm của nhân mệnh. Và khi phân được trắng và đen, sáng và tối, thuộc tính của vạn vật, tác động qua lại có giá trị của vạn vật tới chúng ta. Thì tiền nhân quy về cùng hệ quy chiếu Âm Dương Ngũ Hành, và THỜI, KHÔNG để truy tìm nguyên gốc của mệnh căn. Và nếu Mặt Trời không ở gần để tác động tới chúng ta mà cách chúng ta xa hơn nữa thì không khác các sao khác, không có giá trí để xét trong mối nhân duyên của nhân loại. Mặt trăng cũng vậy. 




Và tự nhiên cũng tuân thủ quy luật Âm Dương Ngũ Hành tới cả những thiên thể xung quanh Thái Dương hệ, vì đây là quy luật hiển nhiên của trời đất. Vạn vật có khai sinh, có kết thúc, có chuyển hóa. Vậy, đi chết là tìm sống, và khi sống cũng đã hướng tới chết. Điều này rất hay khi cần giải thích một quá trình phát triển vốn có của vạn vật, Thành Trụ Hoại Không, Sinh Trụ Dị Diệt. Tuy nhiên tại đây không phải đường thẳng. Mà chính là một vòng tròn. Điều hay chúng ta nhận ra là tuy một vòng sinh trụ dị diệt có thể khởi từ một sự vật hiện tượng với thời gian hoàn thành một vòng là ngắn như vòng đời của một sinh vật đơn bào, hoặc dài như thiên thể ngoài vũ trụ. Tuy nhiên các dấu hiệu của các giai đoạn trong 4 giai đoạn trên của sự vật này luôn được nhận định. Vậy chu trình chết tự nhiên của con người, nhân mệnh theo giai đoạn cũng hiển hiện.Sự tuân theo của quy luật từ quy luật tất yếu là thuyết Âm Dương Ngũ Hành, dần co cụm phạm vi là ảnh hưởng của Thái Dương và Thái Âm tới con người, cho tới nhỏ hơn là quy trình của thời gian tương ứng Lục Thập Hoa Giáp, và nhỏ hơn nữa là nguyệt, nhật, thời tức tháng, ngày, giờ. Và như một lưới bắt được chu kỳ, mỗi thời khắc thai sinh sẽ chứa đựng các thông tin có sẵn được lập ra bởi việc phối hợp giữa Không gian và thời gian được biểu hiện qua Lục Thập Hoa Giáp ( 12 thiên can và 10 địa chi ). Về diễn giải vận hành của Lù Thập Hoa Giáp rất phức tạp người viết không bàn ở nội dung bài viết này. Bởi vậy theo hệ thống thời gian phương tây, thời gian trải qua không có điểm lặp lại như trong thời gian tại phương đông. Cũng như xét ngọn nguồn tại bốn quá trình Sinh Trụ Hoại Diệt. Dòng thời gian của Phương Tây không gắn được tác động mạnh của thiên thể như Mặt Trời và Mặt Trăng tới hệ đếm. Và ba mô tả chính của vận hành liên quan trực tiếp tới thảy sinh vật tồn tại trên địa cầu là ba yếu tố. Thứ nhất năm mặt trời hay 1 năm là chu kỳ của thời tiết, là thời kỳ trái đất quay quanh mặt trời. Mọi sinh vật trên trái đất cũng chịu tác động như trên. Một vòng khoảng 365,24 ngày. Thứ hai, tháng mặt trăng biểu thị sự quay của mặt trăng xung quanh trái đất, có độ dài gần 29.5 ngày. Thứ ba, việc tự quay tròn của trái đất quanh trục 1 vòng là 12 canh giờ. Ba yếu tố này đều mô tả sự vận động rất rõ ràng và cơ bản của địa cầu với thái dương hệ. Và xét gắn theo âm dương ngũ hành vẫn tuân thủ quy luật này. Điều quan trọng của 1 ngày là tìm được chính ngọ sẽ đoán được chính xác tất cả thời điểm còn lại qua hệ đếm. Điều quan trọng 1 tháng là thời điểm mặt trăng trở nên tròn hoặc khuyết. Một năm là 4 ngày chí cực. Và 1 lục thập hoa giáp là thời điểm nhuận. Từ 1 lục thập hoa giáp ta luận được tất cả các thời điểm về trước và sau. Hết 1 vòng 60 năm lại vận hành kế tiếp tương tục. Việc diễn giải này có thể trừu tượng hơn các phần khác người nghiên cứu có thể đọc chậm để hiểu. 




Và 60 năm này bao gồm rất nhiều thông tin hiện trong hai chữ can chi của năm trong Lục Thập Hoa Giáp này. Khởi từ năm Giáp Tý tới Quý Hợi là 60 năm. Bắt đầu của Thiên Can từ Giáp đến Quý là 10. Bắt đầu của Địa Chi là Tí đến Hợi là 12. Điểm đầu và cuối đều khớp với quy luật. Các môn toán mệnh bắt buộc đều phải dựa trên thông tin gắn với việc thời khắc sinh ra tương ứng thời điểm nào trên một vòng Lục Thập Hoa Giáp 60 năm.  Suy cùng tất cả đều xét dựa trên những chuyển động lớn của trái đất, mặt trăng. Và việc chuyển động thu thai, thai sinh của mỗi người là chuyển động nhỏ trong đó. Cũng như một bánh xe lớn đi quanh thành phố là quỹ đạo. Một cái đinh gắn trên bánh xe như một sinh mệnh, cũng sẽ theo quỹ đạo lớn này. Để cái đinh thoát khỏi bánh xe tức nằm ngoài luân hồi là việc khó khăn. Bởi vậy tiền nhân gọi là bánh xe luân hồi. Vì vậy tại sao Phật thuyết nhân mệnh muốn thoát khỏi lực chi phối rất khó khăn bởi nhiều vướng mắc trên, tuy nhiên chi khi nhìn rõ bởi tri kiến mới thấu thị được những quy luật của vị trí sống đã vận vào chính mỗi nhân mệnh. Bởi vậy việc thần thánh hóa các sao trong tử vi, hay các môn huyền học về toán mệnh khởi từ việc mê tín là điều không nên xảy ra. Khi rõ ràng các hệ quy chiếu trên gắn với mọi sinh vật, kể cả con người thì khi một nhân mệnh được thai tạo vào thời khắc chứa những đặc điểm trên được ấn ký bởi chính những thông tin chứa trong thời điểm năm, tháng, ngày, giờ đó bắt đầu tồn tại ngoài môi trường sẽ luận được một số biến động của đời người theo quy trình trên. Vì vậy cũng giải thích được những tác động như tai nạn tập thể, chiến tranh quốc gia khiến nhiều nhân mệnh chưa tới số tận đã chịu việc hoại diệt sớm để bắt đầu một vòng tròn luân hồi mới. Và tất cả môn toán mệnh đều sử dụng 4 yếu tố năm, tháng, ngày, giờ gắn với vận động để làm yếu quyết dự đoán cuộc đời. Một bộ môn tử bình giản lược rất lớn những thứ phức tạp vẫn có thể cho dự đoán có tính chính xác rất kỳ lạ. Từ những sự vận động này, xếp thành thiên văn, sinh ra toán pháp, thần số, toán mệnh lý. Và con người, cũng là một sinh mệnh trên trái đất, nằm trong vòng cương tỏa này. Việc một số nhà tiên tri nhìn thấy được sự chuyển dịch, sự kiện lớn có tác động toàn cầu cũng là điều có thể có thực. Bỏ đi một lớp huyền huyễn, người nghiên cứu dần thấy mọi thứ rõ ràng hơn một phần. Cũng bước vào một thế giới mới, nơi đôi mắt nhìn thấy rõ hơn về quá trình vận động, dự kiến vận động và những điều thịnh suy tuyệt của mệnh lý. Số mệnh không phải được sắp đặt bởi nhân duyên mà được xoay chuyển trên con đường mòn, nếu những quyết tâm thay đổi vẫn được đánh giá cao như việc "Đức năng thắng số". Và nhân mệnh có thể kiểm chứng, việc dự đoán bản thân, nhìn ra yếu điểm và thay đổi bản thân so với mệnh số. Toán mệnh cũng cho thấy được sự trần trụi của việc tự cho rằng con người có suy nghĩ và tự tư duy tất cả không nằm trong quy luật nào là có điểm khiếm khuyết. 

Friday, February 3, 2023

Nhà hoạch định chiến lược

 Nghiên cứu những tư liệu về cổ nhân, thời kỳ phong kiến còn tồn tại từ địa thế của Việt Nam phát tích, chống các cuộc chiến tranh từ những quốc gia hùng mạnh ở vị trí giáp biên hay thời kỳ chiến tranh hiện đại là những bằng chứng xác thực của lịch sử ghi lại về sự tồn tại đấu tranh của một nước nhỏ trước sự đánh chiếm bằng vũ lực áp đảo của nước lớn. Lạc vào trong công cụ tìm kiếm trên mạng, có rất nhiều tài lựu và thông tin tại thời điểm internet kết nối vạn vật được mở rộng, sự việc xảy ra tại vị trí địa lý xa xôi có thể được thông tin truyền tới gần như tức thời. Cũng trong thời kỳ này, những tin tức giải trí, về sắc, âm, thực, dưỡng, hay những tác phẩm phim truyện hiện đại được chiếm ưu thế tìm kiếm của người đọc. Một số khác lại có thú nghiên cứu, tìm kiếm những tài liệu về lịch sử, những tư liệu về những sự tồn tại, vận hành của xã hội những thời kỳ trước, phong tục, tập quán qua những di tích, bút tích mô tả một thời kỳ xưa, xã hội xưa và những phát triển nội tại của quốc gia, dân tộc. Phát sinh của tìm hiểu quá khứ là việc khảo cổ, tìm tập tư liệu, bản thảo hoặc truyền miệng. Việc truyền miệng và tư liệu sau bản gốc có thể tam sao thất bản, thực hư lẫn lộn tuy nhiên có những thông tin là sự thực. Sự tồn tại và diễn biến những biến cố lịch sử lớn được ghi chép là sự thực. Thời kỳ vua Lý dời đô về Thăng Long, thời kỳ đánh quân Nguyên Mông hay gần hơn là trận đánh với quân Pháp, Mỹ được ghi chép lại là những điều thực tế xảy ra. Thời gian xóa dần vết tích lịch sử, tuy nhiên có thể những bút tích, áng văn chương tả lịch sử sẽ được lưu lại tới đời sau. Nghiên cứu điều này như rơi vào thế giới lịch sử và thế giới tâm linh xen lẫn. Trong thời điểm hiện tại với nhịp sống của xã hội tin tức hối hả, biến động không ngừng tại ngoài hiện thực và trên mạng. Như Song Hao trôi theo dòng nước, luân chuyển không ngừng có thể khiến nhân tâm của nhân mệnh khó yên định để nghiên cứu học hỏi chuyên sâu một lĩnh vực. Có những việc qua những hình ảnh, thông tin trên mạng khó có cảm ứng lớn như việc tới nơi tham qua. Thí như trăm nghe không bằng một thấy. Qua các điện thờ và họa tiết di vật hàng trăm năm hiện lên nghe hát xẩm trong những khung cảnh còn lưu giữ lại tới thời nay. Trải qua bãi bể nương dâu, thế trời đất vận nước lúc thịnh lúc suy. Đời người cũng vậy, yên lặng nhìn nhận cũng là một loại vui thú. 


Tư liệu về trạng Trình qua những bài báo, nghiên cứu vẫn được ghi rõ và nghiệm sau hàng trăm năm. Tồn tại song song với thế giới giải trí văn nghệ trên mạng, là những tư liệu khoa học, lịch sử lưu lại về việc tài hoa của cổ nhân. Câu chuyện cụ Trạng chỉ vào đàn kiến đang bò và cầm tay sứ giả dắt ra hòn non bộ bảo: “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân” còn lưu truyền đến ngày nay.

Nghĩa là một dải Hoành sơn có thể là chốn dung thân được. Hiểu được ngầm ý ấy, Nguyễn Hoàng nhờ chị xin với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào trấn thủ đất Thuận Hóa từ đèo Ngang trở vào. Giang sơn nhà Nguyễn nhờ đó mà dựng nên ở phương Nam. Ta nhận thấy rằng, Trạng Trình có tầm ảnh hưởng không nhỏ đến sự hình thành địa đồ quốc gia Việt Nam hiện nay. Việc nhà Nguyễn di chuyển vào vùng Thuận Hóa tạo điều kiện mở rộng bờ cõi nước Việt xuống phía Nam chính là nguyên nhân của cớ sự này. Cụ để lại cho đời một di sản văn hóa đồ sộ bậc nhất nước nam. Ngoài câu sấm ký “Hoành sơn nhất đái khả dĩ dung thân”, thì về Biển Đông, cụ Trạng cũng có lời tiên tri trong Bạch Vân Am Thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm với bài thơ Cự Ngao Đới Sơn. 

Vạn lý Đông minh quy bả ác/ Ức niên Nam cực điện long bình/ Ngã kim dục triển phù nguy lực/ Vãn khước quan hà cựu đế thành”. dạy rằng:

“Biển Đông vạn dặm dang tay giữ

Đất Việt muôn năm vững trị bình”.

Dường như nhìn thấy đại cục thiên hạ ngàn năm nên đã khuyên thế hệ sau phải nắm giữ được Biển Đông thì đất nước mới thái bình, thịnh trị muôn đời. Nhằm nhấn mạnh việc tuân giữ lời cha ông căn dặn từ ngàn xưa. Vua Tự Đức xem ông là một bậc văn thần xuất chúng, nên trong Ngự chế Việt sử tổng vịnh đã có ngợi ca:

Từng nghe lý học có Trình Tuyền,

Vận nước long, ô nghiệm biết liền.

Gặp biến tung quyền phò họ Mạc,

Sánh cùng Khang tiết cũng như nhiên.


Tại thời kỳ phong kiến trước đây, việc quy phạm về chuẩn mực xã hội khi phát triển học vấn văn chương được lưu tâm, những công việc xã hội và thông tin xuất hiện không dày đặc và thay thế nhanh như thời kỳ hiện đại kết nối thông tin nhiều quốc gia. Bởi vậy, những tài liệu, văn từ của cổ nhân có thể được truyền miệng hay dạy học nhiều phần về phẩm chất đạo đức hay những vấn đề lịch sử được truyền dạy thông tin lưu truyền sách vở thư tàng tương đối rõ nghĩa. Tìm lại những tư liệu về thời kỳ lịch sử như bức tranh về một thời kỳ sống của cổ nhân, hiện lại những cảnh sinh hoạt đời sống, làng mạc, hiển hiện một chế độ trước đây. Những lời dự đoán của trạng Trình như một số điều quy luật thăng giáng, hợp tan của vạn vật. Cũng có thể là sự trùng hợp hoặc nhìn thế cục phân định của thời vận trong vận nước. Trong thế năm Quý Mão, chữ Quý khiến Tham Lang hóa thành Kỵ. Cách cục này tương đối bất lợi với Sát Phá Tham bởi Phá Quân hóa thành Lộc. Cách cục Lộc Kỵ có tính cản trở tương đối mạnh đặc biệt trong cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Với bố cục Sát Phá Tham tại Thân Tí Thìn, cách Tồn Phá Kỵ hình thành, dễ gặp cảnh nhiều điều khó có thể đạt mục tiêu kế hoạch. Khôi Việt tại Mão Tị, Kình Đà Hao nằm trong cách Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tuy trong khó khăn sản chứa những thay đổi lớn, có tính vươn lên. Tại can Quý, trường hợp Song Lộc tại đây có phần phức tạp, nếu xung Lộc Tồn tức gặp bộ Thanh Liêm Binh có phần tốt hơn. Cũng cần chú ý tại cách Đà Hao có thể hình thành Diêu Đà Kỵ cách là cách độc. Tại thiên bàn can Quý, vị trí Mão cung được cách Khôi Tuế tương đối hay. Nhật Lương nếu cư Mão hoặc Thái Âm cư Hợi hội họp tại đây được luận là cách tốt. Huyền học như một văn vật thời cổ, những triêt lý âm dương ngũ hành tồn tại từ thời kỳ xa xưa lưu truyền lại từ cổ thư hoặc truyền dạy theo dòng tiếp nối. Vật hữu cơ, trao đổi và biến đổi theo thời kỳ. Như người hiền lành gặp áp bức cũng vùng lên đấu tranh, cũng với loài vật cũng vậy như con nhím giương gai nhọn để bảo vệ bản thân. 



Trong dẫn động của hành khí, bản chất của nhân mệnh luôn hướng tới làm chủ về tất cả vấn đề của cuộc sống. Đây là một đặc tính phát khởi của Tham Lang khi xét đến hóa thành Kỵ năm nay Quý Mão sẽ biến động tính chất. Trong giai đoạn hiện tại, việc lương thực để duy trì cuộc sống không còn có giá quá cao. Việc duy trì mức sống tối thiểu có thể đạt được trong trường hợp nhân mệnh bình thường. Khi tổng của cải vật chất lương thực và vật chất khác của quốc gia trở nên dồi dào, việc giai đoạn thời kỳ phong kiến hay giai đoạn chiến sự có những vùng đói, nạn đói thiệt mạng có thể loại bỏ. Tuy vậy nạn đói ở các quốc gia chiến sự hay quốc gia nghèo đói trên thế giới vẫn còn xuất hiện trên tin tức hàng ngày. Cơ hội hiện nay cơ bản tương đối đồng đều do hệ dân chủ là xu hướng chung của nhân loại, với việc kiểm soát lẫn nhau bởi những hiệp định, hiệp ước chung của đa phần các quốc gia. Trên đường công danh mỗi nhân mệnh đang trải qua, thực tế nhiều kẻ biết rõ nếu gắng sức trong thời gian hiện tại sẽ đạt được những bước tiến rất lớn tới thời gian sau. Tuy nhiên lại xuất hiện những sức cản, thường gọi là sức ì, bởi nhiều nguyên căn tuy nhiên khi xét định sâu trong nội cách, sẽ xét được nhiều nguyên căn từ Hóa Kỵ, Ám Tinh hay cách cục hung vây hiềm. Sửa đổi thói quen nôm na là việc khó, cần thời gian và tự cơ xảo với chính nội tâm để điều phục chế ngự tâm tính của nhân mệnh. Đương nhiên, phàm nhân mệnh đều rõ việc thay đổi một nỗ lực ngày hiện tại, là mầm của kết quả ngày mai. Cũng như lý học nghiên cứu tới tinh tường cũng bởi những ngày tháng xem từng lá số xét từng giai đoạn cuộc đời mỗi nhân mệnh. Một lá số là một cuộc đời, từ vĩ nhân tới thường nhân. Điều khác biệt cũng không hẳn là nhiều khi xét về nguyên cục. Người viết qua năm nay gặp một trường hợp một nhân mệnh tuổi ngoài 30, kinh doanh thua lỗ lớn có ý định tự sát, tuy nhiên có người đi qua phát hiện, cũng là nhân mệnh mà người viết có luận cách đây hơn 4 năm. 




Can Nhâm khiến Vũ Khúc hóa thành Kỵ trong thế Linh Xương Đà Kỵ Kiếp, tai họa ập xuống phá tan thành quả gây dựng bán mạng cho tiền. Nhân mệnh bán đi 8 bất động sản giá trị và trắng tay với một khoản nợ nhỏ còn lại. Sụp đổ xảy ra rất nhanh và khó nhận biết cũng như xét quá trình xây dựng tòa nhà và khi phá bỏ. Lần rút kinh nghiệm này sẽ khiến nhân mệnh tích lũy nội lực bước vào giai đoạn 10 năm hạn hành mạnh về tài, sức bật lên mạnh. Sát tinh là nơi thúc đẩy nội lực của nhân mệnh, là áp lực đè nén con người, nơi lựa chọn giữa hai đường buông xuôi và gượng dậy, cũng là một động lực quý giá để vươn lên. Tới thời điểm khó khăn, hầu như những tin ngăn cản, cẩn trọng với những điều hung họa sẽ không hiện diện trong tư tưởng. Cùng một chữ hung, phân trăm nghìn cách hung. Thân mệnh là thứ vô thường, những điều nguy hại tới nhanh khiến bản thân quên mất sự phòng bị. Suy cho cùng nếu những nhân mệnh tuyệt vọng tại thời khắc đó, nếu được cứu há chẳng sau này cũng nhiều người không hiểu suy nghĩ của bản thân giai đoạn đó thật dại dột. Còn một cơ hội là còn một niềm vui. Vì cũng nhiều lá số bước được qua giai đoạn khủng kiến, tăm tối là một giai đoạn tâm vững vàng, như việc kẻ đại phú hào, chính trị gia trải qua giai đoạn bế tắc cùng cực vẫn hiển hiện trong đời. Như cụ Nguyễn Ái Quốc bị xử tử hình vắng mặt, các danh tướng đánh trận mạc địa vị cao viễn cũng thường rơi cảnh không biết mai cửa sinh hay tử. Người trải qua như vậy nhiều vô kể. Qua mỗi lần sinh tử, lại khiến người có tài thêm cẩn trọng suy xét và táo bạo đúng thời cơ. Ngọc không mài khó thành tác. Những lựa chọn tại mỗi giai đoạn đều đưa vạn kết quả. Tự đánh giá và bước đi liên tục là loại năng lực của thành tựu. Bởi bên trong ý nghĩa trên ẩn chứa nhiều định cách phối hợp Sát Kỵ với trợ tinh hóa mà thành đại cách quý.  

Wednesday, June 15, 2022

Ngọn lửa với cội nguồn

 Mỗi điều linh thiêng đều gắn kết từng những giai đoạn của lịch sử và đời sống của mỗi con người. Với sự tín nhiệm, phát sinh trọng trách. Như vậy Hóa Quyền là tín nhiệm phát sinh trách nhiệm của người có hóa khí này thủ mệnh. Sự thờ phượng luôn gắn với tôn kính. Việc thờ phượng có thể không phân định thiên ác theo nhiều cách nhìn, như việc khi chiến tranh mỗi quốc gia đều thờ phượng những người lính đã ngã xuống vì lợi ích quốc gia. Mỗi một điều linh thiêng theo quan niệm mỗi nhân mệnh, như ngọn lửa tạo nên hi vọng tới người đó. Điều tốt đẹp của quốc gia là có được những nhân lực lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, có tự tôn dân tộc cao hơn lợi ích riêng rẽ bản thân. Bản chất trong nội tâm của con người luôn muốn sự công bằng Thiên Tướng. Tuy nhiên khi nhìn thấy lợi ích riêng tư của bản thân tức Thiên Cơ được mang lại tốt đẹp, hưởng đặc quyền sẽ biến dạng Thiên Tướng trở thành đặc quyền. Nếu trong thời kỳ đặc quyền trở nên đặc hữu và bị lợi dụng để nắm quyền sinh sát. Điều này ắt sẽ mang lại bất mãn tới quần chúng, bởi lý lẽ của mất công bằng, tức Tướng Không Kiếp chỉ giới hạn trước khi phát sinh sự bất công lớn. Giữa việc công Thiên Tướng, và việc tư Thiên Cơ luôn phân minh, thể hiện bởi vĩnh viễn lục hội giữa Cơ và Tướng. Nhìn vào tính chất của hai nhóm sao này trên thiên bàn, người nghiên cứu sẽ nhận định được rất nhiều thông tin tại đây. Với những điều thuộc về bản chất nhân tính của mệnh tạo và sự phân chia ranh giới rõ ràng của cái chung và riêng, giữa tập thể và cá nhân phát sinh rất nhiều ý nghĩa hay trong tử vi. Nhìn sâu sắc trên thiên bàn, có thể nhìn thấy khi cái chung và riêng luôn liên quan mật thiết với nhau tức Thiên Cơ và Thiên Tướng lục hội. Một chính tinh quan trọng là chủ tinh của một nhóm sao. Phá Quân nằm ở thế luôn nhị hợp với Thiên Cơ. Phát sinh kế tiếp hai trường hợp. Khi Thiên Tướng mạnh hoàn chỉnh trong nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, hay thực chất là cách Phủ Tướng giao hội Tử Vũ Liêm, bên phía Thiên Cơ ắt chịu xung đột bởi Cự Đồng trong cách Cự Cơ Đồng. 




Ngược lại khi Cơ Nguyệt Đồng Lương hoàn chỉnh, Thiên Cơ lục hội với Thiên Tướng trong cách Phủ Tướng đơn thủ tức Phủ Tướng tại đây không hoàn chỉnh, thiếu dẫn hóa của nhóm Tử Vũ Liêm. Phàm là nhân mệnh không thể tránh được tham, sân, si. Lẽ thường vốn có cũng là nguyên căn để xã hội, quốc gia, dân tộc phát triển. Sự phát triển của mỗi nhân mệnh đều gắn liền với quá trình sàng lọc, loại bỏ. Thí như pháp luật sinh khởi ổn định trật tự xã hội, cách ly những nhân mệnh sai lầm về tư tưởng và hành động. Cổ nhân luận, khi rơi vào cảnh khốn cùng, điều quý giá thường là thứ tầm thường bỏ qua. Trong giai đoạn thanh lọc để soi xét, loại bỏ những rêu mốc, Liêm Trinh được đặt lên hàng đầu và nắm quyền lệnh. Cũng như lính canh đi tuần tra, Liêm Trinh có đặc tính điều tra, soi xét rất mạnh. Cùng là sao dễ rơi vào cảnh thoái hóa. Sao Liêm Trinh khi tốt đẹp là sự thanh bạch, minh bạch, kiểm tra, thanh tra, dò xét, kiểm toán, kiểm định, cho tới kiểm điểm. Với Liêm Trinh, là tay mặt của Tử Vi, biến lý tưởng của Tử Vi thành hiện thực. Hóa quyền uy tín thành Sát quyền, tức quyền trừng trị. Suy cho cùng, mỗi thời điểm tính quyền lực của chức trách, vị trí xã hội dịch chuyển thất thường. Trong thời buổi từng vị trí ngành nghề, có thể phát sinh ra tài sản âm thầm. Những nơi trọng điểm như đất đai, tài nguyên càng là nơi Liêm Trinh suy xét, dò xét mạnh. Có vị trí là tâm điểm của hình ngục cách. Khi một lý tưởng cao viễn được xác định, mang tính công lý, tính công bằng và mang lại điều tốt đẹp. Như cổ nhân luận "Nhất hô bách nặc", một lời gọi trăm người tuân theo. Giữ ngọn lửa với một lý tưởng, kế hoạch có thể qua thời kỳ thăng trầm. Cũng như việc đặt kế hoạch cho bản thân nhân mệnh, có thời điểm sẽ gặp những cản trở, gọi là thời kỳ đen tối, mây mờ che, khiến nhiều nhân mệnh khó có thể gây dựng trở lại. Nếm mật nằm gai để đạt được kết quả là điều cũng thường gặp trong cuộc sống. Điều nguy hại hơn là việc mất phương hướng, mục đích sống của nhân mệnh. Có những trường hợp trên báo đài, viết về gia đình bởi túng quẫn, nợ số tiền lớn khi rơi vào thế cùng đường đành đưa tử tức cùng theo tới nơi tuyệt mệnh. Những sự việc đau lòng vẫn thường xảy ra hàng ngày, điều quan trọng khi ngọn lửa niềm tin bị tắt bởi áp lực khủng kiến, nơi tử huyệt sẽ xuất hiện. Qua thời kỳ dịch bệnh covid-19 tới hiện tại, khoảng hơn 6 triệu người theo thống kê tử vong. Có những nhân mệnh bệnh tật, có nhân mệnh khỏe mạnh, tuy nhiên sẽ không nhiều nhân mệnh muốn bản thân rời cuộc sống hiện thực. Tang tóc xuất hiện, qua thời gian trở thành lịch sử, đời sống sôi động trở lại. Điều hay của cuộc đời là những người ngã xuống sẽ được che lại bởi lớp người tiếp nối, cũng khiến giảm đi sự phiền não bởi buồn thương tang tóc. Như lớp cỏ úa được che lại bởi lớp cỏ xanh mọc lên. Tuy nhiên, sự thực không mất đi là việc hiện hữu trên thực tại gắn liền với sứ mệnh của một nhân mệnh. Hầu hết mỗi nhân mệnh đều bình thường hóa khả năng của bản thân, so sánh về một bên kẻ nghèo hèn thấp kém, một bên phú hộ giàu có. Sự thai sinh, sinh khởi của nhân mệnh là trách nhiệm của đương số với xã hội, cũng thời điểm sau vài chục năm, thế hệ phía sau lại phát triển che đi thế hệ trước chôn vùi. Vì vậy, thế đứng của tử vi xuất hiện hai cách xung chiếu, Bạch Hổ và Tang Môn, Thái Tuế và Thiên Hư. Là sự xung chiếu thực của hai nhóm Tuế Hổ Phù và Tang Hư Khách. Khi ở vị trí Bạch Hổ, bản thân nhân mệnh như ở thế hệ đương trẻ, đóng góp nhiều tới xã hội, thời kỳ kế tiếp, thế hệ Tang Môn bắt đầu bị chôn vùi, là thế hệ chứa đựng nhiều kinh nghiệm, điềm tĩnh, lãnh đạm và như vị khách Điếu Khách nhìn vào thế hệ tiếp theo. Dù nỗ lực hay lo âu, sợ hãi của bản thân trong tiểu vận tới, đại vận tới, tất cả đều đang dần sẽ bị thay bởi lớp kế tiếp, như lớp cỏ xanh mới thay thế dần thế hệ nhân mệnh qua từng niên vận, đại vận. Khi quay đầu nhìn lại cảm thán nửa đời của bản thân. Tuy nhiên cũng chính lý do này, nhân mệnh có thể lựa chọn việc mạo hiểm, thay đổi tất cả, có thể thế hệ trước bất đồng quan điểm, hoặc lo ngại về tương lai gần có thể gặp biến cố nặng nề. Những khó khăn này có thể có ý nghĩa và cơ may hơn việc do dự, lo âu đợi tới thời điểm thế hệ của nhân mệnh bắt đầu bị thay thế. Việc thay thế được đánh giá rất hay, thể hiện sự công bẳng, thời cơ của thiên địa tạo tới mỗi giai đoạn cuộc đời. Điều hay của Không Kiếp đại sát tinh là nghịch truyền thống, phản tất yếu. Rất nhiều nhà khoa học có những phát kiến đóng góp thay đổi nhân loại có cách cục này. Nếu tất cả chỉ nhìn vào tài danh, có thể những phát kiến, phát minh sẽ không xuất hiện. Không có người có quyền lực dài mãi, nhân mệnh phải trải qua quá trình bệnh lão, giai đoạn suy yếu nhìn lại cuộc đời. Cũng như có người nghiên cứu về việc hồi quang phản chiếu. 



Cuộc đời luôn tạo từ nhiều yếu tố chuyển động. Bản thân nhân mệnh chuyển động, hoàn cảnh xã hội chuyển động, đặc điểm thời thế chuyển động dẫn tới những kết quả khó có thể liệu tính. Thí như việc nhật thực. Thời cổ xem việc này như thiên tượng, hoặc hiện tượng nguyệt thực có thể mang lại những điều không may và là dự báo cho tai họa. Cuộc đời nhân mệnh cũng có những thời điểm như trùng gặp giữa hoàn cảnh xã hội và tính cách bản thân thành hành động dẫn tới thay đổi đột biến. Trong thời kỳ sốt đất, nhiều người sẽ trở nên giàu có giai đoạn đầu, và có thể trở nên khó khăn cùng quẫn vào giai đoạn cuối. Có người ước rằng, nếu không hay biết về những vấn đề đó, cuộc đời có lẽ an ổn tránh được thất bại nặng nề. Nhân sinh cuộc đời đều cho mỗi nhân mệnh một giai đoạn tuyệt vọng, bi quan với cuộc sống. Bất kể ở vị trí địa vị xã hội hoặc tài sản lớn mạnh đều trải qua những giai đoạn này. Sự lo âu là mặt tất yếu cho thấy tác hóa mạnh của Hóa Kỵ và Lưu Kỵ cùng ám tinh tới hạn hành. Có nhiều những điều mắt thấy tai nghe điều châm chích. Khi nhìn vào đánh mất, thứ dễ gây họa nhất là đất đai vì là tài sản của đời người. Thí như khi gắn với việc bán đất đai nhà cửa, nhìn thấy hung sát tinh, là dấu hiệu của suy bại bán tài sản cuối cùng của bản thân. Đất đai là tài sản giá trị lớn của mỗi nhân mệnh, do vậy cung Điền Trạch cũng góp phần là một cung có tên trong 12 cung trên thiên bàn. Xã hội có những việc tranh chấp đất đai, khiếu kiện kéo dài, huynh đệ tương tàn. Cũng thực bởi điền trạch có thể quy đổi sang vàng bạc, tài sản Tài Bạch. Nghiên cứu tử vi, chớ thấy cung số phân biệt cường cung Mệnh Tài Quan Phúc Phối Di và nhược cung Tật Điền Bào Phụ Tử Nô. Lắm kẻ có tử tức xuất trúng, trở nên thành tựu lớn, có phú quý. Có kẻ được nhờ bởi điền trạch, có kẻ gặp may bởi phụ mẫu trợ lực. Tuy nhiên trên thiên bàn mối quan hệ Phụ Tử Nô chỉ người này còn rất phức tạp khi suy xét, cung Phụ Mẫu không hẳn chỉ sang quý hay bần khổ của phụ mẫu. Cũng nếu quý tiện bởi xuất thân cũng chỉ xét giai đoạn, bởi số phụ mẫu có vận phát vận tàn, số nhân mệnh tiểu nhi cũng biến động dựa trên rất nhiều đáp số. 




Cái dễ nhìn hơn là nhìn tố chất của bản thân nhân mệnh. Kẻ mệnh quý ắt trừ phi họa kiếp nghiệp quả tuyệt khí, bằng không ắt cũng đứng trong vị trí ganh đua với đời. Phần nhiều còn lại là mệnh thường, khi luận phú tử vi, cổ nhân định cách rất nhiều bố cục xét phú gia địch quốc, danh trấn chư bang, công khanh,... thực tế khi nghiên cứu nên bỏ qua ngữ nghĩa này, xét tới tính bản chất của nguyên cục và trường hợp đặc biệt xảy ra khi tác hóa một tổ hợp phản cực hoặc thành cách bởi Mệnh Thân Hạn mới rõ tú khí để luận định cát hung. Một chữ Đồng là người thâm độc, lòng hiểm dạ ác, nhưng cũng có thể là người nhân nghĩa, phúc dày khí vượng. Một chữ Cự từ tên phản bội, phản kháng đối lập cho tới người đứng lên đấu tranh công lý, người dám nói những điều phải, tố những điều sai trái. Điều này tác động chủ bởi hoàn cảnh. Cự Môn kiến Sát Hình quyết đoán trong thời loạn lạc luận quý cách hơn Thiên Đồng hội cát. Cũng như khi thể thanh lọc của quốc gia tới các tổ chức bên trong đang sâu rộng, Tham Lang hội Tang Lộc tức Lộc Mã giao trì là mệnh cách thay vì luận phát phú bởi "Lộc Mã giao trì", tại đây có Tang Môn che giấu dễ dính họa tương đối nặng nề dù Tham Lang khi đắc cách có khả năng tạo mối quan hệ, lôi kéo Thiên Đồng nhị hợp cùng đồng lòng tham gia thành một thế cục tương đối vững chắc. Thứ trôi qua của cuộc đời là mỗi một năm là năm kế tiếp. Vận làng, vận nước cũng vậy. Khế hợp thì thời tới, dễ nắm thời để thành tựu. Bất hợp là nguy tới. Điều nên hướng tới khi trải nghiệm những khổ cùng của hạn hành là ngày kế tiếp Thái Dương vẫn có thể chiếu sáng khởi dậy lại niềm tin. Kể ngày mai không thấy Thái Dương, người lạc quan vẫn nhìn thấy sự công bằng của thiên địa tuy có phân định thời điểm tuyệt khí mỗi cá thể tới sớm hay muộn. Người nghiên cứu huyền học, tôn giáo nhận định nếu ngày mai không nhìn thấy thái dương, tới chu kỳ tiếp theo, bản thân trên thể xác khác sẽ nhìn thấy thái dương tại một hoàn cảnh khác, và chỉ nhận ra các kiếp sống sinh diệt, chính bản thân như người mất trí được khôi phục nếu đắc đạo thấu suốt được nhân duyên. Điều này được trả lời bởi chính người tự thực hành. Một nhân mệnh gặp thời ở vị trí chức trách xã hội tương đối lớn, phụ trách một lĩnh vực lớn có lần trao đổi với người viết về công bằng. Người viết có nhớ tới cồ nhân từng xét tới với đời sống, kể cả mạng sống người ngắn kê dài, phú quý kẻ hơn người kém, địa vị kẻ sai biệt. Tất cả đều bốn chu kỳ sinh lão bệnh tử, vạn vật là sinh trụ dị diệt là công bằng.

Monday, February 7, 2022

Thay đổi đột biến trước thời cuộc

 Đột biến, đột phá là điều quan trọng trong đời thực. Trong tử vi, các tổ hợp sao phối hợp hạn hành hình thành các tính chất đột biến. Trong quá trình phát khởi của vạn vật, đột biến thay đổi bản chất và quá trình dịch chuyển nhanh chóng. Phàm nếu không có sự đột biến từ điều nhỏ là gien như khoa học hiện đại nghiên cứu thì khó có thể xuất hiện nhân mạng từ vượn người. Thích nghi có thể mang lại đột biến. Khôi Việt là sự biến động từ thấp tới cao. Không Kiếp là sự đột biến nhanh chóng nghịch với phát triển thông thường. Sự đột biến phân định cát hung, cũng Sát Tinh phân định cách cục tốt đẹp hay phá bại. Điều hung họa là những đột biến gây ra bên ung thư, đột biến về công nghiệp có thể gây ra tai họa về tự nhiên, tuy nhiên tính hai mặt cũng tạo điều phát triển tới người. Đột biến và đột phá thường xuất hiện bởi tính chất một số Chính Tinh và Bàng Tinh. Cự Môn thường đột biến bởi tư tưởng phản cực. Phá Quân đột biến do sự khám phá, khai phá cái mới. Tử Vi đột biến bởi hành vi, tư tưởng quản lý, phương hướng. Vật từ đại tới tiểu đều tồn tại đột biến trong nội hình. Trong quá trình nghiên cứu huyền học, hai chữ đột phá là điều kiện để xét mệnh tú khí hay vượng khí một thời. Để xét hành vận có sự phát triển bình ổn, bình hòa, hay tạo bước tiến nhanh chóng thành công. Khởi sự từ bần hàn, vươn lên trong xã hội cần những đột biến tích lũy từ những thay đổi Song Hao, Tử, Phá, Cự, Mã, Cơ,... Những cơ hội vẫn phát sinh như chủng tử trong mọi hoàn cảnh. Một bàn cờ  có hữu hạn bước đi bởi quy luật giới hạn nhưng sự phát triển song hành của xã hội với tâm tưởng mỗi nhân mệnh luôn vận động, khiến cơ hội mong muốn về công danh sự nghiệp mỗi nhân mệnh đều bình đẳng. Sự đột biến phát khởi từ những sự vận động thay đổi rất nhỏ. Nếu không có tư tưởng khởi tham vọng, tham muốn về tài danh khó có thể đạt được bước tiến. Tham muốn không được dẫn bởi hành động cũng khó có thể thay đổi hiện thực. Tích lũy thay đổi nhỏ dẫn tới đột biến, đột phá. Trong quá trình khai phát sự nghiệp, mỗi thời thế đều có nhiều khó khăn tại thời điểm nhân mệnh sinh sống. Từ giai đoạn chế độ quân chủ, nô lệ tới giai đoạn xã hội hiện đại. Một bước trải qua vị trí sự nghiệp cao nhất trong xã hội trong tính phân biệt là vua và hoàng đế, bởi sự thai sinh, tính hiển nhiên phụ truyền tử nối. Vạn vật sinh sôi phát triển trong thiên hạ cũng có những quy luật phát triển để đạt được gọi là môi trường. Thí như nơi sa mạc khó có thể nhiều loài sinh vật sống. Nơi cực địa khắc nghiệt cũng khó có thể gặp nhiều cây cỏ phát triển như tại khí hậu ôn hòa. Con người cũng vậy, bản tính có tính chất liên hệ quan trọng với những thành tựu hay hung họa gặp phải. Cũng không hẳn vật chịu nơi khắc nghiệt có thể sinh sống tại vị trí ôn hòa cũng là lẽ thường của tự nhiên. 




Quá trình phát triển sự nghiệp của nhân mệnh bình thường trải qua các giai đoạn địa vị và chức trách chính trị, xã hội, hoặc khởi kinh thương, từ tiểu phú tới đại phú. Bước chuyển mình như giao long luôn chờ thời cơ, nuôi dưỡng từ Thai phát triển tới Đế Vượng. Xét tới tính chất nguyên thủy của tinh đẩu. Khi khí số bởi Sát bởi sự biến dịch của tư hữu liên quan từ giai đoạn loài bầy đàn tới phát triển thành gia đình, gia tộc. Cũng từ giai đoạn lịch sử của động vật bản năng tới con người. Sự phân định của nhóm huyết thống bởi sự nỗ lực của một cá nhân hoặc hưởng phụ ấm thừa quang, khiến đặc quyền tăng cao trong xã hội dễ tạo nên ý niệm bất công bằng trong xã hội. Tuy nhiên tính bất công bằng này là nỗ lực của giai đoạn tiền thế của phụ mẫu gắn chặt với nhân mệnh cũng biểu hiện trên lá số.  Sự vượt trội của những nhân mệnh còn lại bởi tính bất công bằng, vươn lên làm chủ như đột biến của tầng lớp xã hội, như từng sóng lớp thay thế của Phá Quân. Khi ý chí của nhân mệnh khởi sinh nghèo khó, có thể trở nên lớn mạnh hơn bộ phận còn lại được hưởng thành quả từ tiên nhân. Thí như cách Vũ Tham Hỏa Hình Ấn khi người viết trong thời gian vừa hòa bình, đa phần tài sản không nhiều chênh lệch, chiêm nghiệm có nhiều nhân mệnh xuất thân bần hàn, một tay dựng cơ đồ, làm gốc đời sau hưởng phúc ấm. Thầy địa lý trước xét định có gốc nơi tú khí mộ kết phát, trong họ khởi sinh điềm kẻ tài năng khởi hưng thịnh tổ tông. Mối quan hệ tông môn thời kỳ phong kiến liên kết chặt chẽ, quy định liên kết bởi pháp luật thời kỳ này, cũng xuất hiện tội trạng tru di tam tộc, cửu tộc liên quan tới một người mắc tội, nhiều đời gặp nạn kiếp. Ban phát về phong tước kiến địa, khi tài sản điền thổ lớn, địa vị chức tước cao nghĩ tới huynh đệ dần tới tử tôn dòng họ được hưởng phúc. Khi xét định khuynh hướng Tài cách và Quan cách có điểm dị biệt. Với Quan cách, tính chất thăng giáng và thời cơ trong bộ máy điều hành, sai khác với Tài cách có thể phát phú trong môi trường rộng. Thí như khi bước chuyển theo đường binh nghiệp, quy mô trong lĩnh vực này là nhỏ so với toàn thể xã hội. Đặc trưng các mệnh cách khuynh hướng theo đường binh nghiệp đa phần bởi cách cục sau. Liêm Sát, Phá Quân hội Sát Hình. Sát Phá Tham, Liêm Tướng hội Kỵ Hình Binh. Cách cục còn lại nhiều trường hợp hội Kỵ Hình hoặc Kỵ Binh. Hoặc Vũ Sát Phá Liêm, hay hội Địa Kiếp. Thiên Hình hình thành trong nhiều mệnh số theo khuynh hướng trên và nghề nghiệp liên quan tới tính chất chịu đựng khuôn phép, kỷ cương, tượng số ứng hợp tính Kim của Thiên Hình. 



Hình Diêu Y an theo tháng với Hỏa Linh hay Tả Hữu. Tính chất biểu hiện rất rõ khi nhập mệnh cách. Thiên Hình do tính khuôn phép, gò bó phối hợp Thiên Diêu thuộc âm ám có tính chất của vật dục và mù quáng. Hình thành nhóm sao nguy hiểm khi kích phát tính âm ám và hình nhắc khi giao hội một số cách. Người theo binh nghiệp hay tư pháp chủ sự cứng rắn, với Thiên Hình là tác phong, Hình Y như y phục mặc khiên cưỡng. Nếu tốt đẹp hóa sức quyết đoán, kỷ cương trong cả tài quan. Khi cách cục hóa hung nặng tính chủ quan, phóng đãng, vượt quá quy định. Nhiều nhân mệnh phát tài bởi Hình Kỵ bởi vượt qua giới hạn để tạo đột biến. Tuy nhiên cũng dễ gặp vấn đề liên quan tới hình pháp. Binh Hình Tướng Ấn là sự giao hội của hai nhóm Tồn Tướng Ấn và Hình Diêu Y. Thanh Liêm Binh hội Hình Diêu Y mang ý nghĩa khác. Lại Thiên Hình đồng độ mỗi tinh đẩu trong nhóm Tồn Tướng Ấn mang ý nghĩa sai biệt. Thiên Hình dễ phối hợp Sát Kỵ thành các cách cục mang ý nghĩa hung, do đặc tính phối hợp mâu thuẫn trong nội tổ hợp Hình Diêu. Trận đòn roi dạy dỗ của Phụ Mẫu cũng là Thiên Hình. Tính chấn chỉnh, khuôn phép của cách Hình Diêu Y tăng rõ đặc tính khi hội Lộc Tướng Ấn. Thấy lợi không tham vội là điềm tốt. Thấy họa không rối loạn, tính trật tự, phép tắc là Thiên Hình. Do vậy hỉ gặp Hóa Khoa, kỵ gặp thêm Hóa Kỵ. Cách Quyền Hình là phù hợp tính chất Thiên Hình trong Tam Hóa hội sao này. Tư tưởng phản đối thường xuất hiện tại Cự Môn, gặp Phục Binh thành quyền lực, gặp Thanh Long hóa hoạt ngôn, cơ biến. Nhờ có tư tưởng phản đối, cho tới xung đột, cự cãi, những vấn đề phát sinh mới hình thành và thời điểm nguy khốn có thể vãn hồi phát triển trở lại. "Cự Nhật Mệnh viên, hạn đáo Sát Hình Kiếp Kị tu phòng tâm phế, kiêm Thiên Mã hãm tật tứ chi, duy hạn Song Hao khả giải". Hình Kỵ Kiếp là cách độc của Thiên Hình, chủ thái quá. Cự Môn gặp Sát Kỵ, tác động phế tâm, có Mã lạc hãm tức Tang Hư Mã là hung cách. 



Tổn hại của Cự Môn trong cách Cự Nhật chủ tạng tâm, bất mãn hóa bệnh nhiệt, bế tắc do ám của Cự. . Song Hao là thủy địa tính hao tán phá khí bế tắc của Cự Môn. Tính chất Song Hao hay bản chất cách Hao Kình và Hao Đà thuộc tính giảm hung. Thường nghe "Của đi thay người" mang ý nghĩa tương tự cách cục này. Cự Môn tượng cánh cửa đóng lại, nhiều sự tuyệt vọng khi kiến Sát Kỵ tạo khó khăn chồng chất. Song Hao tăng sự lưu thông, tạo những thay đổi tốt. Trời đất xoay vần, nhược lúc vui sướng phòng ngày oan khiên. Cục số của một nhân mệnh bỗng chốc thay đổi theo thời thế. Khi kẻ lũng đoạn, mưu trí thành tựu, người hiền đức gặp họa tai. Sự xoay chuyển không thể hiện rõ mối nhân quả về nhân lành quả lành. Tuy nhiên thể hiện rõ kết quả của sự nỗ lực với mục đích của đương số. "Hình Hổ Cái Mã Tứ Linh, cẩm bảo y hốt cung đình thảnh thơi". Thiên Hình hội Thiên Mã trong cách cục trên được kể là hay. Bên trong hình thành cách Tuế Phượng, bên ngoài Mã xung trong bố cục Hình Mã. Phú luận ứng với những trường hợp đặc biệt tại một số cách cục, người nghiên cứu tử vi tránh việc áp dụng tùy ý khó có thể toán mệnh đúng. Mệnh lý thậm thâm, lý lẽ biến diệu không mang huyền bí, thêu dệt, tuy nhiên cũng không giản hóa. Ngẫm về mệnh số đời người, có nhiều điều vui thú, như nước chảy mây trôi. Khi luận phi tinh lưu hóa cung độ, đáng ngại là Hình Kỵ, tiếp theo mới tới Lục Sát. Tang Hư Mã là tổ hợp khó khăn và nỗ lực. Do vậy cách Lộc Mã giao trì được đánh giá hay do tính chất tự phòng vệ do nghị lực vượt qua khó khăn. Cổ nhân luận rõ nơi biến động của Thiên Mã phát sinh do địa chi, là nơi khó khăn bởi Tang Môn và Thiên Hư hội họp. Cũng là vị trí có thể vượt lên. Cũng như Thanh Long trong nhóm Phi Thanh Phục, với Phi Liêm là tan vỡ, Phục Binh chủ tuân theo. Ngay trong cách cục hay Tồn Tướng Ấn Bệnh, luôn xuất hiện Bệnh Phù chủ bệnh tật, khó khăn. Trong âm có dương, trong thế bĩ thoát bĩ, bĩ cực thái lai. Tuy nhiên thường khi bĩ tới, người rất khó vượt qua, thường luận quẻ hung. 



Sự đột biến có thể hóa thành tối hung, phá tán mất hết tài sản. Hóa công phân diệu, trước thi khoa cử dùi mài kinh sử, theo đuổi quan lộ, trị quốc, đầy đủ tài đức, khi vận thi không thuận cũng không mất tinh thần. Hóa Lộc trong nhiều trường hợp là tinh thần, tích lũy niềm tin của nhân mệnh. Đây là điểm cần lưu ý khi định cách cục. Lộc Mã giao trì, khí đương tiến tạo sức bật. Hóa Lộc không hoàn toàn chỉ lộc. Thí như cùng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, người bi quan, kẻ linh hoạt suy tính để thoát khỏi và vươn lên. Lộc Kỵ là một bài dài để mô tả hóa khí. Có khi Lộc Mã là niềm tin vượt qua bệnh tật ung thư bằng tự lực. Trong cách Tang Hư Mã Khách, sao Tang Môn nhập mệnh được đánh giá nghị lực vượt qua mất mát bởi giao hội của các tinh đẩu trong nhóm sao này mang ý nghĩa di chuyển để vượt lên. Nội sinh khi Chính tinh Hóa Lộc rất lớn. Thí như tượng cách cây mọc mầm vượt lên trên đá sỏi. Tượng lộc khí là thời gian xuân tới vạn vật đâm chồi nảy lộc sau thời kỳ đóng lại của Kỵ mùa đông. Tuy nhiên một số phát triển mạnh nơi đông tàng ẩn. Đều có chỗ đắc dụng. Tế bào sinh trưởng thái quá là ung thư. Giai đoạn tiền vận thí như rất nhiều sự tác động về tình cảm hay vấn đề xã hội khiến nhân mệnh khó có thể chuyên nhất. Khi xét định chế hóa dòng Sát Kỵ của Đông A, áp lực khủng kiến và tính che ám của Kỵ tác động mạnh khiến nhân mệnh tìm phương hướng và sai lầm từ những biến cố nhỏ. Khả năng nhẫn nại có tác dụng lớn trong định hình lại cách cục. Việc phá bỏ có thể nhanh chóng tuy nhiên vấn đề xây dựng lại rất khó khăn. Hóa Kỵ là khí hóa cần thiết để tạo sự thay đổi lớn. Nơi khí áp đảo có thể dụng cách khởi tại tính lạc quan của chính nhân mệnh trước khó khăn và nghiêm khắc Thiên Hình những kinh nghiệm sai lầm. Lưu Kỵ Hình hay Kỵ hội Sát tinh là tổ hợp phức tạp, cũng mang ác tính, giải thích việc nhân mệnh có người hung bạo đắc thành tựu, người hiền lành tuy nhiên nếu dễ bất cẩn trước những phức tạp của cuộc sống có thể gặp những bất ngờ, thuộc cách người hiền gặp nạn. 

Saturday, February 5, 2022

Tử vi niên hạn Nhâm Dần

 Tử vi không mang lại lợi ích với việc cuồng tín, cần nhìn nhận thực tế những tính cách được dự đoán và những điều thay đổi tốt là tu tâm và tu thân để đạt được kết quả phúc lợi. Số mệnh của bản thân nằm tại chính bản ngã của mỗi nhân mệnh và thay đổi theo nhận định năng lực tri kiến của nhân mệnh với hoàn cảnh. Phúc khí và bại khí chẳng qua là kết hợp giữa tâm và hành. Thí như xét đoán về hình tướng, thường nhận định, dự đoán một phần người hay kẻ ác qua những cử chỉ, hành động để tìm hiểu về tính cách của người trong hợp tác, hoặc hôn phối hay giao tế. Ý chí nhân mệnh tâm từ diện tướng sinh từ hòa. Điều này luôn tồn tại bởi sự suy xét của mỗi nhân mệnh trước người khác, thành những câu phú về hình tướng tương hợp tính cách. Thí như hình tướng giảo hoạt, hình tướng đa ngôn, túc trí, kém trí tuệ. Một số bệnh như Down hình tướng nhận định sẽ có phần kém trí tuệ. Sự phát triển dự đoán diện tướng với tính cách như quy luật của tự nhiên, phát khởi từ vạn vật từ động vật, loài săn mồi hay ăn cỏ. Nghiên cứu tử vi dựa vào bát tự thời điểm khởi tạo một sinh mệnh có phần phức tạp về nguyên lý do thực tế dựa trên nguyên tắc dịch học nghiên cứu rất phức tạp, hệ thống tri kiến tạo ra lớn tuy nhiên thâm sâu. Tử vi cần tâm hành tĩnh tại, không thiên lệch tính chất các cách cục. Định cách tác hóa của thiên bàn biến ảo phức tạp, một bàng tinh có thể khiến tổ hợp thay đổi hoàn toàn tính chất. Lại xét nguyên cục bản cung hay tam hợp chiếu, xung chiếu mang ý nghĩa sai khác nhau. Cũng như Phi Thanh Phục ba sao vĩnh viễn tam hợp, bản cung mệnh mỗi tinh đẩu Phi Liêm, Thanh Long, Phục Binh mang ý nghĩa sai khác. Khi xét chung định tổ hợp tương tác của toàn bộ nhóm sao này phối hợp nhóm Chính Tinh tạo cách cục. Thí như năm Tân Sửu 2021, nhóm Phi Thanh Phục hội cùng Tang Hư Mã Khách khiến Lộc Tướng Ấn Bệnh hội Tuế Phượng hay Tứ Linh. Xét định cách tại 3 cung Tị Dậu Sửu đắc 2 vòng Thái Tuế và Lộc Tồn được đánh giá hay hơn đối cung gặp khó khăn bởi Tang Hư Mã và phân li, tán loạn của Phi Thanh Phục. Nhân mệnh sinh năm này khởi mệnh tại Tị Dậu Sửu với cách cục chính tinh đắc vượng được đánh giá hay. Tại đối cung Hợi Mão Mùi gặp cách Phi Tang Binh Khách nhiều khó khăn, bôn ba. Chỉ xét lý tính nguyên cục vậy, không xét gia hội thêm bàng tinh khác. Thử như hội thêm Hóa Lộc thành cách Lộc Mã giao trì được đánh giá hay. Cung độ Thanh Long có thêm Hóa Kỵ là tốt. Tuy nhiên xét về nguyên cục, tại cung độ Tị Dậu Sửu với Hổ Phượng Tuế Lộc tượng cách tốt đẹp hơn. 



Năm 2022 thuộc năm Nhâm Dần, chữ Nhâm chứa đựng nhiều huyền cơ, hình thành các bố cục trên thiên bàn. Thông tin được chú trọng ban đầu là các sao Thiên Lương, Tử Vi, Tả Phụ và Vũ Khúc. Lộc khởi từ Lương, Quyền khởi Tử, Khoa khởi Phụ và Kỵ khởi Vũ. Hóa khí này hai vị trí Lộc và Kỵ tác động rất rõ rệt, Quyền và Khoa dẫn động cho cách cục lưu hóa không triệt để như Lộc Kỵ. Phàm nhân mệnh xét định tiểu vận, chú trọng tới diễn biến phối khí của gốc đại vận. Lộc trùng điệp, nhân định tắc phát. Kỵ trùng điệp, điềm hung diễn tiếp. Thường thấy Hóa Kỵ là có điểm trắc trở, nguyên căn bản chất của nhân mệnh không đủ chế ngự với những tác động do Kỵ tạo nên. Khi một tai họa ập đến ẩn trong đó là cơ hội kích phát. Tuy nhiên thường khó có thể tránh sự bị động của mỗi con người trước tác động dồn nén của Hóa Kỵ, khó có thể truy tìm giải pháp đột phá để hóa nguy hiểm thành cơ hội. Đây là điều hiển nhiên thường gặp phải. Thứ phát là tính che mờ, che lấp của Hóa Kỵ, khiến mệnh chủ rơi vào vô định hướng khi đứng trước các tình huống quyết định khó khăn. Đặc tính ám của Kỵ được xếp trên Cự Môn và Đà La hay Thiên Diêu. Nhóm Tử Vũ Liêm tại can Nhâm gặp bộ Quyền Kỵ. Xét về cách cục Tử Vũ Liêm có tính chuyên quyền, khi lưu Quyền Kỵ hội cách phát sinh tư tưởng quản lý. Hóa Kỵ do Vũ Khúc tạo thành có khả năng giải quyết công việc tốt do tính chất Vũ Khúc giỏi việc xoay sở. Xét bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, cách cục này càng tăng mạnh tính mâu thuẫn trong nội tâm, tạo ý chí kích phát hình thành tại 6 cung độ Hợi Mão Mùi, Tị Dậu Sửu. Tại trục Tị Hợi là hai nhóm sao Tồn Tướng Ấn và Thanh Phi Phục. Can Nhâm khiến Lộc Tồn về Hợi cung. Tại cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tại Hợi Mão Mùi sẽ gặp Tồn Ấn tăng tính cản trở của Hóa Kỵ. Phá Quân hội Tồn Kỵ là điểm hung cách, có lợi cho nghiên cứu chuyên sâu về một lĩnh vực tuy nhiên bất lợi về kinh thương hay quan cách. Nếu hội thêm Tả Hữu khả giải. 



Định cách tại cung độ Tị Dậu Sửu với nhóm Thanh Liêm Binh ưa Quyền Kỵ cách cục độ số gia tăng, chủ phát quyền lệnh, cũng hiển hiện tính chất cơ biến của Thanh Kỵ. Tinh đẩu còn lại hóa khí trong Tứ Hóa là Thiên Lương khởi tại hai cách cục chính Âm Dương Lương và Cơ Nguyệt Đồng Lương. Bố cục này lưu Lộc hội trường hợp Âm Dương sáng được đánh giá hay. Tại tổ hợp Dương Lương cư Mão, Thái Âm cư Hợi hoặc VCD có Nhật Nguyệt chiếu hư không tại Mùi kiến Lưỡng Lộc, được kể là hay. Xét cách cục này hưởng lợi bởi năm Nhâm Dần. Địa Chi khởi Dần gặp Đào Hoa tại Mão địa, cách Việt Đào Triệt Lưỡng Lộc là vui mừng đắc lộc khi thay đổi phát sinh Tài cách và Quan cách. Trong trường hợp hội Không Kiếp tại Hợi cung là bạo phát lớn nếu gốc đại hạn vững. Lưu Thái Tuế an Dần cung. Cách cục Tuế Đà Tiểu có Phượng Hư Mã Đại xung chiếu tại Thân. Cách cục Tuế Hổ Phù không gặp Phượng Khốc tam hợp chiếu do vậy khuyết thiếu. Tại vị trí Dần gặp Thái Tuế tuy nhiên gặp Tiểu Hao trong cách Hao Đà không mấy hay. Khi hội Kỵ nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm hình thành luận bất cát, cách Đà Kỵ Hổ là bố cục tính Ám vượng. Năm hổ Nhâm Dần, bộ Phi Tang không hình thành tại Mão cung, thay thế bằng cách Tang Mã Phượng Khốc thực tế là cách Mã Khốc Khách về Thìn Thân Tí. Nếu có nhân mệnh lưu tiểu vận tới Mão cung năm Tân Sửu, nay dịch chuyển về Thìn cung gặp cách cục giải mạnh, cát hóa. Tuy nhiên cần cẩn trọng có oan tình do Thìn cung nhập La Võng chứa Tang Khốc. Nếu nhân mệnh vận hành nghịch lưu vận về Dần cung gặp cách Tuế Đà có Mã Phượng xung có điểm tốt. Cách Phi Tang tại Mão cung năm Tân Sửu 2021 là sự hóa định giao của nhóm sao an theo Thiên Can và Địa Chi tác động mang hung họa tới. Năm Nhâm Dần, cách cục của mệnh cách có Mệnh, Thân, Hạn tại Mão cung là sự chuyển biến mạnh, khi Đào Việt Triệt Tồn Tướng Ấn tại đây, chủ sự biến chuyển có tính chất tốt đẹp. 



Điểm xét định còn lại do tổ hợp Chính Tinh và Sát Tinh tác hóa định đoạt. Cần lưu ý với cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham tại Hợi Mão Mùi, vận hành lưu tại đây sẽ có những thất bại, tuy có nỗ lực lớn bởi Đào Việt. Đặc biệt cách Liêm Tham, Vũ Sát, Liêm Sát hình thành cần cẩn trọng trong năm này. Một số cách cục hình thành Lưỡng Lộc cách, có trợ tinh mạnh hoặc hội Khoa Xương Khúc Tả Hữu Ân Quý Thai Tọa, hoặc Tham Hỏa, Binh Hình Tướng Ấn, Dương Lương Xương Lộc là niên vận hanh thông. Nếu có Không Kiếp cát hung tương bán. Kình Dương và Đà La lưu tới Tí cung và Tuất cung. Với cách Kình Đại Mã Phượng Khốc ẩn cách hoạch phát, tuy không gặp lưu Khôi Việt, lại có nguyên cục Khôi Việt, gia cát là cách nắm quyền lệnh thay đổi cuộc đời bởi quyết định quan trọng tại thời điểm bước ngoặt. Trong cuộc đời mỗi nhân mệnh, thế thái thịnh suy bởi những quyết định cuộc đời. Có thể khi đưa ra xuất hiện những điều sai lầm khiến bản thân rơi vào khủng hoảng, hối tiếc là vấn đề thường gặp. Tuy nhiên cũng có những quyết định sửa chữa, khắc phục mang tới tương lai tốt đẹp. Có những thời khắc hoàn cảnh tác động khiến nhân mệnh đưa ra quyết định khó khăn. Khi rơi vào thế bế tắc thường khó có được sự sáng suốt. Thời kỳ nạn binh đao những năm trước giải phóng, có những người mẹ thương đứa con, muốn hỏi đường cát hung họa ách khi lên đường binh nghiệp, đến hỏi sư thầy trong chùa, nơi thường nghiên cứu kinh sách, huyền học mệnh lý thời kỳ trước thường có nhãn quan tinh tường. Giai đoạn này hình thành ký ức sâu sắc về mệnh lý của người viết về những điều chiêm nghiệm. Thời kỳ trước đây, phú gia mới có vàng bạc tích trữ để lại đời sau. Giai đoạn hiện nay, những gia đình bình thường tiên tổ giữ lại đất đai trước đây không có nhiều giá trị, vận thế đổi dời, một mét đất ngang lượng vàng, tài sản tiền nhân lưu lại tựa một đời người nỗ lực hanh thông. 



Vận thế của thời cơ có thể đưa nhân mệnh trở nên phát tài vận, cũng có thể khiến nhiều người trở nên tiếc rẻ. Thời kỳ mạng công nghiệp những người trẻ trở nên giàu có đột biến khi cơ hội tới trong các lĩnh vực thay thế tre già măng mọc. Có rất nhiều người tới trung niên vẫn tay trắng, không từ bỏ mục đích của bản thân và hoạch phát lớn khi nhập vận hanh thông, khi khí hóa của Sát tinh thái cực, những điểm che ám, trắc trở của Đà Kỵ hóa thành hoạch dị phú cường. Kinh nghiệm cũng chính là thứ Sát Kỵ tạo nên, Lực hung của Sát tinh rất mạnh, có thể khiến nhân mệnh trầm ải qua những giai đoạn, từ đó thích nghi để trở nên tinh tường, gọi là chế hóa. Khi kinh nghiệm không có và thêm sự nhiệt huyết của tiền vận có thể khiến nhân mệnh trắng tay, tuy vậy cùng dần hình thành năng lực xét đoán về sau tránh những điều nguy hiểm. Sự thoái lui, thất vọng khi gặp biến cố nặng nề khiến cuộc đời nhiều nhân mệnh trở nên khổ cực về sau. Trời đất có họa phúc. Điềm may là thứ thiết yếu duy trì sự sống hơn nhiều vùng hiểm địa chiến tranh, thiên tai nhân mạng tại vị trí này không do bản thân tạo ra phải chịu hậu quả. Địa Kiếp là kiếp nạn có tính bị động. Thiên Không phần do tạo tác không ngờ nạn tới. Năm Nhâm Dần, có người gặp may, kẻ gặp rủi. Tuy nhiên xét về tổng quan cuộc đời luôn có những vận thăng trầm, được mất. Có lá số nhân mệnh đại phú có thời điểm phải trắng tay. Có nhân mệnh khởi sự từ khó khăn đi lên. Nhân trí tín lễ nghĩa ngũ thường mang lại giá trị của nhân mệnh, cũng phòng ngừa nhiều họa tai. 

Wednesday, December 29, 2021

Ứng nghiệm với quẻ gieo

 Trong toán mệnh, vật quân bình là cát. Sự quân bình của âm dương là điềm lành. Trong đời người, không tật ách, bệnh hoạn là phúc. Chữ phúc là suy xét của quá trình phát triển, cứu giải qua hạn hành tai nạn và khi về các hành vận thăng trầm có thể vực dậy. Có người bạn lâu năm người viết hơn nửa đời theo dưỡng sinh khí công, đi khắp đây đó tìm các môn khí công biệt truyền để nghiên cứu, học hỏi không quản tiền bạc công sức. Tuy tài quan vận không lớn, được thân thể tráng kiện vô bệnh hoạn, tinh thần sảng khoái. Lại mở lớp truyền đạt, theo nghiệp y đức giúp người lợi thân. Cũng là điểm mừng của mệnh số. Cũng có nhiều người rơi vào suy tính cả đời tiền bạc, danh tước, được ít mất nhiều, cũng là niềm vui khi được mất, tuy nhiên khi bệnh tật khổ ách khó cam chịu.  Sức thể tráng kiện, tinh thần sáng suốt là cần thiết để có thể tạo những điều phi thường từ việc bình thường. Rất nhiều việc phi thường tạo ra từ những điều bình thường, đơn giản trong đời sống. Cũng vậy, có những điều bất ngờ tới tai họa nặng nề từ những sơ suất tạo ra. Cổ nhân tất luận "Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí". Điều họa phúc là phép định tính, thí như hỉ mừng, khổ não. Phúc là điều tốt đẹp, họa là điều mất mát, hung họa. Việc trong đám cưới chạy tang là chuyện có thực tế. Kẻ vui mừng khi tranh giành được đất đai, người buồn khổ vì cảnh tương tàn. Việc Hỉ thường có mặt khi đạt được mong muốn, cũng thường xuất hiện khi đoạt được, tranh đoạt, tranh đấu cho tới tranh cướp. Hoặc có kẻ mua được giá rẻ, người bán mừng vì bán được giá đắt. Cùng vật mua bán, cách định tính hai bên có thể suy tính khác nhau. Điều này dẫn tới một điểm quan trọng, việc vui mừng nên có tri kiến, hoặc khả năng suy tính, luận định tốt đẹp hơn việc thiếu khả năng xét đoán, nhận định sai về giá trị. Việc hỉ mừng đặc trưng cho tất cả tinh đẩu không riêng Đào Hồng, Song Hỉ. Đặc biệt, đa phần tất cả hung sát tinh đều phát sinh tính tranh đoạt và hỉ mừng khi hợp hóa cách cục. 




Do vậy, thực tế điểm vui mừng của mỗi nhân mệnh đều ẩn một cách cục Sát cách cường vượng. Thí tới, việc hỉ mừng mỗi nhân mệnh có tính sai biệt. Khi người có tiền bạc đầy kho, việc mất mát tiền của có thể không quan trọng bằng sức khỏe, người nghèo phải đánh đổi sức khỏe để mưu sinh. Xuất hiện sự bất bình đẳng là thực tại được công nhận. "Nhất tướng công thành, vạn cốt khô". Trong nội bộ một xã hội, cũng xuất hiện những bữa ăn có giá trị bằng khoản nợ tiền chữa bệnh nan y của người nghèo, liên quan trực tiếp tới sinh mạng. Trên phương tiện xã hội tiếp cận càng lớn, việc nhìn nhận sự tách biệt càng rõ. Điều quan trọng, là có những sự bất mãn thực tế hiển hiện xảy ra, tức Cự Môn chính là một nguyên nhân để thúc đẩy mỗi nhân mệnh. Sự bằng lòng vô định hướng không khiến nhân mệnh vươn lên mạnh bằng việc ôm bất mãn nỗ lực. Cự Môn chủ tinh của nhóm sao chỉ hai chữ Cự Nhật có thể vượt trôi hơn 2 nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm và Sát Phá Tham. Với việc mất định hướng, vô định cũng là điểm khó khăn dẫn tới Tử Vi là tinh đẩu quan trọng để vươn lên. Thăng quan, tiến chức, phát tài, đắc danh, cầu duyên đều dễ là điểm hỉ mừng. Tuy nhiên có một số trường hợp việc lên chức mang lại khá nhiều phiền muộn, giữa hư quyền và thực quyền, giữa vị trí thăng tiến thường sắp xếp để bị luận tội, hay việc phát tài do bán chất cấm, buôn lậu có việc thất kinh trong khi phát tài. Việc ám lộc có sức phát lớn hơn chính lộc nhiều do nguyên nhân từ ám lộc cách có thể phát kiến từ những trao đổi ngầm. Do vậy thực chất cách Vũ Phủ Lộc hay Thái Âm Lộc đều mang tính chất tài cực vượng khi thành cách. Hỉ kỵ và dụng thần là phần quan trọng khi định cách ngũ hành và thần sát trong bát tự tử bình. Hỉ và kỵ khi hội cách trong tử vi cũng mang tính chất quan trọng. Một cách cục hay bởi Tham Hỏa Lộc Kỵ rất bất lợi khi hội thêm Thiên Hình. Dịch lý là tổng quyết của pháp, là sự biến chuyển dịch biến của vạn vật mô tả khởi phát từ hơn bốn ngàn năm trước. 



Nhìn dịch học thấu triệt được chứ ứng. Phàm nhân mệnh khi tâm tính tương thông, vắng lặng khởi sự, gieo quẻ tính dự đoán một phần tính chất việc diễn ra, có những kỳ nhân dự đoán về vận nhân thế diễn ra bởi những khí tượng của quốc gia. Khởi một niệm là tương ứng một kết quả. Cũng vậy khởi một con người thai sinh là điểm quan trọng tương ứng, toán mệnh tới số phận. Vì bản chất khởi sinh một nhân mệnh thể thức, tinh, khí, thần rất mạnh, thường gọi thông linh. Các môn toán mệnh, hà đồ dẫn hóa tới lạc thư, biến chuyển dịch biến có khởi và kết. Hà đồ là thường, Lạc thư là biến. Thái ất, Độn giáp, Lục nhâm mang tính dự đoán sự việc là gốc khởi. Thông linh tương ứng là tính chất đặc biệt của dịch lý tương quan với sự tồn tại của mỗi người và tương thông với đạo hay phật giáo. Việc thiền tưởng khiến tâm vắng lặng để phát sinh những năng lực tâm linh cũng tương tự như việc khởi tâm dụng quẻ, khán định được cát hung sự việc như kinh dịch. Phàm việc cùng khởi nguyên và kết quả, chỉ khác phương pháp truy cầu. Suy cùng đạo cùng chung đường, truy cầu đạo quân tử, dịch lý biến ảo khôn lường. Cũng điểm cốt yếu là nhất tâm. Vật khởi biến dịch luôn có nhân nguyên, cũng biến động nằm trong vòng quy luật thiên cơ. Hỉ mừng của người truy cầu đạo là con đường dẫn tới chứng nghiệm cảnh giới. Hỉ mừng của người binh sĩ có khi chỉ là được về thăm nhà đoàn tụ gia đình. Hỉ mừng của người tu hành là giải thoát. Tâm nhất quán dẫn tới thông linh, nếu không có điều này liệu đoán quẻ dịch tại thời khắc truy cầu liệu có thể ứng nghiệm. "Vạn pháp duy tâm tạo"  là cổ ngữ chứa đựng nhiều huyền cơ và chứng nghiệm của rất nhiều giai đoạn và hệ thống khoa học huyền bí xuất hiện nhiều tại quốc gia tu tập con đường của đạo. Những tinh đẩu tác động vào tâm tính, bản tính phản ứng trước những vấn đề bất ngờ phát sinh, khi bản thân nhân mệnh không làm thể chủ tâm trí và tác động từ định tính xã hội có thể dẫn tới trầm uất tự sát. Với tình cảnh vậy mỗi nhân mệnh giải quyết vấn đề riêng biệt. Bẩm sinh có nhân mệnh khuynh hướng nhường nhịn chịu thiệt phần mình, có nhân mệnh tranh đoạt mạnh mẽ, có nhân mệnh lý lẽ, nhân mệnh ưa hành động. 



Một vòng tròn sắp xếp bởi mệnh số "Đại phú do thiên, tiểu phú do cần". Thiên địa vận hành là cái lý dẫn động cát hung, người sống trong thể thiên định tuân định theo quy luật, thai sinh khởi thời khắc xuất nhập ngũ hành tú khí, luận định trên là sự tác định của những đúc kết tiền nhân. Tuy có một phần tác động của thời kỳ phong kiến lập định mệnh thiên tử ứng do trời lập để ứng với thần quyền. Vận số là vậy, có thể thay đổi vận khí chính là dựa vào thế mạnh ứng hợp của bản tính. Thứ tới là sự khởi quyết của tâm với những thói quen từ tưởng thức hóa nhập thành hành thức. Thí như trên mệnh số rất nhiều khuynh hướng tương ứng, rất nhiều cách cục phát sinh, tuy nhiên nhân mệnh thọ thai gia đình quyền thế sẽ có nền lực phát triển mạnh hơn. Có lá số cùng thời nhân mệnh theo nghiệp kinh thương phát tài thập vạn, có người theo nghiệp công chức đắc danh mà không có lợi, hư danh. Có những sự mô tả những hạn hành tử tuyệt, thời kỳ hiểm nguy của nhân mệnh khởi phát trên bát tự. Bia đá cổ ngữ vẫn còn đó, chỉ có người trông qua còn nhớ hay vô tình đi qua. Toán mệnh lý xưa nay vẫn còn tồn tại sau bãi bể nương dâu, gặp những người hữu duyên làm thú vui nhàn nhã kinh sách. Cũng như pháp phật cao thâm, cũng người tín kẻ không, người thấy huyễn hoặc, người chứng tâm thông. Trong lưỡng nghi, quẻ liền 2 vạch là dương, ứng thể chủ động, quẻ đứt 2 vạch là âm. Vạch thể này là tượng hình của âm dương. Mỗi quẻ 4 hào sinh Thái Dương, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm. Từ quẻ trên thêm 2 hào sinh bát quái. Luận lưỡng nghi mặt âm dương. Trong thực tế Thái Âm tức mặt trăng ẩn tàng, mượn sức sáng của mặt trời chiếu để lộ ra bên ngoài, ban ngày thì mờ ẩn, mặt trăng sáng thứ hai khi nhìn trên trời. Điểm quan trọng là luôn nhìn thấy chỉ một nửa thái âm, nửa còn lại tuy được mặt trời chiếu sáng tuy nhiên không thể nhìn thấy do góc quay tương đồng của địa cầu và mặt trăng. Ứng với điểm âm chứa dương và dương chứa âm của thái âm. Do vậy, tính âm dương lưỡng nghi được xác tính chuẩn xác qua tính chất của Nhật Nguyệt. 




Từ sự tương tác liên quan tới thực tại, Nhật Nguyệt là cặp âm dương đối ngẫu. Nắm điểm này rất cần thiết, cũng như khi cho phương trình số ẩn, thay số ẩn là điều thực tế tức nhật nguyệt và khoảnh khắc thai sinh, được điểm dự báo theo quy luật của tự nhiên và vạn vật. Từ thế lưỡng nghi sinh tứ tượng, cũng là sự tương hóa rất kỳ lạ của tự nhiên, phân định mô tả về bản chất của tứ giao mùa hoạt hành. Những điều thực tế này như bài toán cụ thể về dự đoán thứ nằm bên trong thiên địa, là nhân mệnh qua thời khắc ứng hóa với một số quy luật kế tiếp. Lục thập hoa giáp, khởi phát kế tiếp ứng với chữ thời. Điểm hóa này rất quan trọng, chia nhỏ cụ thể thêm bài toán về quy luật biến dịch. 12 địa chi phối định 10 thiên can, ứng thế âm dương theo luật, được 60 hoa giáp ứng với thời năm. Lại xét chỉnh thêm khắc của tháng xét nhập năm nhuận. Xét nhập phân cắt gần hơn là ngày, tới giờ tức thời khắc. Xét một thời điểm khớp với thời của lục thập hoa giáp khởi bởi ngũ hành 10 Thiên can gồm 5 âm và 5 dương. Phối địa chi chính là thời khắc, ứng với chuyển dịch nhật nguyệt. Ta được lục thập hoa giáp. Khi ứng điểm bắt đầu của vòng là Giáp Tí bắt ứng với thời khắc quy luật vận hành ngày đêm, tháng năm của mặt trăng, mặt trời. Vào rạng sáng ứng giờ Tí, tháng Tí ứng tiết trời đại hàn, năm Tí là khởi lục thập hoa giáp. Khởi phát tuần hoàn 60 năm kiến tập, xác tính thấy 1 năm sai biệt, khởi nhuận ứng nghiệm đúng. Người đời nghiên cứu thấu tường được lý lẽ nghiệm của quy luật là thực tế ngoài đời, thời khắc, thời gian đã hàm chứa thông tin, quy luật tại chính thời điểm. Do vậy khi khởi ứng quẻ thành tâm thông linh đoán tượng đúng, cũng thực chủng tử vô thức vận hành theo quy luật thiên địa. Xét truy nguồn gốc, thời khắc âm lịch tạo bởi bát tự 8 chữ là nguồn căn vậy. Như một bộ máy đếm từ 12 giờ, điều quan trọng nhấn đúng thời khắc chính mặt trời chiếu đứng bóng, đã bao hàm tượng khí dương cực thịnh, bao hàm quy luật trong nội tại. 




Do vậy chữ thời, hay bát tự là điểm quan trọng nhất để xét định dự đoán quẻ hay luận mệnh. Tương ứng vậy, thời khắc thai tạo một nhân mệnh còn ứng thêm một lý của vòng Trường Sinh, xét định vận trình dự đoán cát hung họa nạn cuộc đời. Vi diệu nên gọi là Huyền. Có tri kiến bên trong nên gọi là Học. Khi đếm 12 giờ ắt hiểu được đây là thời khắc thái dương chiếu mạnh nhất. Tuy nhiên hậu học về sau lại lấy 12 giờ làm gốc, như lấy tử tức bỏ phụ mẫu. Tại một số vị trí vùng cực, buổi đêm suốt nhiều tháng. Nếu lấy 12 giờ làm chính ngọ không có khí dương, dịch lý sai biệt không ứng với quy luật của nhật nguyền, không có cái thực tại, ắt mô tả dự đoán không thể xác định. Cũng như xem địa lý phong thủy vận, nơi không có dương hỏa, vật hàn lạnh, khí sát thấu độc. Những nơi phong thủy vậy gây họa hơn phúc. Nơi địa lý vùng cực, hay xích đạo, cũng là điểm thiên lệch của thiên địa. Cũng vậy, xuất nhiên vòng lặp lục thập hoa giáp mỗi 60 năm. Tuy nhiên mỗi giai đoạn lịch sử, người kiệt xuất sinh bởi thời định sai biệt không lặp theo vòng trên. Cuối cùng, điểm cốt yếu của nhân sinh. Người viết gặp cảnh biến động của thời cuộc, thời điểm quốc gia gặp nạn. Có điều xuyên suốt từ xưa tới nay, có những nơi người nghèo khổ nhất, lại chứa đựng chủng tử lương thiện hành động không suy nghĩ thiệt hơn. Người bươn trải ngụ cư đầu đường, cho đi đồng tiền rách nát tới người  lâm cảnh bệnh tật nan y, bệnh hoạn khổ cực, khi nhận lại sự trợ giúp từ chối giữ sự thanh bạch của Liêm Trinh Thiên Lương. Thời điểm khẩu hiệu " một nắm khi đói bằng một gói khi no " cùng cực, về sau thời hòa bình có người được phụng dưỡng, nhiều người sau khi trải qua thời điểm hoạn hạn đùm bọc, tới giai đoạn đầy đủ chính gia đình rời bỏ, coi như gánh nặng. Có những trường hợp, nhận một điều tốt như bất ngờ xúc động không thể kiềm, vì người thân tử tức còn không lo tới, già sức yếu tự lo bản thân, người ngoài vì lòng thương người, giúp đỡ không vì sự liên quan lại có thể hết tâm ý giúp đỡ. Dẫn trong bản thức, hoàn cảnh khó khăn cùng cực, giữ được chữ Nhân. Người thân không có điểm nương tựa, nhiều nguyên do được giải thích. Tuy nhiên suy xét rõ cũng là chữ bạc. Ứng câu " Cò ơi cò bạc như vôi " như sự thực hiện thực không thêm bớt nửa lời, nhận định không phiến diện. Những nhân mệnh vậy, thường lại xuất hiện các tổ hợp Sát vô tình,  mệnh Sát hữu tình thì phát tiết hợp hóa bạo phát. Mệnh Sát vô tình thừa nhập cơ tới giai đoạn đảo nghịch vận lâm thế nguy cấp, cũng ứng hiềm nhân quả tuần hoàn. Tới khi chung cuộc, vật đều trạng thái hòa, tất cả đều bỏ, danh sắc tài không còn là thứ quan trọng, đều trôi như nước, chỉ còn tâm hoan hỉ hay khổ não, luyến tiếc.