Monday, July 8, 2019

Ngũ hành Mệnh và Cục số



Ở vạn vật, tất cả đều ở hai giai đoạn, tụ và tán, do vận động mà tụ, cũng do vận động luân hồi nên tán. Tụ và tán đã xuất hiện chấp niệm phân biệt từ nhận thức. Thực tế tụ là biến hóa Thái Dương, Thái Âm, tán là biến hóa Thiếu Dương, Thiếu Âm. Âm cực Dương tử, Dương cực Âm tử, khi Âm và Dương tiến tới trạng thái phát triển cực là tụ, khi phân tán tới tuyệt là tán. Tụ và tán kế tiếp phát sinh thành Bát Quái và biến hóa 64 quẻ mô tả khái quát biến động và cát hung. Với nhân mệnh, thực tế tụ thường cát, tán thường hung. Tuy nhiên nếu tụ tai họa, bệnh tật, bất mãn là hung, tán tiền tài, công danh, phúc thọ là hung. Với nhân mệnh tính chất biến hóa sai biệt. Lấy tứ trụ thai sinh làm phát khởi của chính vòng Trường Sinh của nhân mệnh, định cát hung khi ứng hợp với khí số âm dương ngũ hành tác động của thiên  địa. Như việc con người được khởi phát và tiếp nhận trao đổi chất từ ăn uống đa phần từ các chất hữu cơ và dẫn tới khi tan rã hỏa vượng tác động sẽ biến hóa thân thể thành than. Dự đoán từ tri kiến của khoa học Phương Tây rất rõ về tính chất. Cũng như việc bản thân mỗi nhân mệnh được hình thành từ các vật chất là nguyên tử rất nhỏ dẫn tới có các tính chất nguyên tử có. Với khoa học huyền bí Phương Đông xét khởi nhân mệnh từ Ngũ Hành, tức khởi sinh từ ngũ hành tác động, cũng như bản thân nhân mệnh từ nguyên tử khởi tạo nên. Với tác động của ngũ hành, nhân mệnh trong nội tâm tư tưởng và khởi phát thành hành động bên ngoài sẽ chịu tác động lớn của ngũ hành khởi của bản tính. Cục số là thời gian để khởi phát hành mệnh. Ngũ hành của cục khởi nguyên thời điểm Mệnh cách chịu tác động biến hóa của ngũ hành. Thủy 2, Mộc 3, Kim 4, Thổ 5, Hỏa 6. 





Khởi vận thời điểm do ngũ hành cục số quyết định. Mộc căn khởi là khai nguyên của hữu tình, nguyên khí của vật mới, khởi đầu Lục Thập Hoa Giáp là Giáp Tí, khởi đầu một niên vận mới là tháng Dần. Giáp đứng đầu trong 12 Thiên Can khi xét lịch thiên địa nhân, là nông lịch. Việc vật hữu tình, cây cỏ sinh khởi, phát triển, suy diệt biến hóa quy luật, trong lịch Âm Dương không chỉ bao hàm nông lịch, còn bao hàm quy luật của vạn vật. Mộc là cửa sinh của vật hữu tình, là khởi đầu khởi sự. Mệnh, Thân, Cục, vòng Tử Vi đều khởi từ Dần. Từ cục khởi được vòng Trường Sinh của thiên bàn. Cục là hiển hiện thời điểm của hành khí, là đương khí nắm lệnh tức ngũ hành gốc của thiên bàn ứng, Mệnh cách tùy nhập may mắn ở vị của vòng Trường Sinh là đắc vòng Trường Sinh, khí hình hiển hiện thăng trầm, có sinh mộ, biến hóa cường độ lớn. Như Thủy nhị cục vòng Trường Sinh an tại Thân Tí Thìn, Mộc tam cục vòng Trường Sinh an tại Hợi Mão Mùi. Hợp hóa của tam hợp thành một hành chuyên nhất, ở thế Sinh Vượng Mộ cũng vậy, chưa Tuyệt. Vòng Lộc Tồn cũng không sai khác. Vị trí Lâm Quan của Thiên Can năm sinh khởi là nơi an của Vòng Lộc Tồn. Lộc Tồn không cực vượng, là khí đương tiến, tích lũy sâu dày từ Lâm Quan để vươn lên cực điểm tức Đế Vượng. Người nghiên cứu tử vi có người nhầm việc Lộc Tồn là mộ khố, chủ kho, tính tàng trữ, tuy nhiên tính chất hoàn toàn sai khác. Cũng từ an vòng Lộc Tồn khởi được hai vị trí của Kình Dương là cực thịnh tức vị trí Đế Vượng của vòng Trường Sinh theo Thiên Can của niên vận. Mệnh Cục Thân là thể hiện của bản thể ứng vào một bố cục, tức ở thời điểm quy luật đang vận hành để dự đoán về mệnh lý. Quy luật đang vận hành được khởi từ các tinh đẩu an theo Thiên Can và Địa Chi năm. Mỗi năm can chi phối hợp tính chất sai biệt tại thiên bàn. Vòng Lộc Tồn an bốn nhóm sao quan trọng của Thiên Can, trái Tồn là Phi, do thế đối củng của vòng Lộc Tồn tức nhóm Phi Phục Thanh luôn đối cung Lộc Tướng Bệnh. 





Vị trí trên thập nhị cung an vòng Trường Sinh đầy đủ, tam hợp của vòng Lộc Tồn ở Dưỡng, Lâm Quan, Tử. Tam hợp của Thanh Phi Phục chính ở Mộc Dục, Suy, Tuyệt. Trong thế đứng của Phi Liêm thường mang ý nghĩa tan rã, tuy nhiên khi giao hội định cách cục, Thanh Phi Phục có thể phá Không cách, Lộc Tướng Ấn gặp họa lớn do Không Kiếp. Cự hội Thanh Long thành quý, Cự hội Lộc Tồn hóa vi hung. Với tinh đẩu thuộc Chính Tinh tùy tính chất sai biệt lớn. Bố cục nhóm sao  đặc tính an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Tồn Tướng Ấn, Thanh Phi Phục. Thứ tới là Khôi Việt và Tứ Hóa. Tới nhóm sao an theo Địa Chi bốn nhóm sao. Hồng Loan, Thiên Hỉ, Đào hoa là một nhóm, Đào Hoa giao hội một trong hai tinh đẩu, Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã, Phượng Khốc. Với bố cục Tuế Hổ Phù và Tang Hư Mã giao hội với Phượng Khốc. Thực tế khi xét bố cục bởi nhóm Hồng Loan, nhóm Thiên Hỉ, nhóm Tuế Hổ Phù và nhóm Tang Hư Mã. Cô Quả thường đi với Đào Hồng Hỉ, Phượng Khốc đi với Tuế Hổ Phù, Tang Hư Mã. Thực tế Âm Dương Ngũ Hành đã lưu hóa tại tính chất riêng biệt của các tinh đẩu và tổ hợp. Dụng cách của Đông A phái khởi dụng từ chế hóa của Âm Dương Ngũ Hành khi ứng hợp dịch lý biến hóa, thực tế thường khi người đọc ở trong hoàn cảnh tác động của cơ vận có thể nhìn rõ về dụng cách biến hóa tác động tới định cách. Ngũ hành cục là định cách ứng hợp với số tại hành vận. Khi chỉ xét tương quan ngũ hành Mệnh tức niên vận thai sinh và ngũ hành Cục tức tương quanh sinh khắc để xét biến động của bản thể cách cục. Tại Mệnh cách sinh cục, tức ngũ hành Mệnh tác động khiến các thời điểm phát triển tính cách qua thời gian sẽ chịu tác động nhiều của quá trình biến đổi hình thành nhân cách, bản tính tác động sinh xuất tức từ tính chất chủ tính, hóa thành bổ trợ cho tính cách qua các hành vận. Các tổ hợp theo hành vận khi lưu tới các cung độ tác động rất mạnh tới tư tưởng. 








Trong trường hợp Mệnh khắc Cục tức tại Mệnh cách bản tính khó dời, khi lưu chuyển qua các hành vận khắc chế được phần biến đổi của hành vận. Như việc Hỏa khắc Kim. Nhân mệnh khởi bản tính nhiệt huyết, cục thuộc Kim có thể khắc, vận xấu có thể chế hóa, tuy nhiên vận tốt chưa hẳn phát huy tác động lớn. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục sẽ gặp biến đổi mạng qua các hành vận khắc nhau tùy tính tương hợp. Do đó thường cổ nhân luận hai trường hợp Mệnh khắc Cục và Cục khắc Mệnh không mấy hay. Tương tự với Cục khắc Mệnh, tức bản tính khởi nguyên là Mệnh khi lưu chuyển qua các hành vận chịu tác động rất lớn khiến biến động theo hành vận, có tính bất ổn định cao, đặc biệt ở hành vận Sát Kỵ trùng phùng rất phức tạp. Trường hợp Cục sinh Mệnh, tại bản tính tức tại Mệnh cách hình thành thiên tính làm chủ, Cục tức hành vận bổ trợ tăng cường tính chất này, nghịch với Mệnh sinh Cục. Trong trường hợp Mệnh sinh Cục. Như việc Mệnh thuộc Hỏa, cục thuộc Thổ. Mệnh cách chịu tác động mạnh của tinh đẩu mang hành Hỏa, tính chất của Mệnh cách lưu ý phân định xét riêng bản cung và xét chung toàn tổ hợp là thể tĩnh và thể động cần rất chú ý. Sự tương quan của Mệnh và Cục số là tương sinh, do đó bản tính của nhân mệnh, khởi bắt đầu từ tuổi thứ 5 do cục thuộc Thổ ngũ cục. Lại chịu tác động rất lớn của hành vận do ở thế sinh xuất, hành vận tốt xấu sẽ quyết định rất lớn tới cuộc đời. Như việc mệnh cách Liêm Trinh bản cung thuộc Âm Hỏa, tới hành vận Kỵ Kiếp Hổ Khốc ắt gặp tai kiếp rất lớn, do Kỵ Kiếp Hổ Khốc nắm lệnh và khiến Liêm biến hóa theo mang ý nghĩa bị động, đây là điểm rất quan trọng và cơ bản khi luận giải và định cách cục cần lưu ý. Trong trường hợp Mệnh cách thuộc bố cục Tham Lang nhập mệnh tại đây, hành vận lưu tới Hỏa Tinh tại cung độ sáng lại đắc cách được đánh giá rất tốt đẹp, do Tham Lang biến hóa theo Hỏa Tinh dẫn động, tạo sức bạo phát lớn. Tham Lang thay đổi tính chất mạnh khi tới Hỏa Tinh. Nhược bằng Tham Lang lưu tới Tử Triệt Kỵ ắt mang ý nghĩa xấu, chủ tham muốn giảm thiểu, triệt bỏ tham vọng. Trong trường hợp Mệnh khắc Cục, nếu chủ tinh tại Mệnh rất mạnh như Phá Quân tới hành vận Lộc Tồn không xấu như trường hợp Mệnh sinh Cục tại đây. 

1 comments:

Tây Đô Đạo Sĩ said...

Tử vi khi lưu truyền sang Việt Nam đã lấy quẻ tượng của khí vận đặc trưng Đại Việt với Trung Quốc dẫn tới có sự sai biệt một phần về các cách cục. Vài năm trước tôi cũng đã có cơ duyên gặp một truyền nhân của phái đông a rất tinh thông dịch lý. Lang thang trên mạng gặp trang nhà của tác giả thật hữu duyên.