Trời Đất có họa phúc, con người có thời vận. Tử vi đông a trọng khí hình ứng hợp với trợ cách. Nắm được thời vận nghiệp rồng còn khả, huống tới phú quý thường tình.

Trong tử vi có bốn nhóm sao lớn gồm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm, Sát Phá Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật. Phân hạng người ngoài xã hội không ngoài bốn thứ vậy.

Một lá số tử vi hàng vạn người cùng giờ sinh vậy. Cũng như gieo hạt giống, phát triển biến hóa vô cùng tùy hoàn cảnh bên ngoài ứng hợp. Sinh trụ dị diệt cùng sở đích nhưng tùy khác biệt ở mức độ. Vòng khởi nguyên của mệnh số là vòng chuyển dịch, do biến đổi liên tục nên không có số phận.

Showing posts with label Lục Sát Tinh. Show all posts
Showing posts with label Lục Sát Tinh. Show all posts

Saturday, May 4, 2024

Vận động của nhân mệnh và kết quả theo toán mệnh

 


Những điều bí mật của tàng thức được khóa trong vật dẫn của thực tại là cơ thể. Thí như người đang mắt sáng bỗng nhiên bị mù, là quá trình từ Tuyệt khí, nhưng những thứ trải nghiệm trước đây bằng thị giác của họ không mất đi, tức tới Sinh trong vòng tròn Trường Sinh của toán mệnh. Điều này có thể hiểu như linh hồn của nhân mệnh đó có tri giác về cái biết của những thứ thấy bằng tưởng tượng hình ảnh, nhưng bị hạn chế bởi vật dẫn ra ngoài là mắt (nhãn quan) đã bị phong bế. Khi thiền định đúng cách, những mảnh ghép của ký ức các kiếp trước bắt đầu nổi lên, đan xen mờ nhạt và dần rõ khi nhân mệnh điều hướng tâm được an tịnh, cái thấy bắt đầu hiện ra. Cái thấy này như phát kiến khoa học về kính hiển vi, là cái thấy khác biệt với mắt thường. Thí như khi quá nhiều tiếng ồn cùng đan xen thì không thể cảm nhận được những tiếng động nhỏ cấu tạo nên toàn bộ điều nghe thấy. Linh hồn (hay Mệnh) cũng vậy, không thể tri kiến thấy biết được những điều kiếp nghiệp quả trước đây khi trong thân thể, bởi những khóa xích trói buộc bởi những quy tắc trong cơ thể tại ngũ quan và quy định bởi nghiệp lực. Và khóa xích này nằm tại những tư tưởng chất chồng liên tục, không có đủ thứ gọi là Định để con mắt tiếp theo sáng lên, tức Định trong các cấp bậc của Tứ Thiền. Điều này rất hay và khoa học khi mỗi người có cơ duyên thực hành Thiền định một cách nghiêm túc sẽ phát hiện ra sự thực đã trải qua hàng nghìn năm nay, về khám phá bằng việc mở rộng khả năng nhận thức bằng cỗ máy chính cơ thể của mỗi chúng ta. Và trong giấc mơ, nơi thường được gọi kết nối giữa thực tại và những điều ẩn trong tàng thức có thể hiển hiện một số mảnh ký ức trong tàng thức của người hữu duyên. Thí như người viết đã luận về việc giữa hai người, một người mù bẩm sinh, và một người mắt sáng gặp biến cố trở nên mù nhìn nhận chánh kiến về điều họ tri kiến về cuộc sống. Cái thấy mới do tập trung nhất tâm này có điểm khác so với điều thấy thường nhật. Khiếm khuyết của cơ thể (hay ví như tính năng của máy tính) có thể tác động lớn tới việc nhận thức về thế giới của mỗi người. Người ngồi hay nằm để tâm tưởng tĩnh lặng giác quan tiếp theo tức cái thấy sẽ vượt trội hơn.  



Cũng vậy, tính linh như ngôn ngữ của vạn vật, thí như về việc tác ý của việc Ăn, Ngủ, các ngôn ngữ đều biểu hiện tiếng nói khác nhau nhưng chung một ý nghĩa. Khi tác ý trong tâm thông là một trong Ngũ thông sẽ kiến giải cho thấy về việc không cần hiểu hết ngôn ngữ, trong nội tâm cũng tự phát hiểu, vấn đề này nằm trong Hành thức. Không cần cao siêu để nhìn nhận một người tu hành bằng việc thần tín hay thánh tín. Thay bằng việc thánh tín, thì việc hiểu về con đường cải biến tư tưởng của người tu hành thì tốt hơn, bởi mục đích được an ổn, được siêu việt trong lúc sống thấy được vận hành của vạn pháp, không nằm ngoài việc khiến việc không còn nổi lên nhiều luồng tư tưởng trong nội tâm, và chuyển hóa điều sợ thành bình thản, hành thức vẫn hoạt động nhưng không vướng mắc, bởi vậy Thiền phải có đề mục để tập trung, nhất tâm. Khi tĩnh lặng thực sự, bắt đầu các mảnh ghép ký ức của kiếp xa xưa, những suy luận về nhân quả nổi lên, như người mắt mờ, mù bẩm sinh được mở mắt lần đầu nhìn thấy cuộc sống mới. Tâm tướng khi đạt Định lực cũng vậy, không quá mang nhiều màu sắc thần bí cao siêu. Nhân mệnh thường cố chấp để giữ một vấn đề đối với bản thân là quan trọng, tuy nhiên rất dễ từ bỏ khi bản thân phải học tập nghiên cứu, kiên nhẫ làm những công việc, học hỏi thứ nhỏ để phát triển lớn sau thời gian dài nỗ lực. Thường muốn nhìn thấy kết quả trong thời gian ngắn. Có người có thể làm việc nặng nhọc trong thời gian rất dài, không thay đổi hàng chục năm, tuy có thể rèn luyện được sức khỏe, tuy nhiên để phát triển đột phá sẽ có phần khó khăn hơn, thường ngại thay đổi công việc vì sự không chắc chắn, bởi lương đều đặn và bản thân dần quen với công việc trở thành bình thường. Để tích lũy được tiền bạc tương đối vất vả, tuy vậy nếu người khác lên đời những vật chất hiện đại, hoặc hưởng thụ thường lệ, có thể sẵn sàng lên đời theo, mặc về công sức để tạo ra tài sản ở mức độ rất khác nhau, bởi việc nhẫn nhịn tạo cảm giác khó chịu, chi tiêu tạo cảm giác thoải mái về tinh thần. Điều này có thể dẫn tới sự sai biệt về khoảng cách xã hội nếu gặp biến cố của cả nền kinh tế khi trở nên khó khăn mà thiếu sự phòng bị bằng những khoản tiết kiệm nếu nhân mệnh chưa có tư duy kiếm tiền theo nhiều phương án mà chỉ có nguồn thu từ công sức lao động. Bởi vậy sức nỗ lực của hậu thiên từ cổ chí kim tiền nhân đều không thể đánh giá thấp. Bởi nhân nguyên trong tự tính đều có sức mạnh tàng ẩn rất lớn, bằng những điều khó làm như ẩn nhẫn làm việc nhỏ hàng ngày, qua ngày tháng thời gian dài tạo nên sức bộc phát. Có những thời điểm khi khí vận hao tán mạnh, nhân mệnh có cố gắng tích lũy được sẽ gặp việc phải hao phí bởi tật bệnh, hay vấn đề khác, tuy nhiên việc duy trì sự tiết kiệm có thể tạo bước chuyển đáng kể khi nhập vận tụ tài sẽ có tác động rất lớn tới nhân mệnh. 



Nhân mệnh muốn hỏi một vấn đề hoặc một góc cạnh nhỏ theo toán mệnh. Điều này sẽ cần nhìn tập trung vào gốc tiểu hạn phối hợp vận khí của hạn hành nếu thuộc về giai đoạn hiện tại. Hoặc về tương lai. Tuy nhiên những yếu tố hoàn cảnh ngoại cảnh tác động tới mệnh cách cũng sẽ tương đối lớn khiến dự đoán sẽ có phần sai biệt. Thí như việc hỏi về phương hướng, cát hung luận định, hoặc tự duyên khởi đặc biệt như gặp một cơ hội, gặp điều đột biến sẽ có câu trả lời xác đáng hơn việc xét định về thời gian phát tài. Thí như khi xét một nữ mệnh cách Cơ Lương ngộ Tướng Tuế Ấn hội cách có Khoa Tồn Kỵ Hình Kiếp. Mệnh cách không mấy hay tuy nhiên đạt hai hành vận liên tiếp kích phát mạnh khiến hóa cục của sinh mệnh tăng lên rất lớn. Nhập khí vận 10 năm tới cách Cự Nhật có Lưỡng Lộc Mã Khốc Khách, và 10 năm tiếp theo trong Tam Hóa liên châu tới Vũ Tham Hỏa Quyền hội Kình Đào Khúc Hỉ đắc vòng Trường Sinh. Đây là cách cục bạo phát, không thể ngăn chặn khí thế cường vượng về Tài cách, miễn là mệnh cách vẫn còn tồn tại trong xã hội không bị cách ly như hình tù hay gặp biến cố kiếp nạn thì mệnh cách vẫn hoạch phát lớn trong hạn hành. Tuy nhiên khi xét toàn cục, cách cục này bên trong ẩn chứa bố cục Hình Kỵ Tồn Kiếp, như người đi trên dao, chủ thời thế thịnh hay bĩ ảnh hưởng rất lớn tới khả năng phát triển và vượt khó khăn của nhân mệnh. Như thời thế xã hội phát triển, đức liêm chính thịnh dễ khiến mệnh số hình tù, nếu thời bĩ cực, lỏng lẻo sức hoạch phát tương đối dài. Thí như một mệnh cách nổi tiếng của Ngô Thắng Minh, thăng trầm vô độ, hình tù cách, niềm tin sống là người con gái của mệnh cách cũng đã tự tử khiến nhân mệnh rơi vào thế tuyệt vọng định kết liễu nhưng vận số chưa tuyệt để có thể như Tuyệt xứ phùng Sinh, trở thành kỳ cách. Cũng bởi một phần tham vọng gắn với kiếp nạn khi luật pháp thời này của Trung Quốc rất nghiêm về việc buôn lậu. Bởi vậy khi nhìn thời vận thịnh thế với bản thân hay bĩ cực cũng đều có thể là nhân nguyên để tổ chức lại lực lượng và phản công mạnh tạo nên chiến thắng trong cuộc đời. Lý số nằm trong trời đất, nhưng cũng không nằm ngoài chữ Nhân. Luôn có niềm tin mãnh liệt sẽ khiến tỉ lệ vượt qua hiểm cảnh tăng lên rất nhiều. Cũng như các nhà khoa học nghiên cứu về tiềm năng trí óc của con người là không xác định được mức độ siêu việt. Bởi vậy nhân sinh quan mỗi nhân mệnh một khác, mức độ chịu đựng áp lực khó khăn cũng khác nhau, buông bỏ hay nắm chặt cũng ẩn liền với chữ Mệnh quý hay Mệnh thường. 




Người viết nghĩ thực có số phận, thí như không may gặp hiểm tật bệnh ách y học hiện đại không thể chữa trị. Có người gặp bệnh máu khó đông nhiều người trong dòng họ, khiến một vết thương nhỏ cũng gây tuyệt mệnh đành không thể sống được bình thường. Nhưng có những cơ hội thay đổi cuộc đời với những người bình thường khi sống trong xã hội. Bình thường đã là rất đáng quý để có cơ hội bình đẳng phát triển công danh tài bạch. Số phận như thập nhị nhân duyên là vô minh từ tập khí kiếp trước. Như điều chính nhân mệnh thấy là những điều xui xẻo, bất hạnh trong đời sống. Trong các trường hợp, nhân mệnh đều phải nỗ lực giải quyết những vấn đề gặp phải và vươn lên bằng nỗ lực của bản thân. Trong tháng 3 này, tứ Thìn hội ngộ, có những cái chết tự hình bởi Thìn hình Thìn gây ra, có những sự dằn vặt đau khổ cũng tự cách này. Có những cách xung Thìn Tuất được đánh giá hung cách. Số đến, người chết trong mơ ác mộng, người trong nhà cũng có việc ra ngoài để gặp nạn, người chính chiếu tai nạn đó, người gặp Sát vận hóa thành đau buồn bởi người thân quyến gặp nạn. Vận hành của mệnh cách nhiều hướng đi, nhưng có những Sát vận chắc chắn phải có tổn thất. Có những người cuộc sống an toàn, ổn định nhưng trong tâm luôn muốn tự sát, kết liễu bản thân bởi chữ Không, vô vọng, trầm cảm. Khi người trầm cảm, việc khuyên ngăn về cuộc sống, ý nghĩa cuộc đời có thể không mang lại lợi ích, như gió thoảng qua không thể ngăn chặn đau thương. Toán mệnh cũng vậy, khi hạn hành cách cục hiểm họa lớn, việc nắm được hung họa cũng không nói lên việc tránh được họa hay không, nếu họa hiển hiện dưới dạng bệnh ách nan y cũng như dao chém vào nước, không có nhiều tác dung phòng ngừa. Người viết cũng vậy, viết điều sự thực, luận số cần đánh đổi, như bí mật cần khó khăn mới có thể tìm thấy. Tuy nhiên cái hay của toán mệnh là đáp án có thể được hỏi thêm tới những người cùng nghiên cứu lý học để nhận được đánh giá người giải đoán có thực hiểu về mệnh lý. Đây cũng là điều hay, không như người mù dò dẫm con đường, bởi những điều tâm linh huyền bí. Bất dĩ, việc xem toán mệnh dù luận định tính chính xác cao cũng tuyệt đối không được lấy để dao động tâm tướng của bản thân. Trong các trường hợp nhân mệnh đều nên xét tưởng nếu vận cách khó khăn, là những thử thách để rèn luyện phẩm chất, nếu vận cách dự báo thuận lợi cũng vận dụng hết những thế và lực và cẩn trọng phát triển. Trong thời thế xã hội, người viết có luận định bố cục tinh diệu thay đổi ý nghĩa biến hóa khôn lường. Trong thời điểm đấu tranh cái sai, thế nước phồn thịnh, Sát cách tuy đắc cách cũng dễ hóa thành hình tù. Phụ tá tinh đắc thế. Trong thời binh thế hỗn loạn, Sát cục nắm quyền định, phụ tá tinh yếu thế. Cũng có thể dễ dàng nhận ra ở những mệnh đại quý khi vận khí từ thiên hạ vận hóa Sát tinh thành Hình tù cách, cũng hóa Quan thành Quỷ, nơi cao nhất cũng rơi xuống đất. Vậy tất cả Tinh đẩu thực phân theo thời thế là chủ, mới phân tính chất là thứ yếu. Kẻ ác thường được người đời chế giễu, phỉ báng. Tuy nhiên suy xét cùng tận, giữa những lý lẽ về thiện và ác một số trường hợp đặc biệt sẽ khó định. Ngăn chặn cái ác phát sinh to lớn về sau bằng một việc ác khó có thể định đoạt là việc thiện hay ác. Bản đồ tinh diệu cũng vậy, xét theo thể chế thời thế xã hội. Có những nơi ở khu vực chiến tranh, việc lạm sát người vô tội cũng không có tòa án kết tội, lương tâm có lẽ là tòa án quan trọng như cách vận hành của nhân quả.

Wednesday, July 10, 2019

mệnh lý toán mệnh và số phận



Trong xã hội từ lịch sử tới nay luôn tồn tại các giai cấp, phân công chức trách, nhiệm vụ để tồn tại một quốc gia, một thể chế hoặc một tổ chức. Người gánh vác, có trách nhiệm to lớn là Tử Vi. Tử Vi là chính tinh đứng đầu vòng sao Tử Vi, được luận là đế tinh, là tên của môn toán mệnh này. Tử Vi cư 12 cung đều mô tả một phần bản thể mệnh cách. Nhân mệnh bình thường luôn hướng tới sự nghiệp, địa vị, tài lộc, tật ách, gia đình. Tuy nhiên thường nhân mệnh hữu khuyết vô thập toàn, lấy khởi phát từ tham vọng, tham muốn phân định ra các định cách cục độ số khác nhau, cũng chính tư tưởng tạo nên thành tựu và thất bại. Cặp đại sát tinh trong tử vi là Không Kiếp để đắc cách là đánh đổi, hoạch phát một mặt ắt mất mát ở mặt khác. Các thành tựu lớn đều được đánh đổi rất lớn bằng nỗ lực, quyết định ở những thời cơ, nhạy bén và táo bạo. Là những bước ngoặt cuộc đời. Các môn huyền học đều lấy dịch lý ứng hợp làm gốc luận, do đó sẽ có sai biệt trong từng trường hợp riêng rẽ đặc biệt khi khí hình biến động lớn. Các môn huyền học đều mang tính dự đoán, tuy nhiên đã được xác thực qua nghìn năm xuyên suốt. Thực tế ngoài cuộc sống, bản thân mỗi nhân mệnh đều thường hay đưa các dự đoán về diễn biến do có quy luật hoặc thông tin ban đầu. Một dự đoán trong quá khứ khiến bản thân lưu nhớ trong quân ngũ. Cách đây khoảng 30 năm. Trong một đơn vị sư đoàn chủ lực thuộc quân đội. Lúc đó nguyên bộ trưởng bộ quốc phòng, đang giữ chức vụ sư đoàn trưởng khi kiểm tra huấn luyện của sư đoàn đi qua một anh trung đội trưởng đang huấn luyện chiến sĩ và nói rằng tướng ở đây, sau này anh ta sẽ là một vị tướng. Thực tế hiện tại đã thành sự thực. Các môn nhân tướng học, lý số, toán mệnh đều dựa vào quy luật của biến động đúc rút từ giai đoạn dài lịch sử chứng nghiệm. Như nhìn khí sắc của một người để xét bệnh tật tai ách, thọ yểu sắp tới. Nhìn vào mệnh lý để xét toàn bộ nhân mệnh cuộc đời theo dự đoán. Nếu anh trung úy kia gặp tai kiếp thương vong trong khi thực hiện nhiệm vụ ắt khó có thể dự đoán thành sự thực, toán mệnh cũng có sai khác, tuy nhiên mệnh lý huyền học là thể bao trùm tổng quan về cuộc đời, tính dự đoán rộng hơn về khuynh hướng sự nghiệp, khi Mệnh Thân Vận tới cửa tuyệt, ắt khó có thể thoát nạn. 





Mệnh cách thành tựu có bố cục đặc biệt, tức cách cục sai khác do tổ hợp phối hợp Chính Tinh và Bàng Tinh thành thế đứng có tính cát hóa rất lớn, phối hợp hành vận phù hợp nếu mệnh quý ắt thành tựu. Cách luận định cách của Tử Vi về nhân mệnh bất sai khác, tuy nhiên trong mỗi thời đại xã hội biến chuyển về tất cả các tầng lớp, khuynh hướng, hành pháp dẫn tới kết quả tính chất của bố cục ứng hợp bên ngoài có sai khác. Giai đoạn hiện nay mạng xã hội kết nối rất phát triển. Có những người có thể đổi đời do nổi tiếng trên cộng đồng mạng, hoặc chữ đổi đời cũng thường hay nhắc đến khi phẫu thuật thẩm mỹ thay đổi diện tướng. Đổi đời là vận hoạch phát. Thực tế trong vạn người có năng lực chỉ một vài người có thể hoạch phát hiển lộ tài năng. Ở kết nối cộng đồng càng nhận ra rõ sự thay đổi này. Sự bứt phá là khác biệt, với còn lại, tính chất của các tổ hợp tác hóa tạo kết quả được nhìn thấy rõ hơn khi mạng xã hội rộng mở. Các ngành nghề được mở rộng rất lớn, tính chất đào thải hoặc hoạch phát trong thời gian ngắn hơn, thay đổi liên tục nếu không ắt sẽ không thể đứng vững. Một vị lãnh đạo của một doanh nghiệp về vận tải lớn trong giai đoạn năm 2011 thường chia sẻ về chuyện kinh thương và được mất, sống còn tới gần như phá sản vì nợ vay trên số vốn đã rất lớn, xuất phát từ người lính, buộc đưa ra quyết định lớn cắt giảm chi tiêu và các chi nhánh, sa thải nhiều bộ phận, xác định kỷ luật, trong giai đoạn hiện nay đã có phần phục hồi và phát triển trở lại. Vạn vật biến dịch dời đổi liên tục, tác động thay đổi của thời vận khiến kẻ có niềm tin và tham vọng luôn chờ thời để thành tựu. Rất nhiều người chủ doanh nghiệp lớn, chỉ một nước sơ suất dẫn tới việc phá tán một cơ đồ gây dựng. Xây rất lâu tuy nhiên phá sẽ nhanh. Do tính chất của phá tán, khai phá của Sát Tinh, xây dựng là Tử Vi. Sát tinh luôn hàm chứa Sát tính đặc biệt Không Kiếp " Hoạch phát hoạch phá tựa thì sấm ran". Thường người khi đầu tư muốn đặt cược tất cả từ số ban đầu rất nhỏ, qua mỗi lần thành công theo lũy tiến tạo được tài sản lớn. Tuy nhiên khi tâm tưởng ở giai đoạn tương ứng tài sản lớn thường đầu tư rất lớn so với ban đầu, ít người trong giai đoạn này chỉ lấy một khoản rất nhỏ bằng số vốn ban đầu để đầu tư sinh lợi. Khi thành tựu kế tiếp là một nấc thang tiếp theo trên đoạn đường rất dài, tuy nhiên khi thất bại tại một giai đoạn là phá tán gần như tất cả công sức. Đó là khởi phát và duy trì tham vọng, tham muốn từ bản tính. Người nhận rõ và có thể chế ngự được tính chất này là kẻ mệnh phú. 






Trong khởi phát tham muốn cũng bất sai khác, vật được chóng nhàm chán, vật chưa sở hữu được ắt sinh vọng tưởng không ngừng. Tham cầu về trường tồn, tham cầu về thụ hưởng. Tham vọng không ngừng là Hỏa Tham, để Hỏa Tham tương ngộ đắc cách là cách luận rất phức tạp, nếu luận sơ lược như phú ắt sẽ sai lầm, có rất nhiều nhân mệnh được cách Hỏa Tham đồng độ, tuy nhiên thành tựu đắc cách là bố cục khác nhau, nếu có Vũ Tham ở thế đồng độ có bất lợi, trường hợp hay nhất là bố cục Tham cư Thìn ngộ Hỏa Tinh đồng độ có Vũ Khúc xung nếu chỉ xét thế đứng Chính Tinh là cách cục đắc cách của Tham Hỏa đồng độ. Vũ Khúc rất cần thiết với Tham Lang, do Sát Phá Tham cách chủ tìm kiếm, khám phá cơ hội và hành động theo mục đích của Tham Lang, tuy nhiên Vũ Khúc là tinh đẩu đứng đầu nhóm Tử Phủ Vũ Tướng Liêm về giải quyết công việc, tìm phương án, giải pháp thực hiện. Tham Lang có Vũ Khúc bên ngoài tức chủ khi ra ngoài gặp thời cơ và cách giải quyết. Tại giao hội bố cục bàng tinh, các nhóm sao an theo Thiên Can và Địa Chi tạo thành các cách cục mang ý nghĩa riêng biệt. Đây là cách cục phát phú do kinh thương rất hay gặp trong tử vi. Nhân mệnh vô thường, người viết đã luận có lẽ đã hơn ngàn nhân mệnh, phú quý thọ yểu, thiện ác quý tiện đều gặp, từng cuộc đời khởi điểm là một thai khí, thai sinh, trưởng thành, tới bệnh lão và tử không nằm ngoài quy luật của tạo hóa, trong tư tưởng bản tính nguyên phát, hay cát hung toán mệnh đều khởi từ quy luật tuần hoàn của thiên địa. Trong mỗi nhân tâm người đều có tồn tại tâm thiện, bất thiện, không có kẻ thập toàn, tuy nhiên lại có người hạ căn, hạ trí, sai biệt khác nhau. Trong tất cả các bố cục định cách thiên bàn, mỗi lá số gồm bốn tổ hợp tại các tam hợp Tị Dậu Sửu, Thân Tí Thìn, Hợi Mão Mùi, Dần Ngọ Tuất, miễn nhân mệnh không gặp bệnh tật nan y, tai kiếp nặng nề, việc phân định các tổ hợp đều sinh ra thời vận. Tức mỗi nhân mệnh đều có ít nhất một giai đoạn hoạch phát, thời cơ mang lại. Thay đổi hoàn cảnh thực tại rất khó khăn do sự tác động của nhiều mặt dẫn tới tính ưa ổn định của mỗi mệnh tạo, lực kích phát thường tới do đè nén, bế tắc, tham vọng mỗi nguyên nhân mang ý nghĩa về bố cục khác nhau. Nhiều đương số tuổi đời còn trẻ có hỏi người viết về định hướng cuộc đời, mất phương hướng và kế hoạch để thành tựu trong sự nghiệp. Thường cuộc đời nam mệnh khi thai sinh tới trưởng thành lấy công danh làm mục tiêu quan trọng nhất, tuy nhiên hoàn cảnh và vị thế cản trở lớn việc táo bạo, quyết tâm để thành tựu. 






Tùy vào bản tính để định hướng sai biệt khác nhau. Mệnh Thiên Phủ đắc cách tính chất cẩn trọng rất lớn, tuy nhiên thường thiếu khả năng chớp thời cơ. Mệnh Tử Vi đắc cách thường có năng lực, khả năng gánh vác tuy nhiên thường thiếu tính cơ mưu tính toán lợi ích riêng rẽ. Phá Quân đắc cách khả năng nhìn nhận, suy xét vấn đề tốt, khai phá mấu chốt, tuy nhiên thường tư tưởng phù động. Cách đây hơn 7 năm người viết có luận một lá số về mệnh cách Thất Sát ngộ Kỵ Hình Hổ hội Kiếp Tuần là mệnh rất phức tạp. Thường phú luận " Kỵ Hình Thất Sát tương phùng, thiếu niên yểu chiết như dòng Nhan Uyên". Cách cục " Thất Sát lưu niên Bạch Hổ tai ương". Với bố cục Thất Sát hội Kỵ Hình Hổ có Kiếp Tuần là mệnh cách không mấy hay. Đương số từng một lần gặp tai nạn giao thông rất nặng tuy nhiên chưa tới tuyệt mạng, nam mệnh cách đường học bất thuận, tới tuổi nhập ngũ, do bố cục Thất Sát ngộ Kỵ Hình Hổ tính tất cương, ưa bày tỏ, bộc trực ra bên ngoài. Mệnh tạo trong quân ngũ thường vi phạm kỷ luật, ứng số Thất Sát ngộ Kỵ Hình. Sau đó nam mệnh rời xa xứ, buôn bán đồ gỗ, hạn Cự Cơ phát dã như lôi, hoạch phát đại phú, tài sản rất lớn có phần vào thời cơ và táo bạo lách luật. Thực tế Kỵ Hình là cách cục thường vượt quá quy định, kỷ luật, trong nhiều trường hợp là pháp luật. Tuy nhiên tại đây Thiên Hình được hóa thành Quyền, tính kỷ luật, nguyên tắc rõ ràng. Quân đội là một môi trường hoàn cảnh xã hội, do tính chất thay đổi nhân cách, biến hóa khi ứng hợp khí hình rất lớn. Có thể chế hóa được Thiên Hình thành Quyền. Môi trường tốt có thể phần hóa bản tính thành ứng hợp phẩm chất tốt. Nếu nhân mệnh Thất Sát Kỵ Hình Hổ không nhập ngũ ắt giai đoạn thiếu thời ắt gặp tai kiếp lớn. Mệnh cách Thất Sát ngộ Kiếp Kỵ Hình thường gặp tai họa thương tích do tính chất của Sát cục, khi đại tiểu vận trùng phùng Sát Kỵ tượng là tuyệt mệnh, rất nhiều Thất Sát như vậy. Thất Sát khi hóa âm quyền, tính chất tinh anh hiển lộ, nhạy bén chờ thời và kỷ luật là đặc tính quan trọng. 







Với một số sách tử vi thường phân miếu, vượng, bình, hãm địa của chính tinh. Cũng phân các bàng tinh cần gặp, hoặc kỵ gặp chung cho các trường hợp thường gây nhầm lẫn tới người nghiên cứu. Cũng Thất Sát hội Kỵ Hình Tuần Kiếp Hổ ắt người mới luận thường đánh giá cách cục tối hung, tuy nhiên các trường hợp mệnh cách thành tựu lại đạt thành tựu rất lớn thường không thể tự nghiệm lý nguyên cớ. Do khi định cách phối hợp không rõ tính chất giao hội của toàn cục dẫn tới sai lầm, cũng chưa rõ việc xét khí hóa của Sát Kỵ tức khả năng chế hóa bố cục Sát của mệnh cách. Chỉ Thiên Hình hoặc cách Kỵ Hình luận đã rất sai khác. Thực tế trong giai đoạn phong kiến, có kẻ lách luật, quan thương cấu kết là quý khí, chế hóa Sát cách thành tựu. Kẻ chịu tù tội do phạm pháp, hoặc kẻ bị giết nhầm, oan sai, bị trừ bỏ do thù oán cũng là Kỵ Hình. Kẻ đắc cách bất phân thiện lương, bất nghĩa đều thành tựu lớn, phá cách ắt chịu họa tai kiếp. Sở vốn mệnh số vậy, khi về sau tử vi lưu truyền bên ngoài, chịu ảnh hưởng của xã hội rộng rãi mới định ra quân tử, tiểu nhân, thiện ác để xét bố cục cát hung thành bại theo khuynh hướng này thực tuy mang ý nghĩa tốt nhưng khiếm khuyết sai lầm tới người nghiên cứu. Đồng Lương cách, phú luận " Thiên Đồng ngộ Không Kiếp bất cát, Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung". Lưu ý đây là câu phú xét tùy trường hợp. Thiên Đồng trong cách cục Đồng Lương cư Dần Thân ngộ Không Kiếp đồng độ thường luận thăng trầm, Đồng ngộ Không thành phá cách. Tuy nhiên bố cục Đồng Lương ngộ Không Kiếp tại đây là quý cách trong tử vi. Với cách Đồng Kiếp chủ đan tâm tất ám, mưu tính sâu sắc. Thiên Lương giỏi việc thông tin bên ngoài để che giấu việc bên trong, cách Đồng Lương ngộ Không Kiếp tại đây có một phần tính chất giống Thiên Phủ, tuy nhiên Đồng Lương tại đây hàm ý khó có thể mang tính lương thiện, đặc biệt nếu giao hội thêm Mã Khốc Khách hoặc Tang Hư Mã. Xét về thành tựu chế hóa Sát, đây là cách cục chế ngự Không Kiếp rất mạnh. 

Wednesday, March 6, 2019

Nhất tướng công thành vạn cốt khô ( Phần 2 )





Trong luận của Tử vi đông a lấy cái thực lý làm trọng để xét được biến hóa ý nghĩa từng tổ hợp và nguồn gốc phát khởi của cát hung. Nếu chỉ luận thuyết không có sở dụng thì chỉ là hư hoa. Người nghiên cứu tử vi khi định cách cục Sát cách tự xét tới để nhìn nhận về bố cục này do tính chất biến hóa phức tạp của Sát hung hoặc kích phát cần xét sâu từ nguồn gốc tính chất từng tổ hợp. Nếu chỉ dụng phú luận tử vi như việc chỉ rõ được bề ngoài, bỏ qua vận hành bên trong. Trong các bố cục giao hội sai biệt sẽ sai lầm. Vạn bệnh khổ từ bất ngờ. Sát Tinh tất cả đều ở thế bất ngờ, có tính chất bất ngờ bộc phát. Từ Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, Thiên Hình. Tính chất bất ngờ, hay luận là sự thăng trầm bộc phát. Trái với ổn định, bệnh tật không thể tự phát sinh, có nguyên do, khởi phát, giai đoạn suy và tử tuyệt. Khí hóa của Sát khiến mọi mệnh cách ở vị trí chủ động về bị động, tật ách chính giai đoạn khởi sinh và phát khởi cường vượng là gốc của họa. Trong các tổ hợp chế hóa Sát, là đề phòng, phòng bị, chế ngự, hòa hợp, trấn định. Phân định Sát cách thành hai thế âm thầm khởi phát và khởi phát. Cuộc đời cũng vậy, là những thăng trầm. Và những thăng trầm khởi phát khi ứng hợp với công việc, ứng hợp với tài sản, ứng hợp với bệnh tật, ứng hợp với họa ách,... Chế hóa Sát cách cần phân biệt từng định cách của Sát cục. Chế hóa Hỏa Kỵ Kiếp là thế cực dương, áp định là sự tàn nhẫn trong nội tâm, phàm nhân mệnh cách cục này không tự hóa ương ngạnh, tàn nhẫn thì ứng bản thân chịu tai kiếp. Như trong chiến trận, không phân định thiện ác, hai bên giao tranh mỗi bên đều có lý do chính nghĩa, nguyên cớ là khởi binh đều được gọi là chính. Sát cách cũng không phân định thiện ác, đạo đức là do tự điều chỉnh qua mối quan hệ xã hội cho phù hợp. Như tướng Giáp có quan điểm. "Người phương Đông chúng tôi khác người phương Tây các ông. Chúng tôi đặt sự tồn vong của cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Mỗi phút có hàng trăm, hàng ngàn người chết trên trái đất này. Sự sống hoặc cái chết của hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn con người, đối với đồng bào của chúng tôi, cũng là không đáng kể (đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc)". Các quan điểm dẫn tới tự điều chỉnh về định giữa tư tưởng. Trong chiến loạn ắt có suy diệt. 





Sát cách cũng vậy, là sự tự tác họa tại mỗi mệnh tạo, từ khởi trong nội thân thể tới ứng hợp ngoại tâm dẫn dắt từ dòng khí. Trong nội thân tức là thể ứng hợp ngoài thực. Một kẻ ở nơi có việc nhiễm xạ hoặc chất độc hóa học như việc Mỹ thả hàng loạt xuống Việt Nam ngoại tâm bình ổn nhưng nội thân đã rơi ở thế tử tuyệt. Ngoài tư tưởng tức Mệnh còn Thân Thể tác động tới cuộc sống, sinh diệt. Lấy Sát cách là thế cục dồn ép, đột biến. Thường lấy thí dụ từ việc Hoa Kỳ thả bom xuống Nhật Bản khiến một giây phút vạn vật đều diệt. Hoặc các thảm họa khiến một xã hội đương thời đều diệt vong như chiến tranh, dịch bệnh. Lại một số người gặp các bệnh di truyền từ phụ mẫu gây bệnh tật nan y nặng nề dù mệnh độ số tốt. Việc dịch hạch tại Châu Âu khiến hơn 30% dân số tại đây tử mạng. Trong tất cả cách cục tử vi không trường hợp khi người luận thường xét cách cục tốt xấu, thọ yểu, dù mệnh khí tuyệt lớn cũng không tới tỉ lệ trên 30% lá số xấu dẫn đến tử mạng vì tật bệnh như trên. Dẫn tới phương thuốc chế ngự thứ nhất của Sát cách là phòng bị, phòng trừ, phòng tránh chữ bất ngờ. Hiện tại không còn nhiều người tuyệt mạng do bệnh dịch hạch do đã phòng trừ được nguồn gốc nguyên căn, phòng trừ lây nhiễm, biến thế bất ngờ do không hiểu rõ, không khám phá ra, thế âm ám thành việc nhìn rõ tìm ra phương pháp phòng bị. Xuất hiện khởi phát thứ hai là bệnh ung thư. Thân thể là vật thực của tạo hóa, có thể tự điều chỉnh tuy nhiên ở một mức độ hạn định. Sự tác hóa xảy ra trong toàn bộ xã hội dẫn tới phát sinh sự điều chỉnh trong mối quan hệ xã hội. Một kẻ chịu tác động của tinh đẩu, vận động của hành khí tới nỗi người suốt cuộc đời mệnh tạo, tất cả còn lại cũng đều chịu tác động như trên, dẫn tới sự thống nhất trong quần thể, cái gọi là duyên số là sự tác động đồng hợp giữa các số mệnh mà thực chất là do khí hóa của tinh đẩu thiên văn tác động. Cũng như sức tác hóa của duy trì giống nòi, hay việc mỗi nhân mệnh đều phát sinh tình cảm nam nữ giai đoạn trưởng thành, các nhu cầu khởi phát về địa vị, tiền bạc trong quần thể là cái quy luật bất biến chi phối để có thể đưa ra dự đoán do không nằm ngoài. 





Tuy nhiên sự tác động giữ vị trí địa lý, môi trường khởi phát riêng từng quần thể nhỏ có sai biệt. Như trong một quần thể có chiến loạn giao tranh tại một số quốc gia, tượng quần thể hợp nhất dẫn tới khí Sát tăng mạnh do có xung đột, tiêu diệt lẫn nhau. Hoặc quốc gia tức một thực thể hình thành với quốc gia nhỏ dẫn tới việc người Nhật có đặc quyền ở các quốc gia bị xâm chiếm, quốc gia nô lệ, và đế quốc. Diệt chủng của Đức Quốc Xã tới người Do Thái. Khoảng gần một nửa người Do Thái bị sát hại. Do phát sinh từ khởi một tổ chức độc lập, nắm quyền trong một quốc gia, bản thân tác động của tư tưởng yếu nhân tới quyết định ảnh hưởng cuộc sống của nội người dân trong quốc gia đó. Trong một giai đoạn về bệnh tật do chất độc hóa học tại Việt Nam do quân đội Mỹ lưu thả dẫn tới tai kiếp nặng nề về sau. Chế độ quân chủ đã khiến sai biệt một phần của huyền học về dự toán mệnh lý. Phàm là mệnh tạo tọa sinh bình ổn đều có thể tạo hoạch phát lớn nếu dụng hóa. Tuy nhiên đa phần những tác động bên ngoài do ảnh hưởng từ Mệnh cách và vận tác hóa như thể bị động khiến cuộc đời đa phần theo khuynh hướng mệnh lý, hay bản tính. Cuộc đời mỗi mệnh cách là sự quy luật tác hóa của tinh đẩu tới mệnh khí. Như việc khi Hỏa khí đột nhiên phát khởi cường vượng của khí hình địa lý thì dẫn tới chiến loạn. Sự nổi tranh đoạt là thế cục của rất cả các nhóm Chính Tinh trong tử vi. Trong quốc gia tức một tổ chức xã hội có thể phân nội loạn hay ngoại xâm do Cự Môn khởi tức nổi lên kẻ tạo phản. Có thể do Phá Quân tức kẻ ưa khám phá tranh đoạt. Vạn vật Tuyệt do thế ổn định trở nên loạn động, do ngoại xâm hoặc nội loạn. Bệnh tật cũng vậy, ngoại xâm hoặc nội loạn không sai khác. Như một chiếc đồng hồ cơ chạy. Hư hỏng tức tuyệt khi bên ngoài tác động, hoặc bên trong tự biến đổi loạn động. Khi luận tử vi thế tránh vận xấu tức " Xu cát tị hung" là một thế cục của phòng bị, phòng trừ. Như kẻ gặp cách cục Cự Diêu Kỵ Tồn Tang ắt có họa về khẩu ngôn, có kẻ thủy tai, có kẻ lại gặp thời phát phú do phạm pháp, có kẻ thành tựu lớn khi gặp cách cục này tùy vào ứng hợp bên ngoài đời thực. Cách cục này chứa bố cục Binh Hình Tướng Ấn với Lộc Mã giao trì có Cự Binh có kẻ chính là tướng lĩnh trong chiến loạn. 




Sự tác hóa của bố cục là do khí hình định cách. Khi nghiệm lý cách cục và định cách của tiền nhân. Bố cục trên. Nếu mệnh cách có xuất thân gia đình luật sư, ắt theo nghiệp luật sư, tức dụng Quan Cách. Nếu mệnh cách xuất thân gia đình là binh nghiệp, thường theo nghiệp binh quyền, tức dụng Võ Cách. Các khuynh hướng khi xét định tại các thời điểm giao vận chính là khi hình để xét định tính chính xác của toán mệnh. Có kẻ mệnh cách vậy nghiên cứu huyền học mệnh lý. Trong các trường hợp hành dụng tổ hợp chính tinh khác nhau, biến hóa khác nhau, định cách khác nhau. Sự sai biệt của sự việc. " Nhà giàu đứt tay bằng ăn mày đổ ruột". Các cách cục đều lấy từ gốc trụ. Khả năng chế hóa Sát cũng sai biệt ở các mệnh cách. Tử vi đông a chính luận có phần xét về định cách cục Sát. " Kẻ nào nắm được lệnh của Sát cách tức nắm thời vận, là thượng cách bất luận định độ số". Do nắm được quy luật của vạn vật, quy luật nguyên thủy tương tự như tính âm dương nên thành tựu. Là thể bình đầng của nhân mệnh trong giai đoạn phong kiến có thể dẫn tới nghịch với đạo trung chính thường không lưu truyền theo kinh sách tử vi đẩu số ra bên ngoài. Thứ tới, thế Tuyệt khí bế tắc là khởi sinh của bạo phát cách là cách vật cùng tắc biến. Trong chiến loạn là nơi Sát cách tác hóa cường vượng, thế cục Sát hiển hiện sẽ rõ ràng khi khảo cứu. Nếu nội binh loạn tức thể cách bị phá ắt từ nơi Tử địa thành Tuyệt địa. Nếu ngoại công, nội bất loạn chưa phân định vội sinh diệt. Thời vận khởi sinh từ tử địa. Thế vận động liên tục trong giai đoạn này có lợi tiền nhân luận " Tuyệt địa phùng sinh". Hay thường luận " Dịch mã lưu tuyệt, tuyệt xứ phùng sinh". Trong các cách cục Sát thường gặp bị động khi tác hóa tại giai đoạn này và thường dẫn tới Tuyệt khí do nội loạn, thế bị động. Ở mệnh cách đắc chế hóa Sát, tính phòng bị ở vị trí Suy trước Tuyệt, do vậy thường nhập Tử địa bất nhập Tuyệt địa, tốt là dụng thời cơ từ giai đoạn Suy. Vạn vật đều trong chu trình tất cả đều phải trải qua vòng Trường Sinh, sự bắt buộc thay đổi khi lâm Tử Tuyệt ngay cả ở quốc gia, một tổ chức, một doanh nghiệp lớn, một đời người. Từ vật nhỏ, việc nhỏ tới vật lớn như quốc gia, tinh đẩu, vũ trụ. Chính là quy luật bất sai biệt. 




Tại đây cũng thành thế cục hữu tình của vạn vật. Tức kẻ thua thiệt nhất cũng có thể trở nên đại thành tựu do đột phá, thay thế kẻ suy diệt. Mã Khốc Khách hay do Thiên Khốc hóa được khó khăn của Tang Môn và hoạt hóa Thiên Mã tăng sức thay đổi. Hỏa Tham tốt do Hỏa Tinh giữ tham muốn của Tham Lang bất tuyệt, vững bất loạn, thoái lui. Trong thế phòng bị chủ động tức có tính chất phòng chống Sát cách tác hóa, có khuynh hướng dụng thời cơ. Khởi tạo thời cơ là khởi vòng Trường Sinh. Như một ván cờ tướng, có thêm nước đi sẽ phát sinh thêm cơ hội hay thời cơ. Bên ngoài hành động là vậy. Trong nội tư tưởng cũng bất sai khác, khởi sinh niệm là khởi được thời cơ. Tài cách kinh thương hay Quan cách đều dụng tới sức linh hoạt của tư tưởng. Tuy nhiên dễ hóa thành phù động, dẫn hóa bởi tư tường hay lý tưởng thấu suốt, xuyên suốt thì cách cục tránh loạn động nội tâm. Có một làng ở Thái Bình phát sinh rất nhiều mệnh tạo Tài cách, thường gọi là làng Mẹo. Trong địa phương lượng người tự lực giàu có rất nhiều. Có những khả năng truyền lại từ nhiều thế hệ, có thể do thời vận của vận làng. Cũng nếu sinh trưởng ở vị trí thành phố lớn phần đông nhân mệnh sẽ có khả năng tiếp thu tri kiến phát triển hơn các khu vực biên giới. Trừ các cách cục Sát được động hóa, tức tham vọng khai phá lớn khiến mệnh cách không bằng lòng với thực tại, luôn có khuynh hướng phát khởi cái mới. Chỉ một tham muốn vật dục thúc đẩy có thể khiến Hỏa Tham thành cách cục lớn mạnh về Tài cách. Chỉ hai sao Vũ Tham khiến cách cục hóa Tài cách. Một Không Kiếp đắc cách luôn có mất mát, đánh đổi để đạt được bạo phát cách. Nếu không có đánh đổi ắt không phải nhập cách cục Không Kiếp. Thiên Mã khi hợp cách Lộc Mã giao trì là cách cục tốt đẹp về Tài cách. Tuy nhiên tại đây luôn tồn tại Tang Môn tam hợp, tức thế khó khăn để Thiên Mã vượt qua bởi nghị lực, luôn tồn tại Thiên Hư tức cái linh hoạt trong biến hóa tìm hướng đi, luôn tồn tại Điếu Khách tức tính xã giao trong cộng đồng. 





Trong mỗi cách cục thành tựu luôn ẩn tàng thế cục chế ngự lẫn nhau của tinh đầu mang ý nghĩa hữu tình. Mã Khốc Khách hay do Thiên Khốc trong bộ Phượng Khốc tức được kẻ khác ngưỡng mộ về khả năng vượt qua khó khăn của bản thân. Binh Hình Tướng Ấn tốt do cách cục Hình Ấn chính là Quyền, tín ấn có giá trị đảm nhiệm trọng trách, trong các vị trí quan trọng luôn cần chữ ký, đóng dấu chính là Hình Ấn. Cách Cự Tồn và Phá Tồn hay Tồn Kiếp thường bị đánh giá sai nhiều đặc biệt là cách Đào Hồng Không Kiếp luận yểu cách. Với cách cục của Không Kiếp rất cẩn trọng khi luận, tất cả bố cục Không Kiếp đều thăng trầm biến loạn mạnh, tuy nhiên cần xét bên mất và bên được. Cách cục Không Kiếp nhập mệnh cũng không phải cách cục yểu tử. Mặt khác, Không Kiếp có tính chất khai sáng đứng đầu vượt các tổ hợp Chính Tinh. Tuy nhiên Không Kiếp là thế thiên khô, mang tính chất thăng giáng như Kình Đà tuy nhiên ở cường độ lớn hơn. Do Thiên Không là bất ngờ, Địa Kiếp là bộc phát. Không Kiếp thường tác động khởi phát ở bất kể cách cục, không tự ở thế cùng tắc biến như tổ hợp Sát cách, do đó tính chất tác động của Không Kiếp luận phức tạp. Nếu coi khí hóa của Sát là tai họa, tai kiếp là đúng thì cũng chấp nhận việc bộc phát của cách cục Sát dẫn tới khuynh hướng thành tựu rất lớn tới mệnh tạo. 





Phần dưới đây người viết luận về một đồng đạo thân thiết, tuy trẻ tuổi nỗ lực là một tổng giám đốc tập đoàn lớn, có lý tưởng lớn, ý chí cầu tiến, tuy bố cục thăng trầm cuộc đời sẽ khó ổn định, thế cục Cự Đồng hội Tam Không cách cục Cơ Không Kiếp Việt Tả Mã Sinh tại Tị cung. Như nghiệm lý về rất nhiều lá số mệnh cách Cự Môn đã từng luận phân định chế hóa Sát tổ hợp rất khác nhau, tính chất biến hóa khi giao hội cũng sai khác. Thường khi luận tử vi người nghiên cứu gặp cách VCD có Cự Cơ xung, Cự Cơ Tí Ngọ, Cự Cơ Mão Dậu, Cự Nhật Dần Thân được đánh giá cách cục tốt . Tuy nhiên Cự Đồng khi chế hóa bởi Không Kiếp cũng chính là cách cục tốt đẹp, khi nhiều cách cục tốt đẹp man thư luận khi nhìn vào Sát cách luận bố cục yểu tử. Tổ hợp Cự Cơ Đồng hội Tam Không Tả Hữu Kình Quyền Tang Sinh Vượng. Qua mỗi lần bế tắc,  Cự Môn bởi nhạy bén sẽ rút được nhiều kinh nghiệm để khai tạo và tính thực sâu sắc trong các mối quan hệ xã hội. Như một ván cờ, thời cơ luôn xuất hiện qua mỗi nước, nếu không còn thế cục là thế bí. Miễn là còn nước thì cơ hội vẫn phát sinh. Thế bí ở cuộc đời không phải là bế tắc trong công việc, trong tình cảm, chỉ đơn giản là bệnh tật nan y, tai nạn tuyệt mạng. Còn lại nếu vẫn còn sinh mệnh thì nước cờ vẫn tiếp tục khởi tạo, khó khăn bế tắc sinh tiếp tục cơ hội. Một lần hoạch phát có thể khiến kẻ khốn cùng mạt kiếp trở nên đại thành tựu, đứng đầu xã hội. Không chỉ danh nhân lịch sử, ngoài đồ thực xã hội nhân mệnh thay đổi tầng lớp hoạch phát rất nhiều. Tuy nhiên cái để xét thành bại chính là lý tưởng, nếu nhân mệnh không còn lý tưởng thì nước cờ không bước đi tiếp, tuy không tàn cuộc mà như tàn. Nếu tạp loạn thì thua, thế chủ động trước Sát vẫn vững thì ắt thành. Cái cần thiết là khả năng khai phá tâm của mỗi nhân mệnh luôn phát triển theo thời gian. Trong giai đoạn hiện nay ở ngay chính trong nội cách tiểu vận trùng phùng Cự Đồng Tang Kình Quyền Vượng hội Mã Sinh Không Kiếp. Can Kỷ hóa Vũ Khúc thành Lộc. Xung đột khi mệnh vận lưu tới Cự Cơ Đồng qua đó kích phát bố cục Không Kiếp Kình Mã. Cách cục Tam Không đã hình thành, thế cục rất rõ nét về việc biến động mạnh có thể thay đổi về nội cách cục. Tuy nhiên nên lưu ý việc Liêm Phủ lưu vận tới Tam Không chủ không bảo trợ, soi xét, điều tra gây nên loạn trong nội bộ. Thực tế cách cục sứ mạng của cháu là khởi tạo, khai tạo, không mang tính thừa tự. Tuy nhiên Cự Đồng có một khuyết điểm tối kỵ mắc phải, đó là việc phân tán. Trợ giúp của cháu tới từ Tả Hữu Không Kiếp, tức từ những kẻ cùng chung lợi ích, có thể chế hóa được Không Kiếp hay thực tế ở đây là Tam Không là do tự thân. Lưu vận tới tiểu vận tại đây chính là khí hội của Sát cách. Nơi có thể hoạch phát rất lớn, hoặc hoạch phá. Không Kiếp tại đây ở thế Trường Sinh, có Tả Hữu Sinh Vượng không phải thế tuyệt. Mạnh dạn khởi tạo theo tham muốn của bản thân. Còn cả một đại vận sau lại hội Không Kiếp, nếu tiểu vận năm nay chỉ tác hóa mức yếu không chế ngự nổi huống gì tới vận sau đại tiểu vận trùng phùng Tam Không. Trong tiểu vận năm này, đừng lê bước theo khuynh hướng hay cách làm của người khác nếu trong kinh thương nhà đất, lấy cái khai sáng mới làm đầu, Tam Không là cách cục đứng đầu tử vi, tuy nhiên để được tư tưởng chuyên nhất hướng tới một vấn đề là cần thiết. Cự Kình là khai mở, chắc chắn năm này không nhập Tuyệt lộ, cứ theo đuổi lý tưởng của bản thân, đừng tính toán quá kỹ lượng, kỳ vọng do năm nay sẽ còn nhiều bất ngờ. Cách cục sẽ tự hóa. Tam Không được hóa bởi khai phá dẫn bằng lý tưởng, thời cơ sẽ tự phát sinh. Qua lần bất ngờ thứ nhất sẽ thay đổi cách nhìn của cháu toàn diện, như bước tiến về tâm thức và tình cảm đúng như cách Tam Không luôn tác hóa. Cự Môn có thể dụng Tam Không nhưng Thiên Đồng không thể.

Tuesday, February 26, 2019

Nhất tướng công thành vạn cốt khô



Trong cách cục Vũ Phá tất cả đều gặp phải cách phá tán tài sản một lần trong đời. Sự thất bại của cách cục do Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham hoặc thế Cự Môn giao hội với Thiên Đồng đều có xuất phát từ căn bế tắc của cách cục. Hai cách cục Cự Cơ Đồng và Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham là hai cách cục tạo thành tựu lớn nhất trong tử vi với các thế cục. Tuy nhiên tại hai tổ hợp này dẫn tới phá cách của đa phần mệnh tạo. Suy tưởng về một bài báo về tổng thống Hoa Kỳ tức Abrams Lincoln có phần mô tả được dấu ấn của tổ hợp Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Sau đây là một phần mô tả về biến động cuộc đời của ông. 
22 tuổi - Lincoln bắt đầu tự kinh doanh một cửa hàng tạp hóa nhỏ cùng bạn, nhưng thất bại không lâu sau đó.
23 tuổi - Ông nếm trải thất bại đầu tiên trong sự nghiệp chính trị khi tham gia tranh cử vào nghị viện bang Illinois.
24 tuổi - Thất bại lần nữa trong kinh doanh. Ông đã phải trả món nợ do thất bại này trong 17 năm tiếp theo.
25 tuổi - Tiếp tục chạy đua vào chức nghị sĩ bang và thành công. 
29 tuổi - Thất bại khi tham gia bầu cử thống đốc bang. 
31 tuổi - Thất bại khi tham gia bầu cử thống đốc bang lần 2.
34 tuổi - Thất bại bầu cử nghị sĩ quốc hội. 
37 tuổi - Trúng cử nghị sĩ quốc hội. 
39 tuổi - Thất bại khi tranh cử nghị sĩ quốc hội khoá tiếp theo. 
46 tuổi - Thất bại khi tranh cử vào thượng nghị viện. 
47 tuổi - Thất bại khi tranh cử phó Tổng thống. 
49 tuổi - Thất bại trong cuộc bầu cử thượng nghị viện lần 2
51 tuổi - Trúng cử tổng thống Mỹ trong giai đoạn nước Mỹ chia cắt. Cuối cùng bị ám sát năm 56 tuổi. 



Cách cục của Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham theo khuynh hướng chính trị và kinh thương đều gặp khó khăn biến động mạnh, nhiều lần trong cuộc đời. Trong cách cục này về gia đình và cuộc sống thường gặp biến động thay đổi.  Trong cách cục Vũ Phá đồng độ, bất kể mệnh cách cát hóa mạng bởi Sát tinh được chế ngự hoặc giao hội Khoa Quyền Lộc Tả Hữu Xương Khúc nếu theo khuynh hướng Tài cách ắt có một lần phá sản và thăng trầm vô độ khi nghiệm lý các cách cục của tổ hợp này. Bố cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham được đánh giá là cách cục dễ mang họa trong tử vi khi hình thành các cách cục Tử Phá, Tử Tham, Liêm Phá, Vũ Phá, Vũ Sát. Một số cách cục độ số tốt hơn như Tử Sát, Liêm Sát. Điểm chủ yếu do tính biến động, bất ổn rất lớn trong nội cách, nếu bất dụng Văn cách hướng tới học vấn, lại hướng tới kinh thương hay quan lộc tính chất tác động rõ rệt. Trong vạn Thất Sát phá cách chỉ gặp một Thất Sát thành cách. Cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham dễ gặp thất bại, tuy nhiên cũng hình thành cách cục Sát tinh phản quý là cách cục hoạch phát thứ hai, sau Không cách trong tử vi. Bố cục này lấy khuynh hướng tích lũy, thể động khởi sinh liên tục phá thế Tử Tuyệt bế tắc. Mỗi lần khởi thành ứng sự hoạch phát, thành bại đều tương ứng tích lũy khí hình cường vượng. Nếu mệnh cách bỏ cuộc ứng với tan rã cách cục. Người viết có nhớ  rõ khoảng 3-4 lá số Vũ Phá từng luận đắc cách trong rất nhiều bố cục. Cách cục phân định cao thấp, có kẻ đắc dụng thành tựu bạo phát lớn bất khả luận định, đa phần tới giai đoạn phá tán thường bỏ cuộc. Cách cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham khó đắc cách, đặc biệt khi giao hội Tồn Tướng Ấn tạo thành tổ hợp cung trọng điểm, khiến bố cục tạo thành hai khuynh hướng cực đoan rất rõ nét. Một mệnh cách Vũ Phá cư Hợi hội Tồn Tang trong thế cục Tang Hư Mã giao hội tăng mạnh tính bế tắc biến động của bố cục. 




Tuy nhiên tại đây tạo nên thế động cho cách cục, Lộc Mã giao trì cách, thất bại phá tán 3 lần, thuở nhỏ phụ mẫu mất sớm do chiến loạn, tới vận trung niên đắc Tham Hỏa tương ngộ khí hình vững chắc, phát đại phú, nổi danh lớn. Mệnh tạo trong giai đoạn bế tắc, nội tâm loạn động, hướng tới nghiên cứu huyền học toán mệnh, thấy rõ vận tắc kỵ phúc họa. Tử Vi Đông A dụng trợ cách lấy thế tiến bất lui, tuy vậy vẫn thất bại phá sản lần thứ 3. Dụng số do Phá Quân làm khởi tạo, là tinh đẩu đứng đầu về khai phá trong ba chính tinh Tử Vi, Cự Môn, Phá Quân. Trong cách cục Lộc Mã giao trì có Phá Quân ngộ Lộc Tồn thành cách cát dã tàng hung, nơi tốt đẹp luôn có hung họa ẩn tàng. Tiền nhân luận chế hóa lấy thế cục khai phá làm trọng. Tức trong khai phá, nhìn cơ hội, không nhìn vấn đề. Cái thấy, hướng tới trong sự việc, kinh thương là khuynh hướng khai phá, chỉ chú trọng trong suy tính là cơ hội, tránh việc nhìn vào các vấn đề khó khăn để giải quyết. Áp lực trong giai đoạn vận hành Tử Tham ngộ Hỏa tham vọng rất lớn, trợ lực mạnh, trong vận này thành lập doanh nghiệp mới, thành tựu lớn. Thăng trầm hiện rõ. Trong đa phần mệnh cách Vũ Phá khi gặp tai kiếp phá tán, thường gặp khuynh hướng suy tính về giải quyết khó khăn ở thế cục bị động, Sát cách tác họa do ở thế nguy khốn có thể tạo kích phát. Tuy nhiên cổ nhân luận ở thời phong kiến xét cách cục Tử Phủ Vũ Tướng Liêm thuộc cách kế thừa sự nghiệp, tập ấm tốt đẹp hơn việc Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham. Cuộc đời mỗi nhân mệnh đều ở hai phần sinh, tuyệt. Việc ở thế bị động khi gặp thế bĩ cục, bế tắc dẫn tới từ bỏ, như đêm trước cách mạng là đêm khó khăn nhất. Ở thế cục của quốc gia nhỏ, gặp quốc gia lớn xâm lược khi chiến loạn ở Việt Nam rất rõ nét ở chữ thời cơ hay cơ hội. Tính vận động là thành biểu của chữ Sinh. Trong thế cục loạn, nếu vận động ở thế nội tâm bất loạn, tức chờ thời phá bỏ thế bĩ tắc. 




Khởi dụng của tư tưởng trong thế cục Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham ở tính phục vụ, nếu hướng tới Tài cách, khi phá sản dẫn tới tuyệt vọng, loạn động. Nếu hướng tới lý tưởng, mang chữ chính nghĩa khiến tư tưởng ổn trọng ứng với chữ thành. Thế cục trên tương ứng với Cự Cơ Đồng. Khi tan rã, phá tán do Cự Môn xung đột Cơ Đồng tức xung đột lợi ích, xung đột trong nội tâm do quan điểm trái nghịch. Cự Môn khi ứng hóa tượng nội phản, nội loạn. Trong cách cục Cự Cơ Đồng hàm chứa khó khăn lớn, thế cục bế tắc do loạn. Trong luận định bố cục, chữ Loạn là khởi của suy tuyệt. Dụng cách " Nhìn vào cơ hội, không nhìn vào vấn đề" là khởi chuyên nhất trong tư tưởng về lý tưởng ban đầu. Nếu bất định thọ yểu, tức không gặp vấn đề về tai kiếp yểu mệnh, tai họa bệnh tật lớn. Mệnh tạo ở khởi sinh tại nơi thấp nhất của xã hội có thể trở thành quý hiển bất kể mệnh cách thiên lệch. Thường nghe tới bí mật, bí quyết của thành công. Là ứng hóa phù hợp từng cách cục. Trong một giai đoạn ngắn, thời cuộc có thể khiến mệnh tạo đứng đầu một quốc gia. Có thể khiến một kẻ đứng đầu trở thành phá bại. Trong cách cục loạn động của Tử Vũ Liêm giao hội Sát Phá Tham, trong vận động bất loạn, khó khăn chỉ hướng tiến, là gốc của thành tựu. Trăm mệnh Vũ Phá chỉ một vài mệnh đắc cách dụng hóa được Sát cục do Sát Phá tạo. Cũng như việc " Nhất tướng công thành vạn cốt khô". Vạn Thất Sát bỏ mạng ứng thế tử tuyệt của chữ Thất tức mất và Sát tức vong. Chỉ gặp một Thất Sát đứng đầu có tư tưởng khác biệt. Gọi là dụng hóa Sát cách, có tính trái nghịch với thông thường. Một Thất Sát không sợ hãi, chỉ khuynh hướng vận động, chớp cơ hội khác hoàn toàn việc Thất Sát hướng tới tránh họa, khuynh hướng bị động với tác động của bên ngoài. Một ở thế Sinh do thời. Một tại thế Tuyệt do thời. Dụng trợ cách của Tử Vi Đông A không là việc dự đoán về cát hung do tính tự điều chỉnh của bản mệnh khó đạt được tính chính xác sau khi định tổ hợp. Trợ cách có bố cục là việc liều lĩnh, táo bạo chấp nhận rủi ro thất bại để phát triển lớn về sau. Nhân mệnh là toàn cuộc đời. Cách cục là bản tính thay đổi qua từng vận. 


Thursday, August 16, 2018

Tính chất cách cục ứng thành tựu



Từng cách cục dẫn tới khuynh hướng thành tựu khác nhau. Luận riêng rẽ và luận toàn tổ hợp nhóm giao hội khác nhau. Từng nhóm sao mang ý nghĩa khác nhau về đặc trưng. Mỗi người đều có tất cả các đặc tính của toàn bộ tinh đẩu. Với tinh đẩu nhập Mệnh là bản mệnh hướng mạnh, tụ hội với tính chất của tinh đẩu hình thành tính cách bản thể. Lưu ý cách cục mệnh là bản tính, không phải toàn tư tưởng. Mệnh tạo có Tuế Hổ Phù không phải luôn nói sự thực. Mệnh tạo có Hư Mã Tang không phải luôn nói lời xã giao, giả dối. Trong tính cách của mỗi mệnh tạo hàm chứa toàn bộ cách cục trên lá số. Người luận tử vi thường nhìn vào bố cục mệnh cách đánh giá về tính cách, bản tính tốt xấu của mệnh tạo dẫn tới sai lầm khi luận giải về sau. Lưu ý về Bản tính, tính cách và lý tưởng khác nhau. Bản tính chủ hình thành có tính vô căn. Tính cách là thể động, thay đổi biến động theo vận. Lý tưởng chủ đường lối của mệnh tạo hướng tới. Lý tưởng, hoạt động đã thành hành động, thành kết quả, do đó có giá trị so với suy nghĩ trong nội tâm. Bản thân có tồn tại thì có tham muốn, sinh ra vị kỷ. Bản thân khi ngũ hành còn hợp hóa thì nhân mệnh còn, ngũ hành tan rã thì tuyệt mạng. Bố cục ngũ hành tan rã khi một hành khắc chế quá lớn khiến vòng tương sinh không cân bằng. Cũng do tính bất ổn vậy nên mệnh cách thành tựu lớn cũng thường thiên lệch về ngũ hành tương sinh, tương khắc. Như Hỏa lấn át thì Kim suy. Mệnh tạo khởi Kim thì gặp hung hiểm. Sự ổn định không tạo nên đột phá. Lại Kim được cứu giải bởi Thổ sinh thành bổ cứu rất quý. Sự thiên lệch của ngũ hành sinh khắc khiến mệnh tạo biến động mạnh trong cuộc sống. Tính cách hay bản tính có thể quy về ngũ hành, vạn vật cũng vậy. Vật cùng tắc biến, hay vật cực tất phản là biến hóa căn bản của dịch lý. 




Thể dụng của chế hóa tử vi bởi lý quy luật căn bản của vạn vật, không phải thứ kỳ bí, hữu thần. Một dân tộc khi bị xiềng xích phải đứng lên đấu tranh. Một kẻ bị áp bức sẽ đứng lên phản kháng. Khi lâm vào thế cùng thì vật phản kháng rất mạnh. Trong trợ cách chế hóa Sát tính tích lũy qua khó khăn, bế tắc trước khi tới thời điểm hoạch phát rất quan trọng. Trong quá trình dịch biến tạo áp lực, đè nén lớn tới bản thể, dẫn tới rối loạn, loạn động do Sát cách hoạt động mạnh bởi tính chất cơ bản. Một người thành tựu từ chữ không sẽ luôn có giai đoạn quyết định khó khăn. Trong trường hợp này kẻ liên tục bám nắm, lâm nguy không loạn, không sớm từ bỏ hoặc ra quyết định sai lầm thì thời cơ phá vỡ thế bế tắc, hoạch phát tới. Đây là điểm cát hóa khí hình của Sát cách. Hữu cách cục chế hóa Sát có hai mặt, là dao hai lưỡi bởi Sát tinh là tinh đẩu có sát tính, có tính chất tác họa, trực tiếp tới chữ Sát, được mất, đánh đổi, khi hội đủ cách cục liên quan tới tài, danh hay nặng hơn là tính mệnh. Lại mỗi mệnh tạo do bản tính, tính cách giao hội Sát cách mang tính dụng khác nhau. Bố cục này chỉ luận cho mệnh cách, tức vận số của bản thân khi xét lá số tử vi của mệnh tạo. Với vận làng tới vận nước, vận thiên hạ có sai khác. Với vận thiên hạ như bệnh dịch hạch tại Châu Âu. Ở vận làng có nơi gầm như cả làng tử mạng. Ở vận nước tức khu vực này tử mạng khoảng 1/3 dân số. Ở vận thiên hạ xét thế giới cứ 5 người có 1 người vong mạng. Dịch bệnh hầu hết xảy ra tại Châu Âu tác động chủ tới vận nước. Chỉ khoảng 4 năm chưa đầy nửa đại vận cũng gần một nửa dân số Châu Âu tử mạng. Vận nước trong nạn đói năm 1945 Ất Dậu. Tại Thái Bình có làng ngàn người chết chỉ còn vài người. Trong chưa đầy tiểu vận nạn đói khiến cả triệu người tử mạng, nhiều làng quá nửa dân số chết vì đói. Khi Sát cường vượng không thua kém trong thời vận chiến loạn. 




Những cách cục vậy, không phải tất cả đều có lá số tử vi hạn tam hình, sát kỵ giao hội. Cũng không phải do ứng hợp cách cục tuyệt khí hay do mệnh ác nên chịu quả báo như phú thường luận. Khí hình vận tác hóa của vận nước nặng nề, đều không nằm ngoài quy luật  nhân quả. Nguyên nhân do chính sách của Nhật, chính quyền Pháp. Luận tử vi phải rõ lý biến dịch bất biến của vạn vật. Trợ cách của Tử Vi Đông A là khởi từ mệnh tạo, trường hợp không gặp tai kiếp bởi vận nước, vận thiên hạ là ngoại tác. Thực tế là chỉ thay đổi trong tư tưởng dẫn hóa cách cục,  dụng trợ cách biến hóa bố cục mệnh cách. Như một kẻ có tài năng nhưng chưa bản thân chưa tận dụng, hoặc một kẻ có tai kiếp báo trước trên lá số cần phòng tránh ở nội sự việc trong chính lá số. Với ngoài lá số tức các vận khí lớn hơn tác động không mạnh trừ việc khí hình cường vượng ứng hợp. Lá số tử vi chỉ là một tờ giấy ghi cố định bố cục  mệnh thân vận, lập từ tứ trụ, cần khí vận ứng hợp thấu xuất ra ngoài nên phải thua vận làng, vận nước. Trợ cách dụng cũng không thể vượt qua, chỉ điều hòa cát hóa cách cục theo khuynh hướng hợp cách. Thời hiện nay, thời vận bình ổn các lá số đều có khuynh hướng luận theo khí hình tương ứng khí Sát không lớn, lá số tử vi vận hung họa tác động mạnh tới mệnh tạo. Ở thời vận làng, vận nước xấu, mệnh hạn tốt đẹp còn gặp họa lớn, nếu  trùng phùng Sát Kỵ dễ tuyệt mạng. Ở thời vận làng, vận nước bình ổn, mệnh hạn tức vận của bản mệnh, số mệnh trùng phùng Sát Kỵ cũng dễ gặp hung họa. Vận nước là bên ngoài tác động. Vận số mệnh là tự bên trong tác họa.





Một số định cách cơ bản khi luận quan trọng tuy nhiên do thường cố hữu nghiên cứu các sách tử vi do một người biên soạn chứa quan điểm của bản thân người luận dẫn tới định kiến sai khi luận giải lá số nên có điển tích người viết sử dụng lại tùy bài viết luận khác nhau. Cốt rõ được lý của luận tử vi. Trong luận cách cục định cách tương ứng. Sát Phá Tham là nhóm sao đánh đổi, có tính độc lập lớn, ưa đột phá, khám phá, chịu áp lực lớn do sức tác hóa của toàn cục. Tử Phủ Vũ Tướng Liêm là nhóm sao xây dựng, chủ đường lối đứng đầu trong bộ máy tổ chức. Cự Nhật là nhóm sao chủ lập trường, thái độ, ngôn ngữ. Cơ Nguyệt Đồng Lương là nhóm sao hướng tới tinh thần, mối quan hệ tình cảm xã hội. Mỗi cách cục có tính chất khác nhau, thành cách khác nhau, tác họa cũng sai biệt, dụng Sát cách biến hóa tùy tính chất phù hợp. Thay đổi bản thân trước mới có thể thay đổi thiên hạ với tu thân đứng đầu. Với người trẻ khi gặp bế tắc lớn luôn là trước lúc thành tựu đột phá. Khi lắm kẻ bỏ cuộc, đầu hàng thì một số ít chịu áp lực tìm kiếm thời cơ vượt qua. Trong thiên hạ, cũng chỉ rất hiếm kẻ thành tựu lớn lưu danh. Cuộc đời như cõi mộng, thoắt đã tới gần tuổi trời cho,  thực công danh trước mắt trôi như nước. Người theo binh nghiệp thời loạn thường nhìn thấy rõ thế sự cuộc đời sinh tử phút chốc. Nếu có tham muốn lý tưởng theo đuổi là ý nghĩa của sao Tử Vi. Đây là chính tinh có tính chất rất quan trọng trên lá số cũng là tên của môn toán mệnh tử vi lý số. Thời phong kiến tiền nhân khuyên an phận thủ thường. Thời hiện nay nếu có tham muốn, lý tưởng lớn nhất định nên cố gắng thực hiện, nếu không gây hại đã là tốt, đóng góp được tới xã hội thì không nên do dự. 

Thursday, August 9, 2018

Luận về mệnh cách Cự Đồng.



Lá số mệnh cách Cự Đồng cư Sửu đắc cách, có địa vị cao trong xã hội. Phần luận cách cục này học trò luận. Về cách cục đã có cái nhìn tổng thể về tử vi, ứng hợp đúng với mệnh tạo ngoài thực tế người viết đã từng luận, trình bày luận tương đối đầy đủ về định cách cơ bản, xóa bỏ được một phần cách luận thiên lệch trước đây. Người nghiên cứu tử vi không nên nóng vội, nghiệm lý từng cách cục nhỏ, từ cơ bản nắm rõ, thực lý rõ thì gốc vững, gốc vững thì luận không gặp rối loạn. 

 Bố cục chung Thiên bàn phân thành 4 nhóm sao đó là TPVTL, SPT, Cự Đồng Cơ và Âm Dương Lương.  Tinh hệ này là tinh hệ Tử Vi cư Ngọ, đương số sẽ có những phẩm chất hơn người, chí ít là ở hoàn cảnh. Tử Vi độc tọa, lý tưởng và tính chất bộc lộ rõ ràng, không bị ảnh hưởng  và bộ Âm Dương sáng tạo điều kiện tốt cho đương số. Trò luận đương số có chính kiến, có lý tưởng. Đó là xét về chính tinh. Xét tiếp đến Bàng tinh, Không Kiếp Kỵ Hình Linh Hỏa không tụ tập. Các sao tăng mức độ quan trọng tụ tập nhiều ở cung độ Thái Âm Khoa  Khôi  Việt Đại. Thực ra trò vẫn khó phân biệt cung trọng điểm. Các trường hợp rõ ràng như lá số của trò có thể ngay lập tức nhận ra. Nhưng nhiều lá số rất khó. Ở đây trò vẫn nhận định cung trọng điểm là cung quan lộc với chính tinh Thiên Cơ ngộ Hữu Việt Hư  Mã Không Kiếp nhập Sinh. Ở đây là bố cục khá xấu nhưng may mắn nhập được Sinh Vượng mà hóa cát. Người này sẽ gặp nhiều nghịch cảnh nhưng lại vượt qua được mà thành công. Tuy nhiên cũng không hoàn toàn hạnh phúc.


Mệnh cung chủ ý chí, nghị lực con người, cũng là nơi bộc lộ phẩm chất và tính cách. Bố cục chung Mệnh Tài Quan là Cự Cơ Đồng ngộ Tả Hữu Việt Quyền Kình Tiểu với Tang Hư Khách có Tuần Triệt Không Kiếp nhập Sinh Vượng. Cự Cơ Đồng là nhóm sao chủ bất mãn, phản đối, dễ sinh thị phi, bất đồng mà đưa đến phản bội, mang tính chất nội bộ. Ở đây Cự Đồng Cơ ngộ Kình Hao, tính phản kháng càng thêm mạnh, nhưng chỉ là Tiểu Hao, tính chủ động bị hạn chế, trong lòng chứa nhiều bất mãn. Cự Đồng cơ ngộ Tang Hư Khách, can Quý Cự hóa Quyền, Tang Hư Khách hợp với Thiên Đồng chủ từ thiện, làm phúc, lại có Thiên Việt thật tốt quá, đương số tốt bụng, thương người, hay giúp đỡ người khác mà cũng được giúp đỡ lại. Tuy nhiên cũng hình thành các cách xấu như Đồng Không Kiếp, Cự Không Kiếp, nếu không làm phúc sau này tai họa tất đến, dù cho Không Kiếp đắc địa đi chăng nữa. Bố cục nhập Sinh Vượng nên vượt qua được những khó khăn, năng lượng lớn, có ý chí, có sức khỏe: “Thân Mệnh đồng cung tối hiềm nhập Mộ hoặc cư Tuyệt xứ. VCD hoan phùng Tả Hữu Sinh Vượng hóa hung vi cát chung thân vượng hưởng phúc tài”. Đương số lại được sinh ra trong gia đình giàu có, được học hành đầy đủ, do vậy hưởng phúc tài lại càng đúng. (Câu phú nói đến VCD nhưng trò nghĩ là tính cả chính tinh, không biết đúng k thầy?). 
Mệnh cung cũng là đại vận đầu tiên là Cự Đồng ngộ Tang Kình Quyền nhập Vượng  có Tuần Triệt án ngữ. 



Mệnh Thân đồng cung, đương số khá thống nhất trong suy nghĩ và hành động, ngôi sao Tử Vi độc tọa tại Ngọ chủ lý tưởng. Người này có ước mơ và phấn đấu theo ước mơ đó.  Mệnh Thủy, Đồng Cự cũng đều là hành Thủy, luận theo cả 2 sao. Ở đây dụng Thiên Đồng có lẽ tốt hơn so với Cự Môn do hình thành cách Đồng Tang hay hơn Cự Kình không có Phượng. Cái hay là Tuần Triệt án ngữ nên được hưởng 2 chữ phòng tránh, hai cung Tài Quan tuy rằng không đẹp nhưng cũng khó ảnh hưởng đến Mệnh Thân. Mệnh có Tang Môn, đương số có nét buồn trên gương mặt. “Tang Hổ Điếu Binh vị chi tứ Hung, nhược ngộ Đồng tinh nhi hóa cát”, đương số phẩm chất tốt, đây là người tốt bụng, tuy nhiên công việc không tốt, dễ gặp tai họa tác động trở lại cung Mệnh, khiến Mệnh cung có điều bất mãn, lo nghĩ. Cung Quan Lộc với cách Cơ ngộ Hư Mã Không Kiếp có Việt chủ phát sinh khó khăn, tai họa và đánh giá sai thời cơ. Mệnh cung phản kháng lại bằng sự bất mãn Cự Kình nhưng chỉ là Tiểu hao, phản kháng và sự thay đổi cũng không mạnh mẽ, không được ủng hộ của Phượng Các. Tuổi nhỏ đi học, có lẽ đương số kết quả học tập không được tốt.
Phú có câu: “ Cự hãm tứ Mộ đa ngôn, phản phúc nghi hoặc học càng tối tăm” Đa ngôn là nói nhiều, lại nói tầm bậy cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối. Từ chỗ cái gì cũng nghi ngờ, cái gì cũng phản đối đến vô tình hay cố ý phản bội người. Mệnh tại đây ta là người có khuynh hướng tạo phản, đồng thời cũng là kẻ bị hại.


Đại vận thứ hai nhập cung độ Tham Lang. Tham Lang ngộ Tuần Triệt Đào Tồn Kỵ. Tham Đào ham chơi, lại gặp cách cục xấu “Kình Đà hiệp Kỵ vi bại cục”. Tam hợp là Phá Tướng Ấn nhập Tuyệt và Thất Sát ngộ Xương Hồng Bệnh. Đại vận này bất lợi cho tình cảm, lại Phá Quân nhập Tuyệt không lợi cho phá bỏ.  Mệnh Cự Đồng đến hạn Cáo Phụ, Tồn Kỵ khéo còn mang tiếng hỗn láo với người trên, trong lòng tồn tại bất mãn. Tuy nhiên Tham ngộ Tuần Triệt lại hướng đương số đến Không cách, huyền học tu đạo: “Tham Đào tại nhàn cung, nữ mệnh độc phụ chi nhân ngộ Triệt Tuần tâm hồn thư thái”. Ở đây trò nghĩ cả nam và nữ, Triệt Tuần ở đây giúp đương số bớt ham chơi mà thay vào là được giáo dục tốt, nhưng bại cục vẫn là khó tránh khỏi. Ở đây luận khí hình biến đổi theo hướng tĩnh, đi theo Thiên Đồng, dụng ngôi sao này, ở đây trò khó khăn trong việc luận khí hình vận, mong thầy giảng thế nào để đánh giá là khí hình mạnh/cao, thế nào là khí hình thấp ạ. Đương số sinh ra trong gia đình giàu có nên khí hình gốc vượng. 

Đại vận thứ 3 hội họp nhiều sao quan trọng, đến đây đương số bắt đầu gặt hái được thành công, nhưng nhìn chung nếu là một người xuất thân bình thường các đại vận trải qua trò thấy không nổi bật cho lắm, thành công cũng không được vang dội. Ở đây có lẽ do hoàn cảnh đương số sinh ra trong gia đình như vậy nên mới được làm Tổng giám đốc, nếu không có lẽ cuộc đời sẽ rẽ sang hướng khác.

Sunday, July 22, 2018

Thế bao vây tiến công với Sát cách



Hai thế phát triển của Tử Vi tại vị trí của Đà La và Kình Dương. Một trước, một sau của Lộc Tồn. Thế của Kình Đà là thế thay đổi. Lộc Tồn là thế tích lũy. Quy luật của vạn vật cũng theo hai thế vậy. Kình Dương và Đà La được luận là Sát Tinh. Đây là hai sao quan trọng trong Lục Sát do khí sát của tính chất. Kình Dương chủ tiến công, cạnh tranh, chiếm đoạt. Với Kình Dương thiên về chiều sâu. Kình Dương có dương tính, mang ý nghĩa chủ động. Đà La chủ phòng thủ, cạnh tranh, chiếm đoạt. Với Đà La thiên về chiều rộng. Đà La có âm tính, mang ý nghĩa bị động khi phối hợp với các sao chủ nghe theo. Mệnh tạo luôn gặp một trong các cách cục cơ bản an theo Thiên Can gồm Kình Hao, Đà Hao, Lộc Tướng Ấn hay Thanh Phi Phục. Với Lộc Tướng Ấn và Thanh Phi Phục thường luận cách cục chủ cát. Bố cục Kình Hao và Đà Hao chủ sát. Do tính chất quan trọng của bốn cách cục cơ bản nên tác hóa tạo nên bản tính riêng của mệnh tạo, phối hợp với bố cục Chính Tinh thành tổ hợp. Người luận tử vi thường đánh giá tốt với Kình Dương hơn Đà La. Trong quan trường, thương trường hay chiến trường tức dụng tới tranh đoạt, hàm chứa Sát luôn gặp bố cục Kình Đà, biến hóa liên tục thay đổi tùy thời cơ sử dụng. Do đó Kình Đà luôn gặp Hao tại tam hợp tức hai sao chủ thay đổi phối hợp. Đà La có đặc tính quan trọng do âm kim, chủ mưu kế, mang tính chất bành trướng. Kình Dương do dương công thường bộc lộ, dương tính thực chất có khuyết điểm. Kình Đà luôn tồn tại khi có cạnh tranh, phát triển. Do thuộc Sát Tinh bố cụ thuộc Sát cách có tính bộc phát, hoạch phát lớn.  




Báo quân đội có viết về sự phát triển của viễn thông quân đội. Chiến lược đặc biệt của Viettel dụng thế của Mao Trạch Đông chiến lược " Lấy nông thôn bao vây thành thị". Trong trận đánh Điện Biên Phủ lấy chiến lược tạo từng thế bao vây chắc chắn từng bước xiết chặt vòng vây, lấn, tấn, dũi. Hai chiến lược trên chủ tính chất của Đà La. Trong kinh thương hay chính trường không nằm ngoài hai thế Kình Đà. Cạnh tranh chủ thay đổi. Với bố cục Sát cách, thế bị động là thế chủ tai họa. Đà La chủ âm kim, mang ý nghĩa mưu kế, chủ lấy thế mở rộng, vây lấn đều là thế chủ động. Kình Dương chủ dương kim, mang ý nghĩa tiến công, lấy thế chiều sâu, đột phá làm trọng. Mệnh cách tùy Kình Đà cát dụng chế hóa Sát cách. Với Đà La trong bố cục Linh Xương Đà Vũ Kỵ đa phần mang họa với việc nghe theo, dễ rơi vào tai họa, hạn chí đầu hà khi ứng Đà La. Kình Dương trong bố cục Cự Hỏa Kình đặc biệt khi có Không Kiếp chung thân ải tử, tức phẫn uất mà sai lầm khi ứng tính chất Kình. Kình Đà khi thành tựu mang ý nghĩa hoạch phát rất lớn, tăng mạnh vị thế, khí hình của mệnh cách. Một Kình Dương nhập mệnh chế hóa Sát thành công với quyết định táo bạo, quyết đoán tấn công trong quan cách hay tài cách. Một Đà La nhập mệnh chế hóa Sát thành công với quyết định tính toán, bày mưu tính kế, chờ đợi thời cơ trong thế chủ động. Câu chuyện phát triển của Viettel mang ý nghĩa ứng hợp với sức phát triển mở rộng, mang tính chất của Đà La ngay ở hiện tại. Thành đi liền với Bại. Với Sát cách hoạch phát đi liền với hoạch phá do thời vận. Dễ biến hóa theo chiều hướng cực đoan nên luận có tính Sát. Tính hoạch phát rất lớn, đặc biệt nếu có Không Kiếp tới mức độ không ngờ mà được. 




Kình Dương và Đà La luận từ vận thiên hạ, vận nước tới trong cơ thể. Bệnh tật là thứ nguy hiểm. Mệnh có Kình Tang giao hội Sát cách ứng hợp nội ngoại. Nếu bên ngoài cuộc sống khó khăn, chống lại hoàn cảnh, bế tắc. Cách cục Kình Tang chính là Kình Mã. Phú luận " Kình tứ mộ, Mã triều lai biên cương ắt hẳn trổ tài võ công". Hoặc bố cục Kình Phượng hay chính là Kình Khốc câu phú " Đồng Âm Kình Dương phùng Phượng Các nhất thế uy danh". Bố cục Cơ Nguyệt Đồng Lương với thế Đồng Âm và Cơ Lương. Bố cục Cơ Lương chủ thời cơ, cơ may. Đồng Âm chủ âm tính, phối hợp chung. Đồng Âm chủ âm nhu, với Kình táo bạo, tại đây là Kình Khốc luôn có Phượng chủ táo bạo được thời vận mà thành tựu. Hai cung độ Tí Ngọ chỉ hình thành được bố cục Kình Tang Khốc. Bố cục Tuế Hổ Phù không giao hội Phượng Khốc tại đây. Cách cục Đồng Âm ngộ Kình Phượng là bố cục Đồng Âm Tang Kình Mã Khốc Khách. Bố cục Đồng Âm có Tang Môn là cách cục chủ hình thành phe phái đồng lòng, với Kình Khốc đứng đầu. Câu phú thứ hai là bố cục trợ tinh giao hội của Kình Mã. Các câu phú cần rõ tính chất của bố cục tránh sai lầm khi luận. Nếu bố cục Đồng Âm Kình Phượng hội Tả Hữu tối hỉ. Kình Dương các câu phú luận đều rõ ý nghĩa cơ bản chủ táo bạo, dương công của sát tinh này. Phân biệt rõ Kình Dương giao hội Tang Hư Mã, Tuế Hổ Phù. Trong hai cách cục trên có thể gặp Phượng Khốc với sao Thiên Khốc hỉ ngộ Kình Dương tăng dương tính và thành tựu của bố cục. 



Với sao Đà La phú thường luận mang ý nghĩa không mấy hay do Đà có tính ám, chủ âm tính thuộc âm kim tính Sát tức sát tinh. Do âm ám, chủ mưu kế. Thời Nho Giáo lấy nhân trí tín lễ nghĩa làm trọng, thường Sát tinh với Đà La mang ý nghĩa mưu kế thủ đoạn, dẫn tới định cách ý nghĩa xấu với sao này. Đà La bố cục phức tạp hơn Kình Dương và khó thành cách hơn Kình do Đà chủ bị động, bố cục chế hóa Đà La chủ mang ý nghĩa định đoạt, có tính chủ động tranh đoạt. Đà La thường luận trong cách cục Cự Đà Kỵ với câu phú thường gặp " Cự Môn phùng Đà Kỵ tối hung". 
Đà La và Kình Dương đều có tính dồn nén, bộc phát. Đà La chủ chịu đựng lớn và phản kháng tính Sát khi bộc phát rất mạnh. Trường hợp thứ hai chủ chờ thời cơ dụng mưu kế. Kình Dương chủ thẳng, Đà La chủ vòng. Với Kình Tuế chủ quan điểm, bày tỏ rõ ràng. Cách cục Đà Tuế chủ lời nói vòng vo, phối hợp chính tinh chủ ngôn ngữ như Cự Môn và Thiên Phủ tính chất tăng mạnh. " Phủ Đà Tuế đóng Tỵ cung 
Cuồng ngôn loạn ngữ nói rông tháng ngày".

Đà La do không phù hợp với Tuế Hổ Phù ở tính chất quan điểm. Khi giao hội với Tang Hư Mã hình thành cách cục Đà Hư chủ ưa nói sai sự thật, chủ che giấu nên khó đắc cách hơn với Kình Dương. Với bố cục Đà La thành tựu đa phần tính thâm trầm, ít nói. Đà La do âm kim khi hóa Quyền cách thành uy quyền do Sát, cơ mưu lớn. Tuy nhiên đa phần mệnh cách Đà La thường là bố cục bị động, tác họa do Đà La chủ nghe theo. Hoặc cách cục Âm Ám gồm Diêu Đà Kỵ tức Tam Ám giao hội. Đà La khi tốt chủ cơ mưu tính toán hơn người, mở rộng bành trướng. Thường mang ý nghĩa trái biệt, phi thường như cách Cự phùng Đà La sinh dị chí. Đà La thường gặp trong các bố cục bộc phát khi dồn nén, chủ loạn trí nên khi giao hội hình thành cách Đà Hỏa hay Linh Đà khó cát hóa. Với cách Linh Đà Kỵ Khốc chủ ác tâm do dồn nén mà ra tay làm hại mang ý nghĩa âm ám. Bố cục tốt của Đà La giao hội Văn Cách. Đà La tối hỉ ngộ Khoa, Xương Khúc. Đà La giao hội Phượng Khốc đồng độ với Phượng tốt hơn với Thiên Khốc. Với cách Đà Khốc khi tác họa thường bản thân gặp oan khốc. Bố cục Đà Hao cát hóa phức tạp hơn với Kình Dương. Tuy nhiên thành tựu đa phần lớn hơn do tính bộc phát rất mạnh.